Câu 1: Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo trong lịch sử triết học Ấn Độ cổ trung đại. Liên hệ vai trò của Phật giáo ở Việt Nam. Thân thế, sự nghiệp của Phật Thích Ca Phật giáo là một trào lưu triết học xuất hiện vào thế kỉ VI TCN. Người sáng lập Phật giáo là thái tử Tất Đạt Đa, họ Gôtama. Phật sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 TCN, nhưng theo truyền thống Phật lịch là ngày rằm tháng tư (154) gọi là ngày Phật Đản. Ông là con vua Tịnh Phạn, trị vì một xứ nhỏ ở trung lưu song Hằng là Ca tỳ la vệ. Cuộc sống nơi cung đình đã tạo cơ hội cho ông chăm lo việc học hành, lễ bái, yến tiệc và giải trí. Vì vậy, ông không hay biết những gì đen tối, cực nhọc, nỗi bất hạnh diễn ra ngoài xã hội. Năm 17 tuổi, ông cưới vợ và sinh được một người con trai đặt tên là La Hầu La. Sau bốn lần trực tiếp ra ngoài thành và tận mắt chứng kiến nỗi khổ của kiếp người, ông quyết noi theo các đạo sĩ tu theo lối sống khổ hạnh. Năm 29 tuổi, ông bỏ nhà ra đi để trở thành một ẩn sĩ. Sau 6 năm tu khổ hạnh, ông chợt nhận thấy rằng, lối tu đó cũng không giải thoát con người khỏi nỗi đau sinh, lão, bệnh, tử. Theo ông, tu khổ hạnh hay chủ trương khoái lạc cũng đều là những cực đoan phi lý như nhau. Bằng sự kiên trì và nhạy cảm trí tuệ, cuối cùng ông đã phát hiện ra con đường “trung đạo”, một con đường có thể dẫn con người đến sự giải thoát. Bằng lối tu đó, sau 49 ngày chìm đắm trong những tư duy sâu thẳm, ông tuyên bố đã đạt đến chân lí, đã hiểu được bản chất sự tồn tại của nhân sinh, Từ đó, ông được gọi là Thích Ca Mâu Ni tức người giác ngộ chân lí đầu tiên có họ là Thích Ca. Ông bắt đầu sự nghiệp hoằng hóa của mình, thu nạp đệ tử, thành lập các tang đoàn Phật giáo. Vào năm 483 TCN, ông tạ thế. Xét về mặt triết học, Phật giáo được coi là triết lí thăng trầm về vũ trụ và con người. Với mục đích giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức độ của con người. Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động. Nó trở thành biểu tượng của lòng từ bi bát ái trong đạo đức truyền thống của các dân tộc châu Á. Kinh điển của Phật giáo rất đồ sộ, bao gồm 3 bộ phận gọi là Tam tạng kinh, đó là: Tạng kinh (ghi lại những lời dạy của Phật Thích Ca, Tạng luật (những điều quy định mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo), Tạng luận (các tác phẩm luận giải về Phật giáo của các học giả cao tăng về sau). Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung của 3 phạm trù là: vô ngã, vô thường và duyên.
Trang 1Mục lục
Câu 1: Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo trong lịch sử triết học Ấn Độ cổ trung đại Liên hệ vai trò của Phật giáo ở Việt Nam.
* Thân thế, sự nghiệp của Phật Thích Ca
Phật giáo là một trào lưu triết học xuất hiện vào thế kỉ VI - TCN Người sáng lậpPhật giáo là thái tử Tất Đạt Đa, họ Gôtama Phật sinh ngày 8 tháng 4 năm 563TCN, nhưng theo truyền thống Phật lịch là ngày rằm tháng tư (15/4) gọi là ngàyPhật Đản Ông là con vua Tịnh Phạn, trị vì một xứ nhỏ ở trung lưu song Hằng là Ca tỳ
la vệ Cuộc sống nơi cung đình đã tạo cơ hội cho ông chăm lo việc học hành, lễ bái,yến tiệc và giải trí Vì vậy, ông không hay biết những gì đen tối, cực nhọc, nỗi bất hạnhdiễn ra ngoài xã hội Năm 17 tuổi, ông cưới vợ và sinh được một người con traiđặt tên là La Hầu La Sau bốn lần trực tiếp ra ngoài thành và tận mắt chứng kiến nỗi khổ củakiếp người, ông quyết noi theo các đạo sĩ tu theo lối sống khổ hạnh
Năm 29 tuổi, ông bỏ nhà ra đi để trở thành một ẩn sĩ Sau 6 năm tu khổ hạnh,ông chợt nhận thấy rằng, lối tu đó cũng không giải thoát con người khỏi nỗi đausinh, lão, bệnh, tử Theo ông, tu khổ hạnh hay chủ trương khoái lạc cũng đều là nhữngcực đoan phi lý như nhau Bằng sự kiên trì và nhạy cảm trí tuệ, cuối cùng ông đã pháthiện ra con đường “trung đạo”, một con đường có thể dẫn con người đến sự giảithoát Bằng lối tu đó, sau 49 ngày chìm đắm trong những tư duy sâu thẳm, ôngtuyên bố đã đạt đến chân lí, đã hiểu được bản chất sự tồn tại của nhân sinh, Từ đó,ông được gọi là Thích Ca Mâu Ni - tức người giác ngộ chân lí đầu tiên có họ là Thích
Ca Ông bắt đầu sự nghiệp hoằng hóa của mình, thu nạp đệ tử, thành lập các tang đoànPhật giáo Vào năm 483 TCN, ông tạ thế
Xét về mặt triết học, Phật giáo được coi là triết lí thăng trầm về vũ trụ và conngười Với mục đích giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sốngđức độ của con người Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tincủa đông đảo quần chúng lao động Nó trở thành biểu tượng của lòng từ bi bát áitrong đạo đức truyền thống của các dân tộc châu Á
Kinh điển của Phật giáo rất đồ sộ, bao gồm 3 bộ phận gọi là Tam tạng kinh, đó là:Tạng kinh (ghi lại những lời dạy của Phật Thích Ca, Tạng luật (những điều quy định màgiáo đoàn Phật giáo phải tuân theo), Tạng luận (các tác phẩm luận giải về Phật giáo củacác học giả cao tăng về sau)
* Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan
Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung của 3phạm trù là: vô ngã, vô thường và duyên
- Quan điểm “vô ngã” (không có cái “ta”, cái “tôi” chân thực): Phật giáo cho rằng
thế giới xung quanh ta và cả con người không phải do một vị thần sáng tạo ra mà đượccấu thành bởi sự kết hợp của hai yếu tố vật chất và tinh thần Vật chất gọi là “sắc”, là cái cóthể cảm giác được, nó bao gồm đất, nước, lửa, không khí Tinh thần là “danh”, không cóhình chất mà chỉ có tên gọi, bao gồm thụ (cảm thụ), tưởng (sự suy nghĩ, tư tưởng), hành(ý muốn thúc đẩy hành động), thức (sự nhận thức) Chính cái “danh” và cái “sắc” đókết hợp với nhau tạo thành “ngũ uẩn” Ngũ uẩn tác động qua lại tạo nên vạn vật và conngười Nhưng sự tồn tại chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tạimãi mãi Do đó, không có cái “bản ngã” hay cái tôi chân thực
1
Trang 2- Quan điểm “vô thường” (vận động biến đổi không ngừng): qua điểm này
cho rằng thế giới là dòng biến đổi không ngừng, không nghỉ theo chu trình bất tận: sinh, trụ,
dị, diệt.Quan điểm “duyên” (điều kiện giúp nguyên nhân thành kết quả): Phật giáo cho
rằng, mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ, từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất đều chịu sự chiphối của luật nhân duyên Trong đó, duyên là điều kiện giúp nguyên nhân thành kếtquả, kết quả ấy lại nhờ có duyên mà trở thành nguyên nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên
mà thành kết quả mới, cứ như vậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự vật Vídụ: Hạt lúa là nguyên nhân, nhờ có duyên (đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, ) mà có kếtquả là cây lúa
Trong thực tế, quá trình nhân - quả là vô tận Quá trình trước là cơ sở, nguyên nhâncho quá trình sau Ví dụ: Tốt nghiệp lớp 12 là kết quả của 12 năm học tập, đồng thời lànguyên nhân cho vào đại học Tuy nhiên, tốt nghiệp 12 đồng thời cũng là nguyênnhân cho việc học cao học
Như vậy, thong qua phạm trù vô ngã, vô thường và duyên, triết học Phật giáo đã bác
bỏ qua điểm duy tâm cho rằng Brahman sáng tạo ra con người và thế giới Phật giáocho rằng con người và sự vật được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần, các sựvật của thế giới nằm trong quá trình biến đổi không ngừng Đó là quan điểm duy vậtbiện chứng về thế giới, mặc dù còn chất phác, mộc mạc nhưng rất đáng trân trọng
* Quan điểm của triết học Phật giáo về nhân sinh
Nội dung triết lí nhân sinh của Phật giáo được thể hiện tập trung trong thuyết “Tứdiệu đế” tức là bốn chân lí tuyệt diệu mà đòi hỏi mọi người phải nhận thức được
- Khổ đế: Cuộc đời của mỗi con người là một bể khổ, ít nhất có tám nỗi khổ (bát
khổ), đó là sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt (thương nhau mà phải xa nhau), oán tang hội(ghét nhau mà phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn mà không được), ngũ thụuẩn (do năm yếu tố tạo nên con người) Vậy con người ở đâu, làm gì cũng khổ
- Nhân đế (tập đế): Giải thích nguyên nhân của sự khổ Phật giáo cho rằng nỗi khổ
của con người là có nguyên nhân, có 12 nguyên nhân của sự khổ gọi là thuyết “thập nhịnhân duyên”
1 Vô minh: Không sáng suốt
2 Duyên hành: Ý muốn thúc đẩy hành động
3 Duyên thức: Tâm từ trong sáng trở nên u tối
4 Duyên danh sắc: Sự hội tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơquan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức)
5 Duyên lục nhập: Quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giác quan
6 Duyên xúc: Sự tiếp xúc với thế giới xung quanh sinh ra cảm giác
7 Duyên thụ: Sự cảm thụ, nhận thức trước sự tác động của thế giới bên ngoài
8 Duyên ái: Sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới bênngoài
9 Duyên thủ: Do yêu thích mà muốn chiếm lấy, giữ lấy
10 Duyên hữu: Sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được
11 Duyên sinh: Sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại
12 Duyên lão tử: Già và chết vì có sự sinh thành
Đó là 12 nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng lẩn quẩn của nỗiđau nhân loại
- Diệt đế: Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đều có thể tiêu diệt được để đạt đượctrạng thái Niết bàn
- Đạo đế: Con đường tu đạo để hoàn thiện đạo đức cá nhân, đó cũng làcon đường giải thoát khỏi nỗi khổ để đạt đến hạnh phúc Phật giáo đưa ra 8 con
Trang 3đường chân chính gọi là “bát chính đạo”.
1 Chính kiến: Hiểu đúng đắn tứ diệu đế
2 Chính tư duy: Suy nghĩ đúng đắn
3 Chính ngữ: Nói năng đúng đắn
4 Chính nghiệp: Giữ nghiệp một cách đúng đắn
5 Chính mệnh: Giữ ngăn dục vọng đúng đắn
6 Chính tinh tiến: Cố gắng nỗ lực đúng hướng
7 Chính niệm: Tâm niệm tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát
8 Chính định: Kiên định, tập trung tư tưởng cao độ mà suy nghĩ về tứ diệu
đế, về vô ngã, vô thường
Theo con đường bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ được vôminh, đạt tới sự giải thoát, nhập vào Niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt,chấm dứt sinh tử luân hồi
Ngoài tám con đường chính để diệt khổ, Phật giáo còn đưa ra năm điều răn
để mỗi người chủ động thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho mọi người Đó
là bất sát (không được sát sinh), bất dâm (không được dâm dục), bất vọng ngữ(không được nói năng thô tục, bậy bạ), bất ẩm tửu (không được rượu trà), bất đạo(không được trộm cướp)
Như vậy, Phật giáo là một trào lưu triết học lớn của Ân Độ trung đại Ở giaiđoạn đầu, học thuyết triết học ấy chứa đựng những yếu tố duy vật và tư tưởng biệnchứng về thế giới Phật giáo nói lên được tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắcnghiệt, phê phán sự bất công, đòi tự do, bình đẳng xã hội Đồng thời, nó cũng nêu lên khátvọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc đời, khuyên con người sốnglương thiện, từ bi, bát ái, góp phần hoàn thiện đạo đức cá nhân Tuy nhiên, triết lí nhânsinh của Phật giáo vẫn còn mang nặng bi quan không tưởng và duy tâm về mặt xã hội
* Liên hệ vai trò của Phật giáo ở Việt Nam
Phật giáo du nhập vào nước ta từ những năm đầu công nguyên Với bản chất từ bi,bát ái, hỷ xả, Phật giáo nhanh chóng tìm được chỗ đứng và dần dần bám rễ vững chắc trênmảnh đất này Phật giáo truyền vào nước ta bằng 2 con đường: từ Trung Hoa và từphía Nam Do phù hợp với truyền thống, đạo đức của người Việt Nam nên Phật giáothâm nhập vào VN một cách tự nhiên
Từ khi vào VN đến nay, PG đã tồn tại và phát triển phù hợp với truyền thống VN
PG đã trở thành quốc giáo ở các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, góp phần kiến lập và bảo vệchế độ phong kiến vững mạnh, giữ vững độc lập dân tộc
Trước đây, PG có công trong việc đào tạo tầng lớp trí thức cho dân tộc Trong
đó có nhiều vị thiền sư, quốc sư có đức độ và tài năng giúp nước an dân như:Ngô Chân Lưu, Pháp Nhuận, Vạn Hạnh, Viên Thiếu, Không Lộ, Bản chất từ bi hỷ xảngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần dân tộc, hướng nhân dân và vua quanvào con đường thiện nghiệp, tu dưỡng đạo đức, vì dân vì nước
Vào thời cực thịnh, PG là nền tảng tư tưởng trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chínhtrị, văn hóa, khoa học, giáo dục, N h i ề u tác phẩm văn học có giá trị, nhiều côngtrình kiến trúc độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc, mang tầm quốc tế của VN được xâydựng vào thời kì này Từ cuối tk XIII cho đến nay, PG không còn là quốc giáo nữanhưng những giá trị tư tưởng tích cực của nó vẫn còn là nhu cầu, sức mạnh tinh thần củanhân dân ta
Trang 4Câu 2: Phân tích quan điểm triết học Phật giáo về nhân sinh của phật giáo Ý nghĩa về quan điểm nhân sinh cảu phật giáo
1 Thân thế, sự nghiệp của Phật Thích Ca:
Phật giáo là trào lưu tôn giáo triết học xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ VItr.CN Người sáng lập ra phật giáo là Tất Đạt Đa (Siddharta), họ là Gôtama, dòng họnày thuộc bộ tộc Sakya Ông là thái tử của vua Tịnh Phạn, vua một nước nhỏ ở Bắc Ân Độlúc đó (nay thuộc đất Nêpan) sáng lập
Về năm sinh của phật hiện nay có nhiều tài liệu khác nhau nhưng nhìn chungnhiều ý kiến cho rằng phật sinh vào năm 563 tr.CN Ông sinh ngày 8/4 năm 563tr.CN nhưng theo truyền thống phật lịch thì tính là ngày 15/4 ( rằm tháng tư ) gọi làngày phật đản
Mặc dù sinh ra trong gia đình quý tộc dòng dõi Đế Vương, nhưng trước bốicảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bất lực của con người trướcnhững khó khăn của cuộc đời và xã hội đã khiến ông sớm có ý định từ bỏ cuộc đời giàusang phú quý để đi tìm đạo lí cứu đời Vì vậy năm 29 tuổi người đã rời bỏ hoàngcung xuất gia tu đạo, đến năm 35 tuổi người đã đắc dạo tìm ra chân lí Ông trởthành người sáng lập ra tôn giáo mới gọi là phật giáo
Từ đó người đi khắp nơi để truyền bá đạo lí của mình, sau này ông được suytôn với nhiều danh hiệu khác nhau: đức phật (Buddha), Người giác ngộ hay Thích Ca
- mâu ni (sakyamuni), Thánh thích ca (vị thánh dòng họ thích ca ) Xét về mặt triết học, phậtgiáo được coi là triết lí thâm trầm sâu sắc về vũ trụ và con người
Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộcsống đức độ của con người, phật giáo nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tincủa đông đảo quần chúng lao động Nó đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi bác
ái trong đạo đức truyền thống của các dân tộc Châu Á Kinh điển của phật giáo rất đồ
sộ gồm ba bộ phận gọi là Tam tạng kinh bao gồm:Tạng kinh: ghi lại những lời dạy của phậtthích ca; Tạng luật: những điều quy định mà giáo đoàn phật giáo phải tuân theo;Tạng luận: các tác phẩm luận giải về phật giáo của các học giả cao tăng về sau
2 Quan điểm về triết lý nhân sinh của phật giáo:
Nội dung triết lý nhân sinh của phật giáo được thể hiện tập trung trong thuyết “Tứ
diệu đế” tức là bốn chân lý tuyệt diệu mà đòi hỏi mọi người phải nhận thức được.
- Một là khổ đế: Là triết lý về cuộc đời và con người là bể khổ, ít nhất có tám
nỗi khổ Đó là: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, thụ biệt khổ (yêu thương nhau
mà phải xa nhau), oán tăng hội (ghét nhau mà phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mongmuốn mà không được), ngũ thụ uẩn (do năm yếu tố tạo nên con người) Vậy conngười ở đâu, làm gì cũng
khổ
- Hai là nhân đế (tập đế): Triết lý về nguyên nhân của sự khổ Phật giáo cho
rằng nỗi khổ của con người là có nguyên nhân, phật giáo đưa ra 12 nguyên nhâncủa sự khổ gọi là thuyết “thập nhị nhân duyên”
1) Vô minh: Là không sáng suốt
2) Duyên hành: Là ý muốn thúc đẩy hành động
3) Duyên thức: Tâm từ trong sáng trở nên u tối
4) Duyên danh sắc: Sự hội tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơquan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức)
5) Duyên lục nhập: Là quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giácquan
6) Duyên xúc: Là sự tiếp xúc với thế giới xung quanh sinh ra cảm giác
Trang 57) Duyên thụ: Là sự cảm thụ, sự nhận thức trước sự tác động của thế giới bênngoài.
8) Duyên ái: Là sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giớibên ngoài
9) Duyên thủ: Do yêu thích rồi muốn chiếm lấy, giữ lấy
10) Duyên hữu: Là sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được
11) Duyên sinh: Là sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại
12) Duyên lão tử: Là già và chết vì có sự sinh thành
Đó là 12 nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng luẩn quẩn củanỗi khổ đau nhân loại
Trang 6- Ba là diệt đế: Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đều có thể tiêu diệt được để đạt tớitrạng thái niết bàn.
- Bốn là đạo đế: Là con đường tu đạo để hoàn thiện đạo đức cá nhân, đócũng là con đường giải thoát khỏi nỗi khổ để đạt tới hạnh phúc Phật giáo đưa ratám con đường chân chính gọi là (bát chính đạo)
1) Chính kiến: Là hiểu biết đúng đắn tứ diệu đế
2) Chính tư duy: Là suy nghĩ đúng đắn
3) Chính ngữ: Nói năng phải đúng đắn
4) Chính nghiệp: Giữ nghiệp một cách đúng đắn, không làm việc xấu, nên làmviệc
thiện
5) Chính mệnh: Giữ ngăn dục vọng đúng đắn
6) Chính tinh tiến: Cố gắng nỗ lực đúng hướng, không biết mệt mỏi
7) Chính niệm: Là tâm niệm tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát
8) Chính định: Là kiên định, tập trung tư tưởng cao độ mà suy nghĩ về tứdiệu đế, về vô ngã, vô thường
Ngoài tám con đường chính để diệt khổ, phật giáo còn đưa ra năm điềurăn để mỗi người chủ động thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho mọi
người Đó là: bất sát (không được sát sinh); bất dâm (không được dâm dục); bất vọng ngữ (không được nói năng thô tục, bậy bạ); bất ẩm tửu (không được rượu trà); bất đạo (không được trộm cướp).
3 Ý nghĩa về quan điểm nhân sinh cảu phật giáo
- Về mặt tích cực: phật giáo nói lên được tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, phê phán sự bất công, đòi tự do bình đẳng xã hội đồng thời nêu lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc đời, làm cho con người không ngừng tu dưỡng phẩm chất, đạo đức cá nhân
Câu 3: Phân tích tư tưởng triết học Mạnh tử trong lịch sử triết học trung hoa cổ?
- Về mặt tiêu cực: trong triết lý nhân sinh của phật giáo vẫn mang nặng tính bi quankhông tưởng và duy tâm về xã hội
Mạnh Tử (327-289 trước Công Nguyên) tên thật là Mạnh Kha, tự là Dư, sinh ra tạinước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Ông là người kế thừa xuất sắc tưtưởng trường phái Nho gia, thực chất là kế thừa quan điểm và tư tưởng của nhà triếtgia Khổng Tử Ông đã hệ thống hóa triết học duy tâm của Nho gia trên phương diệnthế giới quan và nhận thức luận Quan điểm triết học của Mạnh Tử thể hiện ở ba nội dung:
a Quan điêm vê thê giới quan
Mạnh Tử phát triển tư tưởng “thiên mệnh” của Khổng tử và đẩy thế giới quan ấyđến đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm Ông cho rằng không có việc gì xảy ra mà không cómệnh trời, mình nên tùy phận mà nhận lấy cái mệnh chính đáng ấy Từ đó Mạnh Tửđưa ra học thuyết “vạn vật đều có đủ trong ta nên chỉ cần tự tĩnh nội tâm là biết đượctất cả” nghĩa là không phải tìm cái gì ở thế giới khách quan mà chỉ cần tu dưỡng nội tâm làbiết được tất cả
b Quan điểm vê bản chất con người
Ông là người đi sâu vào việc lý giải bản chất con người, ông cho rằng conngười khi sinh ra vốn là thiện “nhân chi sơ, tính bổn thiện” Tính thiện đó là dothiên phú mà có chứ không phải là do con người chọn, nếu như con người biết
Trang 7nuôi dưỡng, giữ gìn thì làm cho tính thiện ngày càng hoàn thiện hơn Nếu như khôngbiết nuôi dưỡng, giữ gìn thì làm cho tính thiện ngày càng mai một đi, con người trở nênxấu xa, nhỏ nhen, ti tiện không khác gì loài cầm thú.
Trang 8Từ đó Mạnh Tử kết luận rằng bản chất con người lă thiện nhưng trong hiệnthực thì con người có thể lă âc Đó lă do xê hội rối loạn, luđn thường đạo lý bị đảolộn.Cho nín để thiết lập quốc gia thâi bình, thịnh trị thì phải lại con người tính thiệnbằng đường lối chính trị lấy con người lăm gốc.
c Quan điểm về chính trị xê hội
Trong học thuyết, quan điểm về chính trị - xê hội Mạnh Tử có nhiều tiến bộ, đặc biệt lă
tư tưởng của ông về dđn quyền, tức lă quan điểm về quần chúng nhđn dđn Ông lăngười đầu tiín đề cao vai trò của người dđn, ông cho rằng: “Dđn vi quý, quđn vi khinh, xêtắc thứ chi” Với tinh thần ấy, Mạnh Tử chủ trương xđy dựng một chế độ “bảo dđn,dưỡng dđn” - bảo vệ cho dđn, nuôi dưỡng, chăm lo cho dđn, phải tạo cho dđn cónhă cửa ruộng vườn Vì vậy, ông chủ trương khôi phục lại chế độ “đinh điền” đểchia ruộng đất cho dđn, để cho dđn có tăi sản, ông cho rằng dđn có hằng sản thì mớihằng tđm Đồng thời ông khuyín câc bậc vua chúa phải tiết kiệm chi tiíu, thu thuế của dđn
có chừng mực Đó lă những quan điểm hết sức mới mẻ vă tiến bộ của ông, khiến ôngmạnh dạn đưa văo đường lối chính trị của Nho gia hăng loạt vấn đề mới mẻ, toât lín tinhthần nhđn bản theo đường lối lấy dđn lăm gốc
Cđu 4: Nội dung quan điểm triết học duy vật của Đímôcrit (460 - 370 tr.CN)
Đímôcrit lă một trong những nhă triết học duy vật vĩ đại trong thế giới cổ đại.Ông sinh ra ở Apđe, một thănh phố thương mại lớn nhất vùng Tơ - ra - xơ trongmột gia đình giău có, có điều kiện để học tập vă đi du lịch nhiều nơi, do vậy ông cótầm hiểu biết rộng, nắm được hầu hết những kiến thức đương thời như: Triết học, Logichọc, Toân học, Vũ trụ học, Vật lý học, Sinh vật học, Tđm lý học, Đạo đức học, Mỹ học,Ngôn ngữ học, Vì vậy, ông được coi lă người có bộ óc bâch khoa đầu tiín của HyLạp Quan điểm duy vật của ông được thể hiện ở những nội dung sau:
Quan đi ểm về thế giới
Đímôcrit cho rằng, cơ sở đầu tiín cấu tạo nín mọi vật lă nguyín tử Nguyín tử
lă phần tử nhỏ nhất không thể phđn chia được nữa, không nhìn thấy được, không đmthanh, không mău sắc, không mùi vị vă tồn tại vĩnh viễn
Theo quan điểm của Đímôcrit, sự vật lă do câc nguyín tử liín kết lại với nhautạo nín Tính đa dạng của câc nguyín tử lăm nín tính đa dạng của thế giới câc sựvật Nguyín tử tự vận động nhưng khi kết hợp với nhau thănh vật thể thì lăm cho vật thể
vă thế giới chuyển động không ngừng Lần đầu tiín trong lịch sử Đímôcrit níu línkhâi niệm không gian lă khoảng trống mă ở đó câc nguyín tử vận động liín kết lại vớinhau Ông lă người đê thấy mối liín hệ ^ giữa vật chất, vận động vă không gian Ởđđy, Đímôcrit đê thể hiện lập trường duy vật về tự nhiín
Nĩt đặc sắc trong triết học duy vật của ông lă tư tưởng quyết định luận, nghĩa lẵng giải thích mọi hiện tượng biến đổi theo quy luật nhđn quả Theo ông vũ trụ do vô sốthế giới tạo nín Do những sự vật kết hợp khâc nhau (tập trung vă phđn tân) của nhữngnguyín tử luôn vận động trong không gian vă tuđn theo quy luật của tự nhiín đê tạo nín
sự xuất hiện vă diệt vong của vô số thế giới, hợp thănh vũ trụ Ông cho rằng sự sống lă kếtquả của quâ trình biến đổi dần dần từ thấp đến cao của tự nhiín Sinh vật đầu tiín xuấthiện ở môi trường nước lă bùn, dưới tâc động của nhiệt độ Sinh vật đó sống dướinước, sau đó dần dần xuất hiện sinh vật có vú sống trín cạn, cuối cùng lă con người trínquả đất
Trang 9Sự thừa nhận tính quy luật, tính nhân quả trong triết học của Đêmôcrit là thànhquả có giá trị của triết học duy vật cổ đại Hy Lạp Song, ông lại phủ nhận tính ngẫu nhiên
và cho rằng trong cuộc sống nếu chỉ dựa vào ngẫu nhiên thì chỉ làm cho con người thêmlười biếng mà thôi Ông bác bỏ quan điểm duy tâm, xem linh hồn là bản nguyên của thếgiới Ông cho rằng linh hồn cũng được cấu tạo từ các nguyên tử hình cầu nó cũng chếtcùng với cái chết của cơ thể
về lý luân nhân thức
Đêmôcrit là người có công đặt nền móng cho sự hình thành lý luận nhận thứcchủ nghĩa duy vật Ông thừa nhận khả năng nhận thức của con người về thế giới Ôngchia nhận thức ra làm hai dạng: Nhân thức cảm tính do các giác quan đem lại gọi lànhận thức mờ tối, thực chất là trực quan sinh động và dạng nhận thức chân lý thông quaphán đoán logic, thực chất là giai đoạn tư duy trừu tượng Ông cho rằng dạng nhậnthức chân lý phản ánh được bản chất của sự vật và hai dạng nhận thức này có liên hệ chặtchẽ với nhau và đều có vai trò quan trọng nhưng dạng nhận thức chân lý đáng tin cậyhơn vì có khả năng phản ánh được bản chất của sự vật
Đêmôcrit còn là người đặt nền móng cho sự ra đời của logic học với tư cách làkhoa học của tư duy Ông là người đầu tiên trong lịch sử viết tác phẩm “Bàn về logichọc” Ông coi logic học là một công cụ để nhận thức các hiện tượng của tự nhiên
Ví dụ:
Từ những đặc điểm riêng - đến đặc điểm chung - đến khái niệm
+ Cây lúa có đặc điểm: Lá hình mác, thân thảo, rễ chùm Cây xoài có đặcđiểm: Lá hình bầu dục, thân gỗ, rễ cọc Cây mít có đặc điểm: Lá hình bầu dục, thân gỗ,
rễ cọc Các cây này đều có đặc điểm chung là đều có lá, thân, rễ - Khái niệm “Cáicây”
+ Từ các đặc điểm: Động vật biết chế tạo công cụ lao động và có ý thức - Kháiniệm “Con người” vừa là thực thể sinh vật vừa là thực thể xã hội
+ Từ các đặc điểm chung và các dạng vật chất vô cơ, vật chất hữu cơ, vật chất
xã hội là đều tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người - Khái niệm
“Vật chất”
Trong lĩnh vực chính tri - xã hôi
Đêmôcrit phê phán mạnh mẽ tôn giáo Ông cho rằng những thần thánh của tôngiáo Hy Lạp chỉ là sự nhân cách hóa những hiện tượng của tự nhiên hay thuộc tính củacon người Đêmôcrit là người đứng trên lập trường của tầng lớp chủ nô dân chủchống lại bọn chủ nô quý tộc
Đêmôcrit có những quan điểm tiến bộ về mặt đạo đức Theo ông, phẩm chấtcon người không phải ở lời nói mà ở việc làm Con người cần hành động có đạođức, còn hạnh phúc của con người là ở khả năng trí tuệ, ở khả năng tinh thần nóichung và đỉnh cao hạnh phúc là trở thành nhà thông thái, trở thành công dân của thế giới
Tóm lại, những quan điểm, tư tưởng triết học của Đêmôcrit còn mang tính chất phát, mộc mạc, trực quan, song nó đã đưa triết học duy vật Hy Lạp cổ đại lên bước tiến mới, đóng góp cho kho tàng triết học của nhân loại những thành quả vô giá.Câu 5: Anh chị hãy phân tích nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và nêu ý nghĩa của quy luật? Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn thì bản chất anh chị vận dụng ý nghĩa đó như thế nào?
; Khái niệm
- Chất là tính quy định vốn có của sự vật hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ củacác thuộc tính, các đặc trưng để phân biệt sự vật, hiện tượng này với sự vật
Trang 10hiện tượng khác.
- Lượng là tính quy định bên trong vốn có của sự vật biểu hiện bằng con số của cácthuộc tính, tổng số những đại lượng, trình độ và quy mô phát triển của nó
; Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
- Chất và lượng của sự vật hiện tượng là 2 mặt thống nhất quy định lẫn nhau Sựthống nhất phụ thuộc lẫn nhau giữa chất và lượng được thể hiện trong quan hệ nhấtđịnh và trong quan hệ đó chất và lượng cùng quy định sự tồn tại của sự vật thìquan hệ đó gọi là độ của sự vật Vậy, độ là giới hạn và trong giới hạn độ của mình
sự vật còn là nó chưa biến thành sự vật hiện tượng
- Trong phạm vi một độ nhất định hai mặt chất và lượng liên hệ tác động lẫn nhaulàm cho sự vật vận động biến đổi, sự vận động biến đổi của sự vật bao giờ cũngbắt đầu từ sự thay đổi vượt quá giới hạn độ dẫn đến sự thay đổi về chất Sựthay đổi về chất gọi là bước nhảy và ở thời điểm xảy ra bước nhảy gọi là điểmnút
- Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng, nó là sự gián đoạntrong quá trình vận động liên tục của sự vật nhưng nó không chấm dứt sự vậnđộng nói chung mà chỉ chấm dứt một dạng tồn tại của sự vật
; Ý nghĩa
- Quy luật lượng chất giúp ta hiểu được bước nhảy làm cho chất mới ra đời thay thếchất cũ Và chất chỉ thay đổi khi lượng thay đổi vượt quá giới hạn độ Do đótrong hoạt động nhận thức và thực tiễn để có sự thay đổi về chất phải quantâm đến quá trình tích lũy về lượng và khi lượng thay đổi vượt quá giới hạn
độ thì phải thực hiện bước nhảy Đó là yêu cầu khách quan của sự vận động pháttriển của sự vật
- Phải có thái độ khách quan khoa học và có quyết tâm thực hiện các bước nhảy:quy luật của tự nhiên và quy luật của quy luật của đời sống xã hội đều có tính kháchquan Song sự khác nhau giữa quy luật của giới tự nhiên và quy luật của đời sống
XH là ở chổ: quy luật trong giới tự nhiên diễn ra tự phát, còn quy luật của đời sống
XH chỉ được giải quyết thông qua hoạt động có ý thức của con người Do đó,trong hoạt động thực tiễn chẳng những chúng ta phải xác định được quy mô vànhịp điệu bước nhảy khi điều kiện đã chín muồi, chủ động nắm bắt thời cơ thựchiện kịp thời cơ thực hiện kịp thời các bước nhảy khi điều kiện cho phép
; Vận dụng
Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, bản thân em vận dụng ý nghĩa
đó vào trong học tập như sau:
Trang 11Biển lớn tri thức nhân loại thật bao la vô tận Con người, bên cạnh việc phát triển về thểxác, tinh thần còn phải luôn tự mình tiếp thu những tri thức của nhân loại, trước hết là đểphục vụ cho bản thân Ti thức tồn tài dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú, do vậycon người có thể tiếp thu nó bằng nhiều cách khác nhau Quá trình tích lũy tri thức, kinhnghiệm diễn ra ở mỗi người khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào mục đích, khả năng,điều kiện, của mỗi người Quá trình tích lũy tri thức của con người cũng không nằmngoài quyluật lượng chất Bởi vì, dù nhanh hay chậm thì sớm muộn, sự tích lũy về tri thứccũng sẽ làm con người có được sự thay đổi nhất định, tức là có sự biến đổi về chất.Quá trình biến đổi này trong bản thân con người diễn ra vô cùng đa dạng và phongphú, ở ví dụ này chúng tôi chỉ xin giới hạn việc làm rõ quy luật lượng chất thông qua quátrình học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên và học viên.
Là sinh viên, ai cũng phải trải qua quá trình học tập ở các bậc học phổ thông kéo dàitrong suốt 12 năm Trong 12 năm ngồi trên ghế nhà trường, mỗi học sinh đềuđược trang bị những kiến thức cơ bản của các môn học thuộc hai lĩnh vực cơ bản là khoahọc tự nhiên và khoa học xã hội Bên cạnh đó, mỗi học sinh lại tự trang bị cho mìnhnhững kĩ năng, những hiểu biết riêng về cuộc sống, về tự nhiên, xã hội Quá trình tích lũy
về lượng (tri thức) của mỗi học sinh là một quá trình dài, đòi hỏi nỗ lực không chỉ từ phíagia đình, nhà trường mà còn chính tử sự nỗ lực và khả năng của bản thân người học.Quy luật lượng chất thể hiện ở chỗ, mỗi học sinh dần tích lũy cho mình một lượng kiếnthức nhất định qua từng bài học trên lớp cũng như trong việc giải bài tập ở nhà Việctích lũy kiến thức sẽ được đánh giá qua các kì, trước hết là các kì thi học kì và sau đó
là kì thi tốt nghiệp Việc tích lũy đủ lượng kiến thức cần thiết sẽ giúp học sinh vượt quacác kì thi và chuyển sang 1 giai đoạn mới Như vậy, có thể thấy rằng, trong quá trìnhhọc tập, rèn luyện của học sinh thì quá trình học tập tích lũy kiến thức chính là độ, các kìthi chính là điểm nút, việc vượt qua các kì thi chính là bước nhảy làm cho việc tiếp thu trithức của học sinh bước sang giai đoạn mới, tức là có sự thay đổi về chất
Trong suốt 12 năm học phổ thông, mỗi học sinh đều phải tích lũy đủ khốilượng kiến thức và vượt qua những điểm nút khác nhau, nhưng điểm nút quantrọng nhất, đánh dấu bước nhảy vọt về chất và lượng mà học sinh nào cũng muốn vượtqua đó là kì thi đại học Vượt qua kì thi tốt nghiệp cấp 3 đã là một điểm nút quantrọng, nhưng vượt qua được kì thi đại học lại còn là điểm nút quan trọng hơn, việcvượt qua điểm nút này chứng tỏ học sinh đã có sự tích lũy đây đủ về lượng, tạo nênbước nhảy vọt, mở ra một thời kì phát triển mới của lượng và chất, từ học sinh chuyểnthành sinh viên
Cũng giống như ở phổ thông, để có được tấm bằng đại học thì SV cũng phảitích lũy đủ các học phần theo quy định Tuy nhiên, việc tích lũy kiến thức ở bậc đạihọc có sự khác biệt về chất so với học phổ thông, sự khác biệt nằm ở chỗ, sinh viên ko chỉtiếp thu kiến thức một cách đơn thuần mà phải tự mình tìm tòi nghiên cứu, dựa trênnhững kĩ năng mà giảng viên đã cung cấp Nói cách khác, ở bậc đại học, việc học tậpcủa sinh viên khác hẳn về chất so với học sinh ở phổ thông Việc tiếp thu tri thức diễn radưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú, từ cơ bản đến chuyên sâu, từ đơn giản đếnphức tạp, từ ít đến nhiều Từ sự thay đổi về chất do sự tích lũy về lượng trước đó (ởbậc học phổ thông) tạo nên, chất mới cũng tác động trở lại Trên nền tảng mới, trình độ,kết cấu cũng như quy mô nhận thức của sinh viên cũng thay đổi, tiếp tục hướngsinh lên tầm tri thức cao hơn
Cũng giống như ở bậc học phổ thông, quá trình tích lũy các học phần của sinhviên chính là độ, các kì thi chính là điêmt nút và việc vượt qua các kì thi chính làbước nhảy, trong đó bước nhảy quan trọng nhất chính là kì thi tốt nghiệp Vượt qua kì
Trang 12thi tốt nghiệp lại đưa sinh viên chuyển sang một giai đoạn mới, khác về chất so vớigiai đoạn trước Quá trình đó cứ liên tục tiếp diễn, tạo nên sự vận động và phát triểnkhông ngừng ngay trong chính bản thân con người, tạo nên động lực không nhỏ cho sựphát triển của xã hội.
Việc nhận thức quy luật lượng chất trong quá trình học tập của học sinh sinh viên có
ý nghĩa rất to lớn trong thực tiễn, không chỉ với bản thân người học mà còn rất có ý nghĩavới công tác quản lý và đào tạo Thực tế trong nhiều năm qua, giáo dục nước ta đãmắc phải nhiều sai lầm trong tư duy quản lý cũng như trong hoạt động đào tạothực tiễn Việc chạy theo bệnh thành tích chính là thực tế đáng báo động của ngành giáodục bởi vì mặc dù sẹ tích lũy về lượng của học sinh chưa đủ nhưng lại vẫn được “tạođiều kiện” để thực hiện
Trang 13“thành công” bước nhảy, tức là không học mà vẫn đỗ, không học nhưng vẫn có bằng Kết quả là trong nhiều năm liền, giáo dục nước ta đã cho ra lò những lớp người
không “lượng” mà cũng chẳng có “chất”
Xuất phát từ việc nhận thức một cách đúng đắn quy luật trên cho phép chúng tathực hiện những cải cách quan trọng trong giáo dục Tiêu biểu là việc chống lại căn bệnhthành tích
Câu 6: Trình bày nội dung, ý nghĩa của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập?
trong giáo dục ở bậc phổ thông và đào tạo đại học Việc chuyển từ đào tạo niênchế sang đào tạo tín chỉ và cho phép người học được học vượt tiến độ chính làviệc áp dụng đúng đắn quy luật lượng chất trong tư duy con người
Đây là 1 trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng, nói lên nguồn gốc động lựccủa sự phát triển Lê-nin gọi quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng, nghĩa là nắm bắtđược quy luật này sẽ là cơ sở để hiểu các quy luật khác và hiểu được nguồn gốc vậnđộng, phát triển của mọi hiện tượng
1 Nội dung của quy luật
1.1 Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, phổ biến
- Phép siêu hình: phủ nhận mâu thuẫn bên trong bản thân của sự vật, hiện tượng, chorằng chỉ có sự khác nhau giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác và trong
xã hội nếu có mâu thuẫn sẽ làm cho xã hội tan rã còn trong tư duy nếu có mâu thuẫn thì đó
là sự suy nghĩ sai lầm
- Phép biện chứng duy vật:
+ Khẳng định mọi sự vật, hiện tượng đều có mâu thuẫn bên trong và mỗi sự vật,hiện tượng là thể thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lậpnhau Các mặt đối lập liên hệ bài trừ, gạt bỏ lẫn nhau thì tạo nên mâu thuẫn
+ Mâu thuẫn là một chỉnh thể trong đó có mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấutranh với nhau
+ Mâu thuẫn chẳng những là hiện tượng khách quan mà còn phổ biến, mâu thuẫn tồntại một cách khách quan ở mọi sự vật, hiện tượng trong suốt quá trình của sự vật và không
có sự vật, hiện tượng nào không có mâu thuẫn, nếu không có mâu thuẫn này cũng sẽ cómâu thuẫn khác, mâu thuẫn có trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy
* Một số loại mâu thuẫn:
a) Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài
- Mâu thuẫn bên trong: là mâu thuẫn xảy ra ngay bên trong bản thân của sự vật, hiệntượng
- Mâu thuẫn bên ngoài: là do sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng
b) Mâu thuẫ n cơ b ản và mâu thuẫ n không cơ b ản:
- Mâu thuẫn cơ bản: là mâu thuẫn quyết định bản chất của sự vật, gắn liền với sựvật và khi mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời
- Mâu thuẫn không cơ bản: chịu sự chi phối của mâu thuẫn cơ bản, không giữvai trò quyết định bản chất của sự vật và hiện tượng nhưng nó cũng giữ một vai trònhất định đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng
c) Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn ^ thứ yếu
- Mâu thuẫn chủ yếu: là mâu thuẫn nổi bật lên hàng đầu ở mỗi giai đoạn nhất
Trang 14định của quá trình phát triển của sự vật Nó có tác dụng quyết định đối với những mâuthuẫn khác trong cùng một giai đoạn của quá trình phát triển của sự vật.
Trang 15- Mâu thuẫn thứ yếu: là những mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định.
d) Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng:
- Mâu thuẫn đối kháng: là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người,những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau không thể điều hòa được và điđến đấu tranh một mất một còn
- Mâu thuẫn không đối kháng: là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoànngười, những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, còn mâu thuẫn chỉtạm thời cục bộ
1.2 Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
- Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau tạo nên thế cân bằngnhưng liên hệ phụ thuộc ràng buộc tác động lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề
để tồn tại cho mình và ngược lại nếu thiếu một trong hai mặt đối lập thì sự vật sẽ không tồntại
- Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự phủ định bài trừ gạt bỏ lẫn nhau
1.3 Đấu tranh của sự đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển
- Phép biện chứng duy vật chỉ ra là muốn tìm nguồn gốc, động lực của sự vận động,phát triển thì phải tìm ngay bên trong bản thân của sự vật, hiện tượng Mọi sự vật, hiệntượng là thể thống nhất trong các mặt đối lập, trong đó có 2 mặt đối lập cơ bản Cácmặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau Chừng nào sự vật chưa mất đi thìđấu tranh của các mặt đối lập còn diễn ra và đấu tranh của các mặt đối lập làm cho thểthống nhất cũ mất đi, thể thống nhất mới cao hơn ra đời
- Đấu tranh của các mặt đối lập là quá trình diễn ra phức tạp, nhất là trong lĩnh vực xãhội, quá trình này có thể chia ra nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm riêngthông thường khi mới xuất hiện thì có 2 mặt đối lập chưa thể hiện sự xung đột gaygắt và trong quá trình phát triển của mâu thuẫn thì đấu tranh của các mặt đối lập ngày càngtrở nên quyết liệt khi hội đủ những điều kiện cần thiết thì dẫn đến sự chuyển hóa lẫnnhau, lúc đó mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời Sự vậtmới là thể thống nhất của những mặt đối lập mới và đấu tranh của các mặt đối lập lại diễn
ra làm cho mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ lại mất đi, sự vật mới cao hơn ra đời
và quá trình này được lặp đi lặp lại không ngừng làm cho con đường phát triển diễn raliên tục ngày càng cao Điều đó chứng minh đấu tranh của các mặt đối lập lànguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển
- Đối với hoạt động thực tiễn:
+ Phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu thuẫn, tìm ra phương thức,phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổ chức thực tiễn để giảiquyết mâu thuẫn một cách thực tế
+ Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi Cho nên,
Trang 16chúng ta không được giải quyết mâu thuẫn một cách vội vàng khi chưa có đủ điềukiện, cũng không để cho việc giải quyết mâu thuẫn diễn ra một cách tự phát, chủ độngthúc đẩy sự chín muồi của mâu thuẫn.
Trang 17Câu 7: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định và ý nghĩa của phương pháp luận của quy luật này trong việc xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay?
+ Mâu thuẫn được giải quyết bằng con đường đấu tranh (dưới những hình thức
cụ thể rất khác nhau) Đối với các mâu thuẫn khác nhau cần có phương pháp giảiquyết khác nhau Phải có biện pháp giải quyết thích hợp với từng mâu thuẫn
- Vị trí của quy luật: Đây là 1 trong 3 qui luật cơ bản của phép biện chứng duy
vật, nó phản ánh về khuynh hướng chung của sự vận động phát triển và tiến lên thôngqua 1 chu kì phủ định biện chứng thì sự vật hiện tượng mới sẽ ra đời thay thế cho sự vậthiện tượng cũ nhưng ở trình độ cao hơn cái cũ
- Khái niệm phủ đinh, phủ định biện chứng.
Phủ định: là sự thay thế bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển.
Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ phủ định tự thân, là mắt khâu
của quá trình dẫn đến ra đời sự vật mới, tiến bộ hơn sự vật cũ Mọi quá trình vận động
và phát triển các lĩnh vực tự nhiên, xã hội hay tư duy diễn ra thông qua những sự thaythế, trong đó có sự thay thế chấm dứt sự phát triển, nhưng cũng có sự thay thế tạo
ra điều kiện, tiền đề cho quá trình phát triẻn của sự vật Những sự thay thế tạo ra điềukiện, tiền đề cho qúa trình phát triển của sự vật thì gọi là phủ định biện chứng
- Tính chất của phủ định.
Tính khách quan
Nguyên nhân của phủ định nằm trong bản thân sự vật, hiện tượng, nó là quá trình đấutranh, giải quyết mâu thuẫn tất yếu bên trong bản thân sự vật, tạo kả năng ra đời cái mớithay thế cái cũ, nhờ đó tạo nên xu hướng phát triển của chính bản thân sự vật
Tính kế thừa
Tính kế thừa của Phủ định được thể hiện mà trong đó cái mới hình thành và pháttriển tự thân thông qua quá trình chọn lọc, loại bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời, giữ lại nhữngnội dung tích cực
Nội dung quy luật Phủ định của phủ định
Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuẫn trongbản thân sự vật quyết định Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hóa giữa cácmặt đối lập trong bản thân sự vật - giữa mặt khẳng định và phủ định
Sự phủ định lần thứ nhất diễn ra là cho sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với mình(cái phủ định, phủ định cái bị phủ định, cái bị phủ định là tiền đề là cái cũ, cái phủ định làcái mới xuất hiện sau cái phủ định là cái đối lập với cái bị phủ định Cái phủ định sau khikhi phủ định cái bị phủ định, cái phủ định định lại tiếp tục biến đổi và tạo ra chu kỳ phủđịnh lần thứ hai) Sự phủ định lần thứ hai được thực hiện dẫn tới sự vật mới ra đời Sựvật này đối lập với cái được sinh ra ở lần phủ định thứ nhất Nó dường như lập lạicái ban đầu nhưng nó được bổ sung nhiều nhân tố mới cao hơn, tích cực hơn
Ý nghĩa quy luật phủ định của phủ định
Quá trình phủ định mang tính đi lên, vì vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải cóniềm tin vào xu hướng của sự phát triển
Chu kỳ sau bao giờ cũng tiến bộ hơn chu kỳ trước.trong sự thay thế đó có sự tácđộng của các nhân tố chủ quan của con người, vì vậy trong hoạt động thực tiễn cần phảiphát huy tính năng động sáng tạo, phát hiện những cái mới thay thế những cái cũ lỗi
Trang 18thời.
Trang 19Phủ định mang tính kế thừa, vì vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải kế thừa nhữngyếu tố tích cực Kế thừa phát triển những tinh hoa văn hoá của dân tộc và tiếp thutinh hoa văn hoá nhân loại Loại bỏ những hủ tục lạc hậu, những tư tưởng lỗi thờimang tính bảo thủ.
Trong quá trình đổi mới của nước ta cùng đều diễn ra theo chiều hướng đó Nềnkinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự quản lý điềutiết của nhà nước tạo tiền đề phủ định nền kinh tế tập trung, bao cấp đặt nền móng cho
xã hội phát triển cao hơn nó trong tương lai đó là xã hội xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên ở mỗi mô hình đều có đặc điểm riêng, do đó, chúng ta đã nhận thứcđược vấn đề và đã có cách thức tác động phù hợp với sự phát triển của thực tiễn đấtnước, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và từng bước xóa bỏ đói nghèonhưng không vì thế mà chúng ta không trân trọng cái cũ
Chúng ta đã biết giữ hình thức cải tạo nội dung, biết kế thừa và sử dụng đặc trựng tiến
bộ của nền kinh tế tập trung là tiền đề để phát triển nền kinh tế thị trường trên cơ sởđảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa.chính vì vậy mới có kết quả đáng mừng của 20năm đổi mới
Tuy nhiên để có thành công như hôn nay, trong hoạt động của chúng ta, cảhoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiến chúng ta phải vận dụng tổng hợp tất
cả những quy luật một cách đầy đủ sâu sắc, năng động, sáng tạo phù hợp với điều kiện
cụ thể Chỉ có như vậy hoạt động của chúng ta, kể cả hoạt động học tập, mới có chấtlượng và hiệu quả cao
Vận dụng quy luật
VD: Hạt thóc Cây mạ Cây lúa
Hạt thóc cho ra đời cây mạ (đây là phủ định lần 1)
Cây mạ cho ra đời cây lúa (đây là phủ định lần 2)
Cây lúa cho ra bông thóc (thóc lại cho ra thóc nhưng lần này không phải là 1 hạt mà
là nhiều hạt) Như vậy sau hai lần phủ định sự vật dường như quay trở lại cái cũ,nhưng trên cơ sở mới cao hơn là đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biệnchứng thông qua phủ định của phủ định
Phủ định của phủ định làm xuất hiện sự vật mới là kết quả của sự tổng hợp tất cả nhân tốtích cực đã có và đã phát triển trong cái khẳng định ban đầu và trong những lần phủđịnh tiếp theo Do vậy, sự vật mới với tư cách là kết quả của phủ định của phủ định cónội dung toàn diện hơn, phong phú hơn, có cái khẳng định bạn đầu và kết quả của
sự phủ định lần thứ nhất ^
Kết quả của sự phủ định của phủ định là điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển vàcũng là điểm khởi đầu của chu kỳ phát triển tiếp theo Sự vật lại tiếp tục phủ định biệnchứng chính mình để phát triển Cứ như vậy sự vật mới ngày càng mới hơn
Quy luật phủ định của phủ định khái quát xu hướng tất yếu tiến lên của sự vật - xuhướng phát triển Song phát triển đó không theo hướng thẳng mà theo đường "xoáyốc"
Sự phát triển "xoáy ốc" là sự biểu thị rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của quá trình pháttriển biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên Mỗi vòng của đườngxoáy ốc dường như thể hiện sự lặp lại, nhưng cao hơn, thể hiện trình độ cao hơncủa sự phát triển Tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao được thể hiện ở sự nối tiếpnhau từ dưới lên của các vòng trong đường "xoáy ốc"
Ý nghĩa trong quá trình đổi mới ở nước ta *
Đặc điểm của phủ định trong đời sống xã
Trang 20- Phủ định trong xã hội là hình thức và kết quả hoạt động của con người do vậy ngoàinhững đặ trưng mà mọi phủ định biện chứng đều có thì phủ định biện chứng trong xãhội có 2 đặc điểm riêng:
+ Quan điểm biện chứng và siêu hình về sự phủ định:
> Quan điểm siêu hình về phủ định trong xã hội xuất hiện khi xác định không đúngđối tượng, thời điểm, phương thức phủ định
Trang 21> Tuyệt đối hoá mặt loại bỏ hoặc mặt giữ lại.
+Phủ định xã hội diễn ra bằng cơ chế khác căn bản với phủ định trong tự nhiên * Vì
vậy, phương pháp luận rút ra từ quy luật phủ định của phủ định có ý nghĩa:
- Cho ta cơ sở lý luận để hiểu sự ra đời của các mới, cái mới ra đời từ cái cũ, kếthừa những mặt tích cực của cái cũ do vậy cần chống thái độ phủ định sáchtrơn
Câu 8: Phân tích nôi dung của nguyên tắc toàn diện Cho biết trong thực tiển , anh /chị
đã vận dụng nguyên tắc đó như thế nào ?
- Phải phát hiện và quý trọng cái mới, phải biết sàng lọc giữ lấy những cái tích cực cógiá trị của cái cũ
- Chống lại thái độ bảo thủ, khư khư giữ những cái cản trở bước tiến của lịch sử
Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét, đánh giá từng mặt, từng mối liên
hệ, và phải nắm được đâu là mối liên hệ chủ yếu, bản chất quy định sự vận động, pháttriển của sự vật, hiện tượng Trong nhận thức, nguyên tắc toàn diện là yêu cầu tất yếu củaphương pháp tiếp cận khoa học, cho phép tính đến mọi khả năng của vận động,phát triển có thể có của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu, nghĩa là cần xem xét sựvật, hiện tượng trong một chỉnh thể thống nhất với tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố,các thuộc tính, cùng các mối quan hệ của chúng
Nguyên tắc toàn diện còn đòi hỏi để nhận thức được sự vật, hiện tượng chúng tacần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Mối liên hệ giữa sựvật, hiện tượng với nhu cầu của con người rất đa dạng
Nguyên tắc toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện, một chiều; đối lập với chủnghĩa chiết trung và thuật ngữ ngụy biện.
Câu 9: Phân tích nôi dung của nguyên tắc lịch sử cụ thể Cho biết trong thực tiễn, anh /chị đã vận dụng nguyên tắc đó như thế nào ?
• Phân tích nôi dung:
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể cũng là một trong những nguyên tắc phương phápluận cơ bản, quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Đặc trưng
cơ bản của nguyên tắc này là xem xét sự hình thành, tồn tại và phát triển của sự vật, hiệntượng trong điều kiện, môi trường cụ thể, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể Điểm xuất phátcủa nguyên tắc lịch sử - cụ thể là sự tồn tại, vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượngdiễn ra trong không gian, thời gian cụ thể Không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh cụthể khác nhau thì các mối liên hệ và hình thức phát triển của sự vật, hiện tượng cũng khácnhau, bởi vậy không chỉ nghiên cứu chúng trong suốt quá trình, mà còn nghiên cứu chúngtrong các không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể khác nhau đó
Trang 22Theo triết học Mác - Lênin, lịch sử phản ánh tính biến đổi về mặt lịch sử của thế giớikhách quan trong quá trình lịch sử - cụ thể của sự phát sinh, phát triển, chuyển hóa của sựvật, hiện tượng; biểu hiện tính lịch sử cụ thể của sự phát sinh và các giai đoạn pháttriển của sự vật, hiện tượng Mỗi sự vật, hiện tượng đều có quá trình phát sinh, phát triển
và diệt vong của mình và quá trình đó thể hiện trong tính cụ thể, bao gồm mọi sự thay đổi và sự phát triển diễn ra trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau trong không gian
và theo thời gian khác nhau Bởi vậy, nguyên tắc lịch sử cụ thể đòi hỏi, để nhận thức đầy
đủ về sự vật, hiện tượng, chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phátsinh, phát triển, chuyển hóa trong các hình thức biểu hiện, với những bước quanh co, vớinhững ngẫu nhiên gây tác động lên quá trình tồn tại của sự vật, hiện tượng trong khônggian và thời gian cụ thể; gắn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà trong đó sự vật, hiệntượng tồn tại
Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển trong từng giaiđoạn cụ thể của nó; biết phân tích mỗi tình hình cụ thể trong hoạt động nhận thức và hoạtdộng thực tiễn là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố của nội dung nguyên tắc lịch sử -
cụ thể Nguyên tắc lịch sử - cụ thể được V.I.Lênin nêu rõ và cô đọng, “xem xét mỗi vấn đềtheo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử nhưthế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứngtrên quan điểm của sự phát triển đó để xét xem hiện nay nó đã trở thành như thếnào” Bản chất của nguyên tắc này nằm ở chỗ, trong quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng,trong sự vận động, trong sự chuyển hóa qua lại của nó, phải tái tạo lại được sự phát triểncủa sự vật, hiện tượng ấy, sự vận động của chính nó, đời sống của chính nó Nhiệm vụcủa nguyên tắc lịch sử - cụ thể là tái tạo sự vật, hiện tượng xuyên qua lăng kính củanhững ngẫu nhiên lịch sử, những bước quanh co, những gián đoạn, theo trình tự khônggian và thời gian Nét quan trọng nhất của nguyên tắc lịch sử - cụ thể là mô tả sự kiện cụ thể
theo trình tự nghiêm ngặt của sự hình thành sự vật, hiệ n tượng Giá trị của nguyên tắc này là ở chỗ, nhờ đó mà có thể phản ánh được sự vận động lịch sử phong phú và
đa dạng của các hình thức biểu hiện cụ thể của sự vật, hiện tượng để qua đó, nhậnthức được bản chất của nó
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể yêu cầu phải nhận thức được vận động có tính phổbiến, là phương thức tồn tại của vật chất, nghĩa là phải nhận thức được sự vận động làmcho sự vật, hiện tượng xuất hiện, phát triển theo những quy luật nhất định và hình thức củavận động quyết định bản chất của nó; phải chỉ rõ được những giai đoạn cụ thể mà nó
đã trải qua trong quá trình phát triển của mình; phải biết phân tích mỗi tình hình cụ thể tronghoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn thì mới có thể hiểu, giải thích được nhữngthuộc tính, những mối liên hệ tất yêu, những đặc trưng chất và lượng vốn có của sự vật,hiện tượng
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể không chỉ yêu cầu nhận thức những thay đổi diễn ratrong sự vật, hiện tượng, nhận thức những trạng thái chất lượng thay thế nhau, mà còn yêucầu chỉ ra được các quy luật khách quan quy định sự vận động, phát triển của sự vật,hiện tượng, quy định sự tồn tại hiện thời và khả năng chuyển hoá thành sự vật, hiệntượng mới thông qua sự phủ định; chỉ ra được rằng, thông qua phủ định của phủ đỉnh, sựvật, hiện tượng mới là sự kế tục sự vật, hiện tượng cũ; là sự bảo tồn sự vật,hiện tượng cũtrong dạng đã được lọc bỏ, cải tạo cho phù hợp với sự vật, hiện tượng mới Như vậy, chỉkhi đã tìm được mối liên hệ khách quan, tất yếu giữa các trạng thái chất lượng, tạo nên lịch
sử hình thành và phát triển của sự vật, hiệ n tượng đang nghiên cứu; tạo nên các quy luật quy định sự tồn tại và chuyển hóa của nó, quy định giai đoạn phát triển này