Phơng trình logistic dự đoán nguy cơ uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu trong mối quan hệ với tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung hoặc cảm giác rất buồn hoặc thấy mình l
Trang 13.4 Phân tích đa biến
Để nghiên cứu mối liên quan của các yếu tố với nữ thanh niên với thuốc lá và rợu bia chúng tôi sử dụng biện pháp phân tích đon biến (univariable) để xem xét OR của các biến số định tính hai lớp (có hay không) Sau đó sẽ sử dụng phân tích đa yếu tố (mutivariable) bằng hồi quy logistic đối với các biến số có OR với khoảng tin cậy 95% (p<0.05) để xem xét tỷ suất chênh (OR) trong bối cảnh nhiều biến phối hợp và nhờ phần mềm SPSS để tính hệ số hồi quy của phơng trình dạng:
y = 0 + 1X 1 + 2X 2 + 3X 3 (trong đó 0 là hằng số còn các khác
là hệ số hồi quy)
Từ Y chúng ta có thể tính đợc xác suất (p) của biến số phụ thuộc theo công thức sau: P = 1/(1 + e -y ), trong đó e là cơ số của logarit tự nhiên = 2,71828…
Từ các hệ số hồi quy 1 , 2, 3 ta có thể tính đợc OR của các biến số theo công thức sau: OR = Exp ( )
ảnh hởng của tâm trạng buồn chán, thất vọng đối với TTN hút thuốc lá
TTN đợc tự điền 3 câu hỏi biểu thị tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung (S11); cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động bình thờng (S12); cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tơng lai (S13)
Phân tích đơn biến giữa các biến nêu trên với TTN có hút thuốc cho thấy có mối liên hệ giữa S11 với hút thuốc (2 = 38.66 với p<0.000 và
OR = 1.420), tuy nhiên tâm trạng này không có liên hệ với tỷ lệ TTN hút thuốc hơn 1 lần trong tuần S12 cũng có quan hệ với TTN hút thuốc (2 = 6.11 với p<0.05 và OR = 1.163) S13 cũng quan hệ với TTN hút thuốc lá (2 = 17.52 với p<0.000 và OR = 1.314) nhng không có liên hệ với tỷ lệ TTN hút thuốc hơn 1 lần trong tuần
Tuy vậy, khi phân tích đa biến chỉ thấy có mối liên hệ giữa S11 và S13 với TTN hút thuốc lá và mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc ở TTN nh sau (xem bảng 2):
Bảng 2 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc lá của TTN liên quan đến tâm trạng buồn chán hoặc thất vọng Yếu tố trong mô hình
(Biến số độc lập)
Hệ số hồi qui (B)
Sai số chuẩn (SE)
Mức ý nghĩa (giá trị p) OR
S11
S13
Trang 2Cỡ mẫu phân tích (N) = 3831 (*) = Nhóm so sánh — = Không áp dụng
Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer & Lemeshow test) 2 = 0.537; df=2 ; p=0.765
Phơng trình logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc của TTN liên quan với tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung hoặc cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tơng lai nh sau:
Y= 0.307 x S11 + 0.154 x S13 - 1.352
Trong đó:
S11 là tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung S11 = 1 nếu TTN
có tâm trạng đó, còn S11 = 0 nếu TTN không có tâm trạng đó
S13 là cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tơng lai S11 = 1 nếu TTN có cảm giác đó, còn S11 = 0 nếu TTN không có cảm giác đó
Nếu TTN có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tơng lai, thì Y = - 0.891 và P = 0.291, nghĩa
là khả năng hút thuốc của họ sẽ là 29.1%
Nếu TTN không có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và không cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tơng lai, thì Y = - 1.352 và P
= 0.206, nghĩa là khả năng hút thuốc của họ sẽ là 20.6%
Nh vậy, nếu TTN có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tơng lai sẽ có khả năng hút thuốc lá lớn hơn so với trờng hợp không có các tâm trạng này (29.1% so với 20.6%)
ảnh hởng của ngời thân trong gia đình và bạn thân có hút thuốc đối với nữ TTN hút thuốc
Phân tích đơn biến từ số liệu SAVY cho thấy nữ TTN chịu ảnh hởng của ngời mẹ hút thuốc (2 = 5.51 với p<0.05 và OR = 2.906), chị em gái hút thuốc (2 = 14.65 với p<0.000 và OR = 10.837) và ngời khác trong gia đình có hút thuốc (2 = 4.735 với p<0.05 và OR = 2.363) Bạn thân tuy không phải ngời trong gia đình nhng cũng có ảnh hởng (2 = 23.553 với p<0.000 và OR = 3.400)
Chỉ có 7 nữ TTN có chồng hút thuốc thì cả 7 nữ TTN này đều hút thuốc, tuy nhiên do số quan sát quá nhỏ nên khó đa ra một kết luận tin cậy Số liệu điều tra cũng cho thấy bố và anh em trai không có ảnh h-ởng tới việc hút thuốc lá của nữ TTN
Khi phân tích đa biến cho thấy: Mẹ, chị em gái, ngời khác trong gia
đình và bạn thân hút thuốc đều có ảnh hởng tới nữ TTN hút thuốc (xem bảng 1)
Bảng 1 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc lá
của nữ TTN Yếu tố trong mô hình Hệ số Sai số Mức ý OR
Trang 3(Biến số độc lập) hồi qui (B) chuẩn (SE) nghĩa (p)
Mẹ hút thuốc
Chị em gái hút thuốc
Ngời khác trong gia đình
hút thuốc
Bạn thân hút thuốc
0,151; df=1 ; p=0,698
Hệ số Y của phơng trình logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc của TTN nữ trong mối quan hệ với mẹ, chị em gái, ngời khác trong gia đình và bạn thân hút thuốc lá theo mô hình trên nh sau:
Y = 1.053 x H6(1) + 2.308 x H6(3) + 0.886 x H6(6) + 1.272 x H7
- 4.880
Trong đó:
H6(1): mẹ; H6(3): chị em gái; H6(6): ngời khác trong gia đình; H7: bạn thân Các biến trên có giá trị = 0 nếu không hút và = 1 nếu có hút thuốc
Với phơng trình này, nếu mẹ, chị em gái, ngời khác trong gia đình
và bạn thân không hút thuốc, thì hệ số Y= - 4.880 và xác suất hút thuốc của TTN nữ đợc tính bằng công thức sau: P = 1/(1 + e -y ) Kết quả
là P = 0.38, nghĩa là chỉ có 38% số nữ có khả năng hút thuốc.
Nếu mẹ, chị em gái, ngời khác trong gia đình và bạn thân có hút thuốc, thì hệ số Y= 0.639 và xác suất hút thuốc của TTN nữ đợc tính bằng công thức sau: P = 1/(1 + e -y ) Kết quả là P = 0.654, nghĩa là có 65.4% số nữ có khả năng hút thuốc.
Rõ ràng, nếu mẹ, chị em gái, ngời khác trong gia đình và bạn thân có hút thuốc, thì khả năng hút thuốc của nữ TTN có thể đạt tới 65,4% cao hơn nhiều so với trờng hợp mẹ, chị em gái, ngời khác trong gia
đình và bạn thân không hút thuốc (38%)
ảnh hởng của ngời thân trong gia đình có uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và yếu tố địa d (thành thị và nông thôn) đối với nữ TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu
Trang 4Phân tích đơn biến cho thấy có mối liên quan giữa bố uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu với nữ TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu (2 = 12.70 với p<0.000 và OR = 1.263) Tơng tự, nữ TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu cũng có quan hệ với anh em trai uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu (2 = 5.66 với p<0.05
và OR = 1.450) Khu vực thành thị cũng có quan hệ với nữ TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu (2 = 66.11 với p<0.01 và OR
= 1.738)
Tuy nhiên, phân tích đa biến không xác nhận mức ý nghĩa cần thiết của biến anh em trai nên mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ nữ TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu chỉ bao gồm
bố và khu vực c trú (xem bảng 3)
Bảng 3 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ uống hết
một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu ở nữ TTN
Yếu tố trong mô hình
(Biến số độc lập)
Hệ số hồi qui (B)
Sai số chuẩn (SE)
Mức ý nghĩa (giá trị p) OR
Bố uống rợu hàng ngày
hoặc nghiện rợu
Khu vực
Cỡ mẫu phân tích (N) = 3831 (*) = Nhóm so sánh — = Không áp dụng
Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer & Lemeshow test) 2 = 0.251; df=1 ; p=0.616
Phơng trình logistic dự đoán nguy cơ uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của nữ TTN liên quan với bố uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và khu vực c trú nh sau:
y = 0.314 x H12(2) + 0.564 x Ma2 - 0.306
Trong đó: H12(2): bố; Ma2: khu vực thành thị/nông thôn H12(2) = 0
là không uống, H12(2) = 1 nếu có uống rợu hàng ngày hoặc nghiện
r-ợu Ma2 = 0 nếu ở nông thôn và Ma2 = 1 nếu ở thành thị
Nếu gia đình có bố uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và thuộc khu vực thành thị, thì Y = 0.572 và P = 0.639, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của nữ TTN sẽ là 63.9% Nếu gia đình có bố không uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và thuộc khu vực thành thị, thì Y = 0.258 và P = 0.564, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của nữ TTN sẽ là 56.4%
Trang 5Nếu gia đình có bố uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và thuộc khu vực nông thôn, thì Y = 0.008 và P = 0.502, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của nữ TTN sẽ là 50.2% Nếu gia đình có bố không uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và thuộc khu vực nông thôn, thì Y = - 0.306 và P = 0.42, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của nữ TTN sẽ là 42%
Rõ ràng, nếu gia đình có bố uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và thuộc khu vực thành thị, thì khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của nữ TTN sẽ là cao nhất (63.9% so với 56.4%; 50.2%
và 42%)
ảnh hởng của tâm trạng buồn chán hoặc cảm giác rất buồn đối với TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly chén rợu
Tâm trạng cũng có mối liên quan với TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu Phân tích đơn biến từ số liệu SAVY cho thấy mối liên hệ giữa tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung (S11) với TTN uống hết 1 cốc vại bia hoặc 1 ly/chén rợu (2 = 63.27 với p<0.000
và OR = 1.512) S11 cũng có liên hệ với TTN cảm thấy say sau khi uống rợu bia (2 = 26.10 với p<0.000 và OR = 1.357) TTN uống hết 1 cốc vại bia hoặc 1 ly/chén rợu cũng có quan hệ với cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi làm cho không muốn hoạt
động nh bình thờng (S12) có ý nghĩa thống kê (2 = 30.90 với p<0.000 và OR = 1.363) Tơng tự, cảm giác này cũng có mối liên quan với TTN cảm thấy say sau khi uống rợu bia (2 = 12.89 với p<0.000 và
OR = 1.258) Tuy nhiên, không thấy có mối liên quan giữa S12 với số lần say rợu bia trong tháng
Phân tích đa biến đã cho thấy có mối liên quan giữa cả hai loại tâm trạng và cảm giác này (S11 và S12) với TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu và mô hình hồi quy biểu diễn mối quan hệ đó
nh sau:
Bảng 4 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ uống hết
một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN.
Yếu tố trong mô hình
(Biến số độc lập)
Hệ số hồi qui (B)
Sai số chuẩn (SE)
Mức ý nghĩa (giá trị p) OR
S11
S12
Cỡ mẫu phân tích (N) = 3831 (*) = Nhóm so sánh — = Không áp dụng
Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer & Lemeshow test) 2 = 2.123; df=2 ;
Trang 6Phơng trình logistic dự đoán nguy cơ uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu trong mối quan hệ với tâm trạng buồn chán vì cuộc
đời nói chung hoặc cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không
có ích đến nỗi làm cho không muốn hoạt động nh bình thờng nh sau:
Y= 0.355 x S11 + 0.140 x S12 + 0.419
Trong đó:
S11 là tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung S11 = 1 nếu TTN
có tâm trạng đó, còn S11 = 0 nếu TTN không có tâm trạng đó
S12 là cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng S12 = 1 nếu TTN có cảm giác đó, còn S12 = 0 nếu TTN không có cảm giác đó
Nếu TTN có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng, thì Y = 0.914 và P = 0.714, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN sẽ là 71.4%
Nếu TTN không có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và không có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích
đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng, thì Y = 0.419 và P = 0.603, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN sẽ là 60.3%
Rõ ràng, nếu TTN có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và
có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng, thì khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN sẽ cao hơn trờng hợp không
có tâm trạng hoặc cảm giác trên (71.4% so với 60.3%)
ảnh hởng của ngời thân trong gia đình có hút thuốc hay uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu đối với nữ TTN hút thuốc lá hoặc uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu.
Phân tích đơn biến cho thấy nữ TTN hút thuốc có liên quan với tỷ lệ uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu (2 = 26.14 với p<0.001
và OR = 4.327) Đồng thời, ngời khác trong gia đình hút thuốc hoặc uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu cũng có liên quan tới nữ TTN hút thuốc hay uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu (2 = 8.61 với p<0.05 và OR = 1.518)
Phân tích đa biến cũng xác nhận ngời khác trong gia đình hút thuốc hoặc uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu có liên quan với nữ TTN hút thuốc hoặc uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu (xem bảng 5)
Trang 7Bảng 5 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu hoặc hút thuốc của nữ
TTN
Yếu tố trong mô hình
(Biến số độc lập)
Hệ số hồi qui (B)
Sai số chuẩn (SE)
Mức ý nghĩa (giá trị
Ngời khác trong gia đình hút
thuốc hay uống nhiều rợu
hàng ngày hoặc nghiện
r-ợu
Cỡ mẫu phân tích (N) = 3831 (*) = Nhóm so sánh — = Không áp dụng
Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer & Lemeshow test) 2 = 0; df=0
Phơng trình logistic dự đoán nguy cơ uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu hay hút thuốc của nữ TTN trong mối quan hệ với ngời khác trong gia đình hút thuốc hoặc uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu nh sau:
Y= 0.417 x H6(6)_H12(6) - 0.066
Trong đó:
H6(6)_H12(6): ngời khác trong gia đình uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc H6(6)_H12(6) = 1 là ngời khác trong gia đình có uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc H6(6)_H12(6) = 0 là ngời khác trong gia đình không uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc
Nếu ngời khác trong gia đình có uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc, thì Y = 0.351 và P = 0.587, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu hay hút thuốc của nữ TTN đạt tới 58.7%
Nếu ngời khác trong gia đình không uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc, thì Y = - 0.066 và P = 0.484, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu hay hút thuốc của nữ TTN chỉ là 48.4%
Rõ ràng, nếu ngời khác trong gia đình có uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc, thì khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu hay hút thuốc của nữ TTN sẽ cao hơn trờng hợp ngời khác trong gia đình không uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc (58.7% so với 48.4%)
ảnh hởng của tâm trạng buồn chán hoặc cảm giác rất buồn đối với TTN hút thuốc hoặc uống hoặc một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu
Trang 8Phân tích đa biến đã cho thấy có mối liên quan giữa S11 và S13 với TTN hút thuốc (xem bảng 2), đồng thời cũng thấy mối liên quan giữa S11 và S12 với TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu (xem bảng 4)
Tuy vậy, khi phân tích cả 3 biến (S11, S12 và S13) liên quan với nguy cơ TTN hút thuốc lá và uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu thì chỉ 2 biến có ý nghĩa, đó là S11 và S12 Từ đó có mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ TTN hút thuốc lá và uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu nh sau (xem bảng 6):
Bảng 6 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc hoặc uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN Yếu tố trong mô hình
(Biến số độc lập)
Hệ số hồi qui (B)
Sai số chuẩn (SE)
Mức ý nghĩa (giá trị p) OR
S11
S12
Cỡ mẫu phân tích (N) = 3831 (*) = Nhóm so sánh — = Không áp dụng
Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer & Lemeshow test) 2 =1.262; df=2 ; p=0.53
Phơng trình logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc và uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN trong mối quan hệ với tâm trạng buồn chán hoặc cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động bình thờng nh sau:
Y= 0.352 x S11 + 0.161 x S12 + 0.474
Trong đó:
S11 là tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung S11 = 1 nếu TTN
có tâm trạng đó, còn S11 = 0 nếu TTN không có tâm trạng đó
S12 là cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng S12 = 1 nếu TTN có cảm giác đó, còn S12 = 0 nếu TTN không có cảm giác đó
Nếu TTN có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng, thì Y = 0.987 và P = 0.728, nghĩa là khả năng hút thuốc hoặc uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN đạt tới 72.8%
Nếu TTN không có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và không có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích
đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng, thì Y = 0.474 và P =
Trang 90.616, nghĩa là khả năng hút thuốc hoặc uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN đạt tới 61.6%
Rõ ràng, nếu có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng, thì TTN có khả năng hút thuốc hoặc uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu cao hơn trờng hợp không có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng (72.8% so với 61.6%)