1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng mô hình đảo ngược trong dạy học thống kê nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh lớp 7

159 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng Dụng Mô Hình Lớp Học Đảo Ngược Trong Dạy Học Thống Kê Nhằm Rèn Luyện Kĩ Năng Tự Học Cho Học Sinh Lớp 7
Tác giả Trần Thị Hạnh
Người hướng dẫn TS. Trần Xuân Quang
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội Trường Đại Học Giáo Dục
Chuyên ngành Sư Phạm Toán Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quán triệt tinh thần trong chương trình 2018 của nhà nước, lớp học đảo ngược là một sự thay đổi cách thức học tập hiệu quả khi để học sinh trở thành trung tâm, chủ động tìm hiểu và áp dụ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN THỊ HẠNH

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC THỐNG KÊ NHẰM RÈN LUYỆN

KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 7

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC

HÀ NỘI – 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN THỊ HẠNH

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC THỐNG KÊ NHẰM RÈN LUYỆN

KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 7

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán

Mã số: 8140209.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Xuân Quang

HÀ NỘI – 2021

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Qua đây, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tập thể giảng viên, cán bộ trường Đại học Giáo Dục, đặc biệt là thầy TS Trần Xuân Quang đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đồng thời, xin gửi tới Ban giám hiệu và các thầy cô trường Trung học cơ sở Minh Khai lời cảm ơn chân thành vì đã tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình thực nghiệm các ý tưởng trong luận văn

Sự quan tâm và giúp đỡ của gia đình và bạn bè và đặc biệt là các bạn trong lớp cao học chuyên ngành lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán là nguồn động viên cổ vũ to lớn để tiếp thêm sức mạnh cho tác giả trong suốt những năm tháng thực hiện đề tài

Tuy đã hết sức cố gắng nhưng sự hiểu biết của bản thân tác giả còn chưa sâu rộng nên luận văn này còn nhiều phần trình bày chưa được tường minh và không tránh khỏi những thiếu sót cần góp ý, sửa chữa Tác giả rất mong nhận được những

ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô, các đồng nghiệp và độc giả để luận văn này được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm

Tác giả luận văn

Trần Thị Hạnh

Trang 5

Biểu đồ 1.3 Tần suất sử dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc (tính theo học kỳ) 42

Biểu đồ 1.4 Đánh giá hiệu quả dạy học khi triển khai mô hình lớp học đảo ngƣợc 43 Biểu đồ 3.1 Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của việc tự học 74 Biểu đồ 3.2 Biểu đồ phân bố tần suất điểm của nhóm thực nghiệm 92

Danh mục hình ảnh

Hình ảnh 3.1 Nhóm báo cáo sản phẩm 69 Hình ảnh 3.2 GV nhận xét nhóm báo cáo 70

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các thành tố của kĩ năng tự học 22

Bảng 1.2 Chỉ số hành vi của năng lực tự học 27

Bảng 1.3 Tiêu chí chất lượng của các chỉ số hành vi của năng lực tự học 24

Bảng 1.4 Cơ cấu mẫu theo môn học 39

Bảng 1.5 Bảng cơ cấu mẫu theo số năm kinh nghiệm 39

Bảng 1.6 Kết quả điều tra câu 1 phiếu khảo sát 40

Bảng 1.7 Kết quả điều tra câu 2 phiếu khảo sát 40

Bảng 1.8 Kết quả điều tra câu 10 phiếu khảo sát 41

Bảng 1.9 Kết quả điều tra câu 9 phiếu khảo sát 42

Bảng 1.10 Kết quả điều tra câu 7 phiếu khảo sát 43

Bảng 2.1 Quy trình tổ chức lớp học đảo ngược 49

Bảng 3.1 Mức độ mong chờ môn Toán 72

Bảng 3.2 Đánh giá nội dung môn Toán 73

Bảng 3.3 Thời gian tự học trung bình trong 1 tuần 73

Bảng 3.4 Kết quả nhận thức về tác dụng của tự học trước và sau thực nghiệm 74

Bảng 3.5 Kết quả mục đích tự học của HS 78

Bảng 3.6 Kết quả thời gian tự học của HS 79

Bảng 3.7 Kết quả phương pháp tự học của HS 80

Bảng 3.8 Kết quả điều tra HS tự đánh giá kĩ năng lập kế hoạch 82

Bảng 3.9 Kết quả kĩ năng khai thác tài liệu học tập của HS 84

Bảng 3.10 Kết quả kĩ năng tự học trên lớp của HS 85

Bảng 3.11 Kết quả đánh giá kĩ năng làm việc nhóm của HS 86

Bảng 3.12 Kết quả đánh giá kĩ năng giải quyết vấn đề 87

Bảng 3.13 Kết quả đánh giá kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả tự học 88

Bảng 3.14 Kết quả nguyên nhân khó khăn trong tự học của HS 89

Bảng 3.15 Mức độ đạt được năng lực tự học của HS 95

Bảng 3.16 Bảng phân bố tần suất điểm của nhóm thực nghiệm 92

Trang 7

v

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỤC LỤC v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Câu hỏi nghiên cứu 4

6 Giả thuyết nghiên cứu: 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Kết cấu của đề tài 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Một số công trình nghiên cứu về mô hình lớp học đảo ngược 6

1.2 Một số công trình nghiên cứu về kĩ năng tự học 9

1.3 Các khái niệm liên quan 11

1.3.1 Lớp học đảo ngược 11

1.3.2 Kĩ năng tự học 19

1.3.3 Mô hình lớp học đảo ngược với việc nâng cao kĩ năng tự học cho học sinh 27

1.4 Mô hình lớp học đảo ngược đáp ứng yêu cầu của chương trình 2018 29

1.4.1 Nội dung môn Toán trong chương trình hiện hành và chương trình 2018 29

1.4.2 Nội dung Thống kê trong chương trình Toán hiện hành và chương trình 2018 30

1.5 Đặc điểm tâm sinh lý và trí tuệ của học sinh THCS 33

1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THCS 33

1.5.2 Hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ của học sinh THCS 35

1.6 Thực trạng ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược của GV trường THCS 38

Trang 8

vi

1.6.1 Mục đích điều tra 38

1.6.2 Phương pháp điều tra 38

1.6.3 Đối tượng điều tra 39

1.6.4 Phân tích kết quả điều tra 39

Tiểu kết chương 1 44

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP VÀ KĨ THUẬT VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC THỐNG KÊ NHẰM PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 7 46

2.1 Các vấn đề đặt ra đối với giáo viên khi dạy Toán học sinh THCS theo mô hình lớp học đảo ngược 46

2.2 Một số lưu ý khi vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học thống kê lớp 7 48

2.3 Kĩ thuật vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong môn Toán 49

2.3.1 Kĩ thuật vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong môn Toán 49

2.3.2 Kĩ thuật vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong nội dung Thống kê Toán 7 51

2.4 Đề xuất một số biện pháp ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược nhằm nâng cao kĩ năng tự học của HS lớp 7 56

2.4.1 Biện pháp 1: Hỗ trợ HS tự lập kế hoạch học tập, kế hoạch hoạt động thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tiễn 56

2.4.2 Biện pháp 2: Hỗ trợ học sinh thực hiện kế hoạch học tập 61

2.4.3 Biện pháp 3: Hỗ trợ HS tự đánh giá kết quả thực hiện và phản hồi 63

Tiểu kết chương 2 65

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 66

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 66

3.3 Đối tượng, thời gian thực nghiệm 66

3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 66

3.5 Nội dung thực nghiệm sư phạm 67

3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 67

3.6.1 Chuẩn bị 67

Trang 9

vii

3.6.2 Diễn biến thực nghiệm sư phạm 68

3.6.3 Đánh giá định tính về sự phát triển kĩ năng tự học của học sinh 71

3.6.4 Đánh giá định lượng về sự phát triển kĩ năng tự học của học sinh 73

3.7 Nhận xét kết quả thực nghiệm sư phạm 93

Kết luận chương 3 94

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

1 Kết luận 95

2 Khuyến nghị 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ lâu, Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh về việc đổi mới trong toàn ngành

giáo dục với tiêu chí đào tạo ra những học sinh có năng lực tự học, tự nghiên cứu,

có khả năng tự học suốt đời, học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục

nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, khắc phục tình trạng nặng lý thuyết, nhẹ thực hành, khuyến khích người học sáng tạo (29 – NQ/TW năm 2013) Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 là một cuộc cải cách của toàn ngành giáo dục khi được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kỳ vọng Vì vậy đổi mới phương pháp giảng dạy là yêu cầu bắt buộc để đáp ứng sự thay đổi của Chương trình 2018

Năng lực tự học là một trong những năng lực cốt lõi cần được hình thành cho học sinh Trong bối cảnh hiện nay, khi công nghệ ngày càng phát triển, mang lại sự thay đổi lớn lao trong việc tiếp cận các nguồn tài nguyên giáo dục, đưa đến nhiều cơ hội và điều kiện học tập phù hợp với nhu cầu và khả năng của mỗi người đòi hỏi học sinh phải có năng lực tự học và tự nghiên cứu để có thể hòa nhập và bắt kịp sự phát triển của thời đại Đặc biệt khi có những vấn đề về bệnh dịch hay môi trường thì việc xây dựng những bài giảng trực tuyến và tổ chức buổi học online kết hợp với việc tự học của học sinh là vô cùng cần thiết Quán triệt tinh thần trong chương trình 2018 của nhà nước, lớp học đảo ngược là một sự thay đổi cách thức học tập hiệu quả khi để học sinh trở thành trung tâm, chủ động tìm hiểu và áp dụng kiến thức, qua đó rèn luyện và nâng cao năng lực tự học của bản thân, đặc biệt là những kiến thức liên quan nhiều đến thực tế như thống kê

Thống kê là một khoa học ứng dụng rộng rãi trong các hoạt động kinh tế, xã hội Ta vẫn thường nghe nói đến thống kê dân số, thống kê sản lượng đạt được hàng năm của một ngành sản xuất, của một xí nghiệp,… Ta cũng thường thấy các biểu đồ trên báo chí, trong các cuộc triển lãm, trên vô tuyến, truyền hình,… Qua nghiên cứu, phân tích các thông tin thu thập được, khoa học thống kê cùng với các khoa

Trang 11

2

học kĩ thuật khác giúp chúng cho ta biết được tình hình hoạt động, diễn biến của các hiện tượng, từ đó dự đoán các khả năng có thể xảy ra, góp phần phục vụ lợi ích con người ngày càng tốt hơn Trong chương trình hiện hành, thống kê là nội dung rất được quan tâm và đưa vào ngay từ lớp 2 đến xuyên suốt lớp 12 với những mục tiêu nhất định, phù hợp với trình độ nhận thức của lứa tuổi Là một trong 3 mạch kiến thức chính của chương trình phổ thông mới, Xác suất và Thống kê là mạch kiến thức rất tốt để thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh ứng dụng của Toán học

Những nghiên cứu cơ bản về ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh tuy đã có nhưng trong môn Toán thì chưa có bài viết nào Có thể kể đến một số nghiên cứu như tác giả Nguyễn Thị Thế Bình

với bài viết Ứng dụng mạng xã hội học tập Edmodo vào dạy học lịch sử ở trường phổ thông theo mô hình lớp học đảo ngược đăng trên tạp chí Giáo dục số 456 ; tác giả Hồ Thị Loan, Nguyễn Thị Hồng Phượng nghiên cứu Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh ở trường phổ thông (Tạp chí Giáo dục số 463) ; tác giả Phạm Thị Thanh Phượng – Phùng Thị Bích Ngọc viết về Thiết kế bài học

‘‘Tấm Cám’’ (Ngữ Văn 10, tập 1) theo mô hình ‘‘Lớp học đảo ngược’’ với sự hỗ trợ của nền tảng web 2.0 nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh đăng trên Tạp

chí Giáo dục số 456 và còn nhiều nghiên cứu khác nữa nhưng chưa có nghiên cứu

cụ thể nào về việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học chương Thống kê Đại số 7 để học sinh vừa có kiến thức, kĩ năng giải quyết vấn đề, sử dụng công nghệ thông tin vừa được phát triển năng lực tự học

Vì những lý do đó và với mong muốn việc dạy học ngày càng hoàn thiện, học sinh hứng thú hơn, chủ động, tự giác hơn khi học tập nội dung này cũng như những nội dung khác, trong khuôn khổ của đề tài luận văn Thạc sĩ, tôi chọn chương

“Thống kê” Toán 7 trung học cơ sở vì nội dung dạy học chương này có tính thực tiễn cao, gần gũi với đời sống Kiến thức gắn với thực tế và nội dung đơn giản, dễ hiểu là lý do để học sinh có động cơ tự học Dựa vào các phân tích ở trên, tôi nhận thấy rằng việc vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học xác suất thống

kê cho học sinh góp phần hỗ trợ, nâng cao kĩ năng tự học trong thời đại công nghệ thông tin của học sinh rất tích cực.Vì thế chúng tôi chọn đề tài Luận văn Thạc sĩ là

Trang 12

của chương trình giáo dục phổ thông 2018

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và kĩ thuật vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Toán

- Vai trò của việc sử dụng mô hình lớp học trong dạy học nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh

- Nghiên cứu thực trạng dạy học thống kê và việc rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh lớp 7

- Phân tích, đối sánh chương trình 2018 với chương trình giáo dục phổ thông hiện hành môn Toán nói chung, chương trình Thống kê 7 nói riêng để nảy sinh được vấn đề “vận dụng mô hình lớp học đảo ngược là phù hợp”

- Đề xuất được quy trình và kĩ thuật vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học thống kê lớp 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Quá trình dạy học Toán thống kê khối 7 trường Trung học cơ sở (THCS)

Minh Khai, Hà Nội

- Mô hình lớp học đảo ngược với việc hỗ trợ nâng cao kĩ năng tự học trong

môn Toán ở trường THCS Minh Khai

4.2 Khách thể nghiên cứu:

- Quá trình dạy học toán khối 7 trường THCS Minh Khai

4.3 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nội dung: Dạy học các kiến thức chương Thống kê lớp 7

- Phạm vi không gian: Lớp 7A1, 7A3 trường THCS Minh Khai, Hà Nội

- Phạm vi thời gian: tháng 12/2019 đến tháng 3/2020

Trang 13

4

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Các yêu cầu và thành tố của mô hình lớp học đảo ngược là gì?

- Tại sao dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược lại giúp rèn luyện kĩ năng

tự học của học sinh?

- Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Thống kê đại số 7 có thực sự giúp phát triển năng lực người học không?

6 Giả thuyết nghiên cứu:

- Nếu mô hình lớp học đảo ngược được vận dụng một cách thích hợp, sáng tạo thì sẽ nâng cao được chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy và học, phát triển được các năng lực quan trọng cho học sinh trong đó có kĩ năng tự học

- Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược chương thống kê toán 7 là phù hợp để rèn luyện kĩ năng tự học

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu lý luận về lớp học đảo ngược, tự học, kĩ năng tự học

- Nghiên cứu tài liệu sách giáo khoa Toán 7 và các tài liệu tham khảo liên quan đến kiến thức Thống kê

- Nghiên cứu chuẩn kiến thức – kĩ năng, chương trình

7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: điều tra thực trạng dạy học theo

mô hình đảo ngược và năng lực tự học Toán ở trường THCS Minh Khai

7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tiến hành dạy thực nghiệm ở trường THCS theo quy trình, phương pháp và

hình thức tổ chức đã đề xuất

- Phỏng vấn, quan sát, phiếu hỏi,…để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài

- Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm từ việc so sánh kết quả định tính và định lượng trước và sau tác động, từ đó rút ra kết luận của

đề tài, đề xuất giải pháp

7.4 Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng thống kê toán học để phân

tích kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm định giả thiết thống kê

8 Kết cấu của đề tài

Trang 14

5

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 Một số biện pháp và kĩ thuật vận dụng mô hình lớp học đảo

ngược trong dạy học Thống kê nhằm phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 7

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

Mô hình lớp học đảo ngược là mô hình dạy học đang được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới, giúp đề cao tính chủ động nghiên cứu khoa học, kích thích sự sáng tạo của người dạy lẫn người học Các nhà giáo dục khu vực Đông Nam Á có chung quan điểm như vậy về vấn đề đổi mới chất lượng giáo dục theo hướng tăng cường kĩ năng, kích thích đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh

Từ những năm 20 của thế kỉ XX, Eric MaZur – nhà giáo, nhà vật lý học người Mỹ đã phát triển phương pháp hướng dẫn theo cặp và nhận thấy rằng việc sử dụng máy tính trong giảng dạy giúp ông hướng dẫn học viên chủ động học tập chứ không chỉ là giáo viên diễn thuyết trên bục giảng Năm 1993, tác giả Alison King xuất bản công trình “From sage on the stage to guide on the side” (Từ nhà thông thái trên các tượng đài thành người đồng hành bên cạnh bạn) trên tạp chí “Dạy học đại học” tập 41, số 1 (Winter, 1993), trang 30-35, trong đó nhấn mạnh việc chú trọng vào việc giáo viên cần sử dụng thời gian ở lớp để tổ chức cho học sinh tìm hiểu ý nghĩa của bài học hơn là truyền đạt thông tin Mặc dù chưa đưa ra khái niệm “flipped classroom” nhưng công trình của King thường được các nhà giáo dục trích dẫn như là sự thúc đẩy và cách tân cho phép dành không gian lớp học vào các hoạt động học tập tích cực Đến năm 2000, các tác giả Lage, Platt và Treglia xuất bản công trình “Đảo ngược lớp học - cánh cửa dẫn đến sự sáng tạo

Trang 16

7

môi trường học tập trọn vẹn”, trong đó giới thiệu các nghiên cứu về lớp học đảo ngược tại các trường cao đẳng Mô hình lớp học đảo ngược (flipped classroom) phát triển mạnh từ những năm 2000 đến nay tại Mỹ Lớp học đảo ngược là phương pháp mà trong đó, giảng viên sẽ đưa các bài giảng, tài liệu học tập,thậm chí

cả bài tập để sinh viên tự học, tự nghiên cứu và làm trước ở nhà Sau đó, khi đến lớp sẽ có thời gian để giảng viên và cả lớp cùng thảo luận chuyên sâu Thông qua mô hình dạy và học này, giáo viên có nhiều thời gian để giúp học sinh học tốt hơn [22] Đặc biệt, người có công lớn cho mô hình flipped classroom là Salman Khan Năm 2004, Khan bắt đầu ghi hình bài giảng của mình thành các video để phụ đạo cho em họ sống ở một bang khác Những video này được đưa lên YouTube và rất được yêu thích Từ đó Salman Khan thành lập học viện Khan, cho đến nay đã có khoảng 2200 video bao gồm tất cả các môn học, từ những kiến thức đơn giản nhất như thực hiện phép toán số học của tiểu học đến các bài giải tích vector trong chương trình đại học Mỗi tháng có một triệu người học dùng trang web của Khan, với số lượt xem khoảng 100 đến 200.000 lượt mỗi ngày [25] Khẩu hiệu mà học viện Khan đưa ra đầy hấp dẫn: “Bạn chỉ cần biết một điều: bạn có thể học mọi thứ, miễn phí, cho mọi người, mãi mãi!”

Mùa xuân năm 2007, Jonathan Bergmann và Aaron Sams, hai giáo viên hóa học trường THPT Woodland Park, ghi lại những bài giảng của mình và cung cấp cho HS vì nhiều lý do khác nhau đã không đến lớp một cách đầy đủ để theo kịp chương trình Họ thông qua Khan Academy (khanacademy.org) lần đầu tiên thực hiện mô hình lớp học đảo ngược, cung cấp những video bài giảng là nội dung lẽ ra được giảng ở trên lớp cho học sinh xem tại nhà, còn tại lớp họ cho học sinh thảo luận và mở rộng kiến thức Từ đó, mô hình lớp học đảo ngược chính thức ra đời và được biết đến như một đáp án tối ưu cho bài toán làm cách nào tăng thời gian hỗ trợ của giáo viên cho những thời điểm học sinh cần tư duy đào sâu Tại Mỹ, kể từ khi thành lập vào tháng 1/2014, tổng số giáo viên tham gia mạng lưới dạy học bằng hình thức flipped classroom đã tăng từ 2,500 lên đến 20,000 vào tháng 6/2014 Jonathan và Aaron đã nhận được phần thưởng của tổng thống vì những thành công trong mô hình flipped classroom Năm 2011, trường THPT Clintondale ở Michigan

Trang 17

8

đã đảo lộn toàn bộ lớp học, hiệu trưởng Greg Green đã đăng lên Youtube các video

về phương pháp chơi bóng chày cho đội bóng của con trai thầy Thầy hiệu trưởng sau đó làm việc với một giáo viên khoa học xã hội, Andy Scheel, để tổ chức 2 lớp học với tài liệu và bài tập hoàn toàn giống nhau, một lớp theo truyền thống và một lớp đảo ngược Trong lớp học đảo ngược có nhiều học sinh đã trượt khóa học, thậm chí có vài học sinh còn trượt nhiều lần Sau 20 tuần, các học sinh ở lớp học đảo ngược hoàn thành xuất sắc và vượt trên học sinh lớp truyền thống Kì học trước có 13% trượt, nhưng đến kì này không có học sinh nào ở lớp học đảo lộn có điểm dưới C+ Ở lớp học truyền thống không có sự thay đổi nào [20] Kể từ khi ra đời, mô hình lớp học đảo ngược (flipped classroom) luôn được biết đến như một đáp án tối ưu cho bài toán làm cách nào tăng thời gian hỗ trợ của giáo viên cho những thời điểm học sinh cần tư duy đào sâu Với lớp học đảo ngược, tất cả các hoạt động được thực hiện “đảo ngược” so với thông thường Thay vì chuẩn bị giáo án lên lớp giảng bài, giáo viên thực hiện những video ngắn (dưới 10 phút) cho một nội dung nhỏ, sau đó chia sẻ qua Internet cho các học viên xem trước tại nhà Tại giờ học trên lớp, giáo viên sẽ dành thời gian giải đáp cho những học sinh có các vấn đề chưa hiểu rõ hoặc cần mở rộng thêm, đồng thời giáo viên cũng có thể tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm, thảo luận sâu hơn về kiến thức Như vậy, định nghĩa đơn giản, phương pháp “lớp học đảo ngược” đã đảo ngược trình tự học tập truyền thống; người học lắng nghe bài giảng khi ở nhà còn bài tập về nhà sẽ được thực hiện trên lớp Với sự phát triển của công nghệ hiện đại, sinh viên có thể tiếp cận với video bài giảng trực tuyến bằng nhiều phương tiện như máy tính bảng, điện thoại di động, laptop và chủ động việc học ở mọi không gian thời gian Cơ sở khoa học của phương pháp này là thang

đo tư duy Bloom (2001) Theo thang đo này, “nhớ, hiểu” lý thuyết là những hoạt động đòi hỏi mức tư duy thấp nhất, do đó, học sinh có thể tự xử lý một mình tại nhà ; còn việc áp dụng, phân tích và sáng tạo dựa trên kiến thức đã có là hoạt động đòi hỏi mức tư duy đào sâu hơn, và cần được thực hiện tại lớp, khi có thầy cô

và bạn bè cùng chia sẻ, hỗ trợ Theo một cuộc khảo sát do Sophia Learning và Flipped Learning Network tiến hành hồi tháng 5 năm 2014, số lượng giáo viên

Trang 18

9

áp dụng mô hình Flipped Classroom trong giảng dạy ở Mỹ tăng lên 78% trong năm 2014, so với chỉ 48% vào năm 2012 Trong đó, các giáo viên tham gia khảo sát đều đồng ý rằng mô hình này giúp thái độ học tập trong lớp được cải thiện rất nhiều và điểm số của học sinh tăng lên 67% so với cách học truyền thống Ngoài ra, 3/4 trong tổng số 180.000 học sinh trung học tham gia cuộc khảo sát Speak Up năm 2013 cũng đồng ý rằng Flipped Classroom mang lại hiệu quả học tập cao hơn so với bình thường [23]

1.2 Một số công trình nghiên cứu về kĩ năng tự học

Trong lịch sử giáo dục, vấn đề bồi dưỡng kĩ năng tự học cho HS đã được quan tâm từ rất sớm, với tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, R.R.Sing ở Phương Đông cổ đại hay Socrate ở Phương Tây Các ông đều đề cao vai trò của cá nhân trong quá trình học tập, người học phải tích cực, chủ động trong quá trình học, tự tìm ra kiến thức cho mình và trách nhiệm của nhà giáo dục là phải khơi gợi những kiến thức tiềm ẩn bên trong mỗi HS, phải dạy cho HS biết cách tự học [16]

Đến thời kì Phục Hưng ở Châu Âu, J.A Komenxki (1592-1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, đã nêu ra những nguyên tắc, những phương pháp dạy học nhằm bồi dưỡng năng lực tự học như xây dựng hoài bão, tạo động cơ để người học

có động lực vượt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình chiếm lĩnh tri thức,… Cral Roger - nhà tâm lý học người Mỹ với quan điểm cho người học tự ý thức, an toàn và tự do để lựa chọn cách học và phải có trách nhiệm đầy đủ về quyết định và kết quả học tập của họ Nhiệm vụ của GV là xây dựng môi trường học tập tin cậy, an toàn trở thành người cùng học, chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực và kĩ thuật học tập [16] Robert Fisher trong tác phẩm Dạy trẻ học đã đưa ra 10 chiến lược rất hiệu quả trong việc hướng dẫn cách học, đặc biệt là bồi dưỡng năng lực tự học cho HS là: tư duy để học, đặt câu hỏi, lập kế hoạch, lập dàn ý, vẽ sơ đồ nhận thức, thảo luận, tư duy đa hướng, học tập hợp tác, kèm cặp, xây dựng cộng đồng tự học rất hiệu quả Ở Liên Xô (cũ), N.A Rubakin [3] trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, đã tổng kết những kinh nghiệm cá nhân trong công tác dạy học và bồi dưỡng năng lực tự học Theo ông, việc tự tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học I.F.Kharlamov [1] trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS như thế nào” đã

Trang 19

10

khẳng định vai trò của tự học, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của HS khi thông hiểu và tiếp thu tri thức mới

Từ những năm 30 của thế kỷ XX, nhiều nhà giáo dục châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực tự học và bồi dưỡng năng lực tự học Nhà sư phạm người Nhật T Makiguchi trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” đã cho rằng giáo dục chính là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt đến hạnh phúc của bản thân và cộng đồng [2] Thời gian này còn có rất nhiều quan điểm đề cao sự hoạt động tích cực của HS, khuyến khích hình thành và bồi dưỡng năng lực tự học cho HS qua việc chú trọng cá thể hóa, để

HS tự do phát triển theo những năng khiếu riêng biệt như O.Decroly, J.Piajet, C.Freinel…Từ cuối thế kỷ XX đến nay, chủ trương giáo dục toàn cầu, định hướng mục tiêu dạy học lấy HS làm trung tâm, coi trọng tự học, tự đào tạo, với quan điểm rằng con người có thể thích ứng với đòi hỏi của xã hội hiện đại như hiện nay chỉ khi

Từ những năm cuối thế kỉ XIX trở lại đây, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu với mục đích nâng cao chất lượng dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS Các tác giả đều thống nhất với quan điểm dạy học phải bao hàm cả dạy tự học, bồi dưỡng năng lực tự học, tiêu biểu như Nguyễn Hiến

Lê trong tác phẩm “Tự học để thành công” [12]; Lê Khánh Bằng với “Tổ chức quá trình dạy học Đại học” [5]; Đinh Quang Báo với bài viết “Tự học, tự đào tạo tư tưởng chiến lược trong phát triển giáo dục Việt Nam (Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của tự học trong đào tạo ở bậc đại học)” [4]; Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 - 2000 cho giáo viên Trung học cơ sở của Trần Bá Hoành,

Trang 20

11

Nguyễn Cảnh Toàn và đồng sự cũng có nhiều bài viết về cơ sở khoa học, tính cấp thiết và khả thi của tự học và dạy tự học, như “Quá trình dạy - tự học”, “Học và dạy cách học” ,…và nhiều nghiên cứu khác xoay quanh nội dung nâng cao hiệu quả đào tạo, các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho HS [10] Gần đây, trong lĩnh vực Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán, có nhiều công trình khoa học, nhiều luận án cũng đã nghiên cứu các biện pháp tổ chức hoạt động

tự học, dạy - tự học cho HS, góp phần đáng kể vào việc làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của các biện pháp bồi dưỡng kĩ năng tự học như của nhóm tác giả Nguyễn Văn Dũng và Nguyễn Văn Quyền [8], tác giả cho rằng những yêu cầu về nội dung của chương trình THPT cần phải có những đổi mới tích cực về phương pháp và phương tiện dạy học, khẳng định phải chú trọng đến bồi dưỡng năng lực tự học cho HS; tác giả Trần Ánh Tuyết [19] khẳng định việc hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS rất quan trọng để hình thành nguồn nhân lực chất lượng cho đất nước và

đề xuất các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học Toán cho HS Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách cụ thể, chi tiết và đề xuất được 1 mô hình phù hợp để bồi dưỡng kĩ năng tự học cho HS trong dạy học chính khóa ở cấp THCS Chính vì thế tôi đã nghiên cứu đề tài theo hướng đề xuất 1 mô hình dạy học phù hợp với mục đích bồi dưỡng kĩ năng tự học, đặc biệt đối với bộ môn Toán ở trường THCS

1.3 Các khái niệm liên quan

1.3.1 Lớp học đảo ngược

Sự phát triển của công nghệ kĩ thuật số đã tạo điều kiện chuyển hình thức dạy học trực tiếp trong không gian lớp học sang hình thức học tập cá nhân Việc bỏ qua hình thức dạy học trực tiếp đã cho phép GV có thể dành nhiều thời gian trên lớp

tổ chức cho HS hợp tác với các bạn đồng lứa trong các dự án, hiểu sâu hơn nội dung bài học, rèn luyện các kĩ năng thực hành và nhận được phản hồi về sự tiến bộ của

họ [29] FLN [28] cho rằng, các chữ cái đầu tiên trong thuật ngữ F-L-I-P là những yếu tố chủ yếu của lớp học đảo ngược bao gồm:

- Môi trường linh hoạt (FLEXIBLE ENVIRONMENT): bài giảng được đưa lên Internet cho phép HS truy cập, tự học ở nhà nên GV có thể tận dụng tối đa thời

Trang 21

12

gian ở lớp tổ chức cho HS hoạt động nhóm hoặc nghiên cứu độc lập HS có thể tự chọn không gian, địa điểm và học tập theo tốc độ riêng của mình

- Học tập nhân văn (LEARNING CULTURE): dạy học theo định hướng lấy

HS làm trung tâm HS phải có trách nhiệm học tập và tích cực hoạt động để tự tìm lấy kiến thức Trong các hoạt động tương tác với bạn học, HS có thể mở rộng, khám phá sâu hơn về chủ đề bài học đồng thời có cơ hội trao đổi 1:1 với GV khi có vấn

đề thắc mắc

- Nội dung có chủ ý (INTENTIONAL CONTENT ): GV cung cấp các học liệu cần thiết, theo định dạng phù hợp cho HS tự học, tự nghiên cứu ở nhà Khi đến lớp, HS có đủ kiến thức nền để tham gia, học tập hợp tác với bạn học, mở rộng, đào sâu kiến thức

- Chuyên gia giáo dục (PROFESSIONAL EDUCATOR): GV đóng vai trò rất quan trọng trong một lớp học đảo ngược: quan sát, đánh giá, cung cấp hỗ trợ, phản hồi kịp thời trong suốt thời gian lên lớp thay vì chỉ thuyết giảng đơn thuần

GV chỉ thành công với lớp học đảo ngược khi tạo ra được kết nối tốt với từng cá nhân HS và bao quát, kiểm soát toàn bộ hoạt động trong lớp theo chủ đích Như vậy, lớp học đảo ngược là một hình thức dạy học hỗ trợ cho lớp học giáp mặt F2F Vào giờ học trên lớp, GV sẽ không giảng bài mà tổ chức cho HS tìm hiểu kiến thức sâu hơn thông qua các nhiệm vụ học tập đã được các em thực hiện ở nhà Nhờ vậy, thời gian để GV hỗ trợ HS được nhiều hơn

1.3.1.1 Khái niệm lớp học đảo ngược

Mặc dù những nghiên cứu về lớp học đảo ngược còn trong giai đoạn phôi thai nhưng các tác giả đã nghiên cứu trước đó đều định nghĩa rằng lớp học đảo ngược là một loại học tập kết hợp (Abeysekera và Dawson 2015) Trong khi đó, học tập kết hợp có thể coi như sự kết hợp giữa học tập trực tuyến và học tập giáp mặt

“face to face” Tuy nhiên, có một vài sự khác biệt giữa học tập kết hợp và lớp học

Trang 22

13

lớp học đảo ngược đơn giản là việc sử dụng các video bài giảng, bản ghi âm Ở lớp học đảo ngược, học sinh được trao đổi các chủ đề cho lần đầu học online bằng các video ngắn, trọng tâm thay vì tham gia lớp học truyền thống như trước kia

Khái niệm “lớp học đảo ngược” được Lage và cộng sự đề xuất vào năm

2000 nhằm đáp ứng các nhu cầu học tập khác nhau của người học Định nghĩa về“lớp học đảo ngược” đơn giản nhất là “đảo ngược/đảo trình lớp học là chuyển đổi những hoạt động trong lớp ra ngoài lớp và ngược lại” [22] Điều đó có nghĩa “lớp học đảo ngược” là tất cả các hoạt động dạy học được thực hiện “đảo ngược” so với thông thường Sự “đảo ngược” ở đây được hiểu là sự thay đổi các dụng ý và chiến lược sư phạm thể hiện ở cách triển khai các nội dung, mục tiêu dạy học và các hoạt động dạy học khác với cách truyền thống trước đây của người dạy và người học [7].Ngược lại với mô hình lớp học truyền thống, ở lớp học đảo ngược, giáo viên thực hiện những bài giảng, những video về lý thuyết và bài tập cơ bản, chia sẻ qua Internet cho các học sinh xem trước tại nhà, trong khi thời gian ở lớp lại dành cho việc giải đáp thắc mắc của học sinh, làm bài tập khó hay thảo luận sâu hơn về kiến thức

Bản chất của quan điểm dạy học đảo ngược là hướng đến hoạt động hóa việc học của HS, chú trọng sự tương tác giữa HS và môi trường học tập nhằm cập nhật, nâng cao kiến thức từ kiến thức vốn có của HS đến kiến thức cần chiếm lĩnh Cơ sở của mô hình lớp học đảo ngược dựa trên thang đo nhận thức của Bloom, từ thấp đến cao là: ghi nhớ, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo Trong lớp học truyền thống, thời gian ở lớp bị giới hạn, là một hằng số, GV chỉ có thể hướng dẫn

HS nội dung bài học ở 3 mức độ đầu của nhận thức là ghi nhớ, thông hiểu và vận dụng Để đạt đến các mức độ sau, HS phải nỗ lực tự học tập và nghiên cứu ở nhà và

đó là một trở ngại lớn với đa số HS Mô hình mới “đảo ngược” mô hình truyền thống, 3 mức độ đầu được HS thực hiện ở nhà nhờ những băng ghi hình hướng dẫn của GV Thời gian ở lớp, GV và HS sẽ cùng làm việc nhằm đạt ba bậc thang sau của nhận thức như minh họa qua sơ đồ

Trang 23

14

Sơ đồ 1.1 Minh họa thang bậc nhận thức của Blooms theo các mô hình dạy học

Lí do thực sự của việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược là tập trung vào người học, tạo ra môi trường học tập, sử dụng các hoạt động hướng tới nghiên cứu, sáng tạo và giải quyết vấn đề, biến lớp học thành phòng thí nghiệm, thay đổi vai trò của GV từ việc cung cấp thông tin trở thành người hướng dẫn, giải đáp và tổ chức các hoạt động, do đó HS cần tích cực, chủ động, và sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức mới Vì thế, mô hình này phù hợp với xu hướng giáo dục theo định hướng năng lực hiện nay

1.3.1.2 Ưu điểm và hạn chế của mô hình lớp học đảo ngược

a) Ưu điểm của mô hình lớp học đảo ngược

Mô hình lớp học đảo ngược có những ưu điểm [20], [21]:

- GV đóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của HS nên có nhiều thời gian để theo dõi quan sát hoạt động của HS, có điều kiện tập trung cho nhiều đối tượng HS khác nhau nhất là các đối tượng cần nhiều sự hỗ trợ hơn so với các bạn

- HS có trách nhiệm hơn đối với việc học của mình, chủ động, tự chủ học tập

- Tăng cường khả năng tương tác, tương tác ngang hàng giữa các HS với nhau

Sáng tạo Đánh giá Phân tích Vận dụng Hiểu

Nhớ

Lớp học đảo ngược

HS và GV làm việc cùng nhau để đạt các mức

độ học tập

Tài liệu học tập mới được giới thiệu với HS bên ngoài lớp học như

là bài tập về nhà

Trang 24

15

- HS có nhiều cơ hội học hỏi với bạn, với thầy

- HS tự quyết định tốc độ học phù hợp, có thể tua nhanh hoặc xem lại nhiều lần khi chưa hiểu, qua đó làm chủ việc học của mình

- Hỗ trợ các HS vắng mặt nhờ các bài học luôn trực tuyến và được lưu trữ lại

- HS tiếp thu tốt hơn có thể được chuyển tiếp đến các chương trình học cao hơn mà không ảnh hưởng gì đến các bạn còn lại

- Phụ huynh có nhiều cơ hội hỗ trợ cho HS chuẩn bị bài tốt hơn trong thời gian tự học ở nhà

b) Hạn chế của mô hình lớp học đảo ngược

Mô hình lớp học đảo ngược cũng tồn tại những hạn chế sau:

- Không phải mọi HS đều có đủ điều kiện về máy vi tính và kết nối Internet

để tự học trực tuyến

- Việc tiếp cận với nguồn học liệu có thể khó khăn với một số em chưa có kĩ năng về công nghệ thông tin và mạng Internet Tốc độ mạng không phải lúc nào cũng ổn định để thuận lợi khi học tập

- Rất khó để thiết kế Video bài học đúng với ý tưởng sư phạm, thực hiện được đúng phương pháp dạy học, có tính toán hỗ trợ người học phù hợp để HS tự học và học cách tự học Thông thường GV sẽ sử dụng các video được thiết kế sẵn, được chia sẻ nhưng sẽ không hoàn toàn phù hợp với GV đó, hoặc nếu tự làm thì rất nhiều thời gian hoặc chất lượng video không đạt đủ yêu cầu hỗ trợ tự học

- HS không thể nêu các thắc mắc, đặt câu hỏi những vấn đề chưa hiểu

- Động lực của HS là yếu tố then chốt khi tự học

- Để kích thích và tạo động lực cho HS thì GV phải có kiến thức về công nghệ thông tin ở một mức độ nhất định, phải đầu tư thời gian và công nghệ lớn Những phân tích trên có thể cho thấy lớp học đảo ngược chỉ phù hợp với một số bài học chứ không thể

áp dụng đại trà, chỉ thành công khi có các phương tiện học tập phù hợp Ngoài ra, vai trò của GV trong việc thiết kế, điều hướng, hỗ trợ HS trong các hoạt động nhóm trên lớp cũng rất quan trọng, quyết định sự thành công của mô hình

Trang 25

sự đa dạng về trình độ học tập và khả năng tiếp thu của HS Nhưng nếu không tự làm được các bài giảng video thiết kế công phu thì có tổ chức lớp học đảo ngược được không? Các nhà nghiên cứu cũng đã giả thuyết tình huống này và câu trả lời là

“Có thể được” Học liệu cung cấp cho HS sử dụng ở nhà không luôn bắt buộc phải

là video (mặc dù các hiệu ứng hình ảnh đa phương tiện gây hứng thú và tạo động lực hơn) Tài liệu học tập có thể là một tập tin âm thanh

Để tổ chức được lớp học đảo ngược hiệu quả, giáo viên cần sự trợ giúp của một số công cụ hỗ trợ Và có rất nhiều công cụ hỗ trợ với những tính năng ưu việt khác nhau như:

- Các công cụ trình chiếu: Zoho Show; 280 Slides; PowerPoint; Wondershare PPT2Flash Professional

- Công cụ học tập xã hội: Những công cụ này sử dụng sức mạnh của phương tiện truyền thông xã hội giúp cho việc học tập và kết nối được dễ dàng hơn: Edmodo, Moodle, Grockit, EduBlogs, Skype, Wikispaces, Pinterest; Schoology, Quora, Ning, OpenStudy, ePals, WiZiQ, Adobe Acrobat Connect Pro, Edublogs

- Công cụ học tập: Những công cụ sau đây giúp giáo viên chuẩn bị bài giảng thú vị và hiệu quả: Khan Academy, MangaHigh, FunBrain, Educreations, Animoto, Socrative, Knewton, Kerpoof, StudySync, CarrotSticks

Ngoài ra, có thể sử dụng Facebook, Zalo, Group Mail để hỗ trợ mô hình lớp học đảo ngược

1.3.1.4 Chu trình học tập trong mô hình lớp học đảo ngược

Nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện học tập mà giáo viên đưa ra, HS tự học cá nhân ở nhà với tài liệu điện tử HS ngoài hoàn thành các câu hỏi kiểm tra cuối mỗi đơn vị kiến thức còn phải hoàn thành phiếu hướng dẫn tự học HS đến lớp với phiếu

Trang 26

kế hoạch, tự đặt câu hỏi khi tự học ở nhà Khi học với bạn, HS được rèn luyện các

kĩ năng trao đổi làm việc nhóm; Khi học thầy, HS hỏi thầy, lắng nghe, ghi chép, học hỏi phong thái giao tiếp của thầy HS còn được học và rèn luyện các kĩ năng viết, nói, thuyết trình,

Hạn chế khi tự học là không có nhiều điều kiện rèn luyện các kĩ năng sáng tạo, giải quyết vấn đề và tư duy phê bình, các kĩ năng giao tiếp,…Mô hình lớp học đảo ngược đã tạo điều kiện khắc phục hạn chế này Trên lớp HS được tham gia hoạt động nhóm, rèn luyện các kĩ năng hợp tác, giao tiếp, trình bày, giải quyết vấn đề Muốn vậy, HS phải có những kiến thức nền tảng nhất định Chính tự học ở nhà

là chìa khóa giúp HS thực hiện tốt hoạt động trên lớp của mình Nghiên cứu của Cordova và Lepper [25] cho thấy rằng HS tham gia các hoạt động học tập và thực hành trong các nhóm đồng đẳng có thể hiểu sâu hơn chủ đề được học so với khi học tập độc lập, đồng thời các kĩ năng hoạt động nhóm, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự học cũng được nâng cao hơn

1.3.1.5 Đánh giá trong dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược

Vì mô hình lớp học đảo ngược hướng đến việc hoạt động hóa hoạt động học tập của HS và có quy trình thực hiện khác so với lớp học truyền thống nên việc kiểm tra đánh giá trong dạy học theo mô hình này cũng cần có tiêu trí rõ ràng và là đánh giá toàn diện chứ không chỉ chú trọng đánh giá vể mặt nội dung Khi sử dụng

mô hình lớp học đảo ngược vào giảng dạy, hoạt động học của HS trở nên tích cực hơn rất nhiều Vì vậy, khi tiến hành kiểm tra đánh giá trong dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược nên tập trung vào các hoạt động chính như:

- Tự đánh giá: Tùy thuộc vào mục tiêu đã xác định khi tổ chức hoạt động tự tìm hiểu kiến thức, GV sẽ xây dựng công cụ tự đánh giá phù hợp, có thể là một

Trang 27

18

phiếu tự đánh giá bản thân với những tiêu chí cụ thể để các em tự đánh giá, cũng có thể là những cuộc phỏng vấn nhỏ để lắng nghe được trực tiếp nhất cảm xúc bấy giờ của các em…Điều này giúp HS tự nhìn nhận và đánh giá lại những hoạt động mình vừa tham gia, công sức mình bỏ vào các hoạt động Từ đó nhận thấy những điều mình chưa làm được để khắc phục trong những lần sau và phát huy những điều mình đã làm được; đồng thời HS hình thành được khả năng đánh giá bản thân Việc nhìn nhận, đánh giá lại bản thân sẽ giúp các em hình thành thói quen soi lại mình trong mỗi hoạt động, giúp các em tự tin và biết mình đang ở đâu để cố gắng và hoàn thiện bản thân

- Đánh giá theo nhóm: Lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi hình thành sự tự ý thức Các em thường hay so sánh bản thân mình với người khác Tuy nhiên, sự đánh giá của HS còn còn chế và chưa đủ khách quan Vì vậy, cần có sự đánh giá lẫn nhau giữa các HS để giúp HS nhận ra điểm tiến bộ, điểm tích cực ở bạn mình mà học hỏi, chỉ ra cho bạn những hạn chế còn gặp phải để khắc phục HS được đánh giá soi lại đánh giá của bạn mình với đánh giá của chính mình để giúp mình đánh giá ngày càng khách quan và đa chiều hơn Tương tự như hình thức tự đánh giá, đánh giá theo nhóm cũng có thể được thực hiện thông qua hình thức phỏng vấn, phiếu hỏi, rubric,…

- Đánh giá tổng hợp: Cuối cùng, sau sự tự đánh giá bản thân và đánh giá các bạn khác, GV sẽ tham khảo kết quả đánh giá của các em cùng những quan sát của bản thân để đưa ra kết quả đánh giá chính xác nhất Để việc đánh giá được dễ dàng thì GV cần phải thiết kế hoạt động và hình thức tổ chức sao cho hấp dẫn mà lại đáp ứng được những yêu cầu HS cần đạt được

Việc đánh giá và tổ chức đánh giá có thể thông qua:

- Hoạt động trên lớp của HS

- Hồ sơ học tập của từng HS

- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

- Bài thuyết trình (bài viết, tập san, video clip, bài trình chiếu,…)

Dù là lớp học đảo ngược hay lớp học truyền thống thì cách thực lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đánh giá lớp học cũng được tuân theo một trật tự và

Trang 28

và hữu ích cho việc đang hướng tới? Ai sẽ là người sử dụng kết quả đánh giá đó?

Bước 2: Xác định mục tiêu học tập sẽ đánh giá (kiến thức, kĩ năng, thái độ) Những mục tiêu đưa ra phải gắn với bài học cụ thể, đo lường được và phải rõ ràng để không gây hiểu nhầm cho HS Mục tiêu sẽ làm cơ sở để lựa chọn và thiết kế

kĩ thuật đánh giá phù hợp

Bước 3 Lựa chọn công cụ, kĩ thuật đánh giá phù hợp

Căn cứ vào mục đích và mục tiêu đánh giá, GV cần:

- Lựa chọn hoặc thiết kế kĩ thuật, công cụ đánh giá phù hợp

- Lựa chọn các nhiệm vụ học tập phù hợp sao cho người học có thê tự đánh giá việc đạt được mục tiêu học tập

- Xây dựng các ví dụ phù hợp (lưu ý những sai lầm người học thường gặp phải) Bước 4 Triển khai và phản hồi thông tin đến người học

Trong quá trình triển khai, GV nên thông báo và giải thích rõ ràng, cụ thể cho HS về mọi mặt của nhiệm vụ từ cách thức thực hiện, thời gian hoàn thành nhiệm vụ, yêu cầu sản phẩm,…Đồng thời lưu ý cung cấp cho HS thông tin phản hồi nhanh chóng và chính xác; sử dụng kết quả đánh giá để trao đổi với HS về quá trình học tập và khuyến khích người học tham gia vào việc đóng góp ý kiến, phân tích kết quả thu được; đưa ra những nhận xét và sử dụng kết quả đánh giá một cách chính xác, phù hợp mục đích và mục tiêu đã đề ra

1.3.2 Kĩ năng tự học

1.3.2.1 Khái niệm kĩ năng tự học

Để hiểu rõ thế nào là kĩ năng tự học ta cần làm rõ kĩ năng và tự học là gì?

Đầu tiên, ta tìm hiểu về khái niệm kĩ năng Kĩ năng là một vấn đề phức tạp trong Tâm lý học, cho đến nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm, có thể chia thành 3 hướng nghiên cứu chính:

Trang 29

20

- Hướng thứ nhất: Nghiên cứu kĩ năng như là trình độ thực hiện hành động,

thiên về mặt kĩ thuật của thao tác hành động

- Hướng thứ hai: Coi kĩ năng là một dạng biểu hiện của năng lực của chủ thể

hành động và nhấn mạnh đến kết quả của hành động Cách nhìn này cho thấy kĩ năng là dạng chuyên biệt của năng lực thực hiện hành động cá nhân, kĩ năng là hình thức biểu hiện của khả năng hay năng lực, chứ nó không phải khả năng hay năng lực Kĩ năng chính là hành vi hay hành động được cá nhân hành động tự giác và thành công xét theo những yêu cầu, quy tắc, tiêu chuẩn nhất định Quan niệm trên tương đối toàn diện và khái quát về kĩ năng

- Hướng thứ ba: Xem xét kĩ năng là hành vi ứng xử: Kĩ năng là hành vi thể hiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối của cách cảm nhận và suy nghĩ của

cá nhân Với quan điểm coi kĩ năng là hành vi, các tác giả chưa quan tâm nhiều đến

mặt kĩ thuật của nó Hiểu kĩ năng theo cách này có thể sẽ gặp khó khăn trong việc

rèn luyện kĩ năng và thiết kế các công cụ đo lường, đánh giá

Tóm lại: Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về kĩ năng, nhưng các nhà khoa

học đều thống nhất ở một số điểm:

- Kĩ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động

- Kĩ năng là sự vận dụng những tri thức, kĩ xảo đã có để thực hiện hành động

- Kĩ năng có thể rèn luyện để phát triển được

Dựa vào những cách tiếp cận nêu trên cũng như những hiểu biết của bản thân, chúng tôi cho rằng:

Kĩ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm để thực hiện một cách có kết quả các hành động hay hoạt động theo mục đích đã đề ra Kĩ năng biểu hiện trình

độ các thao tác tư duy, năng lực hành động và mặt kĩ thuật của hành động

Khái niệm thứ hai cần tìm hiểu là tự học

Theo quan điểm dạy học tích cực, bản chất của học là tự học, nghĩa là chủ thể tác động vào nội dung học một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo để đạt được mục tiêu học tập Quá trình hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ, chủ yếu

là do HS tự thực hiện, còn môi trường học chỉ đóng vai trò trợ giúp Học tập chỉ có

Trang 30

21

hiệu quả khi người học ý thức được việc học (có nhu cầu học tập) từ đó có động cơ,

ý chí và quyết tâm để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình học tập Cho đến nay có rất nhiều quan điểm về tự học đã được các tác giả trong và ngoài nước đề cập dưới nhiều góc độ và hình thức khác nhau Theo Thái Duy Tuyên: tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, của người học [18] Theo Từ điển Giáo dục học: Tự học là quá tình tự mình hoạt động, lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lí trực tiếp của cơ sở đào tạo [9] Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp

và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình [17]

Về bản chất, các quan điểm tự học ở trên đều có các điểm chung: tự học là hoạt động độc lập của người học nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, những kinh nghiệm lịch sử xã hội để hoàn thiện nhân cách của bản thân; tự học do bản thân ý thức được nhiệm vụ học tập, tự đưa ra kế hoạch học tập và làm chủ trong việc xác định mục đích, nội dung, cách thức học; tự học có thể diễn ra cả ở trên lớp

và ngoài lớp Tùy thuộc vào đối tượng người học mà tự học có các cấp độ khác nhau từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp

Từ các nhận định trên, theo chúng tôi: tự học là hình thức học tập mang đậm màu sắc cá nhân, là quá trình mà người học tự ý thức nhiệm vụ học tập, tự đưa ra kế hoạch và làm chủ trong việc xác định mục đích, nội dung, cách thức học, tác động một cách tích cực, chủ động vào đối tượng học nhằm chuyển hóa chúng thành tri thức riêng của mình, vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập; rèn luyện và phát triển kĩ năng, làm cho người học thay đổi và ngày càng phát triển

Trên cơ sở nghiên cứ các khái niệm cơ bản trên, chúng ta có thể hiểu kĩ năng

tự học được biểu hiện ở mặt kĩ thuật của hành động tự học và năng lực tự học của mỗi cá nhân Hay nói cách khác, năng lực tự học được biểu hiện ra ở kĩ năng tự học

Để tự học có kết quả, HS phải có những kĩ năng tự học tương ứng, kĩ năng tự học được bộc lộ ra bên ngoài là biểu hiện của nhận thức tự học và thái độ tự học

Trang 31

22

Từ đó, chúng tôi cho rằng: Kĩ năng tự học là khả năng thực hiện một hệ thống các thao tác tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự học trên cơ sở vận dụng các kinh nghiệm có liên quan đến hoạt động đó

1.3.2.2 Cấu trúc của năng lực tự học

Chúng tôi vận dụng quy trình xây dựng cấu trúc kĩ năng của nhóm tác giả Griffin, P., Care, E., & Harding, S (2015); Nguyễn Văn Biên [6] để xây dựng cấu trúc kĩ năng tự học trong Luận án gồm 4 bước sau:

a Bước 1 Định nghĩa kĩ năng tự học (kĩ năng tự học được định nghĩa dựa trên quá trình tự học như ở mục trên)

b Bước 2 Xác định các thành tố của kĩ năng (kĩ năng tự học cơ bản gồm 4 thành tố được mô tả trong bảng 1.1)

cơ học tập đúng đắn giúp cho HS tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng, để có thể tự học lâu dài và bền vững

3 Thực hiện

kế hoạch tự

HS thể hiện khả năng lựa chọn các tài liệu thích hợp, sử dụng các phương pháp nhận thức phổ biến trong học tập vật lí, vận dụng kiến

Trang 32

23

học thức đã học vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề học tập như: làm

bài tập vận dụng, bài thực hành, thí nghiệm, thực nghiệm, báo cáo, thuyết trình,… giúp tri thức có được không dễquên mà bền vững, thường xuyên được bổ sung, mở rộng, đào sâu, làm giàu tri thức cá nhân

3 Thực hiện kế hoạch tự học

3.1 Làm việc với tài liệu 3.2 Làm việc với người hỗ trợ 3.3 Rèn luyện trên đối tượng vật chất

4 Đánh giá điều chỉnh hoạt

Trang 33

- M1: Tự xác định kiến thức, kĩ năng cần học

- M2: Tự xác định chính xác kiến thức, kĩ năng cần học

- M3: Tự xác định kiến thức, kĩ năng cần học và các bước chi tiết tiến trình thu nhận kiến thức, kĩ năng

1.2 Xác định kiến thức, kĩ năng liên quan đã có, đã biết

- M1: Tự xác định một vài kiến thức kĩ năng liên quan đã có, đã biết

- M2: Tự xác định hầu hết kiến thức kĩ năng liên quan đã có, đã biết

- M3: Tự xác định toàn bộ kiến thức kĩ năng liên quan đã có, đã biết

2 Lập kế

hoạch tự học

2.1 Xác định phong cách bản thân

- M1: Chỉ ra được một vài phong cách học tập

- M2: Chỉ ra được một số thao tác học tập của các phong cách khác nhau

- M3: Chỉ ra được các thao tác học tập phù hợp với phong cách học tập của mình

2.2 Lựa chọn phương pháp học tập

- M1: Chỉ ra được tên các phương pháp học tập

- M2: Chỉ ra được cách thức thực hiện các phương pháp học tập

- M3: Chỉ ra được phương pháp học tập tối ưu phù hợp với nội dung học

Trang 34

25

2.3 Lập thời gian biểu tự học

- M1: Xây dựng thời gian biểu học tập sơ sài, thời gian quá dài hoặc quá ngắn

- M2: Thời gian biểu học tập chi tiết, có thời gian quá dài hoặc quá ngắn

- M3: Thời gian biểu học tập chi tiết, khoa học, cụ thể, phân bố thời gian hợp lý

- M3:

+ Liệt kê và lựa chọn được nguồn tài liệu hay, nguồn thông tin hữu ích, đáng tin cậy, có giá trị

+ Hệ thống thông tin trong tài liệu dưới dạng bản đồ tư duy, có sự phân tích đánh giá các nguồn thông tin

+ Tự lực vận dụng các thông tin thu được

để giải quyết vấn đề một cách chính xác

Trang 35

26

3.2 Làm việc với người hỗ trợ

- M1: Sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho việc học theo sự hướng dẫn của GV

- M2: Biết sử dụng một vài phương tiện phục vụ việc học

- M3:Biết sử dụng các phương tiện (sách,

CD, DVD, học liệu E-learning…) phục vụviệc học

4 Đánh giá,

điều chỉnh

hoạt động học

4.1 Đánh giá được kết quả của bản thân

- M1: Thực hiện được hết các bài kiểm tra

do giáo viên giao cho và tự đối chiếu kết quả

- M2: Tự làm bài kiểm tra, so sánh với đáp án và mục tiêu học tập

- M3: Biết lựa chọn công cụ đánh giá và tự đánh giá phù hợp với mục tiêu học tập để

tự xác định được trình độ của bản thân

4.2 Đánh giá điều chỉnh được kế hoạch học tập

- M1: Tự nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong quá trình tự học

- M2: Tự nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong quá trình tự học và đề xuất được cách điều chỉnh

- M3:Tự nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong quá trình tự học và có hành động điều chỉnh kịp thời

Trang 36

27

1.3.3 Mô hình lớp học đảo ngược với việc nâng cao kĩ năng tự học cho học sinh

1.3.3.1 Hình thành thói quen tự lực nghiên cứu tài liệu trước khi tới lớp

Hoạt động tự học ở nhà trên E-learning sẽ giúp HS hình thành thói quen tự lực nghiên cứu tài liệu trước khi đến lớp Để hình thành được thói quen này, HS cần phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lý luận và hiểu biết đã có mà

tự mình lĩnh hội kiến thức Khi đã thành thói quen thì HS sẽ thích thú với tự học, từ

đó biết cách tự học HS tự học bằng hành động của chính mình, “hành để học, học

để hành”, qua quan sát mà học các phân tích, tư duy, tự mình biết cách phát hiện ra tính chất, bản chất sự vật/hiện tượng Cuối cùng là học cách tổng hợp, khái quát và diễn đạt ra bằng lời kiến thức đã học

1.3.3.2 Hình thành thói quen đặt câu hỏi

Bằng cách tự chịu trách nhiệm với việc học của mình và nguồn học liệu sẵn sàng trên E-learning, HS hoàn toàn có thể xem lại khi cần hoặc sử dụng các trợ giúp

cá nhân có sẵn để tìm ra câu trả lời đúng đắn Với những vấn đề chưa hiểu, HS chủ động hỏi thầy về những gì mình có nhu cầu Khi biết mình cần hỏi gì, hỏi đúng trọng tâm chính là HS đã biết cách đặt câu hỏi

1.3.3.3 Tạo nhu cầu trao đổi, tương tác với bạn, với thầy

Tri thức ban đầu qua tự học của HS có thể chưa hoàn toàn đúng vì vậy, trong học tập HS cần bộc lộ sản phẩm học của mình qua thảo luận, biện luận, phản biện

về các sản phẩm mới kiến tạo, để mỗi HS được chia sẻ thông tin, học hỏi lẫn nhau; qua diễn đạt (lập luận) và hỏi lại (phản biện) tự soi xét lại sản phẩm mới học được của mình, bổ sung, chỉnh sửa và rút kinh nghiệm về cách học Theo tháp nhu cầu Maslow, HS sẽ hào hứng, có nhiều động lực tham gia học tập hơn khi được thể hiện trước mọi người

Ngoài ra, khi tham gia làm việc nhóm hiệu quả sẽ tác động tốt đến nhân cách cũng như năng lực của chính HS đó bao gồm: biết cách cùng nhau suy nghĩ, có khả năng tự điều chỉnh, có khả năng hợp tác, biết cách tranh luận và thuyết phục, học cách tôn trọng người khác, biết lắng nghe quan điểm của người khác, tích lũy kinh

Trang 37

28

nghiệm làm việc nhóm Qua trao đổi, thảo luận, GV kịp thời phát hiện được lỗi, thiếu sót trong quá trình tư duy, lập luận của HS để kịp thời chấn chỉnh, rèn luyện cho các em cách tư duy khoa học đồng thời cũng hướng dẫn cả cách diễn đạt, trình bày vấn đề Do đó, HS thay vì chỉ học từ thầy mà còn học từ bạn, tài liệu sách vở

1.3.3.4 Hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ

Trong mô hình lớp học đảo ngược, giờ học trên lớp sẽ được GV tận dụng để

tổ chức cho HS vận dụng kiến thức, thảo luận nhóm hoặc triển khai các dự án, giải quyết các vấn đề mở Trong các hoạt động này, HS được rèn luyện các kĩ năng phát biểu ý kiến trước nhiều người (nhóm học tập, lớp, các GV), kĩ năng tham gia, trao đổi ý kiến trong học tập dưới hình thức thảo luận, xemina, thực hành theo nhóm, biết sử dụng các nghi thức ngôn ngữ và giao tiếp với từng cá nhân khác nhau với tư cách cá nhân hay tư cách là người đại diện cho nhóm Trong hoạt động nhóm, HS sẽ học được các kĩ năng đối thoại, thương lượng và giải quyết những bất đồng, xung đột quan điểm, học được kĩ năng biểu đạt bằng ngôn ngữ và hành động, biết thông cảm, đồng cảm, biết lắng nghe người khác Ngoài ra, HS có thể học thêm các kĩ năng biểu thị tính thân thiện và ân cần với bạn bè trong học tập, tự phê bình và phê bình, kĩ năng làm việc cùng nhau trong nhóm hợp tác Khi được rèn luyện các kĩ năng trên, HS sẽ dần hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ Ngoài ra, GV có thể hướng dẫn HS cách tổng hợp, đánh giá, bằng nhiều hình thức khác nhau: bằng lời văn, bảng biểu, sơ đồ, bản đồ tư duy…bằng ngôn ngữ của chính HS, diễn đạt theo cách hiểu của các em, chứ không phải là chép lại nội dung trong tài liệu

1.3.3.5 Hình thành thói quen vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề

Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lý thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Dạy cho HS

có thói quen, có kĩ thuật giải quyết vấn đề là một yếu tố quan trọng trong việc dạy cách học cho HS Khi có kĩ thuật giải quyết vấn đề, HS có thể áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình Để hình thành cho HS thói quen vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề trong những tình huống khác nhau thì HS cần phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng

Trang 38

29

hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lý luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lý cần phải khơi thông, khám phá, làm sáng rõ Việc thường xuyên rèn luyện năng lực này tạo cho HS thói quen hoạt động trí tuệ, luôn luôn tích cực khám phá, tìm tòi ở mọi nơi, mọi lúc, mọi trường hợp và với nhiều đối tượng khác nhau, nâng cao dần lên HS sẽ có thói quen vận dụng kiến thức có hiệu quả Đồng thời việc vận dụng những điều đã học vào thực tiễn mang lại hiệu quả cao cũng sẽ có tác động ngược lại, tạo cho họ lòng ham học, hứng thú với tự học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao

1.3.3.6 Hình thành các kĩ năng khai thác, sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại hiệu quả

Khi học với E-learning, HS được rèn luyện các kĩ năng công nghệ thông tin

từ cơ bản nhất như cách thức sử dụng máy tính, cách tìm và nghiên cứu tài liệu số hóa, cách lưu trữ, sử dụng các mail, văn bản điện tử để trao đổi thông tin và giao tiếp học tập trên Internet Rèn luyện các kĩ năng khai thác và sử dụng ICT hiệu quả làm cho thế hệ trẻ có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại; có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật cao [13]

1.4 Mô hình lớp học đảo ngược đáp ứng yêu cầu của chương trình 2018

1.4.1 Nội dung môn Toán trong chương trình hiện hành và chương trình 2018

Chương trình Toán hiện hành xoay quanh 3 mạch kiến thức về Đại số, Số học và Hình học và cơ bản chỉ dừng lại ở việc tiếp cận nội dung, tập trung trả lời những câu hỏi như “Chúng ta muốn học sinh biết cái gì” Vì vậy, việc dạy Toán dường như chỉ chạy theo khối lượng kiến thức để thi cử mà ít chú ý đến cách học, nhu cầu và hứng thú của người học Bên cạnh đó, Chương trình phần nào còn coi nhẹ việc thực hành và vận dụng kiến thức vào đời sống thực tiễn

Nội dung giáo dục toán học trong chương trình phổ thông mới được phân chia theo hai giai đoạn:

Trang 39

30

- Giai đoạn giáo dục cơ bản: Môn Toán giúp học sinh hiểu được một cách có

hệ thống những khái niệm, nguyên lí, quy tắc toán học cần thiết nhất cho tất cả mọi người, làm nền tảng cho việc học tập ở các trình độ học tập tiếp theo hoặc có thể sử dụng trong cuộc sống hằng ngày

- Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: Môn Toán giúp học sinh có cái nhìn tương đối tổng quát về toán học, hiểu được vai trò và những ứng dụng của toán học trong thực tiễn, những ngành nghề có liên quan đến toán học để học sinh

có cơ sở định hướng nghề nghiệp, cũng như có khả năng tự mình tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến toán học trong suốt cuộc đời Bên cạnh nội dung giáo dục cốt lõi, trong mỗi năm học, học sinh (đặc biệt là những học sinh có định hướng khoa học tự nhiên và công nghệ) được chọn học một số chuyên đề học tập Các chuyên đề này nhằm tăng cường kiến thức về toán học, kĩ năng vận dụng kiến thức toán vào thực tiễn, đáp ứng sở thích, nhu cầu và định hướng nghề nghiệp của học sinh

Chương trình môn Toán trong cả hai giai đoạn giáo dục có cấu trúc tuyến tính kết hợp với “đồng tâm xoáy ốc” (đồng tâm, mở rộng và nâng cao dần), xoay quanh và tích hợp ba mạch kiến thức: Số, Đại số và Một số yếu tố giải tích; Hình học và Đo lường; Thống kê và Xác suất

1.4.2 Nội dung Thống kê trong chương trình Toán hiện hành và chương trình 2018

Như đã nói ở tên, trong 3 mạch kiến thức mới, mạch có sự thay đổi lớn nhất

so với chương trình hiện hành là Thống kê và xác suất Trước đây thống kê được dạy một chút ở lớp 4 và 5, lên cấp THCS học sinh được học ở lớp 7 và cấp trung học phổ thông (THPT) là lớp 10 Còn xác suất chỉ xuất hiện trong chương trình lớp

11 Tinh thần của Chương trình 2018 muốn đẩy mạnh ứng dụng của Toán học và xác suất và thống kê là mạch kiến thức rất tốt để thực hiện nhiệm vụ đó Cụ thể, trong Chương trình 2018, thống kê sẽ được đưa vào bài giảng dạy bắt đầu từ lớp 2 cho đến lớp 12 Tức là trong 11 năm, học sinh đều được học những nội dung về xác suất và thống kê với chương trình mang tính đồng tâm và nâng cao dần So với chương trình hiện hành, các nội dung về thống kê (thu thập, phân tích và xư lý số

Trang 40

Những yêu cầu dạy học về mạch kiến thức Thống kê 7 được thể hiện chi tiết trong bảng dưới đây Những nội dung đó cũng là những kĩ năng tự học đặc thù cần thiết của thống kê, từ kĩ năng thu thập số liệu, phân tích và xử lí số liệu, đánh giá kết quả số liệu

Thu thập và tổ

chức dữ liệu

Thu thập, phân loại, tổ chức dữ liệu theo các tiêu chí cho trước

- Thực hiện và lí giải được việc thu thập, phân loại dữ liệu theo cá tiêu chí cho trước từ nhiều nguồn khác nhau: văn bản; bảng biểu; kiến thức trong các lĩnh vực giáo dục khác (Địa lý, Lịch sử, Giáo dục môi trường, giáo dục tài chính,…);

phỏng vấn, truyền thông, Internet, thực tiễn (môi trường, tài chính, y tế, giá cả thị trường,…)

- Chứng tỏ được tính hợp lí của dữ liệu theo các tiêu chí toán học đơn giản (ví dụ: tính hợp lí trong các số liệu điều tra; tính hợp lí của các quảng cáo,…)

Ngày đăng: 04/06/2021, 09:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. I.F. Kharlamov (1998), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào
Tác giả: I.F. Kharlamov
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
3. A.V. Rubakin (1982), Tự học như thế nào? (Nguyễn Đình Côi dịch ), NXB Thanh niên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học như thế nào
Tác giả: A.V. Rubakin
Nhà XB: NXB Thanh niên Hà Nội
Năm: 1982
4. Đinh Quang Báo (1998), Tự học, tự đào tạo tư tưởng chiến lược trong phát triển giáo dục Việt Nam (Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của tự học trong đào tạo ở bậc đại học), NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 160-166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học, tự đào tạo tư tưởng chiến lược trong phát triển giáo dục Việt Nam (Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của tự học trong đào tạo ở bậc đại học)
Tác giả: Đinh Quang Báo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
5. Lê Khánh Bằng (1993), Tổ chức quá trình dạy học Đại học, NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức quá trình dạy học Đại học
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 1993
6. Nguyễn Văn Biên (2016), Đề xuất khung năng lực và định hướng dạy học môn vật lí ở trường phổ thông, Tạp chí Khoa học, ĐHSP Hà Nội, Số 8B, 2016VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất khung năng lực và định hướng dạy học môn vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Biên
Năm: 2016
7. Nguyễn Chính (2016), “Dạy học theo mô hình Flipped Classroom”, Báo Tia sáng, Bộ Khoa học công nghệ, ngày 4/4/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo mô hình Flipped Classroom”, "Báo Tia sáng
Tác giả: Nguyễn Chính
Năm: 2016
8. Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Văn Quyền, Dạy học tiết ôn tập chương môn toán ở trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực tự học, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: Khoa học Giáo dục, (9), 126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tiết ôn tập chương môn toán ở trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực tự học
9. Bùi Hiền (chủ biên, 2015), Từ điển Giáo dục học, NXB Khoa học và Kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Nhà XB: NXB Khoa học và Kĩ thuật
10. Trần Bá Hoành (chủ biên), Trịnh Nguyên Giao (2000), Phát triển các phương pháp học tập tích cực trong môn Sinh học (Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 -2000 cho giáo viên Trung học cơ sở), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các phương pháp học tập tích cực trong môn Sinh học (Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 -2000 cho giáo viên Trung học cơ sở)
Tác giả: Trần Bá Hoành (chủ biên), Trịnh Nguyên Giao
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
11. Nguyễn Kim Hồng (2012), Dạy học online, trường ảo trong thế giới thực, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đào tạo trực tuyến trong nhà trường Việt Nam-Thực trạng và giải pháp”, ĐHSPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học online, trường ảo trong thế giới thực", Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đào tạo trực tuyến trong nhà trường Việt Nam-Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Kim Hồng
Năm: 2012
14. Nguyễn Thị Nhị, Mai Đại Phương (2011), Xây dựng và sử dụng thư viện điện tử hỗ trợ dạy học vật lí ở trường THPT, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về giảng dạy Vật lí -10/2011, trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng thư viện điện tử hỗ trợ dạy học vật lí ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Thị Nhị, Mai Đại Phương
Năm: 2011
15. Phạm Xuân Quế (2004), E-learning và khó khăn trong việc xây dựng trang web có nội dung thực nghiệm-các giải pháp khắc phục, Tạp chí Giáo dục, số 90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-learning và khó khăn trong việc xây dựng trang web có nội dung thực nghiệm-các giải pháp khắc phục
Tác giả: Phạm Xuân Quế
Năm: 2004
16. Hà Nhật Thăng, Đào Thanh Âm (1998), Lịch sử giáo dục thế giới, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo dục thế giới
Tác giả: Hà Nhật Thăng, Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
17. Nguyễn Cảnh Toàn (1999), Luận bàn và kinh nghiệm về tự học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận bàn và kinh nghiệm về tự học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
18. Thái Duy Tuyên (2008), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB Giáo dục.Danh mục tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Giáo dục. Danh mục tài liệu tiếng Anh
Năm: 2008
20. Bergmann, J., Sams, A.(2012), Flip Your Classroom: Reach Every Student in Every Class Every Day, International Society for Technology in Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flip Your Classroom: Reach Every Student in Every Class Every Day
Tác giả: Bergmann, J., Sams, A
Năm: 2012
21. Brunsell, E., & Horejsi, M. (2013), Science 2.0: A flipped classroom in action, Science Teacher, 80(2), 8-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Science 2.0: A flipped classroom in action
Tác giả: Brunsell, E., & Horejsi, M
Năm: 2013
22. Lage, M. J., Platt, G. J., & Treglia, M. (2000), Inverting the classroom: A gateway to creating an inclusive learning environment, The Journal of Economic Education, 31(1), 30-43.Tài liệu điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inverting the classroom: A gateway to creating an inclusive learning environment
Tác giả: Lage, M. J., Platt, G. J., & Treglia, M
Năm: 2000
23. Flipped Learning Network (FLN) (2014), The four pillars of FLIP™, http://www.flippedlearning.org/definition, truy cập ngày 12/4/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The four pillars of FLIP™
Tác giả: Flipped Learning Network (FLN)
Năm: 2014
24. H. Vieira, C. P. Ribeiro (2018), Implementing flipped classroom in history: the reactions of eighth grade students in a portuguese school, http://dx.doi.org/10.17159/2223-0386/2018/n18a3, truy cập ngày 14/4/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Implementing flipped classroom in history: "the reactions of eighth grade students in a portuguese school
Tác giả: H. Vieira, C. P. Ribeiro
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w