1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phương pháp phân tích đa biến

9 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 104 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phơng trình logistic dự đoán nguy cơ uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu trong mối quan hệ với tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung hoặc cảm giác rất buồn hoặc thấy mình l

Trang 1

3.4 Phân tích đa biến

Để nghiên cứu mối liên quan của các yếu tố với nữ thanh niên với thuốc lá và rợu bia chúng tôi sử dụng biện pháp phân tích đon biến (univariable) để xem xét OR của các biến số định tính hai lớp (có hay không) Sau đó sẽ sử dụng phân tích đa yếu tố (mutivariable) bằng hồi quy logistic đối với các biến số có OR với khoảng tin cậy 95% (p<0.05) để xem xét tỷ suất chênh (OR) trong bối cảnh nhiều biến phối hợp và nhờ phần mềm SPSS để tính hệ số hồi quy của phơng trình dạng:

y = 0 + 1X 1 + 2X 2 + 3X 3 (trong đó 0 là hằng số còn các  khác

là hệ số hồi quy)

Từ Y chúng ta có thể tính đợc xác suất (p) của biến số phụ thuộc theo công thức sau: P = 1/(1 + e -y ), trong đó e là cơ số của logarit tự nhiên = 2,71828…

Từ các hệ số hồi quy 1 , 2, 3 ta có thể tính đợc OR của các biến số theo công thức sau: OR = Exp ( )

ảnh hởng của tâm trạng buồn chán, thất vọng đối với TTN hút thuốc lá

TTN đợc tự điền 3 câu hỏi biểu thị tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung (S11); cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động bình thờng (S12); cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tơng lai (S13)

Phân tích đơn biến giữa các biến nêu trên với TTN có hút thuốc cho thấy có mối liên hệ giữa S11 với hút thuốc (2 = 38.66 với p<0.000 và

OR = 1.420), tuy nhiên tâm trạng này không có liên hệ với tỷ lệ TTN hút thuốc hơn 1 lần trong tuần S12 cũng có quan hệ với TTN hút thuốc (2 = 6.11 với p<0.05 và OR = 1.163) S13 cũng quan hệ với TTN hút thuốc lá (2 = 17.52 với p<0.000 và OR = 1.314) nhng không có liên hệ với tỷ lệ TTN hút thuốc hơn 1 lần trong tuần

Tuy vậy, khi phân tích đa biến chỉ thấy có mối liên hệ giữa S11 và S13 với TTN hút thuốc lá và mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc ở TTN nh sau (xem bảng 2):

Bảng 2 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc lá của TTN liên quan đến tâm trạng buồn chán hoặc thất vọng Yếu tố trong mô hình

(Biến số độc lập)

Hệ số hồi qui (B)

Sai số chuẩn (SE)

Mức ý nghĩa (giá trị p) OR

S11

S13

Trang 2

Cỡ mẫu phân tích (N) = 3831 (*) = Nhóm so sánh — = Không áp dụng

Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer & Lemeshow test) 2 = 0.537; df=2 ; p=0.765

Phơng trình logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc của TTN liên quan với tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung hoặc cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tơng lai nh sau:

Y= 0.307 x S11 + 0.154 x S13 - 1.352

Trong đó:

S11 là tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung S11 = 1 nếu TTN

có tâm trạng đó, còn S11 = 0 nếu TTN không có tâm trạng đó

S13 là cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tơng lai S11 = 1 nếu TTN có cảm giác đó, còn S11 = 0 nếu TTN không có cảm giác đó

Nếu TTN có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tơng lai, thì Y = - 0.891 và P = 0.291, nghĩa

là khả năng hút thuốc của họ sẽ là 29.1%

Nếu TTN không có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và không cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tơng lai, thì Y = - 1.352 và P

= 0.206, nghĩa là khả năng hút thuốc của họ sẽ là 20.6%

Nh vậy, nếu TTN có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tơng lai sẽ có khả năng hút thuốc lá lớn hơn so với trờng hợp không có các tâm trạng này (29.1% so với 20.6%)

ảnh hởng của ngời thân trong gia đình và bạn thân có hút thuốc đối với nữ TTN hút thuốc

Phân tích đơn biến từ số liệu SAVY cho thấy nữ TTN chịu ảnh hởng của ngời mẹ hút thuốc (2 = 5.51 với p<0.05 và OR = 2.906), chị em gái hút thuốc (2 = 14.65 với p<0.000 và OR = 10.837) và ngời khác trong gia đình có hút thuốc (2 = 4.735 với p<0.05 và OR = 2.363) Bạn thân tuy không phải ngời trong gia đình nhng cũng có ảnh hởng (2 = 23.553 với p<0.000 và OR = 3.400)

Chỉ có 7 nữ TTN có chồng hút thuốc thì cả 7 nữ TTN này đều hút thuốc, tuy nhiên do số quan sát quá nhỏ nên khó đa ra một kết luận tin cậy Số liệu điều tra cũng cho thấy bố và anh em trai không có ảnh h-ởng tới việc hút thuốc lá của nữ TTN

Khi phân tích đa biến cho thấy: Mẹ, chị em gái, ngời khác trong gia

đình và bạn thân hút thuốc đều có ảnh hởng tới nữ TTN hút thuốc (xem bảng 1)

Bảng 1 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc lá

của nữ TTN Yếu tố trong mô hình Hệ số Sai số Mức ý OR

Trang 3

(Biến số độc lập) hồi qui (B) chuẩn (SE) nghĩa (p)

Mẹ hút thuốc

Chị em gái hút thuốc

Ngời khác trong gia đình

hút thuốc

Bạn thân hút thuốc

0,151; df=1 ; p=0,698

Hệ số Y của phơng trình logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc của TTN nữ trong mối quan hệ với mẹ, chị em gái, ngời khác trong gia đình và bạn thân hút thuốc lá theo mô hình trên nh sau:

Y = 1.053 x H6(1) + 2.308 x H6(3) + 0.886 x H6(6) + 1.272 x H7

- 4.880

Trong đó:

H6(1): mẹ; H6(3): chị em gái; H6(6): ngời khác trong gia đình; H7: bạn thân Các biến trên có giá trị = 0 nếu không hút và = 1 nếu có hút thuốc

Với phơng trình này, nếu mẹ, chị em gái, ngời khác trong gia đình

và bạn thân không hút thuốc, thì hệ số Y= - 4.880 và xác suất hút thuốc của TTN nữ đợc tính bằng công thức sau: P = 1/(1 + e -y ) Kết quả

là P = 0.38, nghĩa là chỉ có 38% số nữ có khả năng hút thuốc.

Nếu mẹ, chị em gái, ngời khác trong gia đình và bạn thân có hút thuốc, thì hệ số Y= 0.639 và xác suất hút thuốc của TTN nữ đợc tính bằng công thức sau: P = 1/(1 + e -y ) Kết quả là P = 0.654, nghĩa là có 65.4% số nữ có khả năng hút thuốc.

Rõ ràng, nếu mẹ, chị em gái, ngời khác trong gia đình và bạn thân có hút thuốc, thì khả năng hút thuốc của nữ TTN có thể đạt tới 65,4% cao hơn nhiều so với trờng hợp mẹ, chị em gái, ngời khác trong gia

đình và bạn thân không hút thuốc (38%)

ảnh hởng của ngời thân trong gia đình có uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và yếu tố địa d (thành thị và nông thôn) đối với nữ TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu

Trang 4

Phân tích đơn biến cho thấy có mối liên quan giữa bố uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu với nữ TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu (2 = 12.70 với p<0.000 và OR = 1.263) Tơng tự, nữ TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu cũng có quan hệ với anh em trai uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu (2 = 5.66 với p<0.05

và OR = 1.450) Khu vực thành thị cũng có quan hệ với nữ TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu (2 = 66.11 với p<0.01 và OR

= 1.738)

Tuy nhiên, phân tích đa biến không xác nhận mức ý nghĩa cần thiết của biến anh em trai nên mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ nữ TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu chỉ bao gồm

bố và khu vực c trú (xem bảng 3)

Bảng 3 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ uống hết

một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu ở nữ TTN

Yếu tố trong mô hình

(Biến số độc lập)

Hệ số hồi qui (B)

Sai số chuẩn (SE)

Mức ý nghĩa (giá trị p) OR

Bố uống rợu hàng ngày

hoặc nghiện rợu

Khu vực

Cỡ mẫu phân tích (N) = 3831 (*) = Nhóm so sánh — = Không áp dụng

Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer & Lemeshow test) 2 = 0.251; df=1 ; p=0.616

Phơng trình logistic dự đoán nguy cơ uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của nữ TTN liên quan với bố uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và khu vực c trú nh sau:

y = 0.314 x H12(2) + 0.564 x Ma2 - 0.306

Trong đó: H12(2): bố; Ma2: khu vực thành thị/nông thôn H12(2) = 0

là không uống, H12(2) = 1 nếu có uống rợu hàng ngày hoặc nghiện

r-ợu Ma2 = 0 nếu ở nông thôn và Ma2 = 1 nếu ở thành thị

Nếu gia đình có bố uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và thuộc khu vực thành thị, thì Y = 0.572 và P = 0.639, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của nữ TTN sẽ là 63.9% Nếu gia đình có bố không uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và thuộc khu vực thành thị, thì Y = 0.258 và P = 0.564, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của nữ TTN sẽ là 56.4%

Trang 5

Nếu gia đình có bố uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và thuộc khu vực nông thôn, thì Y = 0.008 và P = 0.502, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của nữ TTN sẽ là 50.2% Nếu gia đình có bố không uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và thuộc khu vực nông thôn, thì Y = - 0.306 và P = 0.42, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của nữ TTN sẽ là 42%

Rõ ràng, nếu gia đình có bố uống rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu và thuộc khu vực thành thị, thì khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của nữ TTN sẽ là cao nhất (63.9% so với 56.4%; 50.2%

và 42%)

ảnh hởng của tâm trạng buồn chán hoặc cảm giác rất buồn đối với TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly chén rợu

Tâm trạng cũng có mối liên quan với TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu Phân tích đơn biến từ số liệu SAVY cho thấy mối liên hệ giữa tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung (S11) với TTN uống hết 1 cốc vại bia hoặc 1 ly/chén rợu (2 = 63.27 với p<0.000

và OR = 1.512) S11 cũng có liên hệ với TTN cảm thấy say sau khi uống rợu bia (2 = 26.10 với p<0.000 và OR = 1.357) TTN uống hết 1 cốc vại bia hoặc 1 ly/chén rợu cũng có quan hệ với cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi làm cho không muốn hoạt

động nh bình thờng (S12) có ý nghĩa thống kê (2 = 30.90 với p<0.000 và OR = 1.363) Tơng tự, cảm giác này cũng có mối liên quan với TTN cảm thấy say sau khi uống rợu bia (2 = 12.89 với p<0.000 và

OR = 1.258) Tuy nhiên, không thấy có mối liên quan giữa S12 với số lần say rợu bia trong tháng

Phân tích đa biến đã cho thấy có mối liên quan giữa cả hai loại tâm trạng và cảm giác này (S11 và S12) với TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu và mô hình hồi quy biểu diễn mối quan hệ đó

nh sau:

Bảng 4 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ uống hết

một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN.

Yếu tố trong mô hình

(Biến số độc lập)

Hệ số hồi qui (B)

Sai số chuẩn (SE)

Mức ý nghĩa (giá trị p) OR

S11

S12

Cỡ mẫu phân tích (N) = 3831 (*) = Nhóm so sánh — = Không áp dụng

Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer & Lemeshow test) 2 = 2.123; df=2 ;

Trang 6

Phơng trình logistic dự đoán nguy cơ uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu trong mối quan hệ với tâm trạng buồn chán vì cuộc

đời nói chung hoặc cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không

có ích đến nỗi làm cho không muốn hoạt động nh bình thờng nh sau:

Y= 0.355 x S11 + 0.140 x S12 + 0.419

Trong đó:

S11 là tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung S11 = 1 nếu TTN

có tâm trạng đó, còn S11 = 0 nếu TTN không có tâm trạng đó

S12 là cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng S12 = 1 nếu TTN có cảm giác đó, còn S12 = 0 nếu TTN không có cảm giác đó

Nếu TTN có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng, thì Y = 0.914 và P = 0.714, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN sẽ là 71.4%

Nếu TTN không có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và không có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích

đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng, thì Y = 0.419 và P = 0.603, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN sẽ là 60.3%

Rõ ràng, nếu TTN có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và

có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng, thì khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN sẽ cao hơn trờng hợp không

có tâm trạng hoặc cảm giác trên (71.4% so với 60.3%)

ảnh hởng của ngời thân trong gia đình có hút thuốc hay uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu đối với nữ TTN hút thuốc lá hoặc uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu.

Phân tích đơn biến cho thấy nữ TTN hút thuốc có liên quan với tỷ lệ uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu (2 = 26.14 với p<0.001

và OR = 4.327) Đồng thời, ngời khác trong gia đình hút thuốc hoặc uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu cũng có liên quan tới nữ TTN hút thuốc hay uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu (2 = 8.61 với p<0.05 và OR = 1.518)

Phân tích đa biến cũng xác nhận ngời khác trong gia đình hút thuốc hoặc uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu có liên quan với nữ TTN hút thuốc hoặc uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu (xem bảng 5)

Trang 7

Bảng 5 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu hoặc hút thuốc của nữ

TTN

Yếu tố trong mô hình

(Biến số độc lập)

Hệ số hồi qui (B)

Sai số chuẩn (SE)

Mức ý nghĩa (giá trị

Ngời khác trong gia đình hút

thuốc hay uống nhiều rợu

hàng ngày hoặc nghiện

r-ợu

Cỡ mẫu phân tích (N) = 3831 (*) = Nhóm so sánh — = Không áp dụng

Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer & Lemeshow test) 2 = 0; df=0

Phơng trình logistic dự đoán nguy cơ uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu hay hút thuốc của nữ TTN trong mối quan hệ với ngời khác trong gia đình hút thuốc hoặc uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu nh sau:

Y= 0.417 x H6(6)_H12(6) - 0.066

Trong đó:

H6(6)_H12(6): ngời khác trong gia đình uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc H6(6)_H12(6) = 1 là ngời khác trong gia đình có uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc H6(6)_H12(6) = 0 là ngời khác trong gia đình không uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc

Nếu ngời khác trong gia đình có uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc, thì Y = 0.351 và P = 0.587, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu hay hút thuốc của nữ TTN đạt tới 58.7%

Nếu ngời khác trong gia đình không uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc, thì Y = - 0.066 và P = 0.484, nghĩa là khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu hay hút thuốc của nữ TTN chỉ là 48.4%

Rõ ràng, nếu ngời khác trong gia đình có uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc, thì khả năng uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu hay hút thuốc của nữ TTN sẽ cao hơn trờng hợp ngời khác trong gia đình không uống nhiều rợu hàng ngày hoặc nghiện rợu hay hút thuốc (58.7% so với 48.4%)

ảnh hởng của tâm trạng buồn chán hoặc cảm giác rất buồn đối với TTN hút thuốc hoặc uống hoặc một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu

Trang 8

Phân tích đa biến đã cho thấy có mối liên quan giữa S11 và S13 với TTN hút thuốc (xem bảng 2), đồng thời cũng thấy mối liên quan giữa S11 và S12 với TTN uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu (xem bảng 4)

Tuy vậy, khi phân tích cả 3 biến (S11, S12 và S13) liên quan với nguy cơ TTN hút thuốc lá và uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu thì chỉ 2 biến có ý nghĩa, đó là S11 và S12 Từ đó có mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ TTN hút thuốc lá và uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu nh sau (xem bảng 6):

Bảng 6 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc hoặc uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN Yếu tố trong mô hình

(Biến số độc lập)

Hệ số hồi qui (B)

Sai số chuẩn (SE)

Mức ý nghĩa (giá trị p) OR

S11

S12

Cỡ mẫu phân tích (N) = 3831 (*) = Nhóm so sánh — = Không áp dụng

Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer & Lemeshow test) 2 =1.262; df=2 ; p=0.53

Phơng trình logistic dự đoán nguy cơ hút thuốc và uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN trong mối quan hệ với tâm trạng buồn chán hoặc cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động bình thờng nh sau:

Y= 0.352 x S11 + 0.161 x S12 + 0.474

Trong đó:

S11 là tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung S11 = 1 nếu TTN

có tâm trạng đó, còn S11 = 0 nếu TTN không có tâm trạng đó

S12 là cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng S12 = 1 nếu TTN có cảm giác đó, còn S12 = 0 nếu TTN không có cảm giác đó

Nếu TTN có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng, thì Y = 0.987 và P = 0.728, nghĩa là khả năng hút thuốc hoặc uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN đạt tới 72.8%

Nếu TTN không có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và không có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích

đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng, thì Y = 0.474 và P =

Trang 9

0.616, nghĩa là khả năng hút thuốc hoặc uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu của TTN đạt tới 61.6%

Rõ ràng, nếu có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng, thì TTN có khả năng hút thuốc hoặc uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rợu cao hơn trờng hợp không có tâm trạng buồn chán vì cuộc đời nói chung và có cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là ngời không có ích đến nỗi không muốn hoạt động nh bình thờng (72.8% so với 61.6%)

Ngày đăng: 21/12/2019, 17:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w