I/ ĐẶT VẤN ĐỀQua các đề thi THPT môn toán 12 và đề thi tuyển sinh vào các trường Đại Học - Cao Đẳng , năm nào Bộ Giáo Dục cũng cho ít nhất trong mỗi đề thi một bài khảo sát hàm số.. Mặc
Trang 1I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Qua các đề thi THPT môn toán 12 và đề thi tuyển sinh vào các trường Đại Học - Cao Đẳng , năm nào Bộ Giáo Dục cũng cho ít nhất trong mỗi đề thi một bài khảo sát hàm số Mặc dù giáo viên cũng đã chuẩn bị rất kỹ càng cho các em về phương pháp cũng như kĩ năng khảo sát các hàm số, tuy vậy khá nhiều các em vẫn bọc lộ rõ nét sự yếu kém trong bài này Sự yếu này càng thấy rõ ràng hơn đối vơi học sinh hệ bán công
Đối với trường THPT có 4 dạng bài toán khảo sát hàm số:
1/ y = ax 3 + bx 2 + cx + d (a ≠ 0) 2/ y = ax 4 + bx 2 + c (a ≠ 0) (hàm trùng phương) 3/ y= cx ax++d b
4/y= ax2ex++bx d+c
Tuy thực tế 4 loại bài toán khảo sát hàm số này đối với những học sinh khá giỏi thì các em sẽ dễ dàng vượt qua, nhưng đối với một bộ phận học sinh yếu kém thì học sinh hay lúng túng, nhầm lẫn giữa phương pháp khảo sát hàm số của hàm số này và hàm số khác thậm chí có học sinh khi khảo sát hàm số các em đã làm đúng các bước khảo sát và tính toán nhưng đến khi vẽ đồ thị thì các em lại vẽ sai
Tình trạng thực tế cần được cấp bách giải quyết Nếu giải quyết được hạn chế này của học sinh thì tỉ lệ tốt nghiệp bộ môn sẽ được nâng lên và giải quyết được thêm một số bài toán khác
II/ NỘI DUNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
Trong quá trình giảng dạy mặc dù giáo viên bộ môn đã phân tích, giảng giải rất kỹ nhưng cũng có khá nhiều học sinh bị vướng mắc một số bước trong khâu khảo sát các hàm số Để giải quyết những khó khăn đó, tôi có những biện pháp sau
A/BIỆN PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN:
Thông thường để giải một bài khảo sát hàm số học sinh phải thực hiện theo sơ đồ cơ bản sau:
Bước 1:Tìm TXĐ
Bước 2: Sự biến thiên
a/ Chiều biến thiên b/ Cực trị
Trang 2c/ Giới hạn d/ Bảng biến thiên e/ Tính lồi lõm và điểm uốn của đồ thị (đối với hàm phân thức thì không xét vấn đề này)
Bước 3: Vẽ đồ thị
1/ ĐỐI VỚI HÀM SỐ BẬC 3: y=ax 3 + bx 2 + cx + d (a≠o)
Đối với hàm số này đa số các em thường hoàn tất các bước1, bước 2, nhưng đến bước 3 vẽ đồ thị thì các em không vẽ được và các em cũng thường phàn nàn với giáo viên là không định hướng được vẽ đồ thị, thậm chí có em lại vướng một, hai phần trong quy trình khảo sát hàm số Để giải quyết vấn đề này, giáo viên nên chứng minh cho học sinh đồ thị
của hàm số y = ax 3 + bx 2 + cx+ d (a≠o) đối xứng qua điểm uốn của đồ thị
hàm số và giáo viên phải bắt buộc học sinh học thuộc các dạng đồ thị trong bảng biến thiên sau:
y’ = 0
Có 2 nghiệm
phân biệt
y
O x
y
O x
y’ = 0
Có nghiệm
kép
y
O x
y
O x
y’ = 0
Vô nghiệm
y
O x
y
O x
Như vậy nếu đã nắm được 6 dạng đồ thị trên thì học sinh chỉ cần tìm đạo hàm, giải phương trình y’ = 0 sẽ giải được bài toán khảo sát hàm số bậc 3 một cách dễ dàng
* Ví dụ: Khảo sát hàm số: y = x3 – 3x2 + 2
• TXĐ: D = R
Trang 3• y’ = 3x2 – 6x
• y’ = 0 3x2 – 6x = 0
=
= 2
0
x x
Như vậy đối với hàm số bậc 3 trên, phương trình y’ = 0 có 2 nghiệm phân biệt, hệ số a = 1 > 0 Vậy học sinh sẽ biết được dạng đồ thị là
x = 0 + :
-: x = 2 Như vậy từ dạng đồ thị trên học sinh dễ dàng suy ra:
• Chiều biến thiên:
+ Hàm số tăng trong khoảng (-:; 0) χ (2; + :)
+ Hàm số giảm trong khoảng (0 ; 2)
• Cực trị: xCĐ = 0; xCT = 2
• Giới hạn: lim y = 7:
x7:
• Bảng biến thiên: x -: 0 2 +:
y’ + 0 - 0 +
y 2 -:
+: -2
(Đôi khi học sinh lập bảng biến thiên, xét dấu đạo hàm vẫn có thể bị sai sót nhưng nếu dựa vào dạng đồ thị thì học sinh sẽ cảm thấy tin tưởng hơn, chắc chắn hơn)
Để xác định điểm uốn giáo viên cần phải sử dụng đạo hàm cấp 2 Tuy nhiên chúng ta đã biết điểm uốn là tâm đối xứng của đồ thị nên chúng ta có thể kiểm tra tọa độ điểm uốn chính là trung bình cộng của tọa độ điểm cực đại và điểm cực tiểu
• Cách vẽ đồ thị: để vẽ đồ thị học sinh dựa vào dạng đồ thị đã biết
Sau đó vẽ chính xác hóa đồ thị bằng cách cho thêm 1 số điểm
• Cách cho thêm điểm: Vì điểm uốn là tâm đối xứng nên ta lần lượt
cho thêm các điểm có hoành độ cách đều hoành độ điểm uốn
Thí dụ trong ví dụ trên hoành độ điểm uốn là x = 1, xCĐ = 0, xCT = 2 Ta cho đồ thị qua các điểm có hoành độ x = -1, x = 3 (-1 0 ① 2 3)
2/ ĐỐI VỚI HÀM SỐ BẬC 4: y = ax 4 + bx 2 + c (a ≠ 0).
Tương tự giáo viên cho học sinh học thuộc và nhận dạng đồ thị trong bảng tóm tắt như sau:
Trang 4a > 0 a < 0
y’ = 0
Có 3 nghiệm
phân biệt
y
O x
y
O x
y’ = 0
Có 1 nghiệm
y
O x
y
O x
* Ví dụ: KSHS: y = x4 – 2x2 + 3
• TXĐ: D = R
• y’ = 4x3 – 4x = 4x (x2 – 1)
• y’ = 0
±
=
= 1
0
x x
Vậy phương trình y’ = 0 có 3 nghiệm phân biệt hệ số a = 1 > 0
⇒ Đồ thị hàm số có dạng giống như chữ W
+: 0 +:
-1 1
Nhìn vào dạng đồ thị học sinh dễ dàng suy ra:
• Chiều biến thiên:
+ Hàm số giảm trên khoảng (-:; -1) χ (0; 1)
+ Hàm số tăng trên khoảng (-1; 0) χ (1; +:)
• Cực trị: xCT = 6 1; xCĐ= 0
• Giới hạn: lim y = +:
x7:
• Bảng biến thiên: x -: -1 0 1 +:
y’ - 0 + 0 - 0 +
y +: CĐ +:
CT CT
Trang 5Để vẽ đồ thị hàm số bậc 4 Giáo viên chứng minh đồ thị hàm số nhận Oy làm trục đối xứng Khi vẽ nên cho các điểm có hoành độ đối xứng điểm x = 0 (chẳng hạn: -3, - 2, -1, 0, 1, 2, 3)
Như vậy dựa vào nhận dạng đồ thị Học sinh sẽ vẽ được đồ thị chính xác hóa
3/ ĐỐI VỚI HÀM SỐ NHẤT BIẾN: y = cx ax++d b ( ad – bc ≠ 0; c ≠ 0)
Giáo viên cho học sinh nhận dạng đồ thị trong bảng tóm tắt sau:
D= ad – bc > 0 D = ad – bc < 0
y
O x
y
O x
* Ví dụ: KSHS: y = x x+−11(ad – bc = 1(-1) – 1.1 = -2 < 0)
• TXĐ:D =R –{1}
• y’= 1 2
2 ) ( −
−
x < 0 x,D
Ta thấy D = ad – bc = -2 < 0 ⇒ đồ thị có dạng
(x = 1)
I
(y = 1)
Nhìn vào dạng đồ thị học sinh dễ dàng suy ra
• Chiều biến thiên :
+ Hàm số giảm trên khoảng: (-:; 1) ∪ (1; +:)
• Cực trị: Hàm số không có cực trị
• Giới hạn: lim y = -:
x→1
limy = +:
x→1+
Trang 6limy = 1
x→±:
• Bảng biến thiên: x -: 1 +:
y’
y 1 +:
-: 1 Việc vẽ đồ thị hàm số này tương đối dễ dàng Học sinh sẽ ít gặp khó khăn trong hàm số này Vấn đề là giáo viên chứng minh được đồ thị hàm số này nhận giao điểm 2 tiệm cận làm tâm đối xứng Và khi vẽ đồ thị học sinh cần vẽ đúng hai tiệm cận thì việc vẽ đồ thị hàm số này xem như hoàn thành
4/ ĐỐI VỚI HÀM SỐ: y = ax a2'+x bx+b+' c (aa’ ≠ 0) Học sinh học thuộc lòng và
nhận dạng đồ thị trong bảng biến thiên như sau:
y’ = 0
Có 2 nghiệm
y
O x
y’ = 0
Vô nghiệm
y
O x
y
O x
* Ví dụ: Khảo sát hàm số: y = 2 41
1
6 3
2
− +
−
=
−
+
−
x
x x
x
• TXĐ: D = R – {1}
2
1
3 2 ) ( −
−
−
x x x
Trang 7• y’ = 0
=
−
= 3
1
x x
Phương trình y’ = 0 có hai nghiệm phân biệt, aa’ > 0 nên đồ thị có dạng
Nhìn vào dạng đồ thị ta suy ra:
• Chiều biến thiên:
+ Hàm số tăng trên khoảng: (-:; -1) ∪ (3; +:)
+ Hàm số giảm trên khoảng: (-1; 1) ∪ (1; 3)
• Cực trị: xCĐ = -1; xCT = 3
• Giới hạn: lim y = :
x→:
lim y = -:
x→1
lim y = +:
x→1+
• Bảng biến thiên: x -: -1 1 3 +:
y’ + 0 - - 0 +
y CĐ +: +:
-: -: CT
Việc cho thêm các điểm để vẽ đồ thị hàm số cũng tương tự như hàm nhất biến Đồ thị hàm số nhận giao điểm hai tiệm cận làm tâm đối xứng
* Lưu ý: Đối với hàm số này việc tìm giá trị cực trị đôi khi học sinh sẽ gặp khó khăn
+ Ví dụ: y = −x x2++1x
* Ta có: y’ = 0
+
−
=
−
−
=
2 1
2 1
x x
Khi thay các giá trị của x này vào hàm số để tìm các giá trị cực trị, học sinh sẽ rất mất thời gian và phải có khả năng tính toán qua nhiều qui trình, đa số các em thường không tính nổi giá trị này Để giải quyết vấn đề trên giáo viên cần chứng minh cho học sinh tại các điểm cực trị thì:
yo = f(xo) = (( )) ''(( ))
o
o o
o
x Q
x P x
Q
x P
Trang 8Vậy trong ví dụ trên ta có: 2 1
1
2
+
−
= +
+
x
x x
'
'
) (
) (
⇒ y o = -2x o + 1
⇒
−
= + +
−
−
= +
−
+
= +
−
−
−
=
−
−
2 2 3 1 2 1 2 2 1
2 2 3 1 2 1 2 2 1
) (
) (
) (
) (
y
y
D/ KIỂM NGHIỆM LẠI KẾT QUẢ:
a/ Kết quả của biện pháp mới:
Trước khi dạy khảo sát hàm số theo qui trình của sơ đồ khảo sát hàm số, có một số khá đông học sinh rất lúng túng, vướng mắc một trong số các qui trình, thậm chí có học sinh không định hướng được vẽ đồ thị Nhưng sau khi tổng kết các dạng đồ thị lại Giáo viên yêu cầu học sinh phải học thuộc lòng các dạng đồ thị thì rõ ràng các bế tắc của học sinh đã được khai thông Học sinh rất vững vàng và tự tin hơn rất nhiều, những học sinh học yếu kém cũng đã có chuyển biến tích cực trong bài toán này
b/ Phạm vi tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm:
*Đối với bản thân: Vì trong các đề thi tốt nghiệm năm nào Bộ
giáo dục cũng cho một bài toán khảo sát hàm số nên với một số kinh nghiệm được rút ra của bản thân cảm thấy an tâm hơn, tin tưởng hơn vào sự thành công của số học sinh mà mình phụ trách, và tin tưởng rằng tỉ lệ tốt nghiệp bộ môn sẽ đạt kết quả có khả quan hơn
*Đối với đồng nghiệp, tổ nhóm chuyên môn: Thiết nghĩ
rằng nêu một số kinh nghiệm này được nhân rộng ra thì kết quả gặt hái sẽ to lớn hơn
Trong hai năm qua tổ toán của trường cũng rất có gắng góp ý, trao đổi về chuyên môn rút kinh nghiệm một số nội dung Tuy kết quả chưa được mong muốn trong đó bao gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan nhưng bước đầu tỉ lệ tốt nghiệp bộ môn đã có bước khởi sắc, tỉ lệ tốt nghệp năm nào cũng cao hơn so với mặt bằng của tỉnh
c/ Nguyên nhân thành công và tồn tại:
- Qua giảng dạy nhiều năm và qua tiếp xúc với những học sinh yếu kém nên bản thân đã rút ra được một số kinh nghiệm trong bài toán khảo sát hàm số này
- Tuy nhiên nếu học sinh không nắm rõ bản chất vấn đề thì việc làm trên học sinh sẽ tồn tại một số vấn đề sau: không tìm được giới hạn, không xét dấu được đạo hàm bằng cách lập bảng biến thiên, … Vì vậy
Trang 9việc làm trên của các em là máy móc Cho nên vấn đề là giáo viên phải chỉ rõ ra bản chất của bài toán cho học sinh thấu hiểu
III/ KẾT LUẬN:
Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên không chỉ truyền đạt những gì đã có trong sách vở, những nội dung đã qui định sẵn, mà giáo viên cũng cần phải tham khảo, nghiên cứu nhiều hơn ở đồng nghiệp, ở các sách báo của nhiều tác giả để rút ra kinh nghiệm thêm ở bản thân mình để truyền đạt cho học sinh những gì tối ưu nhất và để học sinh nắm bắt, hiểu được nội dung kiến thức một cách dễ dàng nhất, không gây sự nhàm chán khi học toán Đó là điều tôi rất trăn trở và mong muốn càng ngày càng được hoàn thiện hơn