Hiện tại đã có nhiều phương pháp đánh giá trữ lượng cá biển như phươngpháp diện tích, phương pháp thủy âm,…, tuy nhiên các phương pháp này chỉ đưa rađược con số về trữ lượng và khả năng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Văn Bộ
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn.
Học viên
Phạm Thị Hoa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGUỒN LỢI CÁ NỔI NHỎ VÙNG BIỂN ĐÔNG – TÂY NAM BỘ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG 3
1.1 Giới thiệu vùng biển Đông – Tây Nam Bộ 3
1.1.1 Vị trí địa lý 3
1.1.2 Điều kiện khí tượng, thủy văn 4
1.2 Khái quát về nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển Đông – Tây Nam Bộ 8
1.3 Một số phương pháp đánh giá trữ lượng cá và khả năng khai thác 11
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG VÀ NGUỒN SỐ LIỆU SỬ DỤNG TRONG ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG CÁ NỔI NHỎ VÙNG BIỂN ĐÔNG – TÂY NAM BỘ 15
2.1 Phương pháp chuyển hóa năng lượng 15
2.1.1 Giới thiệu mô hình tựa cạnh tranh trong quần xã sinh vật nổi biển 15
2.1.2 Mô hình xác định năng suất sinh học và các hiệu suất sinh thái 19
2.1.3 Các số liệu dầu vào và kết quả đầu ra của mô hình 21
2.1.4 Đánh giá mô hình 22
2.1.5 Phương pháp năng lượng xác định trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi nhỏ 23
2.2 Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển Đông – Tây Nam Bộ 24
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC NGUỒN LỢI CÁ NỔI NHỎ VÙNG BIỂN ĐÔNG – TÂY NAM BỘ 32
3.1 Đặc trưng quá trình sản xuất sơ cấp của thực vật phù du trong vùng biển Đông – Tây Nam Bộ 32
3.2 Đặc trưng quá trình sản xuất thứ cấp của động vật phù du trong vùng biển Đông - Tây Nam Bộ 37
3.3 Các hiệu suất sinh thái vùng biển Đông - Tây Nam Bộ 41
Trang 53.4 Ước tính trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển
Đông – Tây Nam Bộ 42
3.4.1 Sinh khối cá nổi nhỏ 42
3.4.2 Năng suất cá nổi nhỏ 43
3.4.3 Ước tính trữ lượng nguồn lợi cá nổi nhỏ 44
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 52
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Trữ lượng và khả năng khai thác cá ở các vùng biển Việt Nam bằng
phương pháp diện tích 10Bảng 2.1: Các giá trị thông số của mô hình áp dụng vùng biển Đông – Tây Nam Bộ 29Bảng 3.1: Thống kê giá trị sinh khối thực vật phù du theo các tháng tại một số tầng
(mg-tươi/m3) 32Bảng 3.2: Thống kê giá trị trung bình trong cột nước quang hợp của các yếu tố theo
các tháng (Sinh khối: mg-tươi/m3, Năng suất: mgC/m3/ngày) 33Bảng 3.3: Thống kê giá trị sinh khối động vật phù du theo các tháng tại một số tầng
(mg-tươi/m3) 37Bảng 3.4: Giá trị các hiệu suất sinh thái trung bình tháng trên toàn vùng biển 41Bảng 3.5: Ước tính trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ theo từng
khu vực 45Bảng 3.6: Trữ lượng và khả năng khai thác cá ở các vùng biển Việt Nam 48Bảng 3.7: Hiện trạng khai thác ở các vùng biển qua các năm 48
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Vị trí địa lý vùng biển Đông – Tây Nam Bộ 3Hình 1.2: Bản đồ trường ứng suất gió trung bình tháng 1 (trái) và tháng 7 (phải)
(dyn/cm2) 6Hình 1.3: Hoàn lưu nước vùng biển Đông - Tây Nam Bộ (Nguồn: Wyrtki, 1961) 6Hình 1.4: Độ muối nước biển tầng mặt tháng 1 (trái) và tháng 7 (phải) 7Hình 1.5: Phân bố nguồn lợi cá nổi nhỏ ở vùng biển Biệt Nam trong mùa gió Tây
Nam (trái) và Đông Bắc (phải) 9Hình 2.1: Các quá trình ảnh hưởng tới sự phát triển của quần xã sinh vật nổi biển 16Hình 2.2: Sơ đồ kênh năng lượng qua bậc dinh dưỡng i bất kì 19Hình 2.3: Quá trình chuyển hóa năng lượng qua các bậc dinh dưỡng trong chuỗi
thức ăn ở biển 24Hình 2.4: Độ sâu vùng biển nghiên cứu với độ phân giải 0.25 độ kinh vĩ 25Hình 2.5: Phân bố nhiệt độ trung bình tầng mặt ở vùng biển nghiên cứu (0C) 27Hình 2.6: Biến trình năm bức xạ quang hợp trung bình tầng mặt tại vùng biển
(cal/cm2/phút) 28Hình 3.1: Phân bố giá trị trung bình cột nước của sinh khối thực vật phù du trong
một số tháng đại diện (mg-tươi/m3) 34Hình 3.2: Phân bố giá trị trung bình cột nước của năng suất sơ cấp tinh trong một số
tháng đại diện (mgC/m3/ngày) 35Hình 3.3: Phân bố giá trị trung bình cột nước của sinh khối động vật phù du trong
một số tháng đại diện (mg-tươi/m3) 39Hình 3.4: Phân bố giá trị trung bình cột nước của năng suất thứ cấp trong một số
tháng đại diện (mgC/m3/ngày) 40Hình 3.5: Phân bố sinh khối cá nổi nhỏ vùng biển nghiên cứu (tấn/ô lưới) 42Hình 3.6: Phân bố khu vực và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển
(tấn/ô lưới/tháng) 44
Trang 8Hình 3.7: Phân bố trữ lượng nguồn lợi cá nổi nhỏ trong vùng biển (tấn/ô lưới/năm)
45
Hình 3.8: Phân bố theo tháng của tổng sinh khối (nghìn tấn) và khả năng khai thác (nghìn tấn/tháng) nguồn lợi cá nổi nhỏ trên toàn vùng biển nghiên cứu 46
Hình 3.9: Phân bố khả năng khai thác cho phép theo tháng của nguồn lợi cá nổi nhỏ trên từng khu vực (nghìn tấn/tháng) 47
Hình P1: Phân bố nhiệt độ trung bình tại tầng 10m (0C) 52
Hình P2: Phân bố nhiệt độ trung bình tại tầng 20m (0C) 53
Hình P3: Phân bố nhiệt độ trung bình tại tầng 50m (0C) 54
Hình P4: Phân bố giá trị tích phân sinh khối thực vật phù du trong cột nước 1m2 lớp quang hợp các tháng (mg-tươi/m2) 55
Hình P5: Phân bố giá trị tích phân sinh khối động vật phù du trong cột nước 1m2 lớp quang hợp các tháng (mg-tươi/m2) 56
Hình P6: Phân bố giá trị tích phân năng suất sơ cấp tinh trong cột nước 1m2 lớp quang hợp các tháng (mgC/m2/ngày) 57
Hình P7: Phân bố giá trị tích phân năng suất thứ cấp trong cột nước 1m2 lớp quang hợp các tháng (mgC/m2/ngày) 58
Trang 9MỞ ĐẦU
Ở các vùng biển nước ta, nghề khai thác cá nổi nhỏ đã tồn tại từ rất lâu, trướckhi nghề khai thác cá đáy và cá nổi đại dương phát triền Mặt khác, biển Việt Namlại nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa và có khu hệ cá biển thuộc khu hệ động vật
Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương nên cá biển Việt Nam không chỉ phong phú, đa dạng
về thành phần loài mà còn đặc trưng cho cá biển nhiệt đới về những đặc điểm sinhvật học Chính vì vậy, nghề cá ở các vùng biển nhiệt đới nói chung và vùng biểnViệt Nam nói riêng cũng rất đa dạng
Để có thể khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên cá biển trong đó có cá nổinhỏ, việc đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác nguồn tài nguyên này là rất cầnthiết Hiện tại đã có nhiều phương pháp đánh giá trữ lượng cá biển như phươngpháp diện tích, phương pháp thủy âm,…, tuy nhiên các phương pháp này chỉ đưa rađược con số về trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ chung cho cảvùng biển và cho cả một năm Việc chỉ ra các khu vực tập trung nguồn lợi trên vùngbiển và biến động của chúng theo thời gian từng tháng, từng vụ cá còn chưa đạt được
Ngày nay, với sự phát triển của toán học tính toán, việc sử dụng các mô hìnhtoán trong nghiên cứu biển ngày càng có nhiều triển vọng Ngoài những mô hìnhứng dụng trong các nghiên cứu vật lý, thủy thạch động lực học biển đã rất phổ dụngtrên thế giới, những mô hình toán ứng dụng trong nghiên cứu hệ sinh thái và môitrường biển cũng dần được hoàn thiện và phổ cập Ở Việt Nam, hướng nghiên cứunày cũng đã được triển khai và đã đạt được những thành công nhất định với một số
mô hình toán liên quan đến chu trình chuyển hóa vật chất trong biển, trong đó có
mô hình “tựa cạnh tranh” trong quần xã sinh vật nổi biển, là một trong những môhình chuyển hóa năng lượng có thể áp dụng trong đánh giá trữ lượng và khả năngkhai thác tài nguyên cá biển và giải quyết được những vấn đề còn tồn tại nêu trên
Luận văn có tên “Ứng dụng mô hình chuyển hóa năng lượng đánh giá trữlượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển Đông - Tây Nam Bộ”với nội dung chính là ứng dụng (mang tính thử nghiệm) mô hình “tựa cạnh tranh”
và xử lý các kết quả để có được các đánh giá định lượng về trữ lượng và khả năng
Trang 10khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ và phân bố, biến động của chúng ở vùng biển này.Đây cũng là một trong số ít những thử nghiệm đầu tiên ở Việt Nam áp dụng môhình toán sinh thái cho vùng biển Đông - Tây Nam Bộ.
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và phu lục, nội dung được trình bày ở
3 chương sau:
Chương 1: Tổng quan nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển Đông – Tây Nam Bộ
và các phương pháp đánh giá trữ lượng
Chương 2: Phương pháp chuyển hóa năng lượng và nguồn số liệu sử dụng
trong đánh giá trữ lượng cá nổi nhỏ vùng biển Đông – Tây Nam Bộ
Chương 3: Đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ
vùng biển Đông – Tây Nam Bộ
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGUỒN LỢI CÁ NỔI NHỎ VÙNG BIỂN ĐÔNG – TÂY NAM BỘ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG
1.1 Giới thiệu vùng biển Đông – Tây Nam Bộ
Trang 12Vùng biển này có đáy là vùng thềm lục địa mở khá rộng ở phần phía trước châu thổsông Cửu Long nên chịu ảnh hưởng của lượng nước ngọt rất lớn từ lục địa đổ ra.
1.1.2 Điều kiện khí tượng, thủy văn
Đặc điểm chung của khí hậu khu vực Đông - Tây Nam Bộ là nắng nhiều,nhiệt độ cao quanh năm, mùa mưa về cơ bản là mùa hè, mùa khô chủ yếu là cáctháng giữa và cuối mùa đông Nếu như khí hậu duyên hải Trung Bộ thể hiện nhiềunét dị thường thì khí hậu Đông - Tây Nam Bộ lại mang đầy đủ những nét điển hìnhcủa miền nhiệt đới gió mùa Song do có vị trí ở những vĩ độ thấp, khá gần xích đạonên khí hậu nơi đây còn thể hiện ít nhiều đặc điểm của chế độ khí hậu cận xích đạo,nhất là chế độ nhiệt [18]
Nhiệt độ không khí: Trị số phổ biến về nhiệt độ không khí trung bình năm
khoảng 26,5 – 27,5oC, tháng nóng nhất khoảng 34 – 35oC (tháng 4), nhiệt độ caonhất tuyệt đối là 38 – 40oC, tháng lạnh nhất là 24 – 26oC, nhiệt độ thấp nhất tuyệtđối là 14 – 18oC Tháng 1 là tháng có nhiệt độ thấp nhất, có khả năng giảm xuống
14 – 15oC trên đại bộ phận đồng bằng, 16 – 17oC ở ven biển Chênh lệch nhiệt độtrung bình giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất vào khoảng 3 – 3,5oC Thời kì nhiệt độdao động ngày đêm mạnh nhất là các tháng mùa khô (từ tháng 1 đến tháng 4), biên
độ có thể đạt tới 10 – 12oC trên đại bộ phận đồng bằng và 6 – 8oC ở gần biển Thời
kì nhiệt độ dao động ngày đêm thấp nhất là các tháng mùa mưa với biên độ khoảng
7 – 8oC ở đồng bằng và 5oC ở ven biển
Mây, nắng, bốc hơi: Trị số phổ biến của lượng mây trung bình năm vào
khoảng 7/10 Thời kì nhiều mây trùng với mùa mưa - ẩm (từ tháng 5 đến tháng 11)
có lượng mây 7 – 8/10 Hai tháng nhiều mây nhất là tháng 7 và 9 với lượng mâyvượt quá 8/10 Hai tháng có lượng mây thấp nhất là tháng 2 và 3 với lượng mây chỉkhoảng 4 -5/10
Trị số phổ biến của lượng bức xạ tổng cộng trung bình năm là 150 -170Kcal/cm2 Số giờ nắng trung bình năm là 2400 – 3000 giờ Suốt 4 tháng mùa khô
Trang 13giờ Thời kì tương đối ít nắng là vào mùa mưa, số giờ nắng trung bình chỉ 120 – 160giờ mỗi tháng Hai tháng ít nắng nhất là tháng 7 và tháng 9 với số giờ nắng chừng
110 – 120 giờ Về tài nguyên bức xạ (nắng), đây là vùng tương đương với NamTrung Bộ và hơn hẳn các khu vực phía bắc [18]
Nắng nhiều nên bốc hơi mạnh Độ bốc hơi cả năm trên toàn vùng đạt 1000 –
1100 mm Ở ven biển, độ bốc hơi giảm xuống còn 800 – 900 mm Thời kì bốc hơimạnh nhất là tháng 2, 3, 4, độ bốc hơi trong những tháng này đạt tới 120 – 150mm/tháng (cực đại là tháng 3) Tháng bốc hơi ít nhất là những tháng giữa và cuốimùa mưa (từ tháng 7 đến tháng 12), mỗi tháng chỉ khoảng 50 – 70 mm Tháng bốchơi ít nhất là tháng 9 (dưới 50 mm)
Lượng mưa: Trị số phổ biến về lượng mưa trung bình năm khoảng 1600 –
2000 mm Lượng mưa ngày lớn nhất khoảng 150 – 350 mm Mùa mưa từ tháng 5đến tháng 11, nhiều nhất vào tháng 7, 9, 10 (cực đại là tháng 9) Cả mùa mưa có 4 –
6 tháng mưa trên 200 mm/tháng Cả mùa khô có 4 – 5 tháng mưa dưới 50mm/tháng
Độ ẩm: Trị số phổ biến về độ ẩm tương đối trung bình năm là 82 – 84% Ở
sát ven biển tăng lên từ 83 - 85% Thời kì ẩm cao trùng với mùa mưa, kéo dài từtháng 5 đến tháng 11 Tháng ẩm nhất là tháng 9 với độ ẩm 86 – 87% Thời kì khôtrùng với mùa ít mưa (trừ tháng 12 có độ ẩm trung bình trên dưới 80%) Trong 4tháng còn lại từ tháng 1 đến tháng 4, độ ẩm trung bình giảm xuống dưới 77 – 78%,riêng ven biển xấp xỉ 80% Tháng khô nhất là tháng 3 có độ ẩm khoảng 75%
Về tài nguyên mưa ẩm, Đông - Tây Nam Bộ được đánh giá tương đương TâyNguyên, cao hơn Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và kém hơn các khu vực thuộc Bắc Bộ
Gió: Vùng biển Đông - Tây Nam Bộ hàng năm chịu ảnh hưởng của chế độ
gió mùa Đông Bắc và Tây Nam Trị số phổ biến về tốc độ gió trung bình năm là 1,5– 3,5 m/s, tốc độ gió lớn nhất là 20 – 35 m/s Gió đổi chiều rõ rệt theo mùa và cóhướng thịnh hành phù hợp với hướng gió mùa chung toàn khu vực (hình 1.2).Hướng gió thịnh hành trong mùa đông là đông bắc chiếm tần suất 30 – 50%, ngoài
ra hướng đông cũng có tần suất khá lớn khoảng 20 – 30%, còn lại là hướng đông
Trang 14nam Trong mùa hè, hướng gió thịnh hành là tây nam với tần suất 60 – 70%, gió tâycũng chiếm tần suất đáng kể khoảng 15 – 30%.
Tháng chuyển tiếp từ mùa hè sang mùa đông (tháng 9) gió hướng tây nam,tây chiếm ưu thế 25 – 30% Tháng chuyển tiếp từ đông sang hè (tháng 4) gió hướngđông thịnh hành với tần suất xấp xỉ 40% [18]
Hình 1.2: Bản đồ trường ứng suất gió trung bình tháng 1 (trái) và tháng 7 (phải)
(dyn/cm2) [5]
Dòng chảy: Ảnh hưởng của các trường thủy động lực Biển Đông lên vùng
biển nghiên cứu trong mùa gió Đông Bắc là rất đáng kể so với mùa gió Tây Nam.Mùa gió tây nam, dòng chảy ở bắc vịnh Thái Lan có hướng tây bắc – đông nam tớigần mũi Cà Mau, đưa một lượng nước vào vùng biển Đông Nam Bộ (hình 1.3).Điều này ngược lại với mùa gió đông bắc (mùa khô), chịu ảnh hưởng của dòng chảybắc Biển Đông đi xuống [17]
Trang 15Hình 1.3: Hoàn lưu nước vùng biển Đông - Tây Nam Bộ (Nguồn: Wyrtki, 1961)
Nước trồi: Vào mùa gió Tây Nam, biển Nam Trung Bộ xuất hiện vùng nước
trồi với phạm vi hoạt động rộng, tồn tại ở độ sâu khá lớn Nước trồi lan rộng xuốngvùng biển Đông Nam Bộ và xuất hiện chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 9 đưa muối dinhdưỡng từ dưới sâu lên các tầng trên tạo điều kiện cho thực vật phù du phát triển
Sông ngòi: vùng biển Đông Nam Bộ chịu tác động trực tiếp của hệ thống
sông Mê Kông và sông Đồng Nai với đặc điểm bờ biển thấp với rừng ngập mặn bịchia cắt bởi vô số các lạch triều [10] Đây cũng là một trong những nguồn cung cấplượng chất hữu cơ cho vùng biển nghiên cứu
Độ muối: nhìn chung duy trì ở mức cao trong cả năm (thấp hơn độ muối biển
Trung Bộ) Mùa mưa (tháng 5 – 10), độ muối dao động mạnh, trung bình tầng mặt
từ 30 - 33‰ Mùa khô (tháng 11 – 4), độ muối từ 33 - 34‰ [10, 17] Ở vùng biểnnày thể hiện sự phân tầng hai lớp nước: vùng nước nông cửa sông có độ muối thấp,
ở tầng nước mặt chảy ra khỏi vùng biển trong khi đó lớp nước có độ muối cao, lạnhhơn chảy từ Biển Đông vào ở các tầng sâu Vào thời kì mùa khô, nước biển từ BiểnĐông đổ vào, thời kì mùa mưa theo chiều ngược lại
Hình 1.4: Độ muối nước biển tầng mặt tháng 1 (trái) và tháng 7 (phải) [10]
Trang 16Tóm lại, vùng biển Đông - Tây Nam Bộ có khí hậu nóng ẩm quanh năm,mưa đủ, nắng nhiều, lại ít có thiên tai Đó là những điểm ưu trội hơn hẳn các vùngbiển khác ở miền Nam Việt Nam về điều kiện tự nhiên.
1.2 Khái quát về nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển Đông – Tây Nam Bộ
Như đã nêu trên, biển Việt Nam được chia thành 5 vùng Hoạt động khai tháchải sản trong các vùng này được phân chia thành nghề cá ven bờ và nghề cá xa bờdựa vào độ sâu ngư trường ở mỗi vùng biển, trong đó ranh giới phân chia được xácđịnh là đường đẳng sâu 50m ở vùng biển Trung Bộ và 30m ở các vùng biển còn lại(trừ vùng xa bờ) Thời gian khai thác cũng được phân chia thành 2 vụ: vụ cá nam(tháng 4 đến tháng 9) và vụ các bắc (tháng 10 đến tháng 3 năm sau) tương ứng với 2mùa gió Tây Nam và Đông Bắc [20]
Dựa theo điều kiện cư trú, có thể chia cá biển Việt Nam thành 4 nhóm: cátầng trên (cá nổi), cá tầng gần đáy, cá đáy và cá sống trong rạn san hô Nhóm cá nổi
có khoảng 260 loài, chiếm 15% tổng số loài cá trong toàn vùng biển Việt Nam [8].Đây là các loài sống ở các tầng nước bên trên và sống tập trung thành đàn Nhữngngày nắng ấm và thời tiết thuận lợi chúng thường nổi sát mặt nước, đôi khi còn nổi
cả mõm hoặc vây lưng lên khỏi mặt nước để thở hoặc bắt mồi Cùng với sự di cưtheo phương ngang của một số loài cá nổi còn có sự di chuyển thẳng đứng từ tầngmặt xuống tầng sâu và ngược lại liên quan chủ yếu đến cường độ ánh sang tự nhiên[8]
Theo kích thước cá nổi nói chung còn được chia thành 2 nhóm: nhóm cả nổilớn như cá ngừ, cá cờ, cá kiếm,… và nhóm cá nổi nhỏ như cá trích, cá nục, cá cơm,
cá chuồn, cá bạc má, cá chỉ vàng,… Cá nổi nhỏ, đặc biệt là cá trích, cá nục, cácơm… có phân bố rộng khắp vùng biển ven bờ nước ta Chúng là đối tượng khaithác chính của ngư dân với nhiều loại nghề như lưới rê, lưới vây, lưới kéo, chụp,…
Ở vùng biển Đông Nam Bộ cá nổi nhỏ chiếm khoảng 42,9% trữ lượng nguồn
Trang 17bằng lưới kéo đôi ở các khu biển ven bờ cho thấy, có khoảng 524 nghìn tấn trữlượng và khả năng khai thác là 210 nghìn tấn/năm ở vùng biển Đông Nam Bộ.Vùng biển Tây Nam Bộ, các giá trị tương ứng là 316 nghìn tấn trữ lượng, 126 nghìntấn/năm khả năng khai thác [6].
Một đánh giá khác cũng ở vùng biển Đông Nam Bộ của Viện Nghiên cứuHải Sản năm 2007: trữ lượng cá nổi nhỏ khoảng 771 nghìn tấn và khả năng khaithác khoảng 385 nghìn tấn/năm [13]
Đánh giá mới nhất trong khuôn khổ tiểu dự án I.9 ”Điều tra tổng thể hiệntrạng đa dạng và biến động nguồn lợi hải sản biển Việt Nam", Viện Nghiên cứu Hảisản đã chỉ ra rằng vùng biển Đông Nam Bộ có 313 loài thủy hải sản, trong đó ưu thế
là các loài cá tráo, cá ngân, cá sòng gió… Trữ lượng (đánh giá bằng phương phápthủy âm) khoảng 571 nghìn tấn (mùa gió Tây Nam) và 1,2 triệu tấn (mùa gió ĐôngBắc) Đối với từng nhóm loài cá nổi nhỏ, kết quả điều tra nguồn lợi cho thấy không
có sự biến động nhiều giữa hai mùa gió đối với nhóm cá cơm, cá trích, cá nụcnhưng lại có sự biến động mạnh đối với cá hố, cá ngân, cá tráo [13]
Trang 18Hình 1.5: Phân bố nguồn lợi cá nổi nhỏ ở vùng biển Biệt Nam trong mùa gió
Tây Nam (trái) và Đông Bắc (phải) [13]
Đặc biệt, trữ lượng và phân bố nguồn lợi các loài bạc má và cá ngân ở vùngbiển Đông – Tây Nam Bộ được điều tra, đánh giá và phân tích dựa trên kết quả điềutra nguồn lợi cá biển bằng phương pháp thủy âm kết hợp đánh lưới kéo, từ ngày30/04 đến ngày 18/05 và từ ngày 26/11 đến ngày 10/12 năm 2005 Trữ lượng nguồnlợi cá bạc má ước tính khoảng 131-160 nghìn tấn và cá ngân ước tính khoảng 209-
334 nghìn tấn Khu vực phân bố tập trung của cá bạc má và cá ngân có sự khác biệtgiữa mùa gió Tây Nam và mùa gió Đông Bắc Cả cá ngân và cá bạc má đều phân bốvới mật độ cao ở vùng biển ven bờ từ Sóc Trăng trải dài về phía tây và khu vực đảoCôn Sơn, đảo Phú Quý, đảo Hòn Khoai Ngược lại, trong mùa gió Đông Bắc, vùngbiển xa bờ phía đông đảo Côn Sơn và khu vực đảo Thổ Chu là những khu vực cá
Trang 19xem là những ngư trường khai thác chính của cá bạc má và cá ngân ở vùng biểnphía nam nước ta [9].
Dưới đây đưa ra kết quả tổng hợp về tài nguyên cá biển ở các vùng biển ViệtNam, trong đó có vùng biển Đông – Tây Nam Bộ
Bảng 1.1: Trữ lượng và khả năng khai thác cá ở các vùng biển Việt Nam bằng
phương pháp diện tích [7, 13]
1.3 Một số phương pháp đánh giá trữ lượng cá và khả năng khai thác
Trong các Chương trình Biển kể từ năm 1975 đến nay đã có nhiều kết quảnghiên cứu đánh giá trữ lượng cá ở biển Việt Nam của các nhà khoa học như BùiĐình Chung, Phạm Thược, Nguyễn Tiến Cảnh,…Những nghiên cứu hiện có đềudựa trên các phương pháp truyền thống như: phương pháp tính toán số lượng đàn cá
Trang 20theo số lượng trứng, phương pháp dựa vào quan hệ giữa các nhóm tuổi khác nhautrong sản lượng cá đánh được, phương pháp thả cá đánh dấu, phương pháp tính trữlượng căn cứ vào tình hình đánh bắt cá trên một đơn vị diện tích, phương phápthống kê sản lượng cá nhiều năm,… Nhìn chung, việc đánh giá trữ lượng của bất kìloài cá nào đều phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan như đặc điểm sinhvật học, mối quan hệ giữa các loài cá với nhau, điều kiện môi trường sống và phụthuộc rất nhiều vào mức độ khai thác.
Trữ lượng cá được xem là số lượng cá thể hay khối lượng của cả quần thể cótrong một khu vực biển và trong một khoảng thời gian xác định Đánh giá trữ lượng
cá là một trong những nội dung của nghiên cứu biến động quần thể, trong đó baogồm cả việc xác định mức độ khai thác tối ưu, nghĩa là số lượng (hoặc khối lượng)
cá tối đa có thể khai thác được mà không gây ảnh hưởng đến quần thể
Cho tới nay, trên thế giới đã có khá nhiều mô hình được đề xuất và áp dụngthành công trong đánh giá trữ lượng và dự báo khả năng khai thác các quần thể cákinh tế, chủ yếu theo 3 hướng là:
- Dựa vào nguyên lý Russel và các cải tiến trên cơ sở thống kê nghề cá
- Quá trình trao đổi năng lượng (dinh dưỡng) của cá trên cơ chế sinh lý-sinhthái thích nghi của cá với môi trường
- Tương tác tổng hợp cá-môi trường-khai thác dưới tác động không dừng củamôi trường
Theo hướng thứ nhất:
Trang 21Nếu không xét đến quá trình di cư-nhập cư thì việc đánh giá sinh khối đàn cáchủ yếu dựa vào đánh giá riêng biệt các tham số trong phương trình biến động sốlượng cá thể (N) của đàn cá:
Nhóm các mô hình chỉnh thể được phát triển dựa trên giả thiết về sự đồng
nhất sinh khối của toàn bộ quần thể cá khai thác Thường người ta chỉ dùng các môhình này khi không có các mô hình giải tích hoặc không đủ các thông tin đầu vàocho các mô hình giải tích như cấu trúc tuổi, cấu trúc kích thước của quần thể Ưuđiểm của các mô hình chỉnh thể là tính đơn giản cũng như yêu cầu các thông tin đầuvào không nhiều và cho ra kết quả dự báo một cách nhanh chóng, tuy độ tin cậy chỉ
ở mức độ nhất định Ba phương pháp phổ biến của nhóm mô hình này là: phươngpháp thuỷ âm, phương pháp diện tích và phương pháp sản lượng thặng dư
Phương pháp thuỷ âm thường được sử dụng trong các chuyến khảo sát cá nổinhằm xác định mật độ và phân bố của cá theo chiều rộng và chiều sâu Nhược điểmcủa phương pháp này là khó sử dụng ở vùng nước nông ven bờ, phải xác định được
hệ số phản hồi âm của đối tượng nghiên cứu, khó phân biệt giữa các loài đã bắt gặp
Phương pháp diện tích dựa trên cơ sở sản lượng thu được trên một đơn vịdiện tích qua khảo sát bằng lưới kéo sau đó nhân cho diện tích toàn vùng biển,thường được áp dụng để xác định mật độ cá đáy Nhược điểm phương pháp này là
Trang 22chưa phân biệt được sản lượng khai thác của từng phương tiện khác nhau dẫn đếnđánh giá một cách bình quân trong toàn vùng biển.
Phương pháp sản lượng thặng dư sử dụng số liệu sản lượng tính trên một đơn
vị cường lực khai thác (CPUE) Số liệu cho loại mô hình này thường được thu thậpqua thống kê nghề cá trong nhiều năm Khi nhân cường lực khai thác dự kiến vớiCPUE sẽ nhận được giá trị ước tính của sản lượng
Theo các phương pháp nêu trên, ở Việt Nam cũng đã có các nghiên cứu củaBùi Đình Chung, Phạm Thược, Chu Tiến Vĩnh… và gần đây có Nguyễn Viết Nghĩa,
Vũ Việt Hà [6, 7, 9, 13]
Nhóm các mô hình giải tích xem xét chi tiết các quá trình diễn ra trong quần
thể và các kiểu khai thác khác nhau tác động lên quần thể Các mô hình này đòi hỏirất nhiều về số liệu đầu vào, đặc biệt là phải có các thông tin về cấu trúc tuổi hoặccấu trúc kích thước của đối tượng có trong sản lượng khai thác, đồng thời liên quanchặt chẽ với các đặc trưng sinh trưởng của quần thể như tốc độ sinh trưởng, mức độ
tử vong cũng như thành phần kích thước trong từng thế hệ Các mô hình giải tíchđược chia làm hai nhóm: mô hình phân tích thế hệ và mô hình dự báo
Nhóm các mô hình phân tích thế hệ sử dụng các số liệu lịch sử để phân tíchquá trình khai thác các quần thể cá diễn ra trong quá khứ cho đến năm hiện tại, phổbiến nhất là mô hình VPA của Gullad (1965) và mô hình LCA của Jones (1984) cảitiến từ mô hình ACA của Pope (1972), và sau này có thêm các phát triển khác như
mô hình VPA-2Box, Pro-2Box, Muntifal-CL… [3]
Nhóm các mô hình dự báo gồm các phương pháp dự báo ảnh hưởng và hiệu quảcủa các mức khai thác khác nhau tác động lên quần thể trong tương lai Bằng các mô
Trang 23Thompson & Bell (1934) mà số liệu đầu vào của nó chính là các kết quả đầu ra của các
mô hình phân tích thế hệ nêu trên
Cho đến nay, các mô hình giải tích đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới
và đã mang lại những thành tựu đáng kể Ở Việt Nam, các nghiên cứu theohướng này chưa nhiều, nhưng cũng đã có các nghiên cứu đầu tiên của đề tàiKT.03.10, Nguyễn Phi Đính, Nguyễn Xuân Huấn, Đoàn Bộ, Chu Tiến Vĩnh vàsau đó là Nguyễn Viết Nghĩa, Vũ Việt Hà… (thông tin từ [3])
Theo hướng thứ hai:
Đánh giá biến động nguồn lợi cá thông qua các quá trình trao đổi năng lượng(dinh dưỡng) của cá với các sinh vật khác trong hệ sinh thái biển, nhằm giải quyếtcác quan hệ cơ bản trong lưới thức ăn và sự chuyển hóa năng lượng qua các bậc.Những mô hình theo hướng này thường rất chặt chẽ về logic vì phản ánh được bảnchất của các quy luật tự nhiên Tuy nhiên, do tính phức tạp, tinh vi của các mối quan
hệ dinh dưỡng mà các mô hình không thể thâu tóm hết được, đồng thời sự cồngkềnh về thuật toán đã đưa đến không ít khó khăn cho việc giải bài toán nhằm đánhgiá trữ lượng đàn cá khai thác Theo hướng này ở Việt Nam cũng đã có các côngtrình của Nguyễn Tiến Cảnh, Nguyễn Tác An, Đoàn Bộ [2, 4, 12] Đây cũng làhướng nghiên cứu lựa chọn của luận văn này và sẽ được trình bày chi tiết trongchương 2
Theo hướng thứ ba:
Nghiên cứu tác động tổng hợp môi trường-sinh vật-con người đã trở thànhhướng nghiên cứu đầy triển vọng để dự báo biến động nguồn lợi cá trong vài chụcnăm gần đây Nếu cho rằng khai thác là yếu tố quyết định tác động đến sự biến độngđàn cá thì các điều kiện hải dương và sinh học cũng phải được coi là quan trọngkhông kém Cho đến nay chưa có kỹ thuật nào thành công trong việc dự báo biếnđộng nguồn lợi cá mà lại bỏ qua việc phân tích các tương tác phức tạp khí tượng,hải dương, sinh vật Điều này càng được khẳng định trong vài chục năm gần đây
Trang 24khi chúng ta đã tích lũy được nhiều kiến thức về bản chất tự nhiên của các hệ sinhthái biển và khi các kỹ thuật điều tra khảo sát biển, công nghệ viễn thám biển, côngnghệ tính toán ngày càng hiện đại, cho phép thu nhận và xử lý những chuỗi số liệudài, mau lẹ và đồng bộ cá - môi trường trên phạm vi không gian rộng Tuy nhiên,phương pháp này có mục tiêu chính là dự báo ngư trường mà không đi vào đánh giátrữ lượng và khả năng khai thác Theo hướng này ở Việt Nam đã có các công trìnhcủa đề tài KC.09.18/11-15.
Qua tìm hiểu tổng quan thấy rằng:
- Cá nổi nhỏ là nguồn tài nguyên quan trọng chiếm tỷ trọng cao trong sản
lượng khai thác cá biển Việt Nam nói chung và vùng biển Đông – Tây Nam
Bộ nói riêng Việc đánh giá trữ lượng, khả năng khai thác và biến độngnguồn lợi này là quan trọng, cần thiết
- Các phương pháp truyền thống (phương pháp thủy âm, phương pháp diện
tích) chỉ đưa ra con số tổng thể về trữ lượng và khả năng khai thác cho cảvùng biển và trong cả năm, chưa đưa ra được phân bố và biến động củanguồn lợi Đây cũng chính là vấn đề cần giải quyết của luận văn tại vùngbiển Đông – Tây Nam bộ đối với nguồn lợi cá nổi nhỏ
Trang 25CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG VÀ NGUỒN SỐ LIỆU SỬ DỤNG TRONG ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG CÁ NỔI NHỎ VÙNG BIỂN
ĐÔNG – TÂY NAM BỘ
.1 Phương pháp chuyển hóa năng lượng
2.1.1 Giới thiệu mô hình tựa cạnh tranh trong quần xã sinh vật nổi biển
Dựa theo mô hình cạnh tranh giữa hai quần thể khác loài của Lotka-Voltera(1936), Đoàn Bộ đã nghiên cứu, phát triển và áp dụng cho các quần thể sinh vật nổibiển, gọi là mô hình ”tựa cạnh tranh” [1, 2]
Trong hệ sinh thái biển, các mối tương tác giữa các quần thể, cá thể với nhau
và với môi trường là nguyên nhân gây nên sự biến đổi số lượng và khối lượng củachúng Tùy mối tương tác là dương, âm hay trung tính mà sinh khối quần thể có thểtăng, giảm hoặc không đổi
Trong quần xã sinh vật nổi biển (xét với quần thể thực vật phù du (TVPD) vàquần thể động vật phù du (ĐVPD)), mối tương tác cạnh tranh xảy ra ở hai mức độ.Thứ nhất, ĐVPD sử dụng TVPD làm thức ăn Quan hệ này là mối quan hệ theo kiểu
“kẻ săn mồi - con mồi”, trong đó ĐVPD được coi là kẻ săn mồi, TVPD được coi làcon mồi Trong quan hệ này, sinh khối của quần thể ĐVPD tăng lên do sử dụng thức
ăn còn sinh khối TVPD giảm đi do bị tiêu thụ Đây là mối quan hệ cạnh tranh giữahai quần thể khác loài Thứ hai, do sức ép của sự tăng số lượng cá thể của quần thể,các cá thể buộc phải cạnh tranh để duy trì số lượng ở mức cân bằng Trong quan hệnày, một số lượng cá thể nào đó bị loại ra khỏi quần thể (di cư đi nơi khác hoặc
Trang 26Hình 2.1: Các quá trình ảnh hưởng tới sự phát triển của quần xã sinh vật nổi biển.
Trong sơ đồ trên, K0, K1, K4 – tốc độ riêng hô hấp, quang hợp và chết tựnhiên của quần thể TVPD; K3, K2, K5 – tốc độ riêng hô hấp, lọc nước lấy thức ăn vàchết tự nhiên của quần thể ĐVPD Tốc độ riêng của một quá trình được hiểu là tốc
độ biến đổi của một đơn vị khối lượng đối tượng nghiên cứu trong quá trình đó [1]
Theo nguyên lý bảo toàn, tốc độ toàn phần biến đổi nồng độ hoặc sinh khốicủa một hợp phần nào đó (TVPD, ĐVPD) chính là tổng đại số tốc độ các quá trìnhlàm tăng hoặc làm giảm nồng độ hoặc sinh khối của hợp phần
Trang 27Trên cơ sở mô hình cạnh tranh giữa hai quần thể khác loài của Lotka - Volterrakết hợp với các quá trình nêu trên, mô hình động lực biến động sinh khối của hai đốitượng TVPD và ĐVPD (mô hình tựa cạnh tranh) được diễn tả như sau [1]:
Trong đó: F, Z (mg khô/m3) - Sinh khối của TVPD, ĐVPD; b1 - hệ số chọnlọc thức ăn tự nhiên của ĐVPD đối với TVPD; b2 - hệ số đồng hóa; α, β: hệ số suygiảm khối lượng do cạnh tranh cùng loài của các quần thể TVPD, ĐVPD
Xét hệ trên, ba đại lượng đầu trong vế phải phương trình thứ nhất biểu diễntốc độ phát triển tự nhiên của quần thể TVPD, trong đó đại lượng thứ nhất (K1) biểudiễn tốc độ tăng trưởng thuần túy (hay tốc độ tiềm năng) Đại lượng thứ tư (α F)biểu diễn ảnh hưởng của sự tăng trưởng (có thể hiểu đó là cạnh tranh cùng loài), đạilượng thứ năm () biểu diễn sự suy giảm sinh khối vật mồi là TVPD do kẻ săn mồi làĐVPD gây nên Các đại lượng trong phương trình thứ hai của hệ cũng được hiểutương tự
Tốc độ riêng Ki (i= 0, 1, 2,… 5) của các quá trình sinh học phụ thuộc chặtchẽ vào các điều kiện sinh thái – môi trường và được mô phỏng toán thông qua hai
Trang 28b) Mô hình về sự phát triển tự nhiên của quần thể ĐVPD:
tế bào TVPD và cá thể ĐVPD; S1, S2 - các cực trị của thức ăn (mg khô/m3) tại đó K2
thay đổi; HShh - hệ số hô hấp; K1max, K2max – tốc độ riêng quang hợp và lọc nước cựcđại trong các điều kiện tối thuận; các kí hiệu P, Q, U (có chỉ số) - các hệ số thựcnghiệm
Trang 29Cường độ bức xạ quang hợp Q biến đổi theo độ sâu d (m) và được xác địnhtheo công thức:
Q = PARsurf exp(-KA d)
với KA là hệ số suy giảm bức xạ trong nước biển, chủ yếu phụ thuộc độ trongsuốt
PARsurf là cường độ bức xạ quang hợp trên bề mặt :
PARsurf = 0.41 Isurf
Hệ số 0.41 chỉ bức xạ có hiệu ứng quang hợp chiếm 41% bức xạ tự nhiên[14, 15]
Isurf là cường độ bức xạ tự nhiên trên mặt biển, được xác định như sau:
= ( + )
với C1, C2 - các hệ số thực nghiệm; Lj là độ dài của ngày:
ψ là góc giờ Mặt Trời : ψ = - Arctan( )
với Cs = - ( )*()
là bức xạ tầng trên của khí quyển, được xác định như sau:
Trang 30Iatm = [ψ.sin(Lat).sin(Dec) + sin(ψ) cos(Lat).cos(Dec)]
với Lat - vĩ độ địa lý; I0 - hằng số Mặt Trời;
Dec là góc nghiêng Mặt Trời : Dec = 23.45 sin ()
Rj là vec tơ bán kính : Rj =
Với tj là số ngày kể từ ngày 1 tháng 1 năm đó đến ngày quan trắc
Thấy rõ mô hình tựa cạnh tranh là một hệ gồm hai phương trình với hai ẩn số
F và Z hoàn toàn giải được nếu biết giá trị ban đầu của F và Z và các điều kiện môitrường tại điểm tính để tính các giá trị Ki (i= 0, ,5) Với mục đích nghiên cứu hiệntrạng các quần thể tương ứng với điều kiện môi trường tại điểm tính, mô hình đượcgiải bằng phương pháp lặp Runge-Kutta cho đến điều kiện tựa dừng Trong trườnghợp này, giá trị ban đầu của F và Z có thể cho tùy ý khác 0 Kết quả cuối cùng củaviệc gải bài toán dừng như trên là sinh khối của TVPD (giá trị F) và ĐVPD (giá trịZ) tại điểm tính tương ứng với điều kiện môi trường tại đó
2.1.2 Mô hình xác định năng suất sinh học và các hiệu suất sinh thái
Trên cơ sở sơ đồ dạng kênh của Odum (hình 2.2) về sự chuyển hóa nănglượng qua bậc dinh dưỡng bất kỳ và nguyên lý bảo toàn năng lượng, năng suất củabậc dinh dưỡng i nào đó được biểu diễn như sau [15]:
Pi = Ai - Ri
Trang 31Chú giải: B i – sinh khối, A i – đồng hóa, R i – hô hấp, P i – năng suất, P i-1 – năng suất của bậc trước (i-1), NU i-1 – năng lượng thất thoát trước khi vào i, NU i – năng lượng không được sử dụng Nếu i là bậc sơ cấp thì (P i-1 ) là năng lượng bức xạ quang hợp, khi đó A i được gọi là năng suất thô và P i là năng suất tinh.
Hình 2.2: Sơ đồ kênh năng lượng qua bậc dinh dưỡng i bất kì [14]
a) Quá trình sản xuất sơ cấp của quần thể TVPD:
Khối lượng gia tăng của quần thể TVPD trong một đơn vị thời gian thực hiệnquang hợp (thường tính trong 1 ngày) chính là năng suất sinh học sơ cấp thô Theo
mô hình tựa cạnh tranh thì [1]:
Pt = 0.4 K1 F
Cường độ hô hấp của quần thể TVPD :
Trang 32RF = 0.4 K0 F
Năng suất sơ cấp tinh của quần thể TVPD được biểu diễn bằng hiệu củalượng sản phẩm thô và sản phẩm hô hấp của quần thể Đây là phần vật chất (nănglượng) còn lại được tích lũy trong sản phẩm của TVPD để các bậc dinh dưỡng kếtiếp, trước hết là ĐVPD sử dụng theo các kênh dinh dưỡng trong hệ sinh thái biển[15] :
Pn = Pt - RF
b) Quá trình sản xuất thứ cấp của quần thể ĐVPD:
Khối lượng gia tăng của quần thể ĐVPD trong một đơn vị thể tích và mộtđơn vị thời gian thực hiện quá trình dinh dưỡng – đồng hóa thức ăn (thường tínhtrong 1 ngày) chính là lượng sản phẩm đồng hóa của quần thể Theo mô hình tựacạnh tranh:
Trang 33P = A - RZ
Trong các công thức trên, đồng hóa, năng suất và hô hấp tính bằng đơn vịmgC/m3/ngày; các tốc độ riêng có đơn vị là 1/ngày; riêng K2 là m3/mg/ngày; hệ số0.4 cho biết lượng C chiếm 40% trọng lượng khô của sinh vật [1]
c) Một số hiệu suất sinh thái cơ bản trong tầng nước quang hợp
Đối với bậc sơ cấp:
- Hệ số P/B ngày của quần thể TVPD: H1 = P*n /(0.06 F*)
- Hiệu suất chuyển hóa năng lượng tự nhiên: H2 = 9.375 P*n /(Isurf 104 60 G)
Đối với bậc thứ cấp:
- Hệ số P/B ngày của quần thể ĐVPD: H3 = P* /(0.06 Z*)
- Hiệu suất chuyển hóa năng lượng qua 2 bậc TVPD – ĐVPD: H4 = P*/ P*t
Trong các công thức này, F, Z tính bằng mg-tươi/m2 (theo tỉ lệ chất khôchiếm 15% chất tươi); hệ số 0.06 cho biết lượng C chiếm 6% lượng chất tươi; 9.375
là số calo của 1 mgC có trong sản phẩm; Isurf là bức xạ quang hợp trên mặt biển(cal/cm2/phút); các kí hiệu có chỉ số (*) là giá trị tích phân trong cột nước thiết diện1m2 từ mặt tới biên dưới lớp quang hợp (hoặc độ sâu cần quan tâm)
2.1.3 Các số liệu dầu vào và kết quả đầu ra của mô hình
Trang 34Dữ liệu đầu vào của mô hình gốm 4 loại:
1 Trường 3D nhiệt biển tại các tầng chuẩn, độ phân giải theo phương ngang tùy theo nguồn số liệu (có thể là 1, ½, ¼, 1/8… độ kinh vĩ)
2 Trường 2D địa hình (độ sâu) đáy biển và trường 2D bức xạ tự nhiên trên mặtbiển, có độ phân giải như trường nhiệt Nếu không có số liệu trường bức xạ,
có thể tính toán nó theo các hằng số thiên văn và vĩ độ địa lý (như đã nêu trên)
3 Các tham số (hằng số) sinh thái của mô hình áp dụng tại vùng biển
4 Các tham số điều khiển (bước thời gian và điều kiện dừng)
Kết quả truy xuất của mô hình gồm 3 loại:
1. Trường 3D của 5 yếu tố: Sinh khối TVPD, sinh khối ĐVPD, năng suất sơ cấpthô, năng suất sơ cấp tinh, năng suất thứ cấp tại các tầng Các yếu tố này được lưutrữ trong 5 file riêng biệt, có định dạng như file trường nhiệt (X, Y, Z1, Z2, … Zn) trong
đó X, Y là kinh, vĩ độ tâm ô lưới, Z1, Z2,… Zn là các tầng chuẩn
2 Trường 2D giá trị trung bình trong lớp quang hợp của 5 yếu tố kể trên, đượclưu trong 1 file, có định dạng X, Y, Yếu tố 1, Yếu tố 2,… Yếu tố 5
3 Trường 2D giá trị tích phân của 5 yếu tố kể trên trong cột nước 1m2 lớpquang hợp cùng giá trị 4 hiệu quả sinh thái (hệ số P/B ngày của TVPD, hiệu quảchuyển hóa năng lượng tự nhiên, hệ số P/B ngày của ĐVPD, hiệu quả chuyển hóa
Trang 35Toàn bộ quy trình tính toán của mô hình tựa cạnh tranh nêu trên đã đượcĐoàn Bộ nghiên cứu xây dựng chương trình tính và đóng gói thành phần mềmPlamod (Plankton Model) Bảy file kết quả được Plamod tự động tạo ra với tên đặttheo quy ước của phần mềm.
2.1.4 Đánh giá mô hình
a) Nhược điểm:
Mô hình đã không tính đến quan hệ giữa các quần thể TVPD, ĐVPD với cácsinh vật bậc cao Trên thực tế, sinh vật nổi là đối tượng thức ăn chủ yếu của các loàihải sản, nhất là cá tầng trên Tuy nhiên do lượng sinh vật nổi chuyển vào cá khôngđáng kể so với khối lượng tồn tại trong nước biển nên sai số không nhiều
Quá trình quang hợp của thực vật là quá trình sinh tổng hợp bậc nhất baogồm quá trình cố định năng lượng và quá trình dinh dưỡng khoáng, trong đó cónhiều nguyên tố hóa học tham gia như P, N, Si,… nhưng mô hình hoàn toàn khôngxét đến các nguyên tố này, chỉ xét đến hai yếu tố môi trường là nhiệt độ và ánhsang Tuy nhiên, nhìn chung ở các vùng biển Việt Nam, nhất là vùng biển Đông –Tây Nam Bộ có lượng dinh dưỡng P, N, Si khá dồi dào quanh năm, không bị rơi vàotrường hợp thiếu hụt nên dinh dưỡng hầu như không là yếu tố giới hạn của quanghợp
Ảnh hưởng đến các quá trình sinh hóa học là tổ hợp tác động của các điềukiện vật lý – môi trường Ở đây, mô hình chỉ sử dụng nhiệt độ là yếu tố sinh tháiduy nhất trong công thức tính tốc độ riêng của các quá trình sinh hóa Tuy nhiên,điều này có thể chấp nhận được do nhiệt độ là yếu tố sinh thái trội, chi phối cơ bảncủa mọi hệ sinh thái
Trang 362.1.5 Phương pháp năng lượng xác định trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi nhỏ
Bên cạnh các phương pháp truyền thống như phương pháp thủy âm, phươngpháp diện tích với giả thiết về sự đồng nhất sinh khối của toàn bộ quần thể cá khaithác trên vùng biển, phương pháp chuyển hóa năng lượng đã được một số nhà khoahọc Việt Nam quan tâm nghiên cứu như Nguyễn Tác An (Viện Hải dương NhaTrang), Đoàn Bộ (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội), Nguyễn Tiến Cảnh
và Nguyễn Dương Thạo (Viện Nghiên cứu Hải sản) và gần đây có Lâm Ngọc SaoMai (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh) [2, 4, 12]
Theo quan điểm của phương pháp này, tiềm năng nguồn lợi cá nổi nhỏ có thểđược ước tính từ cơ sở thức ăn của cá có trong vùng biển Đó là nguồn thức ăn đảmbảo cho một lượng (sinh khối) cá nhất định sinh sống và phát triển trong vùng biển.Tổng khối lượng cá trong một vùng nước và trong một thời khoảng nào đó được cácnhà nghiên cứu nguồn lợi biển coi là trữ lượng tiềm năng cá biển trong thời khoảng
đó, nó bao gồm cả sinh khối và năng suất sinh học của cá
Sơ đồ dòng năng lượng được chuyển hóa qua các bậc dinh dưỡng của chuỗithức ăn trong biển như sau (hình 2.3):
Trang 37- Năng lượng từ TVPD đi vào ĐVPD nhờ ĐVPD ăn TVPD
- Năng lượng từ ĐVPD lại đi vào các động vật bậc cao nhờ các động vật bậc cao
ăn ĐVPD (nghiên cứu này giới hạn động vật bậc cao là cá nổi nhỏ)
Hình 2.3: Quá trình chuyển hóa năng lượng qua các bậc dinh dưỡng trong
chuỗi thức ăn ở biển
Gọi H5 là hệ số P/B của quần xã cá nổi nhỏ và H6 là hiệu suất chuyển hóanăng lượng qua 2 bậc ĐVPD – cá nổi nhỏ, thừa nhận quy luật bảo toàn về tỷ lệ củacác hiệu suất sinh thái [14], nghĩa là:
H5/H3 = H3/H1 và H6/H4 = H4/H2
Vậy năng suất sinh học, sinh khối và trữ lượng quần xã cá nổi nhỏ được xácđịnh như sau:
Năng suất cá nổi nhỏ: PCá = H6.PZ
Sinh khối cá nổi nhỏ: BCá = PCá/H5
Năng lượng
Trang 38Trữ lượng cá nổi nhỏ: TLCá=BCá +PCá
Ở đây, H1 là hệ số P/B của TVPD, H2 là hiệu suất chuyển hóa năng lượng tựnhiên, H3 là hệ số P/B của ĐVPD, H4 là hiệu suất chuyển hóa năng lượng qua haibậc TVPD – ĐVPD Các hệ số này đã được tính từ mô hình tựa cạnh tranh nêu trên
Khả năng khai thác đảm bảo duy trì ổn định sinh khối quần xã cá nổi nhỏtrong khoảng thời gian nào đấy chính bằng lượng sản phẩm mà sinh khối này tạo ratrong khoảng thời đó, nghĩa là bằng chính năng suất sinh học (PCá)
2.2 Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển Đông – Tây Nam Bộ
Các dữ liệu đầu vào cần thiết để phục vụ cho việc tính toán bao gồm: trường
độ sâu, trường nhiệt độ nước biển, trường bức xạ trung bình trên mặt biển và cáctham số sinh thái của mô hình
a Trường độ sâu
Trường độ sâu ở vùng biển Đông - Tây Nam Bộ với độ phân giải không gian0.250 kinh vĩ được tính toán từ trường độ sâu 1 phút, lấy từ cơ sở dữ liệu hải dươnghọc, lưu trữ tại bộ môn Hải Dương Học, trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội.Trường độ sâu được lưu trong một file text có định dạng X, Y, Z (với X là kinh độ,
Trang 39Hình 2.4: Độ sâu vùng biển nghiên cứu với độ phân giải 0.25 độ kinh vĩ
b Trường nhiệt độ
- Là trường 3D nhiệt độ ở 13 tầng 0m, 5m, 10m, 15m, 20m, 25m, 30m,40m, 50m, 60m, 75m, 100m, 125m tại các điểm tính nằm trong phạm vi từ vĩ độ
60N đến 11.50N; kinh độ từ 1030E đến 1100E, có độ phân giải theo phương ngang0.25 độ kinh vĩ
- Là giá trị trung bình ô lưới có kích thước 0.25 độ kinh vĩ, quy về tâm ô
Trang 40- Số liệu được lưu trong một file text có định dạng là X, Y, Z1, Z2,… Zn với
X, Y là kinh vĩ tại điểm tính, Z1, Z2,… Zn là các tầng (n=1, 2…, 13)
- Số liệu nhiệt sử dụng trong luận văn này là trường nhiệt trung bình tháng(12 tháng) tại vùng biển Đông - Tây Nam Bộ, có nguồn từ dự án Movimar (Việnnghiên cứu Hải Sản phối hợp CLS – Cộng hòa Pháp thực hiện) Đây là nguồn sốliệu đã được kiểm chứng, có độ tin cậy cao, hiện đang được sử dụng trong dự báonghiệp vụ ngư trường của Viện nghiên cứu Hải sản [11]
Đặc trưng trường nhiệt các tháng tại vùng biển được cho ở hình 2.5
Tính chất mùa của trường nhiệt ở vùng biển nghiên cứu cũng được thể hiệntuy không rõ nét như ở các vùng biển phía bắc Vào mùa đông, trường nhiệt chịuảnh hưởng của hệ thống gió mùa Đông Bắc lạnh khô, thường xuất hiện từ tháng 10,
11 đến tháng 3 năm sau Vào mùa hè chịu tác động của hệ thống gió mùa Tây Namvới tính chất nóng ẩm, xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10 Sự hoạt động của hai loạigió mùa này đã ảnh hưởng trực tiếp tới nhiệt độ nước biển
Từ hình 2.5, có thể thấy nhiệt độ trung bình tầng mặt các tháng đều có xuhướng tăng dần từ bắc xuống nam Nhiệt độ tháng 1 dao động từ 25.5 – 29.20C,trung bình đạt 27.60C, khu vực gần trung tâm của vùng biển nghiên cứu xuất hiệnmột dải nhiệt độ thấp từ 25.5 – 270C do ảnh hưởng của dòng biển lạnh đi từ phíabắc xuống Tháng 4, nhiệt độ tăng dần trên toàn vịnh và trung bình là 29.910C, daođộng trong khoảng 27.7 – 310C với đỉnh điểm cao nhất đạt 31.050C ở khu vực biểnPhú Quốc Nhiệt độ tháng 7 vào khoảng 27.9 – 31.40C, đây cũng là tháng có nhiệt
độ trung bình cao nhất trong năm, đạt tới 300C Đến tháng 10, nhiệt độ trung bình
bề mặt biển có sự giảm nhẹ với giá trị từ 27.33– 30.50C, nhiệt độ trung bình tháng là