1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp giúp hs yếu giải pt lớp 10

31 52 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 678,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về giải pháp để thực hiện tốt công tác phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Đảng đã chỉ thị cho ngành Giáo dục: “Nghiên cứu, ứng dụng những phương thức và phương pháp giáo dục mới ở t

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÚP ĐỠ HỌC SINH YẾU KÉM VỀ TOÁN THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHƯƠNG TRÌNH TRONG CHƯƠNG TRÌNH

CƠ BẢN LỚP 10 BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

NĂM HỌC 2018 – 2019

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh rất được Đảng và Nhà nước quan tâm Điều đó thể hiện trong mục tiêu cho ngành giáo dục “Xây dựng, đào tạo những con người

và thế hệ… có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức

khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác

phong công nghiệp…”(Nghị quyết TƯ 2 khoá VIII) Nhưng hiện nay, việc phát triển tư duy sáng tạo hầu như chỉ chú trọng đến đối tượng học sinh các lớp chuyên-chọn mà chưa

quan tâm đúng mức đến đối tượng học sinh đại trà

Về giải pháp để thực hiện tốt công tác phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Đảng

đã chỉ thị cho ngành Giáo dục: “Nghiên cứu, ứng dụng những phương thức và phương pháp giáo dục mới ở tất cả các cấp học, bậc học sao cho giáo dục không chỉ là truyền thụ

mà quan trọng hơn là khơi dậy tính chủ động và tiềm năng sáng tạo to lớn trong mỗi người

nhằm phát triển toàn diện bản thân và đóng góp tốt hơn cho sự phát triển của Đất nước”

Trong thực tế dạy học, nhiều giáo viên cũng có ý thức phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh nhưng chưa lựa chọn được phương pháp dạy học thích hợp nên hiệu quả của công tác này chưa cao Cụ thể với nội dung bài tập Hình học lớp 10 – Ban cơ bản, một chủ

đề có nhiều tiềm năng để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh - khi dạy giải bài tập, giáo viên thường áp đặt bằng cách đưa ra các cách giải có sẵn mà mình cho là hay, độc đáo và ít chú ý đến việc phát triển tư duy cho học sinh thông qua quá trình tìm tòi lời giải Với cách dạy đó học sinh sẽ thấy khó hiểu và khi gặp các bài tập hình học tương đối khó khác thì học sinh hoặc không giải được hoặc chỉ áp dụng rập khuôn các cách giải đã học, và nếu những cách giải đó không đưa đến kết quả thì học sinh thường không biết cách xoay xở thế nào

Như thế, phương pháp dạy học của những giáo viên đó không những không phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh mà còn chưa phát huy được tính tích cực, độc lập của học sinh trong quá trình tìm tòi lời giải bài toán và rộng hơn là giải quyết các nhiệm vụ học

tập vì “không thể dạy học sinh tư duy chỉ bằng cách trình bày cho học sinh biết cách tư duy của người khác” Trong trường hợp này, giáo viên chỉ coi trọng cung cấp kiến thức,

không quan tâm cung cấp tri thức phương pháp và rèn luyện khả năng học tập môn toán

cho các em

Trang 3

Xuất phát từ thực tiễn và những vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Góp phần bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông qua việc dạy học sinh một số bài tập Hình học lớp 10 – Ban cơ bản.”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm bồi dưỡng một số yếu tố của

tư duy sáng tạo trong dạy học nội dung Hình học ở lớp 10 trường trung học phổ thông –

Ban cơ bản

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ hơn khái niệm tư duy, tư duy sáng tạo

- Đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm bồi dưỡng một số yếu tố của tư duy sáng tạo trong dạy học nội dung Hình học ở lớp 10 trường trung học phổ thông – Ban cơ bản

- Xây dựng và khai thác hệ thống bài tập Hình học lớp 10 phù hợp với sự phát triển

tư duy sáng tạo của học sinh

- Tiền hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi, tính hiện thực, tính

hiệu quả của đề tài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu hoạt động giải toán Hình học lớp 10 trường trung học phổ thông – Ban

cơ bản theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh

Nghiên cứu các biện pháp sư phạm thích hợp trong dạy học bài tập Hình học lớp 10 trường trung học phổ thông – Ban cơ bản nhằm phát triển tư duy sáng tạo ở học sinh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu việc hình thành và phát triển một số yếu tố của tư duy sáng tạo trong

nội dung về dạy học bài tập Hình học lớp 10 trường trung học phổ thông – Ban cơ bản

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu Toán học; Phương pháp dạy học môn Toán và các

tài liệu khác liên quan đến đề tài

Các công trình nghiên cứu các vấn đề có liên quan trực tiếp đến đề tài (các luận văn, luận án, chuyên đề…)

5.2 Phương pháp thực nghiệm

Trang 4

Tổ chức thực nghiệm sư phạm để xem xét tính khả thi và hiệu quả của việc dạy học theo hướng bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh

6 Giả thuyết khoa học

Trên cơ sở tôn trọng chương trình và sách giáo khoa hiện hành, nếu xây dựng được một hệ thống bài tập theo định hướng rèn luyện tư duy sáng tạo và có phương pháp sử dụng thích hợp đối với hệ thống bài tập này thì có thể chủ động góp phần nâng cao chất lượng học toán và phát triển năng lực Toán học cho học sinh

7 Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, sáng kiến kinh nghiệm gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiển

Chương 2: Một số vấn đề dạy học giải bài tập Hình học theo định hướng bồi dưỡng

tư duy sáng tạo cho học sinh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

8 Những đóng góp của sáng kiến kinh nghiệm

- Đề tài góp phần làm sáng tỏ nội dung khái niệm tư duy sáng tạo và vai trò vị trí của việc phát triển tư duy sáng tạo trong dạy học toán

- Xác định được một số định hướng từ đó đề xuất các biện pháp dạy học theo hướng bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh

- Bổ sung, khai thác một số dạng bài tập BĐT có thể giúp học sinh rèn luyện kĩ năng sáng tạo

- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên toán trung học phổ thông

Trang 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN 1.1.Tư duy sáng tạo

1.1.1 Khái niệm về tư duy

Tư duy có tác dụng to lớn trong đời sống xã hội Người ta dựa vào tư duy để nhận thức những quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và lợi dụng những quy luật đó trong hoạt động thực tiển của mình

Nhận thức cảm tính có vai trò quan trọng trong đời sống tâm lí của con người, nó cung cấp vật liệu cho các hoạt động tâm lí cao hơn Tuy nhiên, thực tế luôn đặt ra những vấn đề mà bằng cảm tính, con người không thể nhận thức và giải quyết được Muốn cải tạo thế giới, con người phải đạt đến mức độ nhận thức cao hơn, nghĩa là phải tư duy

Có rất nhiều cách định nghĩa về tư duy, sau đây là một số quan điểm:

- Theo tâm lí học, tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết

- Theo từ điển triết học: “Tư duy, sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lí luận… Tư duy xuất hiện trong quá trình lao động sản xuất xã hội của con người và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên

hệ hợp quy luật của thực tại”

Tư duy thể hiện ở những khái niệm, phán đoán, suy luận

Các thao tác của tư duy chủ yếu là: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa Theo từ điển triết học:” Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được

tổ chức một cách biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lí luận … Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản suất

xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật của thực tại Cho nên, tư duy của con người đươc thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ nhất với lời nói, và những kết quả của tư duy được ghi nhận trong ngôn ngữ Tiêu biểu cho tư duy là những quá trình như trừu tượng hóa, phân tích và tổng hợp, việc nêu lên những vấn đề nhất định và tìm cách giải quyết chúng, việc đề xuất những giả thiết, những ý niệm,… Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ nào đó

Trang 6

Khả năng phản ánh thực tại một cách khái quát của tư duy được biểu hiện ở khả năng của con người có thể xây dựng những khái niệm chung, gắn liền với sự trình bày những quy luật tương ứng Khả năng phản ánh thực tại một cách gián tiếp của tư duy được biểu hiện ở khả năng suy lí, kết luận logic, chứng minh của con người Xuất phát từ chổ phân tích những sự kiện có thể tri giác được một cách trực tiếp, nó cho phép nhận thức được những gì không thể tri giác được nhờ các giác quan Tư duy của con người được nghiên cứu trong những lĩnh vực khoa học khác nhau và bằng những phương pháp khác

nhau”

Từ các định nghĩa trên, ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản sau đây của tư duy:

- Tư duy là sản phẩm của bộ não con người và là một quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan;

- Bản chất của tư duy là ở sự phân biệt sự tồn tại độc lập của đối tượng được phản ánh với hình ảnh nhận thức được qua khả năng hoạt động suy nghĩ của con người nhằm phản ánh được đối tượng;

- Tư duy là quá trình phát triển năng động và sáng tạo;

- Khách thể trong tư duy được phản ánh với nhiều mức độ khác nhau từ thuộc tính này đến thuộc tính khác, nó phụ thuộc vào chủ thể là con người;

- Tư duy chỉ nảy sinh khi gặp những hoàn cảnh có vấn đề;

- Tư duy của con người có liên hệ mật thiết với ngôn ngữ, kết quả của nó bao giờ cũng là một ý nghĩ và được thể hiện qua ngôn ngữ;

1.1.2 Sáng tạo và quá trình sáng tạo

a) Khái niệm về sáng tạo

Theo định nghĩa trong từ điển thì sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần; hoặc sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị phụ thuộc,

gò bó vào cái đã có Nội dung sáng tạo gồm hai ý chính: có tính chất mới (khác với cái cũ, cái đã biết) và có lợi ích (tốt, có giá trị hơn cái cũ, cái đã biết)

Sáng tạo là năng lực đáp ứng một cách thích đáng nhu cầu tồn tại theo lối mới, năng lực gây ra cái gì đó mới mẻ Sự thích ứng như vậy, nếu co xu hướng nội tâm lí thì chủ yếu liên quan đến cảm giác, phát hiện sự nảy sinh những ý và nghĩa trong quá trình hình thành mục đích, nếu có xu hướng ngoại tâm lí thì mang những hình thức của các cấu trúc mới, những quá trình hoặc sáng chế mới hoặc tiếp tục tồn tại

Trang 7

Cái mới có thể là chủ quan, thí dụ: hình thức mới của bản thân, hoặc cấu tạo mới gia nhập vào thế giới khách quan do hoạt động sáng tạo của con người

Theo tính chất phân bố, các năng lực sáng tạo rất giống những biến cố nhân cách thông thường J.Gillord đã xác lập cấu trúc như sau: tính độc đáo, tính dễ dàng (ở phương diện tư duy và biểu đạt), tính mềm mại thích ứng và tự nhiên, tính nhạy cảm đối với các tình huống có vấn đề, các phẩm chất trí tuệ

Tính linh hoạt, tính độc lập, tính phê phán là những điều kiện cần thiết của tư duy sáng tạo, là những đặc điểm về những mặt khác nhau của tư duy sáng tạo Tính sáng tạo của tư duy thể hiện rõ ở nét ở khả năng tạo ra cái mới: phát hiện ra vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quả mới Nhấn mạnh cái mới không có nghĩa là coi nhẹ cái cũ, cái mới thường nảy sinh, bắt nguồn từ cái cũ, nhưng vấn đề là ở chỗ cách nhìn cái cũ như thế nào Các khái niệm nhóm, vành, trường chẳng qua là một sự trừu tượng hóa, khái quát hóa những đối tượng, những quan hệ và những tính chất đã thấy trên một tập hợp số Nhưng

rõ ràng việc đi từ những tập hợp số tới các khái niệm nhóm, vành, trường là một sự sáng tạo lớn Tính sáng tạo có thể dẫn đến những suy nghĩ rất táo bạo, nhưng có căn cứ chứ không phải là nghĩ liều, làm liều

Sự sáng tạo là cần thiết cho bất kì lĩnh vực nào của xã hội loài người, sáng tạo thường được nghiên cứu trên nhiều bình diện như một quá trình phát sinh ra cái mới, như một kiểu tư duy, như một năng lực của con người và thậm chí như một hiện tượng tồn tại trong sự tiến hóa của tự nhiên

Từ những quan điểm trên, ta có thể quan niệm: Một quá trình tư duy được coi là sáng tạo nếu nó tạo ra cái mới Tuy nhiên cần chú ý là ta nhấn mạnh cái mới không có nghĩa là coi nhẹ cái cũ Cái mới thường nảy sinh và kế thừa từ cái cũ, hay nói cách khác cái cũ đã chứa mầm mống nảy sinh cái mới Vấn đề nhìn cái cũ như thế nào rất quan trọng

Tuy nhiên nói “sáng tạo” là có tính tương đối Một phát hiện có thể coi là sáng tạo trong một hoàn cảnh nào đó, chưa chắc được coi là sáng tạo trong một tình huống, hoàn cảnh khác Một phát hiện có thể là sáng tạo với người này nhưng không phải mới mẻ với người khác, sáng tạo ở thời điểm này nhưng không là sáng tạo ở thời điểm khác,…

Với nhận thức như trên, trong dạy học sáng tạo phải luyện tập cho học sinh thói quen và khả năng biến đổi các sự vật, hiện tượng, quá trình Đồng thời, đối với học sinh phổ thông, sự sáng tạo đối với họ không nhất thiết đòi hỏi phải đưa ra cái mới đối với

Trang 8

nhân loại Nếu họ đương đầu với những vấn đề mới đối với họ và họ tự mình tìm tòi độc lập những vấn đề đó để thu được cái mới mà họ chưa từng biết, hoặc thu được các kết quả bằng những thủ pháp mới, các thao tác mới, các công cụ mới, thì đó chính là sự sáng tạo

b) Quá trình sáng tạo

Theo sự công nhận rộng rãi của nhiều nhà khoa học thì quá trình sáng tạo trải qua bốn giai đoạn:

 Giai đoạn chuẩn bị: Là giai đoạn chủ thể hoạt động tìm kiếm cách giải quyết vấn

đề, thu thập tài liệu, tìm hiểu các thông tin liên quan

 Giai đoạn ấp ủ: Giai đoạn này bắt đầu khi công việc giải quyết các vấn đề một cách có ý thức bị ngừng lại, chỉ còn các hoạt động của tiềm thức, các hoạt động được bổ sung cho vấn đề được quan tâm

 Giai đoạn bừng sáng: Giai đoạn ấp ủ kéo dài cho đến khi sự “bừng sáng” trực giác, một bước nhảy vọt về chất trong tiến trình nhận thức, xuất hiện đột ngột và kéo theo

là sự sáng tạo Đây là giai đoạn quyết định trong quá trình tìm kiếm lời giải

 Giai đoạn kiểm chứng: Là giai đoạn chủ thể kiểm tra trực giác, kiểm ta các luận chứng lôgic để có thể chứng tỏ tính đúng đắn của cách thức giải quyết vấn đề, khi đó sự sáng tạo mới được khẳng định

Quá trình sáng tạo có một số đặc điểm sau:

- Là tiền đề chuyển tri thức và kỹ năng vào hoàn cảnh mới

- Nhận ra vấn đề mới trong những điều kiện quen thuộc

- Lựa chọn cách giải quyết tốt nhất trong từng hoàn cảnh nhờ khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và hoàn cảnh khác nhau

- Năng lực tìm kiếm và quyết định phương pháp giải quyết độc đáo trong khi đã biết được nhiều phương pháp truyền thống

- Tính kế hoạch, tỉ mỉ, chuyên cần,kiên định mục đích

Trong quá trình sáng tạo toán học, thường xuất hiện những trạng thái hay tình huống một tư tưởng nào đó đột nhiên “bừng sáng” trong đầu óc con người hoặc đặt con người trong trạng thái “hứng khởi” cao độ, khi đó các tư tưởng hình như cứ theo nhau kéo đến một cách dồn dập, những “ý hay”, theo cách nói của G.Polya, sẽ giúp họ đi đến những kết quả mới

Trang 9

1.1.3 Tư duy sáng tạo, các thành phần của tư duy sáng tạo

1.1.3.1 Tư duy sáng tạo

Là tư duy tạo ra được cái mới tuy nhiên học sinh trong quá trình sáng tạo, tạo ra cái mới không phải chủ yếu đối với xã hội mà đối với chủ quan mình, nhưng cái mới ấy đồng thời cũng có ý nghĩa, bởi khi đó cá nhân được hình thành và biểu lộ

Theo nhà tâm lí học người Đức Mehlhorn cho rằng: “Tư duy sáng tạo là hạt nhân của sự sáng tạo cá nhân, đồng thời là mục tiêu cơ bản của giáo dục” Theo ông, tư duy sáng tạo bởi mức độ cao của chất lượng hoạt động trí tuệ

Như vậy, “Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập, tạo ra ý tưởng mới, độc đáo

và có hiệu quả cao trong giải quyết vấn đề”

Tùy vào mức độ tư duy, người ta chia nó thành: tư duy tích cực, tư duy độc lập, tư duy sáng tạo, mỗi mức độ tư duy đi trước là tiền đề tạo nên mức độ tư duy đi sau Đối với chủ thể nhận thức, tư duy tích cực đặc trưng bởi sự khát vọng, sự cố gắng trí tuệ và nghị lực còn tư duy độc lập thể hiện ở khả năng tự phát hiện và giải quyết vấn đề, tự kiểm tra và hoàn thiện kết quả đạt được Không thể có tư duy sáng tạo nếu không có tư duy tích cực và

tư duy độc lập Mặt khác, một số tác giả cho rằng:”Tính linh hoạt, tính độc lập và tính phê phán là những điều kiện cần thiết của tư duy sáng tạo, là những đặc điểm về những mặt

khác nhau của tư duy sáng tạo”

Khái niệm TDST có quan hệ hữu cơ với khái niệm tư duy tích cực và tư duy độc lập Krutecxki V.A cho rằng có thể biểu diễn quan hệ trên dưới dạng những vòng tròn đồng tâm

Để làm rõ mối quan hệ này, Krutecxki V.A đã giải thích bằng một ví dụ:

+ Một học sinh chăm chú nghe thầy giảng cách chứng minh định lí, cố gắng hiểu được tài liệu Ở đây cần nói đến tư duy tích cực

TDST TDDL

TDTC

Trang 10

+ Nếu giáo viên đáng lí giải thích, lại yêu cầu học sinh tự phân tích định lí dựa theo bài đọc trong sách giáo khoa, tự tìm hiểu cách chứng minh thì trong trường hợp này cần nói đến tư duy độc lập (và tất nhiên cũng là tư duy tích cực)

+ Có thể nói đến tư duy sáng tạo khi học sinh tự khám phá, tự tìm cách chứng minh

mà học sinh đó chưa biết

- Nhắc lại gồm những kỹ năng như gọi lại một sự kiện cơ bản (công thức, định lý,

các hằng đẳng thức…mà học sinh đã ghi nhớ trước đó) hoặc thể hiện một thuật toán đã được học Về bản chất, tư duy nhắc lại có tính tự động hoặc phản xạ

- Hiểu (cơ bản) gồm việc hiểu các khái niệm toán cũng như nhận ra những áp dụng

của chúng vào các bài toán, các tình huống trong toán học cũng như trong cuộc sống

- Phê phán là khả năng xem xét các mối liên hệ, đánh giá tất cả mọi khía cạnh của

tình huống hoặc bài toán Tư duy phê phán cũng thể hiện qua việc học sinh có khả năng đọc hiểu được bài toán, nhận ra giả thiết và các yêu cầu của bài toán, phân biệt giữa thông tin cần thiết và thông tin thừa, nhận ra có những điều kiện không đủ hay thậm chí mâu thuẩn, xác định tính hợp lý của lời giải… Mức độ tư duy này gồm các kỹ năng: tập trung vào những yếu tố của bài toán hay tình huống khó khăn, thu thập và sắp xếp thông tin trong bài toán, nhớ và kết hợp với thông tin đã học Tư duy phê phán có tính phân tích và phản ánh

- Sáng tạo là tư duy có tính phát minh, khởi đầu Tư duy sáng tạo gồm các kỹ năng như: tổng hợp các ý tưởng, tổng quát các ý tưởng và áp dụng các ý tưởng TDST có tính

phát triển liên tục Kiến thức đã biết được tổng hợp, kết hợp, tổng quát tạo ra các ý tưởng mới Các ý tưởng mới này được áp dụng, sau đó được phân tích, phê phán để xác định tính hiệu quả của các ý tưởng mới và quá trình sáng tạo lại tiếp tục xảy ra

Chính vì TDST có tính phát triển liên tục và mang đậm tính cá nhân (sáng tạo

đối với ai) nên việc rèn luyện và phát triển TDST cho học sinh là có cơ sở đúng đắn Và

điều đó được các nhà giáo dục khẳng định: “sự sáng tạo là một phần của thế giới các kỹ năng tư duy của mỗi con người và nó có thể được phát triển như các loại tư duy khác”

1.1.3.2 Các thành phần của tư duy sáng tạo

Qua nghiên cứu của các nhà tâm lí học, giáo dục học, các nhà khoa học giáo dục về cấu trúc của TDST ta có thể thấy nổi bật lên 5 yếu tố đặc trưng cơ bản của TDST là:

- Tính mềm dẻo

Trang 11

Tính mề dẻo của tư duy còn là năng lực thay đổi dễ dàng, nhanh chóng trật tự của

hệ thống tri thức chuyển từ góc độ quan điểm này sang góc độ quan điểm khác, định nghĩa lại sự vật, hiện tượng, gạt bỏ sơ đồ tư duy có sẵn và xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong những quan hệ mới, hoặc chuyển đổi quan hệ và nhận ra bản chất

sự vật Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cách máy móc các kiến thức kỹ năng đã có sẵn vào hoàn cảnh mới, điều kiện mới, trong đó có những yếu tố đã thay đổi,

có khả năng thoát khỏi ảnh hưởng kìm hãm của những kinh nghiệm những phương pháp, những cách suy nghĩ đã có từ trước Đó là nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết

Như vậy, tính mềm dẻo là một trong những đặc điểm cơ bản của tư duy sáng tạo, do

đó để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh ta có thể cho các em giải các bài tập mà thông qua đó rèn luyện tính mềm dẻo của tư duy

b) Tính nhuần nhuyễn

Tính nhuần nhuyễn của tư duy thể hiện ở năng lực tạo ra một cách nhanh chóng sự

tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của các tình huống, hoàn cảnh, đưa ra giả thuyết mới Các nhà tâm lý học rất coi trọng yếu tố chất lượng của ý tưởng sinh ra, lấy đó làm tiêu chí để đánh giá sáng tạo

Tính nhuần nhuyễn được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng nhất định các

ý tưởng Số ý tưởng nghĩ ra càng nhiều thì càng có nhiều khả năng xuất hiện ý tưởng độc đáo, trong trường hợp này số lượng làm nảy sinh ra chất lượng Tính nhuần nhuyễn còn thể hiện rõ nét ở hai đặc trưng sau:

Trang 12

- Một là tính đa dạng của các cách xử lý khi giải toán, khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau Đứng trước một vấn đề phải giải quyết, người có tư duy nhuần nhuyễn nhanh chóng tìm và đề xuất được nhiều phương án khác nhau và từ đó tìm được phương án tối ưu

c) Tính độc đáo

Tính độc đáo của tư duy được đặc trưng bởi các khả năng

- Khả năng tìm ra những hiện tượng và những kết hợp mới

- Khả năng nhìn ra những mối liên hệ trong những sự kiện mà bên ngoài liên tưởng như không có liên hệ với nhau

- Khả năng tìm ra những giải pháp lạ hơn những giải pháp đã biết khác

Các yếu tố cơ bản trên không tách rời nhau mà trái lại chúng có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau Khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác (tính mềm dẻo) tạo điều kiện cho việc tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tính huống khác nhau (tính nhuần nhuyễn) và nhờ đó đề xuất được nhiều phương án khác nhau và có thể tìm được giải pháp lạ, đặc sắc (tính độc đáo) Các yếu tố này có quan hệ khăng khít với các yếu tố như: tính chính xác, tính hoàn thiện, tính nhạy cảm vấn đề Tất cả các yếu tố đặc trưng nói trên cùng góp phần tạo nên tư duy sáng tạo, đỉnh cao nhất trong các hoạt động trí tuệ của con người

d) Tính hoàn thiện

Tình hoàn thiện là khả năng lập kế hoạch, phối hợp các ý nghĩ và hành động, phát triển ý tưởng, kiểm tra và kiểm chứng ý tưởng

e) Tính nhạy cảm vấn đề

Tính nhạy cảm vấn đề có các đặc trưng sau:

- Khả năng nhanh chóng phát hiện vấn đề

- Khả năng phát hiện ra mâu thuẫn, sai lầm, thiếu lôgic, chưa tối ưu từ đó có nhu cầu cấu trúc lại, tạo ra cái mới

Các yếu tố cơ bản của tư duy sáng tạo nói trên đã biểu hiện khá rõ ở học sinh nói chung và đặc biệt rõ nét đối với học sinh khá giỏi Trong học tập Toán mà cụ thể là trong hoạt động giải toán, các em đã biết di chuyển, thay đổi các hoạt động trí tuệ, biết sử dụng xen kẽ phân tích và tổng hợp, dùng phân tích trong khi tìm tòi lời giải và dùng tổng hợp để trình bày lời giải Ở học sinh khá và giỏi cũng có sự biểu hiện các yếu tố đặc trưng của tư

Trang 13

duy sáng tạo Điều quan trọng là người giáo viên phải có phương pháp dạy học thích hợp

để có thể bồi dưỡng và phát triển tốt hơn năng lực sáng tạo của các em

1.1.4 Vận dụng tư duy biện chứng để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh

Tư duy biện chứng có thể phản ánh đúng đắn thế giới xung quanh và nhiệm vụ của người giáo viên là rèn luyện cho học sinh năng lực xem xét các đối tượng và hiện tượng trong sự vận động, trong những mối liên hệ, mối mâu thuẫn và trong sự phát triển

Tư duy biện chứng rất quan trọng, nó là cái giúp ta phát hiện vấn đề và định hướng tìm tòi cách giải quyết vấn đề, nó giúp ta củng cố lòng tin khi trong việc tìm tòi tạm thời gặp thất bại, khi đó ta vẫn vững lòng tin rằng rồi sẽ có ngày thành công và hướng tìm đến thành công là cố nhìn cho được mỗi khái niệm toán học theo nhiều cách khác nhau, càng nhiều càng tốt

Tư duy sáng tạo là loại hình thức tư duy đặc trưng bởi hoạt động và suy nghĩ nhận thức mà những hoạt động nhận thức ấy luôn theo một phương diện mới, giải quyết vấn đề theo cách mới, vận dụng trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới, xem xét sự vật hiện tượng,

về mối quan hệ theo một cách mới có ý nghĩa, có giá trị Muốn đạt được điều đó khi xem xét vấn đề nào đó chúng ta phải xem xét từ chính bản thân nó, nhìn nó dưới nhiều khía cạnh khác nhau, đặt nó vào những hoàn cảnh khác nhau,… như thế mới giải quyết vấn đề một cách sáng tạo được Mặt khác tư duy biện chứng đã chỉ rõ là khi xem xét sự vật phải xem xét một cách đầy đủ với tất cả các tính phức tạp của nó, tức là phải xem xét sự vật trong tất cả các mặt, các mối quan hệ trong tổng thể những mối quan hệ phong phú, phức tạp và muôn vẻ có nó với các sự vật khác Đây là cơ sở để học sinh học toán một cách sáng tạo, không gò bó, đưa ra được nhiều cách giải khác nhau

Điều đó có nghĩa là chúng ta phải rèn luyện tư duy biện chứng cho học sinh hay nói cách khác là rèn luyện tư duy biện chứng cho học sinh từ đó có thể rèn luyện được tư duy sáng tạo cho học sinh

1.2 Tìm năng của Hình học trong việc bồi dƣỡng tƣ duy sáng tạo cho học sinh

Trong quá trình học Toán thì kỹ năng vận dụng Toán học là quan trọng nhất, nhà trường phổ thông không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức Toán học, mà còn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng tính độc lập, sự độc đáo và khả năng sáng tạo

Trang 14

Các nhà tâm lý học cho rằng: “Sáng tạo bắt đầu từ thời điểm mà các phương pháp lôgic để giải quyết nhiệm vụ là không đủ và gặp trở ngại hoặc kết quả không đáp ứng được các đòi hỏi đặt ra từ đầu, hoặc xuất hiện giải pháp mới tốt hơn giải pháp cũ”

Chính vì vậy điều quan trọng là hệ thống bài tập cần phải được khai thác và sử dụng hợp lý nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng phát triển tư duy sáng tạo biểu hiện ở các mặt như: khả năng tìm hướng đi mới (khả năng tìm nhiều lời giải khác nhau cho một bài toán), khả năng tìm ra kết quả mới (khai thác các kết quả của một bài toán, xem xét các khía cạnh khác nhau của một bài toán)

Chủ đề hình học chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn trong việc bồi dưỡng và phát huy năng lực sáng tạo cho học sinh Bên cạnh việc giúp học sinh giải quyết các bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên có thể khai thác các tìm năng đó thông qua việc xây dựng

hệ thống bài tập mới trên cơ sở hệ thống bài tập cơ bản, tạo cơ hội cho học sinh phát triển năng lực sáng tạo của mình

Trong quá trình dạy học giáo viên cần dẫn dắt học sinh giải quyết hệ thống bài tập mới, tạo cho học sinh phát hiện vấn đề mới, đó là vấn đề quan trọng mà ta cần quan tâm bồi dưỡng cho học sinh

Có nhiều phương pháp khai thác các bài tập cơ bản trong sách giáo khoa, để tạo ra các bài toán có tác dụng rèn luyện tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo của tư duy

Ngoài ra tư duy hình học mang những nét đặc trưng quan trọng và cơ bản của tư duy toán học Việc phát triển tư duy hình học luôn gắn với khả năng phát triển trí tưởng tượng không gian, phát triển tư duy hình học luôn gắn liền với việc phát triển của phương pháp suy luận; việc phát triển tư duy ở cấp độ cao sẽ kéo theo sự phát triển tư duy đại số Như vậy để nâng dần cấp độ tư duy trong dạy học hình học, việc dạy học phải được chú ý vào phát triển trí tưởng tượng không gian bằng các: giúp học sinh hình thành và tích lũy các biểu tượng không gian một cách vững chắc, biết nhìn nhận các đối tượng hình học ở các không gian khác nhau, biết đón nhận sự thay đổi của các biểu tượng không gian khi thay đổi một số sự kiện

1.3 Kết luận chương 1

Trong chương này, đề tài đã làm rõ các khái niệm tư duy, tư duy sáng tạo, nêu được các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo, và vận dụng được tư duy biện chứng để phát

Trang 15

triển tư duy sáng tạo, đồng thời nêu được tiềm năng của nội dung bài tập Hình học lớp 10 trường trung học phổ thông – Ban cơ bản trong việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh

Việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua quá trình dạy học giải bài tập toán là rất cần thiết bởi qua đó chúng ta giúp học sinh học tập tích cực hơn và kích thích được tính sáng tạo của học sinh trong học tập và trong cuộc sống

Ngày đăng: 16/12/2019, 15:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Võ Bá Quốc Cẩn – Trần Quốc Anh (2010), Sử dụng phương pháp Côsi-Schwarz để chứng minh Bất đẳng thức, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phương pháp Côsi-Schwarz để chứng minh Bất đẳng thức
Tác giả: Võ Bá Quốc Cẩn – Trần Quốc Anh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010
[2].Lê Thị Hoài Châu (2006), Đổi mới chương trình - nội dung và phương pháp dạy học toán, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học phổ thông, chu kỳ III, 2004- 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chương trình - nội dung và phương pháp dạy học toán
Tác giả: Lê Thị Hoài Châu
Năm: 2006
[3]. Hoàng Chúng (1969), Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học trường phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học trường phổ thông
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1969
[4]. Nguyễn Hữu Điển (2003), Sáng tạo trong giải Toán phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo trong giải Toán phổ thông
Tác giả: Nguyễn Hữu Điển
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
[5]. Võ Giang Giai (2002), Chuyên đề Bất đẳng thức, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Bất đẳng thức
Tác giả: Võ Giang Giai
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
[6]. Bùi Thị Hà (2003), Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông qua dạy bài tập Nguyên hàm, tích phân, Luận văn thạc sĩ Giáo dục, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông qua dạy bài tập Nguyên hàm, tích phân
Tác giả: Bùi Thị Hà
Năm: 2003
[7]. Nguyễn Thái Hoè (2001), Rèn luyện tư duy qua việc giải bài tập Toán, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy qua việc giải bài tập Toán
Tác giả: Nguyễn Thái Hoè
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
[8]. Phạm Kim Hùng (2006), Sáng tạo Bất đẳng thức, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo Bất đẳng thức
Tác giả: Phạm Kim Hùng
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2006
[9]. Phạm Văn Hoàn, Trần Thúc Trình, Nguyễn Gia Cốc (1981), Giáo dục học môn Toán, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học môn Toán
Tác giả: Phạm Văn Hoàn, Trần Thúc Trình, Nguyễn Gia Cốc
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1981
[10]. Phạm Văn Hoàn, Phạm Gia Đức (1979), Rèn luyện kĩ năng công tác độc lập cho học sinh thông qua môn Toán, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng công tác độc lập cho học sinh thông qua môn Toán
Tác giả: Phạm Văn Hoàn, Phạm Gia Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1979
[11]. Nguyễn Thanh Hưng (2010), Rèn luyện và phát triển tư duy biện chứng khi dạy học môn hình học ở trường trung học phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện và phát triển tư duy biện chứng khi dạy học môn hình học ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thanh Hưng
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[12]. Nguyễn Bá Kim (2004), Phương pháp dạy học môn Toán, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w