1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

TÔNG HỢP MỘT SỐ CÂU HỎI MÔN TRIẾT HỌC

15 373 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 138,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ mối quan hệ này, quan điểm duy vật biện chứng đã chỉ ra nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất đối với mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người là: phải xuất phát t

Trang 1

Môn triết

Câu 1: Đảng ta khẳng định: “Đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thục tế, tôn trọng quy luật khách quan…” Đồng chí hãy phân tích cơ sở lý luận của quan điểm trên

Liên hệ thực tiễn cách mạng Việt Nam và địa phương đồng chí đang công tác

Trả lời:

1 Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền

tảng tư tưởng và vận dụng tư tưởng lý luận đó vào thực tế cách mạng nước ta để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ Đặc biệt, trước những diễn biến hết sức phức tạp của tình hình trong nước và thế giới, khi hệ thống XHCN và các đảng cộng sản đang rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc, toàn diện, việc đề ra đường lối đổi mới là yêu cầu rất bức thiết đối với cách mạng, quyết định sự sống còn của Đảng, đến thắng lợi cách mạng Việt Nam Một trong những vận dụng cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin vào công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng đã khởi xướng bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI là nguyên tắc khách quan - một nguyên tắc được rút ra từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Văn kiện Đại hội Đảng lần IX

đã viết: “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng” Việc tìm hiểu quy luật khách quan trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức để vận dụng đúng đắn quy luật này vào thực tiễn là vấn đề hết sức cần thiết đối với Đảng viên

2 Quan điểm của Đảng ta về “Đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thục tế,

tôn trọng quy luật khách quan…” có cơ sở lý luận từ việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và

ý thức Theo đó, việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo nguyên tắc:

2.1 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

2.1.1 Vật chất luôn luôn quyết định ý thức

Sự quyết định này được thể hiện ở chỗ: vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; ý thức là sự phản ánh đối với vật chất

Chúng ta đều biết, ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người nên chỉ khi có con người mới có ý thức Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất Đó là nguyên nhân vật chất có trước, ý thức có sau

Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức đề, hoặc là chính bản thân thế giới vật chất, hoặc là những dạng tồn tại của vật chất Cho nên vật chất là nguồn gốc của ý thức

Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nên nội dung mà ý thức phản ánh được quyết định bới vật chất Sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức… đều bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội, môi trường sống quyết định

2.1.2 Ý thức có sự tác động tích cực trở lại vật chất

Sở dĩ có sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất là do sự tồn tại của ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất

Nói đến ý thức là nói đến ý thức của con người cho nên sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chính là sự tác động của con người đối với thế giới khách quan

Bản thân ý thức tự nó không thể tác động đến vật chất Sự tác động của ý thức đến vật chất phải thông qua những hoạt động thực tiễn của con người Cho nên bản thân ý thức thể hiện sự tác

Trang 2

động đến vật chất là thực hiện sự chỉ đạo mọi hoạt động của con người; trang bị cho con người những tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở đó con người xác định được mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện… để thực hiện mục tiêu của mình

Sự tác động tích cực trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan và con người thực hiện được sự cải tạo thế giới khách quan; ngược lại, nếu nhận thức của con người không phù hợp với quy luật khách quan của thế giới thì khi con người hành động sẽ đi ngược lại các quy luật khách quan và những hành động đó có tác dụng tiêu cực đến thế giới

Từ mối quan hệ này, quan điểm duy vật biện chứng đã chỉ ra nguyên tắc phương pháp luận

cơ bản, chung nhất đối với mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người là: phải xuất phát

từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan.

3 Liên hệ thực tiễn

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì: vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song ý thức

có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người; vì vậy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan, biết tạo điều kiện và phương tiện vật chất tổ chức lực lượng thực hiện biến khả năng thành hiện thực đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình

Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các quy luật tự nhiên

và xã hội Điều này đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình V.I Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng Nếu chỉ xuất phát

từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí

Từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và từ kinh nghiệm thành công, thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học quan trọng là “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, Đảng chủ trương: “huy động ngày càng cao mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước, đặc biệt là nguồn lực của dân vào công cuộc phát triển đất nước”, muốn vậy phải “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Mặt khác, cần nhận rõ vai trò tích cực của nhân tố ý thức, tinh thần trong việc sử dụng một cách có hiệu quả nhất những điều kiện phương tiện vật chất hiện có Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố con người để cải tạo thế giới khách quan, phải tạo ra động lực hoạt động cho con người bằng cách quan tâm tới đời sống kinh tế, lợi ích thiết thực của quần chúng, phát huy dân chủ rộng rãi

Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã tổng kết 10 năm đổi mới, đề ra những mục tiêu, phương pháp, nhiệm vụ cho thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong thời kỳ mới này phải “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự

Trang 3

phát triển nhanh và bền vững” chúng ta cần tránh sai lầm chủ quan nóng vội trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời phải “khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu…”

Môn triết Câu 2: Đồng chí hãy phân tích nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Liên hệ sự vận dụng của nguyên tắc này trong quá trình phát triển lý luận ở Việt Nam

Trả lời:

1 Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản, là linh

hồn của triết học Mác - Lênin Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, C.Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận chính là mối liên hệ của nó với thực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở mối quan hệ của nó với lý luận Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng và cơ sở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn Thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển; sự thống nhất biện chứng giữa chúng vì thế cũng có những nội dung cụ thể và những biểu hiện khác nhau trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử Trong quá trình phát triển lý luận ở Việt Nam hiện nay, nguyên tắc này vẫn còn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc Thực tiễn phong phú và những thành tựu đạt được qua gần 30 năm đổi mới của Đảng chính là đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta, qua đó làm rõ hơn tính đúng đắn, khoa học

về lý luận xã hội XHCN và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay

2 Về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

2.1.Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý

luận nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ triết học Mác - Lênin nói chung

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì “Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội” Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới.

Tuy trình độ và các hình thức hoạt động thực tiễn có thay đổi qua các giai đoạn lịch sử

khác nhau của xã hội, nhưng thực tiễn luôn là dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của xã hội loài người Về mặt nội dung cũng như về phương thức thực hiện, thực tiễn có tính lịch sử - xã hội.

Thực tiễn gồm những dạng cơ bản sau đây: họat động sản xuất vật chất; hoạt động chính tri - xã hội; họat động thực nghiệm khoa học

* Về phạm trù nhận thức và lý luận, quá trình nhận thức diễn ra theo con đường từ trực

quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó là quá trình

nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn Trong

đó nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức và giai đoạn cao nhất của nhận thức là nhận thức lý luận

Ở trình độ nhận thức lý luận, tư duy đã vượt ra ngoài giới hạn của những tri thức kinh

nghiệm Lý luận là sự tổng kết, là sự khái quát những kinh nghiệm thực tiễn bằng một hệ thống những khái niệm, phạm trù, những nguyên lý và quy luật phản ánh sự vận động và phát triển của

sự vật mà ta nghiên cứu Như vậy, lý luận thể hiện tính chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn, hệ

thống hơn, nghĩa là có tính bản chất sâu sắc hơn và do đó, phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biến, rộng hơn nhiều so với tri thức kinh nghiệm

Trang 4

2.2 Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng đã chứng minh vai trò to lớn của thực tiễn đối với nhận thức nói chung và nhận thức lý luận nói riêng Vai trò của thực tiễn đối với

nhận thức được biểu hiện trước hết ở chỗ:

a Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận; lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức Chính trong quá trình cải tạo thế giới mà nhận thức, lý luận ở con người mới được hình thành và phát triển Thực tế lịch sử cho thấy, con người quan hệ với thế giới bắt đầu không phải bằng lý luận mà bằng thực tiễn Trong quá trình này, con người sử dụng các công cụ, phương tiện tác động vào các sự vật, hiện tượng, buộc chúng phải bộc lộ những thuộc tính và tính qui luật, nhờ đó mà con người có được những hiểu biết về thế giới khách quan Ban đầu con người thu nhận những tài liệu cảm tính, những kinh nghiệm, sau đó tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa để xây dựng thành lý luận Do đó, có thể nói, thực tiễn cung cấp những tài liệu cho nhận thức, cho lý luận Không có thực tiễn thì không có nhận thức, không có lý luận Những tri thức mà chúng ta có được cho đến hôm nay hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn

Quá trình cải tạo thế giới bằng hoạt động thực tiễn cũng chính là quá trình hoàn thiện bản thân con người Thông qua thực tiễn, con người phát triển năng lực bản chất, năng lực trí tuệ của

mình Ph.Ăngghen viết: “Từ trước đến nay, khoa học tự nhiên cũng như triết học đã coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tư duy của họ Hai môn ấy một mặt chỉ biết tự nhiên mặt khác chỉ biết có tư tưởng Nhưng chính việc người ta biến đổi tự nhiên là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người phát đã phát triển song song với việc người ta người đã học cải biến tự nhiên”.

Như vậy, trong quá trình hoạt động thực tiễn, trí tuệ con người được phát triển, được nâng cao dần cho đến lúc có lý luận, khoa học Nhưng bản thân lý luận không có mục đích tự thân Lý luận khoa học ra đời vì chúng cần thiết cho hoạt động cải tạo tự nhiên và xã hội Hay nói một cách khác, thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận Lý luận sau khi ra đời phải quay về phục

vụ thực tiễn, hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hành động thực tiễn của quần chúng

Lý luận chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn

Ngày nay, công cuộc đổi mới xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang đặt

ra nhiều vấn đề mới mẻ và phức tạp, đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên cứu để đáp ứng những yêu cầu đó Chẳng hạn, đó là những vấn đề lý luận về CNXH và con đường đi lên ở nước ta, về kinh

tế thị trường, về hoàn chỉnh hệ thống quan điểm đổi mới… Qua việc làm sáng tỏ những vấn đề trên, chắc chắn lý luận sẽ góp phần đắc lực vào sự nghiệp đổi mới đất nước

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận còn thể hiện ở chỗ thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý C Mác viết: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”

Chỉ có lấy thực tiễn kiểm nghiệm mới xác nhận được tri thức đạt được là đúng hay sai, là chân lý hay sai lầm Thực tiễn sẽ nghiêm khắc chứng minh chân lý, bác bỏ sai lầm Tuy nhiên, cần phải hiểu tiêu chuẩn thực tiễn một cách biện chứng: tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối vừa

có tính tương đối Tính tuyệt đối là ở chỗ thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm

Trang 5

nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗi gia đoạn lịch sử có thể xác nhận được chân lý Nhưng tiêu chuẩn thực tiễn có tính tương đối vì thực tiễn không đứng im một chỗ mà biến đổi và phát triển; thực tiễn là một quá trình và được thực hiện bởi con người nên không tránh khỏi có cả yếu tố chủ quan Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép biến những tri thức của con người trở thành những chân vĩnh viễn, tuyệt đích cuối cùng Trong quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức, những tri thức đạt được trước kia và hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệm bởi thực tiễn tiếp theo Vì vậy, những tri thức được thực tiễn chứng minh ở một giai đoạn lịch sử nhất định phải tiếp tục được bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa và phát triển hoàn thiện hơn Việc quán triệt tính biện chứng của tiêu chuẩn thực tiễn giúp ta tránh khỏi những cực đoan sai lầm như chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ hoặc chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa tương đối

Sự phân tích trên đây về vai trò của thực tiến đối với lý luận đòi hỏi chúng ta phải quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu đi sát thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đôi với hành Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, bệnh quan liêu, chủ nghĩa xét lại

b Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn

Coi trọng thực tiễn không có nghĩa là xem thường lý luận, hạ thấp vai trò của lý luận Không nên đề cao cái này, hạ thấp cái kia và ngược lại Không thể dừng lại ở những kinh nghiệm thu nhận lại trực tiếp từ thực tiễn mà phải nâng lên thành lý luận bởi lý luận là một trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm Lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Đánh giá vai trò và ý nghĩa lớn lao của lý luận, Lênin viết: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”

Lý luận một khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành “lực lượng vật chất” Lý luận có thể dự kiến được sự vận động trong tương lai, từ đó vạch ra phương hướng cho thực tiễn, chỉ rõ những phương pháp hành động có hiệu quả nhất để đạt mục đích của thực tiễn Nhờ có lý luận khoa học mà hoạt động của con ngươi nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát Sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lênin là ở chỗ, trong khi khái quát thực tiễn cách mạng, lịch sử xã hội, nó vạch rõ qui luật khách quan của sự phát triển, dự kiến những khuynh hướng cơ bản của sự tiến hóa xã hội Điều đó làm cho các Đảng của giai cấp công nhân có thể vạch ra đường lối, phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp hành động cho phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh, điều kiện

cụ thể của mỗi nước một cách sáng tạo Chủ tịch Hồ Chí Minh ví “không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”

Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự phản ánh hiện thực, do sự chi phối của hệ tư tưởng và thái độ không khoa học nên lý luận có nguy cơ xa rời cuộc sống và trở nên ảo tưởng, giáo điều Trong khi nhấn mạnh vai trò quan trọng của lý luận, V.I Lênin nhắc đi nhắc lại rằng, lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là “kim chỉ nam” cho hành động cách mạng; và lý luận không lại là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo; lý luận luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới được rút ra từ thực tiễn sinh động Chủ tịch

Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không

có kết quả” Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tế

Trang 6

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác -

Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông.

Sự hình thành và triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thể hiện tiêu biểu cho sự gắn bó mật thiết giữa lý luậnvà thực tiễn C.Mác và Ph.Ăngghen đã khái quát thực tiễn cách mạng, lịch sử xã hội để xây dựng nên hệ thống lý luận của mình V.I Lênin đã nêu một tấm gương sáng về sự phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn mới Trên cơ sở nghiên cứu điều kiện nước Nga lúc

đó, V.I Lênin đã đưa ra chính sách kinh tế mới (NEP) và Người nhận xét: “toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản”

Như vậy, sức mạnh của lý luận là ở chỗ nó gắn bó mật thiết với thực tiễn, được kiểm nghiệm, bổ sung và phát triển trong thực tiễn

3 Sự vận dụng nguyên tắc này trong quá trình phát triển lý luận ở Việt Nam

3.1 Nguyên tắc về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin đã

được khẳng định qua thực tiễn của cách mạng Việt Nam Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhiều phong trào yêu nước, nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân đã liên tiếp diễn ra mà tiêu biểu là các phong trào yêu nước do Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu lãnh đạo với các cuộc vận động “Đông Du”, “Đông kinh nghĩa thục” nhưng cuối cùng đều không giành được thắng lợi Tất nhiên là do hoàn cảnh lịch sử chi phối, nhưng vấn đề cơ bản là do chưa tìm được con đường đi đúng đắn, hay nói cách khác là chưa có lý luận cách mạng Cho đến khi Nguyễn Ái Quốc tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và được ánh sáng soi đường của cách mạng tháng mười

Nga, cách mạng Việt Nam mới thật sự có được con đường đi đúng đắn nhất đó là: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là

sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới” Đó chính là sự giải quyết đúng

đắn vấn đề dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp sức mạnh

dân tộc và sức mạnh thời đại, nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế Chính những lý luận đó đã dẫn đường cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

3.2 Tuy nhiên cũng có lúc Đảng ta mắc phải sai lầm, thiếu tôn trọng nguyên tắc về sự

thống giữa lý luận và thực tiễn, chẳng hạn là đã cho rằng quan hệ sản xuất đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất, vì vậy đã duy trì kéo dài (từ năm 1960 đến trước khi thực hiện đổi mới 1986) nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp với hai thành phần kinh tế đó là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, phủ nhận vai trò của các thành phần kinh tế khác trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH Sự sai lầm trong nhận thức và lý luận đó đã làm kìm hãm sự phát triển của đất nước

Tại Đại hội VI của Đảng (12/1986) - đại hội đổi mới - cũng là kết quả của tổng kết thực tiễn quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước (1976-1986) một cách có lý luận

và đã rút ra bốn bài học kinh nghiệm Có thể nói, chính đường lối đổi mới của Đảng cũng là kết quả tổng kết thực tiễn hơn 10 năm xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước cũng như tổng kết rút kinh nghiệm xây dựng CNXH của các nước XHCN khác Chẳng hạn, đường lối phát triển kinh

tế nhiều thành phần định hướng XHCN được Đảng thường xuyên tổng kết thực tiễn để bổ sung,

hoàn thiện Đại hội VI coi phát triển kinh tế nhiều thành phần “là một giải pháp có ý nghĩa chiến lược, góp phần giải phóng và khai thác mọi khả năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý” Tinh thần đó đã được Hội nghị Trung ương 2 (khoá VI) nhất

là Hội nghị Trung ương 6 (khoá VI) tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, phát triển Hội nghị Trung

ương 6 (khoá VI) xác định phát triển kinh tế nhiều thành phần là chính sách nhất quán, có ý

Trang 7

nghĩa chiến lược lâu dài Năm 1988, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khoá VI đã ra

Nghị quyết 10 nhằm tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Tổng kết quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội VI về phát triển kinh tế nhiều thành phần, Đại hội VII của Đảng (6/1991) đã cụ thể hơn nữa chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, đặc biệt nhấn mạnh tới định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển kinh tế nhiều

thành phần: “chúng ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Đại hội VIII của Đảng (6/1996) tổng kết thực tiễn 10 năm đổi mới đã rút ra sáu bài học, trong đó có bài học: “Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái” Đây vừa là bài học kinh

nghiệm vừa là sự hoàn thiện, bổ sung, phát triển đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần

định hướng XHCN Đại hội IX của Đảng (4/2001) tiếp tục khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH” Đại hội X (4/2006) tổng kết 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội IX về phát triển kinh tế thị trường đã phát triển thêm đường lối này và đề ra nhiệm vụ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN Đại hội XI (1/2011) tiếp tục tán thành với những định hướng về thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN, nhất trí với những nội dung về giữ vững định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường ở nước ta.

Như vậy có thể nói, mỗi kỳ Đại hội là một lần Đảng tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện, phát triển chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN một cách sâu sắc hơn, cụ thể hơn, toàn diện hơn cho phù hợp với điều kiện tình hình trong nước và quốc tế Không những vậy, Đảng còn luôn tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để chỉ đạo phát triển kinh tế nhiều thành phần sao cho không chệch hướng XHCN

Môn triết

Câu 3: Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Nhận thức và vận dụng của Đảng ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Liên hệ với thực tiễn địa phương

Trả lời:

1 Trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác, quy luật quan hệ sản

xuất (QHSX) phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) chiếm vị trí đặc biệt

Trang 8

quan trọng, là cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học trong nhận thức và cải tạo xã hội Đó

là quy luật hết sức phổ biến trong công cuộc xây dựng đất nước của mỗi quốc gia Sự mâu thuẫn hay phù hợp giữa QHSX và LLSX đều có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế Đối với nước ta, trong thời kỳ quá độ lên CNXH, việc xây dựng QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX

là một trong những vấn đề quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Chính vì vậy, việc nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật này giúp Đảng ta đề ra đường lối, chính sách, mục tiêu phù hợp, góp phần quan trọng để đạt được những thành tựu to lớn và trước hết là tạo bước phát triển mới của LLSX và QHSX trong thời kỳ CNH-HĐH

2 Sự tồn tại của một phương thức sản xuất được quy định bởi sự thống nhất biện chứng

giữa LLSX ở trình độ phát triển nhất định với quan hệ sản xuất tương ứng Sự vận động phát triển của phương thức sản xuất bị quy định bởi sự tác động biện chứng giữa LLSX và QHSX Như vậy qua sự tác động biện chứng giữa QHSX và LLSX phù hợp sẽ hình thành một phương thức sản xuất mới Phương thức sản xuất chính là cách thức con người tiến hành sản xuất vật chất ở từng giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loại người

2.1 Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là sự biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất, trong đó “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất

ra của cải vật chất

Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất Công cụ lao động do con người sáng tạo ra, là

“sức mạnh của tri thức đã được vật thể hóa”, nó “nhân” sức mạnh của con người trong quá trình lao động sản xuất Công cụ lao động là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất Xét đến cùng, đó

là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước

đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành “LLSX trực tiếp” Sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại không còn chỉ là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri thức khoa học

Có thể nói: khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại

2.2 Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội)

QHSX gồm ba mặt: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất; quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất; quan hệ về phân phối sản phẩm lao động xã hội

QHSX do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người QHSX là hình thức xã hội của sản

Trang 9

xuất; giữa ba mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động, phát triển không ngừng của LLSX Trong ba mặt của QHSX, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ xã hội khác Tuy nhiên, quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng có sự ảnh hưởng đến quan

hệ sở hữu

2.3 Biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

* Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn thống nhất với nhau, trong đó lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định còn quan hệ sản xuất có sự tác động trở lại lực lượng sản xuất

Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó Quan hệ sản xuất cũng có sự tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự tác động trở lại này là do:

Thứ nhất, QHSX có tính độc lập tương đối so với sự vận động không ngừng của lực lượng

sản xuất

Thứ hai, QHSX quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong

lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học

và công nghệ…, và do đó tác động đến sự phát triển của LLSX

Sự tác động này của quan hệ sản xuất diễn ra theo 2 hướng cơ bản: Nếu như QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách hình thức so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

* Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong sự thống nhất, chuyển hóa và có

sự mâu thuẫn

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn thống nhất trong một phương thức sản xuất Tuy nhiên, đặc trưng của lực lượng sản xuất là luôn thay đổi và sự thay đổi của lực lượng sản xuất đạt đến một trình độ mới, điều này làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của lực lượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế C.Mác đã viết: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội”

Trang 10

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ

tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất

2.4 Ý nghĩa phương pháp luận

Vì LLSX quyết định QHSX đối với quá trình sản xuất xã hội, cho nên trong hoạt động thực tiễn cần coi trọng vị trí, vai trò của LLSX đối với QHSX Muốn thúc đẩy quá trình sản xuất

xã hội cần phải phát huy vai trò của LLSX; cần phải ưu tiên, mở đường cho LLSX phát triển tối đa

Vì QHSX có sự tác động tích cực trở lại đối với LLSX (thể hiện thông qua sự phù hợp và không phù hợp với trình độ LLSX) trong quá trình sản xuất xã hội, cho nên không được xem thường, bỏ qua vai trò này và cần phải biết phát huy vai trò của QHSX nhằm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho LLSX phát triển

Vì giữa LLSX và QHSX tồn tại trong mối quan hệ vừa thống nhất, vừa đấu tranh lẫn nhau, cho nên cần phải tôn trọng quy luật này Việc tôn trọng quy luật giúp chúng ta chủ động trong việc giải quyết mối quan hệ cũng như có những biện pháp phù hợp nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất xã hội phát triển

3 Nhận thức và vận dụng của Đảng ta trong quá trình xây dựng CNXH

* Trước thời kỳ đổi mới

Chúng ta đã mắc bệnh chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan khi không tính đến điều kiện của một đất nước với nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển với LLSX còn thấp, nhưng

lại chủ trương xây dựng QHSX tiên tiến đi trước nhằm mở đường cho LLSX phát triển, xác lập kiểu “QHSX xã hội chủ nghĩa thống trị” dựa trên chế độ công hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu

tập thể Chính sự nhận thức và vận dụng sai lầm đó đã được Đại hội lần thứ VI của Đảng năm

1986 chỉ rõ: một trong những nguyên nhân cơ bản của sự khủng hoảng kinh tế xã hội nói chung, của sự kìm hãm LLSX phát triển nói riêng trong những năm 1976 - 1980 là do trong nhận thức và hành động, “chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và trình độ của LLSX”

* Trong quá trình đổi mới

Trong khi tiến hành CNH-HĐH đất nước, đặc biệt là qua 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010, chúng ta đã từng bước nhận thức và vận dụng quy luật này ngày càng rõ và đúng đắn hơn Đó là chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu; nhiều thành phần kinh

tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Vì vậy đã góp phần quan trọng để “đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng…, đạt bước phát triển mới cả về LLSX, QHSX” Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa phù hợp với xu hướng phát triển chung của nhân loại, vừa phù hợp với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta; với yêu cầu của quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ TBCN trong điều kiện của trình độ phát triển LLSX đa dạng, không đồng đều Chính vì vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải

Ngày đăng: 13/11/2015, 12:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w