1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môi trường và phát triển bền vững

302 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 302
Dung lượng 12,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bách khoa toàn thư vể MT 1994 đưa ra định nghĩa ngắn gọn và đầy đủ hơn về MT: "MT là tổng th ể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội - nhân văn và các điều kiện tác dộng trực tiếp hay

Trang 3

LÊ VĂN KHOA (Chủ biên) ĐOÀN VĂN TIẾN - NGUYỄN SONG TÙNG - NGUYỄN q u ố c v iệ t

Trang 5

ềíắì đẩu

Vào những nãm cuối của thế kỷ XX, mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển ngày càng thể hiện rõ nét trên phạm vi toàn cầu Nhằm tìm cách đối phó với tình trạng cuộc sống ngày càng xấu đi do sự gia tăng dân số, gia tăng nghèo khó, bệnh tật, thất học, do sự cách biệt ngày càng sâu sắc giữa giàu và nghèo, và đặc biệt là do sự xuống cấp không ngừng của môi trường, Liên hợp quốc đã thành lập Hội đồng thế giới về môi trường và phát

triển vào năm 1983 Bôn năm sau, trong báo cáo Brundland "Tương lai chung của chúng ta" của Uỷ ban Môi trường và Phát triển Liên hợp quốc, năm 1987, khái niệm phát triển

bền vững chính thức được nêu ra Tiếp theo đó, tại hai Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất diễn

ra ớ Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Johannesburg (Nam Phi) năm 2002, khái niệm phát triển bền vững đã được cộng đồng thế giới thừa nhận và đưa ra Chương trình nghị sự

21 toàn cầu - Chương trình về sự phát triển bền vững của thế giới trong thế kỷ XXI

Tại Rio de Janeiro, Chính phủ Việt Nam đã ký cam kết thực hiện Chương trình nghị

sự 21 và để thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế, tháng 8 năm 2004

Chính phủ đã phê duyệt và ban hành "Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở

Việt Nam" (hay còn gọi là Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam - Agenda 21) Để thực hiện định hướng này, nhiều hoạt động của các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước

đã được triển khai nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường theo hướng bền vững Đây là một cách tiếp cận mới, mang tính hệ thống, dài hạn, bảo đảm sự phát triển của thế hệ hôm nay và không làm phương hại, cản trở đến sự phát triển của các thế hệ mai sau Đó là sự phát triển hài hoà cả kinh tế, xã hội, văn hoá, môi trường trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thích ứng với chính sách hội nhập kinh tế quốc tế

Dựa trên nhiều nguồn tài liệu tham khảo được công bố trên thế giới và trong nước, cuốn sách này được biên soạn theo nhiệm vụ do Bộ Giáo dục và Đào tạo giao để làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu trong các trường đại học và cao đẳng, các viện nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực môi trường và phát triển Nội dung cuốn sách bao gồm các phần chính: Hiện trạng những vấn đề tài nguyên và môi trường, mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, các nội dung của phát triển bền vững và nhiệm vụ phát triển bền vững ở các địa phương nhằm thực hiện thành công Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở nước ta.Các tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc để cuốn sách hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau

TẬP THỂ TÁC GIẢ

3

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIET TAT

ADEME Cơ quan quản lý môi trường và năng lượng Pháp

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương

ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm

Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường

CNH - HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

C0P15 Khoá họp thứ 15 Hội nghị các bên tham gia Cõng ướ(c

Biến đổi khí hậu

ĐTM Đánh giá tác động môi trường

4

Trang 7

EC Cộng dồng châu Âu

ENSO Hiện tượng El Nino và La Nina

IPCC Uỷ ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu của LHQ

IISD Viện kinh tế và phát triển bền vững

IPM Phòng trừ dịch hại tổng hợp

JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản

IUCN Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới

5

Trang 8

LLLĐ Lực lượng lao động

NS&VSMT Nước sạch và vệ sinh môi trường

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

ppp Chính sách - Kế hoạch - Chương trình

TN&MT Tài nguyên và môi trường

UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của LHQ

UNFCCC Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu

Trang 9

Chương 1

MÔI TRỮỜNG

I Đ ỊN H N G H ĨA V À P H Â N LO Ạ I M Ô I T R Ư Ờ N G

Điều 3, Luật BVMT 2005 sử dụng các định nghĩa:

- MT bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật

- Hoạt động BVMT là hoạt động giữ cho MT trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế và cải thiện MT; khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm TNTN; bảo vệ ĐDSH

- Thành phần MT là các yếu tố vật chất tạo thành MT như đất, nước, không khí, âm Ihanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác

Theo cách hiểu phổ thông các từ điên đưa ra định nghĩa đơn giản: MT là tất cả các yếu tố tự nhiên và nhân tạo trong đó diễn ra sự sống của con người

Bách khoa toàn thư vể MT (1994) đưa ra định nghĩa ngắn gọn và đầy đủ hơn về MT:

"MT là tổng th ể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội - nhân văn và các điều kiện tác dộng trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên dời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ "

Nếu phân tích chi tiết theo nội dung của định nghĩa này có thể thấy:

- Các thành tố sinh thái tự nhiên gồm: đất, nước, không khí; động, thực vật; các HST; các trường vật lý (nhiệt, điện, từ, phóng xạ)

- Các thành tố xã hội - nhân văn gồm: dân số và sự tiêu dùng sản phẩm, xả thải; nghèo đói; giới; dân tộc, phong tục, tập quán, văn hoá, lối sống; luật, chính sách, hương ước, luật tục; thể chế xã hội, tổ chức cộng đồng, xã hội,

- Các thành tố tác động đến các hoạt động và phát triển kinh tế gồm:

+ Các chương trình, dự án phát triển kinh tế, hoạt động quân sự, chiến tranh,

+ Các hoạt động kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, du lịch, xây dựng, đô thị hoá;

+ Công nghệ, kỹ thuật, quản lý,'

7

Trang 10

Ba nhóm yếu tố irên tạo thành ba phân hệ của hệ thống MT, bảo đảm cuộc sống và sự phát triển của con người với tư cách là thành viên của thế giới tự nhiên, của một cộng dồng hoặc một xã hội.

Các phân hệ nói trên và mỗi thành tố trong từng phân hệ, nếu tách riêng thì thuộc phạm vi nghiên cứu và tác động của các lĩnh vực khoa học khác nhau Ví dụ:

- Đất trồng trọt là đối tượng nghiên cứu của khoa học đất

- Dân tộc, văn hoá thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân vãn

- Xây dựng, công nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế

Đối với con người, MT chứa đựng nội dung rộng hơn Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì MT của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thông do con người tạo ra, những cái hữu hình và vô hình (tập quán, niềm tin, ), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác TNTN và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình Như vậy, MT sống của con người theo định nghĩa rộng là tất cả cấc nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như TNTN, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội, Với nghĩa hẹp, MT sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người như số m2 nhà ở, chất lượng bữa ăn hằng ngày, nước sạch, điều kiện vui chơi, giải trí, Ở nhà trường thì MT của học sinh gồm nhà trường với thầy cô giáo, bạn bè, nội quy cua nhà trường, lóp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, các tổ chức xã hội như Đoàn, Đội, Tóm lại, MT là tất cả những gì xung quanh chúng ta, tạo điểu kiện đế chúng ta sống, hoạt động và phát triển

MT sống của con người thường được phân thành:

- MT tự nhiên gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài

ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng Mặt Trời, núi, sông, biển cả, không khí, động và thực vật, đất và nước, MT tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ sản xuất và tiêu dùng

- MT xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau MT xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm MT nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố

do con người tạo nên hoặc biến đổi theo, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống như

ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu đô thị, công viên,

Trong nhiều tài Kệu, các dạng MT được phân chia chi tiết hơn Ví dụ: MT sống, MT sản xuất, MT lao động, MT kinh tế, MT chính trị, MT pháp luật,

Các dạng tài nguyên và MT phản ánh các mối quan hệ của con người với MT sống trên nhiều mật:

- Các môi quan hệ giữa con người với thiên nhiên

Trang 11

- Các mối quan hệ giữa con người với con người.

- Các mối quan hệ giữa con người với kinh tế

- Các mối quan hệ giữa con người với các thiết chế xã hội

MT có thể tác động và ảnh hướng lên con người như một tổng thể các yếu tố, trong

đó các thành tố hoà quyện với nhau tạo nên những hợp lực, những tác động tổng hợp Điều này cần được chú ý đầy đủ trong khi phân tích các mối quan hệ giữa MT với quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH

MT cũng có thể tác động và ảnh hưởng lên con người qua các tác động của từng thành phần, tác động này thường dễ phân biệt hơn Tuy nhiên, trong thực tế không thể có tác động riêng rẽ của từng thành phần trong sự biệí lập với các yếu tố khác Tuỳ theo từng trường hợp và điều kiện cụ thể mà một yếu tố nào đó tác động chủ yếu và người ta cho đó

là do tác động của các thành phần đó Trong phân tích và đánh giá vai trò của các dạng tài nguyên làm xuất phát điểm cho quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH cần đứng trên quan điểm tổng hợp, toàn diện và luôn biến đổi Cần có cách nhìn toàn diện trong phân tích và đánh giá vai trò của các dạng TN&MT Một dạng tài nguyên có thể được sử dụng trong nhiều hoạt động KT - XH khác nhau Ví dụ, các dãy núi đá vôi có thể sử dụng cho

4 mục đích khác nhau: Làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất xi măng; làm vật liệu xây dựng; làm cảnh quan du lịch; làm yếu tố cân bằng sinh thái

II Đ Ố I T Ư Ợ N G V À N H IỆ M v ụ C Ủ A K H O A HỌC M Ô I T R Ư Ờ N G• • • •

KHMT là ngành khoa học nghiên cứu mối quan hệ và tương tác qua lại giữa con người với thế giới sinh vật và MT vật lý xung quanh nhằm mục đích BVMT sống của con người trên Trái Đất Do đó, đối tượng nghiên cứu của KHMT là các MT trong mối quan

hệ tương hỗ giữa MT sinh vật và con người

Không giống.như sinh học, địa chất, hoá học, vật lý, là các ngành khoa học tìm kiếm việc thiết lập các nguyên lý chung về chức năng của thế giới tự nhiên, KHMT bản chất là một ngành khoa học ứng dụng, một dạng của các phương án giải quyết vấn đề; là sự tìm kiếm những giải pháp khắc phục các tổn thất MT Những nguyên lý của khoa học sinh thái, sinh học tập trung nghiên cứu các mối quan hệ tương hỗ giữa cơ thể sống và MT của chúng, là cơ sở và nền tảng của KHMT KHMT là khoa học tổng hợp, liên ngành, sử dụng và phối hợp thông tin từ nhiều lĩnh vực như: sinh học, hoá học, địa chất, thổ nhưỡng, vật lý, kinh tế, xã hội học, khoa học quản lý và chính trị, Đối tượng nghiên cứu của KHMT tập trung vào các nhiệm vụ:

- Nghiên cứu đặc điểm của các thành phần MT (tự nhiên hoặc-nhân tạo) có ảnh hưởng hoặc chịu ảnh hưởng bởi con người, nước, không khí, đất, sinh vật, HST (HST), khu công nghiệp, đô thị, nông thôn, Ở đây, KHMT tập trung nghiên cứu mối quan hệ và tác động qua lại giữa con người với các thành phần của MT sống

- Nghiên cứu công nghệ, kỹ thuật xử lý ô nhiễm bảo vệ chất lượng, MT sống của con người

9

Trang 12

- Nghiên cứu tổng hợp các biện pháp quản lý về khoa học kinh tế, luật pháp, xã hội nhằm BVMT và PTBV Trái Đất, quốc gia, vùng lãnh thổ, ngành công nghiệp.

- Nghiên cứu về phương pháp như mô hình hoá, phân tích hoá học, vật lý, sinh vật phục vụ cho 3 nội dung trên

Thực tế cho thấy, hầu hết các vấn đề MT là rất phức tạp và không chỉ giải quyết đơn thuần bằng khoa học, công nghệ, vì chúng thường liên quan và tác động tương hỗ đến nhiều mục tiêu và quyền lợi khác nhau

III CẮC CH Ứ C N Ă N G C H Ủ Y Ê U C Ủ A M Ô I T R Ư Ờ N G

Với sinh vật nói chung và con người nói riêng, MT sống có các chức năng chủ yếu sau:

3 1 Môi trường là không gian sinh sống cho con người và th ế giói sinh vật

Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động sống, như nhà ở, nơi nghỉ, đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, kho tàng, bến cảng, Trung bình mỗi ngày mỗi người đều cần khoảng 4m3 không khí sạch để hít thở; 2,5 lít nước để uống, một lượng lương thực, thực phẩm tương ứng với 2.000 - 2.400cal Như vậy, chức nãng này đòi hỏi MT phải có một phạm vi không gian thích hợp cho mỗi con người Không gian sống của xã hội loài người là Trái Đất Theo số liệu của Viện Thổ nhưỡng thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Bang Nga, tổng diện tích Trái Đất có khoảng 14,777 tỷ ha, trong đó có 1,527 tỷ ha đất đóng băng, còn lại là đất không đóng băng Trong 'số này có 12% là đất canh tác; 24% đất đồng cỏ; 32% đất cư trú, đầm lầy và 32% là đất rừng Đất canh tác ở các nước đang phát triển mới khai thác và sử dụng 36%, ở các nước công nghiệp phát triển đã khai thác và sử dụng 70% Nhưng do dân số thế giới tăng nhanh nên diện tích đất tự nhiên bình quân trên đầu người giảm dần Theo ước tính của các nhà dân số học trên thế giới thì 1 triệu năm trước Công nguyên, dân số trên thế giới có khoảng 125.000 người Sau 1 triệu năm vào nãm Thiên chúa giáng sinh (nãm 0 theo Công lịch), dân số thế giới mới đạt 200 triệu người Nhưng chỉ2.000 năm sau Công nguyên, dân số thế giới đã tăng từ 200 triệu lên hơn 6.000 triệu người

và dự tính đến năm 2010 sẽ lên tới 7.000 triệu người (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Tăng trư ởng dân số và thu hẹp đất tự nhiên trên đầu người

Trang 13

Tuy nhiên, diện tích không gian sống của con người ở nước ta đang ngày càng bị thu hẹp, bình quân đất canh tác nông nghiệp ở nước ta hiện nay khoảng 0,1 ha/người, trong khi đó bình quân đất nông nghiệp của Trung Quốc là 0,13ha và của thế giới là 0,27ha/người (bảng 1.2).

Bảng 1.2 Diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam

Binh quân đầu người (ha/người) 0,2 0,16 0,13 0,11 0,10 0,08Yêu cầu vé không gian sống của con người thay đổi theo trình độ khoa học và công nghẹ Trình độ phát triển càng cao thì nhu cầu về không gian sản xuất sẽ càng giảm Tuy nhiên, trong việc sử dụng không gian sống và quan hệ với thế giới tự nhiên, con người cần chú ý tới tính chất tự cân bằng (homestasis), nghĩa là khả năng có thể gánh chịu trong điều kiện khó khăn nhất của các HST Như vậy, MT là không gian sống của con người (hình 1.1) và có thể phân loại chức nãng không gian sống của con người thành các dạng

Nơi chứa đựng những phế thải con người tạo ra trong cuộc sống

Hình 1.1 Các chức năng chủ yếu của môi trư ờng

- Chức năng xây dựng: Cung cấp mặt bằng và nền móng cho các đô thị, khu công nghiệp, kiến trúc hạ tầng và nông thôn

- Chức năng vận tải: Cung cấp mặt bằng, khoảng không gian và nền móng cho giao thông đường thuỷ, đường bộ và đường không

- Chức năng sản xuất: Cung cấp mặt bằng và phông tự nhiên cho sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp

- Chức năng giải trí: Cung cấp mặt bằng, nền móng và phông tự nhiên cho việc giải trí ngoài trời của con người (trượt tuyết, trượt băng, đua xe, đua ngựa, )

3 2 Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời số n g và sản xuất của con người

Trong lịch sử phát triển, loài người đã trải qua nhiều giai đoạn Bắt đầu từ khi con người biết làm ruộng cách đây„khoảng 1 4 - 1 5 ngàn năm, vào thời kỳ đồ đá giữa cho đến

11

Trang 14

khi phát minh ra máy hơi nước vào thế kỷ thứ XVIII, đánh dấu sự khởi đầu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực Xét vể bản chất thì mọi hoạt động của con người để duy trì cuộc sống đều nhằm vào việc khai thác các HST của tự nhiên thông qua lao động cơ bắp„công cụ và trí tuệ (hình 1.2).

Hình 1.3 Trái Đất là nơi dự trữ nguồn tài nguyên cho con ngườii

Hình 1.2 Hệ th ô n g sinh thái của tự nhiên

Với sự hỗ trợ của các hệ thống sinh thái, con người đã lấy từ‘tự nhiên những nguiồn TNTN cần thiết phục vụ cho việc sản xuất ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu của mình Rõ ràng, thiên nhiên là nguồn cung cấp mọi

nguồn tài nguyên cần thiết (hình 1.3) Nó cung

cấp nguồn vật liệu, năng lượng, thông tin (kể cả

thông tin di truyền) cần thiết cho hoạt động sinh

sống, sản xuất và quản lý của con người

Nhu cầu của con người về các nguồn tài

nguyên không ngừng tăng lên cả về số lượng, chất

lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển

của xã hội

Chức nãng này của MT còn gọi là nhóm chức

năng sản xuất tự nhiên, gồm:

- Rừng tự nhiên: Có chức năng cung cấp

nước, bảo tồn tính ĐDSH và độ phì nhiêu của đất, nguồn gỗ củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái

- Các thủy vực: Có chức năng cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải trí và các nguồn hải sản

- Động và thực vật: Cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm

- Không khí, nhiệt độ, ánh sáng Mặt Trời: Để chúng ta hít thở, cây cối ra hoa và kết tr ái

- Các loại quạng, dầu mỏ: Cung cấp nãng lượng và nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp,

3 3 Môi trường là nơi chứa đựng các chất p h ế thải d o con người tạo ra trong cuộc số n g và hoạt động sản xuât

Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, con người luôn thải ra các chất thải vào> tự nhiên và chúng quay trở lại MT Tại đây, dưới tác động của các v s v và các yếu tố M T khác chất thải sẽ bị phân huỷ, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản và tham gia vào hàing loạt các quá trình sinh địa hoá Trong thời kỳ sơ khai, khi dân số nhân loại còn ít, các quá

12

Trang 15

trình phán huỷ tự nhiên làm cho chất thải sau một thời gian biến đổi nhất định lại trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên Dân số thế giới gia lăng nhanh chóng, quá trình CNI1, ĐTH làm số lượng chất thải tăng lên không ngừng dẫn đến chức năng này ở nhiều nơi, nhiều chỗ trớ nên quá tải, gây ô nhiễm MT Khả năng tiếp nhận và phân huỷ chất thải trong một khu vực nhất định được gọi là khả năng đệm (buffer capacity) của khu vực đó Khi lượng chất thải lớn hơn khả năng đệm, hoặc thành phần chất thải có nhiều chất độc,

v s v gặp nhiều khó khăn trong quá trình phàn huỷ thì chất lượng MT sẽ giảm và MT có thể bị ô nhiễm Có thê phân loại chi tiết chức nãng này thành các loại sau:

- Chức nãng biến đổi lý - hoá học: Pha loãng, phân huỷ hoá học nhờ ánh sáng; hấp thụ; sự tách chiết các vật thải và độc tố

- Chức nãng biến đổi sinh hoá: Sự hấp thụ các chất dư thừa; chu trình nitơ và carbon; khử các chất đôc bằng con đường sinh hoá

- Chức năng biến đổi sinh học: Khoáng hoá các chất thải hữu cơ, mùn hoá, amôn hoá, nitrat hoá và phản nitrat hoá,

3 4 Chức nảng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con ngưòi

MT Trái Đất có chức năng này bởi chính MT Trái Đất là nơi:

- Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người

- Cung cấp các chỉ thị không gian, tạm thời mang tính chất tín hiệu và báo động sớm các hiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên Trái Đất như phản ứng sinh lý của

cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa,

- Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động và thực vật, các HST tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để thưởng ngoạn, tôn giáo và văn hoá khác

IV P H Ư Ơ N G P H Á P T IẾ P CẬN T R O N G N G H IÊ N c ứ u V À G lẢ l Q U Y ÊT

N H Ữ N G V Ấ N Đ Ể M Ô I T R Ư Ờ N G

Để duy trì chất lượng MT hay nói đứng hơn là duy trì được cân bằng của tự nhiên, đưa tất cả các hoạt động của con người đạt hiệu quả tốt nhất, vừa phát triển kinh tế, vừa hài hoà với lự nhiên thì việc quy hoạch và quản lý lãnh thổ trên quan điểm sinh thái - MT

là giải pháp hữu hiệu nhất Theo yêu cầu của con người, các HST tự nhiên được phân thành 4 loại: HST sản xuất; HST bảo vệ; HST đô thị, khu công nghiệp và HST với các mục dích khác như giải trí, du lịch, khai thác mỏ, Quy hoạch sinh thái học cũng có nghĩa là sắp xếp và quản lý cân đối, hài hoà cả 4 loại HST đó (hình 1.4)

Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề MT chúng ta đang đối mặt hiện nay, vai trò của KHMT không chỉ dừng lại ở việc xác định các vấn đề, các bức xúc mà phải đề nghị

và đánh giá các phương án giải quyết tiềm năng

13

Trang 16

Hình 1.4 Quan hệ lãnh th ổ giữa 4 loại HST

Việc giải quyết thành công những vấn đề MT thường bao gồm 5 bước cơ bản sau:

Bước 1 Đánh giá khoa học: Giai đoạn trước tiên tập trung vào bất kỳ vấn đề MT nào

là sự đánh giá khoa học, thu thập thông tin, số liệu Các số liệu phải được thu thập và các thực nghiệm phải được triển khai để xây dựng mô hình có thể khái quát hoá được tình trạng Mô hình như vậy cần được sử dụng để đưa ra những dự báo về tiến trình tương lai của sự kiện

Bước 2 Phân tích rủi ro: Sử dụng các kết quả nghiên cứu khoa học như một công cụ,

nếu có thể tiến hành phân tích hiệu ứng tiềm ẩn của những can thiệp Điều gì sẽ xảy ra nếu hành động được kế tiếp, kể cả những hiệu ứng ngược thì hành động vẫn được xúc tiến

Bước 3 Giáo dục cộng đồng: Khi một sự lựa chọn cụ thể được tiến hành trong số

hàng loạt các hành động luân phiên thì phải thông tin đến cộng đồng Nó bao gồm giải thích vấn đề đại diện cho tất cả các hành động luân phiên sẵn có, thông báo cụ thể về những chi phí có thể và những kết quả của mỗi sự lựa chọn

Bước 4 Hành động chính sách: Cộng đồng tự bầu ra các đại diện lựa chọn tiến trình

hành động và thực thi hành động đó

Bước 5 Hoàn thiện: Kết quả của bất kỳ hoạt động nào phải được quan trắc một cách

cẩn thận và xem xét cả hai khía cạnh: Liệu vấn đề MT đã được giải quyết chưa? và điều

cơ bản hơn là đánh giá và hoàn thiện việc lượng giá ban đầu và tiến hành mô hình hoá vấn đề

V N H Ữ N G T H Á C H T H Ứ C V E M Ô I T R Ư Ờ N G T R Ê N T H Ể G IỚ I

5 1 Tình hình chung

Hiện nay., nhiều vấn đề MT đang diễn ra rất phức tạp ở tất cả các quốc gia trên thế giới Báo cáo tổng quan MT toàn cầu năm 2000 của Chương trình MT Liên hợp quốc (UNEP) viết tắt là "GEO - 2000" là một sản phẩm của hơn 850 học giả trên khắp thế giới, trên 30 cơ quan MT và các tổ chức khác của LHQ cùng phối hợp biên soạn Đây là một báo cáo đánh giá tổng hợp về MT toàn cầu khi bước sang một thiên niên kỷ mới GEO -

2000 tổng kết những gì chúng ta đã đạt được với tư cách là những người sử dụng và gìn giữ các hàng hoá và dịch vụ MT trong thế kỷ XX và những khó khăn khi loài người bước vào thế kỷ XXI Báo cáo đã khẳng định:

14

Trang 17

Thứ nhất' Các HST và sinh thái nhân văn toàn cầu bị đe doạ bởi sự mất cân bằng sâu

sắc trong năng suất và trong phân bố hàng hoá và dịch vụ Một tỷ lệ đáng kể nhân loại hiện nay vẫn đang sống trong sự nghèo khó và xu hướng được dự báo là sự khác biệt sẽ ngày càng tăng giữa những người thu được lợi ích từ sự phát triển kinh tế - công nghệ và những người không bền vững theo hai thái cực: Sự phồn thịnh và sự cùng cực đang đe doạ

sự ổn định của toàn bộ hệ thống nhân văn và cùng với nó là MT toàn cầu

Thử hài' Thế giới hiện đang ngày càng^biến đổi, trong đó sự phối hợp quản lý MT ớ

quy mô quốc tế luôn bị tụt hậu so với sự phát triển KT - XH Những thành quả về MT thu được nhờ công nghệ và những chính sách mới đang không theo kịp nhịp độ, quy mô gia tăng dân số và phát triển kinh tế ,

Thứ ba: Khoảng 71% với 361 triệu km2 bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi mặt nước

Vì vậy, đã có nhà khoa học để nghị thay vì gọi Trái Đất bằng "Trái Nước" Tuy nhiên, trong số đó chỉ có 2,5% là nước ngọt và chủ yếu lại ở dạng băng ở hai cực Bắc, Nam và trên các núi cao; lượng nước ngọt con người có thể sử dụng cho sản xuất và đời sống chỉ khoảng 0,26% Do đó, nước ngọt càng trở nên khan hiếm và dự báo sẽ nảy sinh những xung đột về nguồn nữớc trong thế kỷ XXI (khung 1.1)

Khung 1.1. Những xung đột liên quan tới nguồn nưỏc

Cuộc hội th ả o ờ C aen (năm 1999) về T hông điệp hoà bình với tên gọi đầy ý nghĩa “cuộc chiến

tran h về nước liệu có xảy ra không?” đã m ột lần nữa cho thấy nước là m ột trong những nguyên

n h ân chủ yếu gây ra các xung đột hiện nay Vấn để sử dụng nước trong các khu vực mà sự phát triển kinh tế và xã hội hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên nhỏ nhoi nhưng lại bị khai thác quá mức đã trở nên hết sức căng thẳng, và nước đã trở th àn h vũ khí chiến lược vô cùng

quan trọng, là mục tiêu tranh giành giữa các quốc gia ở thượng lưu và hạ lưu sông Tất nhiên,

cuộc thảo luận sẽ không bao giờ khép lại được giữa những người coi nước là nguồn gốc của các xung đột, và những người vốn coi trọng “ngoại giao nước ’, coi đây là m ột công cụ ngoại giao tuyệt vời để giải quyết xung đột và tranh chấp Dù theo quan điểm này hay quan điểm khác thì

thực tế vẫn chỉ là một: nước là trung tâm của các cuộc xung đột, trở thành một vũ khí đáng sợ,

là m ột trong những thách thức đối với an ninh quốc gia và là con đường bắt buộc để phát triển.

Ngày 31/03/2005, tức là sau 5 năm G EO-2000, tại Luân Đôn, một báo cáo nghiên cứu được thực hiện bởi 1.360 nhà khoa học của 95 quốc gia đã công bố với những cảnh báo hết sức nghiêm túc rằng 2/3 TNTN có ảnh hưởng tích cực tới cuộc sống của con người đã và đang bị huỷ hoại Các tác giả gọi hiện thực này là "một cảnh báo khắc nghiệt" đối với toàn thế giới Nghiên cứu khẳng định rằng, hành động của con người đang tạo ra sức ép lớn đối với cơ cấu tự nhiên của Trái Đất và do vậy có thể làm giảm khả năng duy trì sinh tồn của các hệ thống trong tương lai Những con số cụ thể được nêu trong báo cáo là:

- VI nhu cầu của con người về thức ăn, nước sạch, gỗ, vật liệu và nhiên liệu, nhiều vùng đã bị khai thác quá mức cho phép

- Nguồn nước sạch đã giảm đáng kể trong vòng 40 năm trở lại đây Con người hiện đang sử dụng 40 - 50% lượng nước sạch

15

Trang 18

- ít nhất 1/4 nguồn cá đã được khai thác một cách vội vàng Do vậy, ở một sô khu

vực, lượng đánh bắt cá hiện chỉ còn ở mức dưới 1% so với trước đây.

- Từ năm 1980, khoảng 35% thực vật đã bị biến mất, 20% dải san hô ngầm của thếgiới đã bị phá huỷ và khoảng 20% khác đang bị đe doạ

- Nạn phá rừng và những thay đổi khác có thể làm tăng bệnh sốt rét, dịch tả, mở đường cho những bệnh mới nguy hiểm xuất hiện mà từ trước đến nay chưa được biết đến.Một nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học Mỹ cho thấy, các khu vực có năng suất thấp nhất ở đại dương đang lan rộng với tốc độ nhanh hơn dự báo Trong khoảng thời gian từ năm 1998 - 2007, các vùng nước mặn nghèo thực vật bề mặt ở mức thấp tại Thái Bình Dương và Đại Tây Dương đã lan rộng với tốc độ 15% hay 6,6 triệu km2 Nhiệt độ Trái Đất ấm lên làm tăng sự phân tầng các vùng nước đại dương, ngăn cản sự vận chuyển chất dinh dưỡng ở tầng sâu lên lớp bề mật, làm hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của thực vật nổi

5 2 Những vấn đề m ôi trường chính trên th ế giới

5.2.1 Sự vận động tầm xa của các chất gây ô nhiễm

Mỗi ngày mỗi người trung bình thở 23.000 lần, hít vào khoảng 2.000 lít không khí.Không khí sạch cần cho sự sống của con người và hầu hết các sinh vật, nhưng do các

nguyên nhân tự nhiên và nhân sinh, không khí đã bị ô nhiễm ở nơi này hoặc nơi khác và

theo gió, theo mưa khuếch tán đi xa Chất gây ô nhiễm không khí có nguồn gốc khác nhau, tự nhiên và nhân sinh chứa các khí như SOx, c o , C 0 2 do núi lửa phun ra; NOx, bụi

do cháy rừng tự nhiên, bụi từ đất, bụi muối từ đại dương, khí mêtan (CH4) từ các đầm lầy, cánh đồng lúa Theo tính toán, lượng khí nhà kính trên toàn cầu quy ra C 0 2 được minh

h o ạ ở b ả n g l.3

Tất cả các chất này chủ yếu sinh ra từ những nước công nghiệp phát triển phát tán vào không khí qua đường bốc hơi và đốt cháy, trong đó, đốt cháy là nguyên nhân chính tạo ra các khí độc và bụi Nhiên liệu được đốt thường là các hydrocarbon, nếu cháy hết sệ thải ra C 0 2; nếu cháy không hết sẽ thải ra c o , các hydrocarbon, bụi và rất nhiều khí khác

và đây cũng là nguyêri nhân cơ bản làm biến đổi khí hậu Trái Đất

Bảng 1.3 Lượng khí nhà kính phát thải trên toàn cầu quy ra C 02

Ngành năng lượng (tiêu dùng nhiên liệu hoá thạch: than đá, dầu, khí

trong công nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt, ) 25,6 61

Thay đổi trong sử dụng đất (chủ yếu do phá rừng) 7,6 18

Nguồn: Ưỷ ban liên Chính phù về biến đổi khí hậu cùa LHQ (IPCC), 2006.

16

Trang 19

5.2.2 Sự suy giảm tầng ôzôn

Tầng ôzôn (O,) có vai trò bảo vệ, chặn đứng các tia sóng ngắn Bức xạ tia sóng ngắn như tia cực tím, có nhiều tác động mang tính chất phá huỷ đối với con người, động vật và thực vật cũng như các loại vật liệu khác Tầng ôzôn hiện đang suy thoái Lỗ thủng tầng ôzôn ở Nam Cực hiện nay rộng đến 20 triệu km2, gây ra nhiều tác động tới sinh thái và sức khoe con người Ví dụ, mức cạn kiệt tầng ôzôn là 10% thì mức bức xạ tia cực tím gây phá huỷ lăng 20% Bức xạ tia cực tím có thể gây hại cho mắt, làm đục thuỷ tinh thể và phá hoại võng mạc, gây ung thư da, làm tăng các bệnh về đường hô hấp (hình 1.5)

Đồng thời, bức xạ tia cực tím tăng lên được coi là nguyên nhân làm suy yếu hệ miễn dịch của con người và động vật, đe doạ đời sống của động và thực vật nổi trong MT nước sống nhờ quá trình chuyến hoá nãng lượng qua quang hợp để tạo ra thức ăn trong MT thuỷ sinh

Ôzôn là loại khí hiếm trong không khí, nằm trong tầng bình lưu khí quyển gần bề mặt Trái Đất và tập trung thành một lớp dày ở độ cao từ 16 - 40km phụ thuộc vào vĩ độ Phương tiện giao thông đường bộ có động cơ thải ra khoảng 30 - 50% lượng NOx ở các nước phát triển và nhiều chất v o c tạo ra ôzôn mặt đất Nếu không khí có nồng độ ôzôn lớn hơn nồng độ tự nhiên thì MT bị ô nhiễm và gây tác hại đối với sức khoỏ con người

Ví dụ: Nồng độ o , = 0,2ppm: Không gây bệnh

Nồng độ o , = 0,3ppm: Mũi, họng bị kích thích và bị tấy

Nồng độ o , = 1 - 3ppm: Gây mệt mỏi, bải hoải sau 2 giờ tiếp xúc

Nồng độ 0 3 = 8ppm: Nguy hiểm đối với phổi

Bảng 1.4 Tác động của O3 đối với thực vật

Loại cây Nồng độ 0 3

(ppm) Thời gian tác động Biểu hiện gây hạiCải củ 0,050 20 ngày (8h/ngày) 50% lá chuyển sang màu vầng

Nồng độ o , cao cũng gây tác động có hại đối với thực vật (bảng 1.4 và hình 1.6)

Hình 1.5 Người nhiễm bệnh 03 Hình 1.6 Tác động của O3 và tia tử ngoại đến thực vật

Trang 20

Gần đây, các nhà hoá học tại Đại học California, San Diego đã phát hiện thấy một phản ứng hoá học trong bầu khí quyển phía trên các thành phố lớn, từ lâu được xem là gây ỏ nhiễm không khí ở đô thị không đáng kể, thực tế lại là yếu tố quan trọng góp phần tạo ôzôn ở các đô thị, đó là thành phần chính của khói quang hoá (sương khói).

Nồng độ ôzôn tại các thành phố lớn đạt mức đỉnh điểm vào những giờ buổi trưa sau khi được hình thành qua một chuỗi phức hợp các phản ứng hoá học, bao gồm sự tương tác giữa ánh nắng Mặt Trời với hydrocarbon và nitơ ôxit sinh ra từ khói các phương tiện giao thông Sự hình thành ôzôn bắt đầu khi các gốc hydroxyl (OH) được tạo ra từ hơi nước Các gốc OH này tác dụng với hydrocarbon và các sản phẩm tạo ra kết hợp với nhau thông qua một chuỗi các phản ứng hoá học với nitric ôxit (NO) để tạo thành nitơ ôxit (N 0 2) và sau đó là ôzôn ( 0 3) Bằng các thử nghiệm Giáo sư Sinha đã phát hiện thấy một phản ứng hoá học khác cũng giữ vai trò quan trọng trong việc tạo thành gốc OH ở đô thị Cơ chế mới này gồm có phản ứng giữa hơi nước và N 0 2 trong trạng thái bị kích thích bởi dòng điện từ và hình thành khi N 0 2 hấp thụ ánh nắng Mặt Trời giữa các bước sóng từ 450 - 650nm Như vậy, ôzôn được tạo thành do tác động của ánh nắng Mặt Trời tới 2 loại chất

ô nhiễm, hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) bắt nguồn từ xăng dầu và các quá trình công nghiệp khác nhau; nitơ ôxit do các phương tiện giao thông và các nhà máy điện tạo ra Ôzôn trên mặt đất cũng thuộc loại khí nhà kính (khung 1.2)

Khung 1.2. Phát thải CO2 của phương tiện giao thông ỏ Mỹ

Người Mỹ chiếm 5% dân số th ế giới nhưng sử dụng gần 1 / 3 số xe cộ trên th ế giới, dẫn đến việc thải ra gần 1 /2 số khí C 0 2 vào khí quyển mỗi năm Xe hơi của Mỹ thải C 0 2 nhiều hơn 15% và phải chạy trên đường nhiều hơn do nước Mỹ rộng lớn.

Theo những số liệu mới nhất của nhóm nghiên cứu u c San Diego, phương pháp tạo thành gốc OH này diễn ra với tốc độ nhanh gấp 10 lần so với tính toán trước đây Vì bức

xạ có phạm vi bước sóng từ 450 - 650nm thực tế không xuyên qua được tầng khí quyển thấp nhất như bức xạ cực tím có bước sóng gần 320nm sinh ra các gốc OH từ hơi nước và ôzôn nên Sinha và các nhà khoa học khác về khí quyển cho rằng có thể bức xạ này có vai trò chủ yếu trong việc hình thành khói quang hoá

Tháng 3/2008, Cơ quan BVMT của Mỹ (EPA) đã quy định tiêu chuẩn nồng độ ôzôn trung bình trên mặt đất ở thành phố trong thời gian 8h là 84ppb (phần tỷ) Cơ quan này đang xem xét để đưa nồng độ chuẩn xuống dưới 75ppb Theo các đánh giá, nếu ôzôn trong khoảng nồng độ từ 70 -75ppb sẽ có hàng trăm người chết, hàng nghìn người phải nhập viện

và hàng trăm nghìn trẻ em không được đến trường

Các chất làm cạn kiệt tầng ôzôn (ODS - Ozon Depletion Substances) bao gồm: Cloruafluorocarbon (CFC); mêtan (CH4); các khí nitơ ôxit (NOz, NO, NOx) có khả năng hoá hợp với 0 3 và biến đổi nó thành ôxi Nghị định thư Montreal và các văn bản sửa đổi của Nghị định thư đã dự đoán rằng, tầng ôzôn sẽ được phục hồi so với trước những năm

1980 vào năm 2050 (khung 1.3)

Trang 21

Khung 1.3. Tầng ôzôn tiếp tục gặp nguy hiểm

Nhìn chung, có tới 30% tầng ôzôn đã bị phá huỷ Các điều kiện lạnh giá sẽ tạo ra các đám mây

bình lưu ở vùng cực, số lượng nhiều hơn gấp 4 lần trong năm 2 0 0 5 so với những năm thập kỷ 60

và 70 Pyle cho biết, tốc độ hoà trộn không khí ở bán cầu Bắc nhan h hơn nhiều so với ở bán cầu Nam, do vậy ở đây không có lỗ thủng tầng ôzôn Nhưng trong mùa xuân, do không khí được hoà

trộn nên tầng ôzôn chỉ mỏng đi trên toàn bán cầu Bắc Điều này có nghĩa là chúng ta nhận được ít

sự bảo vệ từ thiên nhiên hơn chúng ta đã từng được hưởng và chúng ta cần phải thận trọng khi tiếp xúc với ánh nắng Mặt Trời.

Các nhà khoa học châu Âu đã phát hiện ra một nguồn ô nhiễm cho tới nay chưa được biết đến đã thải ra axit nitric - một chất khí góp phần tạo sương mù trên các thành phô' rực nắng Khi có ánh sáng, NOx phát sinh từ sự đốt cháy của các động cơ xe hơi, nhà máy nhiệt điện và các hệ thống sưởi, phản ứng với các chất ẩm, hợp chất hữu cơ phân huỷ thành chất mùn để tạo thành chất khí gây ô nhiễm này Các chất ẩm xuất phát từ sự phân huỷ chất hữu cơ có mặt ở khắp mọi nơi trên bề mặt Trái Đất Theo các nhà nghiên cứu, sự phát thải dư thừa axit nitric có thể tác động mạnh đến tầng đối lưu, lớp không khí thấp nhất, dày đặc nhất và ô nhiễm nhất của khí quyển Người ta đã biết từ nhiều năm nay rằng, sự phân huỷ của axit nitric bởi ánh sáng sẽ phóng thích các gốc hydroxyl ảnh hưởng đến chu kỳ sản xuất của khí ôzôn và đây có thể là nguyên nhân thải ra phần nửa các gốc hydroxyl Khác với khí ôzôn tầng bình lưu là đem lại lợi ích do có khả năng lọc tia cực tím phát ra từ Mặt Trời, ôzôn tầng đối lưu là nguồn gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng

Nó góp phần tạo sương mù quang hoá màu vàng nhạt, kích thích các màng nhày, mắt, đường hô hấp và thường xuất hiện ở những thành phố đầy nắng (khung 1.4)

Khun g 1.4. Bài học về mồi trưòng của Băng Cốc, Thái Lan

C ách đây 10 năm , Băng Cốc - thủ đô của Thái Lan là m ột trong những thành p h ố bị ô nhiễm rất

nặng do khói đen từ các nhà máy và xe cộ xả vào bầu không khí Đến nay, bầu trời Băng Cốc đang

trong xanh trở lại và thành p h ố này được xem n h ư m ột kiểu m ẫu th ành công trong việc cải thiện và BVMT Đó là do kể từ năm 199 1, Thái Lan đă tiến hành di dời các nhà máy công nghiệp dùng nhiều nhiên liệu gây ô nhiễm ra khỏị Băng Cốc; loại bỏ dần chì, sunfua và các chất độc hại khác ra khỏi xăng dầu; thường xuyên phun rửa thành p h ố để giảm bụi nội đô; chuyển đổi các lò hoả táng bằng củi sang lò đốt bằng điện và trồng thêm 4 0 0 0 0 0 cây xanh H iện nay, 70% lượng điện sản xuất ra của Thái Lan là từ^iguốn khí đốt tự nhiên, ít gây ô nhiễm hơn nhiều so với dùng than.

5.2.3 Sự vận chuyển xuyên biên giới sản phẩm và chất thải nguy hại

Chất thải nguy hại như các chất phóng xạ, hoá chất BVTV, các kim loại nặng, rác thải bệnh viện, được thải bỏ trong quá trình sản xuất ở các nước công nghiệp phát triển

Ví dụ, chất thải điện tử thùộc loại chất thải nguy hại đang tăng rất nhanh ở các nước EU, tới 5%/năm, gấp 3 lần so với mức tăng trung bình của chất thải sinh hoạt Mỗi năm, một người dân EU tạo ra 17 - 20kg chất thải điện tử, gồm chất thải điện, điện tử, kim loại nặng, các hoá chất công nghiệp Thay vì phải chôn lấp ở trong nước - nơi sản sinh ra chúng rất lốn kém thì họ lại vận chuyển và đổ bỏ sang các nước đang phát triển và chậm

19

Trang 22

phát triển, đỡ tốn kém hơn và biến những nước này thành bãi rác Tinh trạng nhập khẩu trái phép chất thải vào nước ta dưới hình thức phế liệu làm nguyên liệu sản xuất trong nước, kế cả thiết bị công nghiệp lạc hậu dẫn đến nguy cơ biến nước ta thành bãi rác thải

*1' ' ‘ cồng righiệp.Tròrìg ‘5 hầm gầri 'đây đẵ có hờri 3.500 òốntàihè ắcỉ ‘quy chì àxit đã qua sử dụng nhập khẩu vào Việt Nam qua các cửa khẩu quốc tế Chỉ tính riêng trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến tháng 2/2006 đã có 2.278 containe có trọng lượng 36.618 tấn ắc

quy chì phế thải được nhập khẩu qua cảng Hải Phòng dưới dạng "tạm nhập, tái xuất"

Ngoài ra, hàng nghìn tấn phế thải trá hình dưới hình thức phế liệu để tái chế thành nguvên liệu sản xuất, trong đó có không ít chất thải nguy hại cũng được nhập khẩu công khai vào nước ta (khung 1.5)

Khung 1.5. Ăc quy chì axit p h ế thải là chất thải nguy hại

T hành phần chính tạo nên ắc quy chì axit gồm: các bản điện cực bằng chì kim loại phủ ôxit chì, axit sunfuric, vỏ nhựa Sau một thời gian sử dụng, m ột phần bản cực bị phá huỷ tạo thành một

lớp bùn ở đáy bình, dung dịch axit sử dụng trong ắc quy có tính ăn m òn rất m ạnh nếu bị rò rỉ mà không được xử lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm MT đất, nước, làm chết cây cối, sinh vật ở những nơi

nước chảy ra Ngoài ra, bột chì kim loại và ôxit chì cũng là những chất rất độc đối với sức khoẻ con người và các loài sinh vật.

Ngày 8/9/2006, Bộ TN&MT đã ra Quyết định số 12/2006/QĐ-BTNMT về việc ban hành danh mục phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất Danh mục có 20 loại phế liệu được chia nhóm theo tên gọi và mô tả rõ từng loại Cụ thể:

- Phế liệu, mảnh vụn sắt, thép là các đoạn thanh, đoạn ống, đầu mẩu, đầu tấm, đầu cắt, phoi, sợi, mảnh vụn bằng sắt hoặc thép được loại ra từ quá trình sản xuất

- Nhóm đồng, niken, nhôm, kẽm phế liệu và mảnh vụn

-N h ó m chì, thiếc, vonfram, molypden, magie, titan, ziricon, antimon, mangan, crôm phế liệu và mảnh vụn: Đoạn thanh, đoạn ống, đầu mẩu, đầu tấm, đầu cắt, sợi, mảnh vụn bằng các kim loại tương ứng với các phế Liệu liệt kê được loại ra từ quá trình sản xuất, chưa qua sử dụng

- Thuỷ tinh vụn, thuỷ tinh phế liệu, mảnh vụn thuỷ tinh được nhập khẩu, trừ thuỷ tinh từ bóng đèn hình máy thu hình, bóng đèn hình máy tính, bóng đèn huỳnh quang và các loại thuỷ tinh hoạt tính khác

- Giấy loại hoặc các tông loại (phế liệu và vụn thừa): Giấy lề, các tông dạng mảnh vụn chưa qua sử dụng; giấy, các tông được lựa chọn, thu hồi từ sản phẩm đã qua sử dụng hoặc phế phẩm chưa qua sử dụng

- Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa): Nhựa dạng khối, cục, thanh, ống, tấm, sợi, mảnh được loại ra từ quá trình sản xuất

- Thạch cao tổng hợp được tinh chế sơ bộ từ canxi sunfat thu được từ quá trình khử lưu huỳnh trong khí thải sau khi đốt nhiên liệu hoá thạch; không chứa các chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép theo TCVN

20

Trang 23

5.2.4 Sự ỏ nhiẻm môi trường

Sự phát triển đô thị, KCN, du lịch và việc đổ bỏ các loại chất thải vào đất, biển, các thuv vực đã gày ô nhiễm MT ờ quy mỏ ngày càng rộng, đặc biệt là các khu đô thị o nhiễm không khí, rác thải, chất thải nguy hại, ô nhiễm tiếng ồn và nước đang biến những khu vực này thành các điểm nóng về MT Khoảng 30 - 60% dân số đô thị ở các nước có thu nhập thấp vẫn còn thiếu nhà ở và các điều kiện vệ sinh Sự phát triển kinh tế nhanh ở châu Á đã biến châu lục này thành một trong những nơi ô nhiễm nhất thế giới Theo báo cáo tại Hội nghị Yogyakarta, Indonesia tháng 12/2006 của 20 quốc gia châu Á, trung bình mỗi năm có hơn 500.000 người bị chết do ô nhiễm không khí Kết quả nghiên cứu ở

22 thành phô châu Á đã đưa ra phát hiện quan trọng là nồng đô bụi hạt nhỏ như PM10 và PM2,5 ờ các thành phố như Bắc Kinh; Dhaka; Hà Nội; Tp Hồ Chí Minh; Jakarta; Kathmưandu; Kolkata; New Dehhi và Thượng Hải đang ở mức nghiêm trọng Những hạt bụi nhỏ này đi vào phổi và lưu lại một thời gian Còn theo số liệu của WHO nãm 2006 thì hiện nay mỗi nãm trên toàn cầu có khoảng 800.000 người chết non do ô nhiễm khôngkhí, trong đó riêng ở châu Á chiếm tới 500.000 - 600.000 người Đặc biệt, do quá trình

"ô tô hoá" và CƯ giới hoá ờ các đô thị châu Á, lượng phát thải S 0 2; NOx trong không khí

tãng cao và nồng độ khí ôzôn (O-,) trong tầng đối lun, thành phần chính chứa irong khói hoá dầu sẽ tăng cao, nếu các phương tiện giao thông đô thị tiếp tục tăng cùng với bụi mịn (khung 1.6)

Khung 1.6. Ô nhiễm môi trường không khí ảnh hưởng rất lởn đến trẻ em

M ột nh ó m bác sĩ P h áp và Đức đã khẳng định: bầu không khí ô nhiễm không chỉ gây tác hại cho các bà m ẹ mà cho cả các em bé chưa chào đời H ọ đã tiến hàn h nghiên cứu hơn 1 0 0 0 bà mẹ

cùng các bé sinh ra tại Munich và 4 0 khu p h ố khác nhau ở Bayern bằng cách đo độ ô nhiễm ở

từng khu phố, đặc biệt tại những nơi có nhiều xe cộ chạy bằng dầu diesel Ngoài ra, các bà mẹ cũng được hỏi vể thói quen sinh hoạt, hút thuốc, c h ế độ ăn uống thường ngày hoặc những đặc điểm vể sức khoẻ khác của mình Kết quả cho thấy, m ột bà m ẹ hít nhiều khí ô nhiễm , đặc biệt là các p h ân tử khí thải từ khói xe chạy bằng diesel, sẽ sinh ra m ột em bé n h ẹ cân.

N g u ồ n : T ạp chí BVMT, số 99, 2 0 0 7

5.2.5 Sự suy giảm tính ĐDSH trên Trái Đất

Các loài động, thực vật qua quá trình tiến hoá hàng trăm triệu năm đã và đang góp phần quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng MT sống trên Trái Đất, ổn định khí hậu, làin sạch các nguồn nước, hạn chế xói mòn đất, làm tăng độ phì nhiêu đất Sự đa dạng của

tự nhiên cũng là nguồn vật liệu quý giá cho các ngành công nghiệp, dược phẩm, du lịch, là nguồn thực phẩm lâu dài của con người, và là nguồn gen phong phú để tạo ra các giống loài mới ĐDSH đang bị suy giảm mạnh mẽ Chỉ riêng rừng nhiệt đới mỗi năm đã làm mất

đi 17.500 loài, nghĩa là cứ 7 phút thì có một loài bị tiêu diệt Các nhà cổ sinh học đã tính rằng, trong lịch sử tiến hoá trước đây của sinh vật thì cứ trong lèhoảng thời gian 2 - 1 0 năm

có từ hai loài bị tiêu diệt, thế mà chỉ tính từ năm 1600 đến nay đã thống kê có 162 loài chim và 100 loài thú bị tiêu diệt; 255 loài thú khác có nguy cơ bị tiêu diệt (khung 1.7)

21

Trang 24

Khung 1.7. Biến đối khí hậu đang đe doạ HST vùng cực

Vùng đỊa cực đang trải qua những đợt BĐKH nhanh chóng và m ãnh liệt n hất trên Trái Đất Trong

th ế kỷ XX, nhiệt độ không khí Bắc Cực tăng khoảng 5 ° c , nhanh hơn 10 lần so với nhiệt độ bề m ặt

toàn cầu Các loài và quần xã ở vùng cực đã phát triển với sự thích nghi đặc biệt với những điều kiện khắc nghiệt chỉ ở vùng cực mới có, vì th ế chúng dễ bị tổn thương với những biến đổi của thời tiết Ví

dụ như loài hải mã, gấu Bắc Cực, hải cẩu và các loài động vật biển có vú khác n h ờ vào những tảng băng biển để nghỉ ngơi, ăn uống, sinh sản Ngoài ra, sự giảm sút phạm vi ph ân bố của băng biển

được cho là nguyên nhân của việc suy giảm 50% số chim cánh cụt hoàng đ ế ở Terre Adelie.

Khu vực các quốc gia ASEAN mặc dù chỉ chiếm 3% diện tích bề mặt Trái Đ ất nhưng là nơi cư trú tự nhiên của 40% loài động, thực vật, là nơi cư trú của 1/3 rạn san

hô trên thế giới (284.000km2) và hiện là 7 trong số 25 điểm nóng về ĐDSH của th ế giới Trong số 64.800 loài được biết đến ở khu vực này có tới 1.312 loài đang bị nguy hiểm ASEAN có 3 nước có tính ĐDSH rất cao là Indonesia, M alaysia và Philippines Theo Rodrigo u Fuentes, Giám đốc điều hành Trung tâm ĐDSH ASEAN (2008), tỷ

lệ phá rừng ở khu vực này ít nhất cao gấp 2 lần các khu vực nhiệt đới khác Việc chuyển đổi những cánh rừng sang đất nông nghiệp là nguyến nhân chính gây mất ĐDSH Nếu tốc độ phá rừng như hiện nay cứ tiếp dẫn, đ.ến thế kỷ tới ASEAN sẽ m ất gần 3/4 độ che phủ rừng và 42% ĐDSH Fuentes cảnh báo "Sự suy giảm và tuyệt chủng các loài sẽ diễn ra trên quy mô rộng lớn làm mất ĐDSH và có thể gây ra ảnh hưởng lớn tới an ninh lương thực, nơi cư trú, nguồn dược liệu và tài nguyên duy trì sự sống Việc săn bắn và buôn bán ĐVHD làm thực phẩm, thú cảnh và dược phẩm cũng góp phần làm mất ĐDSH ở ASEAN" Ở Sarawak, tới 2,6 triệu động vật bị sãn bắt m ỗi năm làm thực phẩm cho các nhà hàng, trong khi ở Sabah, 108 triệu động vật phải gánh chịu số phận tương tự Năm 2002, Indonesia đã đóng góp khoảng 29% mặt hàng da rắn và da thằn lằn xuất khẩu trên 'toàn cầu Nhìn chung, ĐVHD được khai thác từ những cánh rừng cao hơn mức bền vững 6 lần Môi trường biển ở trong tình trạng không tốt, gần 80% rạn san hô trong khu vực bị nguy hiểm do các phương thức đánh bắt huỷ diệt và tẩy trắng san hô Suy giảm ĐDSH ảnh hưởng tới bào chế các loại dược phẩm mới: Các loại thuốc mới bào chế từ thiên nhiên và các chất kháng sinh để điều trị ung thư có thể bị mất đi, trừ phi thế giới có các hành động nhằm ngăn chặn suy giảm ĐDSH Đó là kết luận của một cuốn sách mới có tên gọi "Sự sống bền v ữ n g "

Đó là chất hoá học trong các loài ếch, gấu và cây thông Tác giả cuốn sách cảnh báo suy giảm các loài do biến đổi khí hậu và ô nhiễm sẽ ảnh hưởng lớn đến ngành cõng nghiệp dược phẩm Ví dụ, họ ếch cơ được tìm thấy ở‘các khu rừng mưa Australiai từ thập kỷ 80 nuôi con trong dạ dày của con mẹ bằng các enzyme mà chính các enzy me này bào chế để chữa trị các vết lở loét ở người Nhưng loài ếch này đang trên đường tuyệt chủng Tác giả Eric Chivian và Aron thuộc Trung tâm nghiên cứu của trường Đại học Y khoa Harvard nhấn mạnh: những bí mật y học mà các loài này mang th eo

sẽ biến mất vĩnh viễn Các tác giả đã nêu ra 7 nhóm đặc hữu dễ bị tổn thương truíớc

22

Trang 25

nhu cầu sản xuất dược liệu gồm: nhóm lưỡng cư, gấu, ốc cối, cá mập, linh trưởng, bọ

ba thuỳ và thực vật hạt trần gồm thông và cây lá quạt Tách chiết các chất độc từ loài ếch độc Panama dùng để điều trị bệnh tim, thuốc giảm đau được tạo ra nhờ loài ếch độc Êcuađo, các hợp chất kháng khuẩn lấy từ da của loài ếch vàng có móng ở Châu

Phi (African Clawed Frog), các hợp chất của loài cóc lớn có màng chân ở Trung Quốc (Large-W ebbed Bell T oad) có tác dung làm giãn mạch và có thể điều trị bệnh huyết áp

cao Chất nhày ở da ếch có thể giúp tái tạo sụn và các mô bị tổn thương ơ người Nhưng BĐKH đã làm giảm nơi cư trú và gây ra những đột biến ở các loài ếch

Nhóm lưỡng cư đặc biệt rất nhạy cảm, loài ốc cối sống chủ yếu trong các rạn san hô, một peptit vỏ của loài ốc này có hiệu lực gấp hơn 1.000 lần so với moocphin; các thử nghiệm y học cho thấy, chúng có khả năng giảm đau cho các bệnh nhân bị ung thư Một peptit từ họ ba thuỳ cho thấy tiềm năng trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt và ung thư

vú Những người mà trọng lượng xương giảm do nằm nhiều có thể hy vọng vào các loài gấu ngủ đông để tái tạo xương mới nhờ sử dụng một chất điều trị xương gãy và chứng loãng xương Cây lá quạt có thể chống lại bệnh Alzheimer và gan cá mập có thể dùng sản xuất kháng sinh (khung 1.8)

Khung 1.8. Triển lãm giáo dục lưu động về buôn bán động vật hoang dã

N gày 1 4 / 0 9 / 2 0 0 6 , T ổ chức bảo vệ ĐVHD tại Việt N am và m ạng lưới giám sát buôn bán

độ n g , thực vật h o a n g dã (TRAFFIC) đã tổ chức triển lãm giáo dục lưu động về buôn bán ĐVHD tại trường T H C S N gô Q uyền, H à Nội n hằm nâng cao n h ận thức về tiêu thụ không bền vững các loài ho an g dã.

T h eo kết quả khảo sát của TRAFFIC về tiêu thụ các loài hoang dã tại H à Nội, gần 50% người dân

đã sử dụng các sản phẩm ĐVHD làm m ón ăn đặc sản chiếm 82% , tiếp đến là để làm thuốc chiếm 50% Ong Sulma, đại diện của tổ chức TRAFFIC tại Đ ông Dương cho biết, triển lãm lưu động là

"một kinh nghiệm độc đáo và lý thú, nó sẽ giúp thay đổi cách suy nghĩ 'của trẻ em về hành vi tiêu thụ động, thực vật ho ang dã và các sản phẩm của ch ú n g ”.

5.2.6 Sự gia tăng dân số

Sự gia tãng dân số hiện nay ở một số nước đi đôi với đói nghèo, suy thoái MT và tình hình kinh tế bất lợi đã gây ra xu hướng mất cân bằng nghiêm trọng giữa dân số và MT Theo số liệu của các nhà dân số học trên thế giới, 1 triệu nãm trước Công nguyên, dân số trên Trái Đất chỉ có 125.000 người Sau 1 triệu năm, vào năm Thiên chúa giáng sinh (năm

0 theo Công lịch) dân số thế giới mới đạt 200 triệu người Đầu thế kỷ XIX, dân số thế giới mới có 1 tỷ nhưng đến năm 1927 tăng lên 2 tỷ; năm 1960: 3 tỷ; nãm 1974: 4 tỷ; năm 1987: 5 tỷ và năm 1999 là 6 tỷ, trong đó trên 1 tỷ người trong độ tuổi từ 15 - 24 tuổi Mỗi năm dân số thế giới tăng thêm khoảng 78 triệu người Theo dự tính đến năm 2010, dân số thế giới sẽ là 7 tỷ, đến năm 2020 sẽ là 8 tỷ người và năm 2050 sẽ là 10,3 tỷ người (bảng 1.1 và hình 1.7)

23

Trang 26

Dân số thế giới đạt mức nào tuỳ thuộc vào sự cam kết của cộng đồng thế giới.

Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICDP) đưa ra kế hoạch hành động 20 năm được các nước tán thạnh Tới năm 2001 đã có cơ sở tin rằng, dân số thế giới năm 2050 sẽ thấp hơn kịch bản (9,8 tỷ người) Nếu thực hiện hiệu quả các mục tiêu vể dân số, sức khoẻ, giáo dục và phát triển thì dân sô' năm 2050 có thể thấp hơn mức 7,9 tỷ người (kịch bán 1)

Kịch bản 1: Đến năm 2050, dân số thế giới là 7,9 tỷ người (tương đương có thêm 3 châu Phi mới).

Kịch bản 2: 9,8 tỷ người Kịch bản 3: 11,9 tỷ người.

5.2.7 Sự suy giảm các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn tài nguyên rừng

Rừng, đất rừng và đồng cỏ hiện vẫn đang bị suy thoái hoặc bị triệt phá mạnh mẽ, đất hoang bị biến thành sa mạc Sự phá huỷ rừng vẫn đang diễn ra với mức độ cao, trên thế giới diện tích rừng có khoảng 40 triệu km2, song cho đến nay diện tích này đã bị mất đi một nửa, trong số đó, rừng ôn đới chiếm khoảng 1/3 và rùmg nhiệt đới chiếm 2/3 Theo FAO (20(07), chỉ trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, thế giới đã bị mất 93,91 triệu ha rừng, góp 25% vào các nguyên nhân gây BĐKH (riêng châu Âu tăng 8,81 triệu ha) (khung 1.9)

Khung 1.9. FAO kêu gọi hợp tác bảo vệ rừng nguyên sinh

Ngày 1 9 /0 4 / 2 0 0 4 , T ổ chức N ông nghiệp và Lương thực LH Q (FAO) đã lên tiếng kêu gọi các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương tăng cường nỗ lực h ợ p tác nhằm kịp thời ngăn chặn nạn phá rừng ngày càng gia tăng ở khu vực này Phát biểu tại phiên khai mạc hội nghị của u ỷ ban

Rừng châu Á - Thái Bình Dương, tổ chức ở Nadi (Phigi), FAO đã nhấn m ạnh tới vai trò k h ô n g thể

thiếu được của rừng trong nỗ lực XDGN, bảo tốn DDSH và làm sạch nguồn nước. _

Trang 27

254 người/km2 với khoảng 20% số hộ ở mức nghèo đói Hiện nay, với chủ trương lớn của Đủng và Nhà nước trong nông nghiệp là điều chỉnh cơ cấu sản xuất, phát triển khoa học công nghệ và xúc tiến thị trường, trong đó thị trường là vấn đề xuyên suốt, là cơ sở để chuyển dịch

cơ cấu, là căn cứ để định hướng cho khoa học và công nghệ nhằm đưa nông nghiệp nước ta trở thành ngành sản xuất hàng hoá hướng ra xuất khẩu, phát triển về chất, tăng trưởng cao, hiệu quả và cạnh tranh bền vững

Những nãm gần đây, do áp dụng các tiến bộ về kỹ thuật thâm canh, tăng vụ, mở rộng diện tích canh tác và mạng lưới tưới tiêu, đa dạng hoá cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá đã làm cho sản lượng lương thực tăng nhanh, không những chỉ đảm bảo an ninh lương thực, có dự tr.ữ mà còn xuất khẩu một lượng lớn Năng suất và sản lượng lúa tăng không ngừng qua các năm (bảng 1.5)

Bảng 1.5 Diện tích và sản lượng lúa qua các năm

Năm Tổng diện tích (nghìn ha) Tổng sản lượng (nghìn tấn)

Nguồn: Niên giám thống kê, 2006.

Bên cạnh đó, ở nông thôn Việt Nam đã phát triển nhiều ngành, nghề khác như công nghiệp nhỏ, các làng nghề, các trung tâm công nghiệp nông thôn phân bố rải rác khắp các huyện, xã.Hoạt động nông nghiệp cùng với những hoạt động dịch vụ, sinh hoạt đã làm xuất hiện nhiều vấn đề MT có tính chất đan xen lẫn nhau và ở nhiều nơi, nhiều chỗ đã và đang trở thành gay gắt, bức xúc

Trang 28

Vậy như thế nào được xem là vấn đề MT bức xúc? Có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng

có thể dựa vào 3 tiêu chí chính sau:

Thứ nhất, vấn đề gây tác động mạnh mẽ và lâu dài đến các HST nông nghiệp và nòng

thôn Nó hạn chế tính năng sản xuất của các thành phần MT, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, cản trở sự PTBV

Thứ hai, vấn đề có tính phổ biển rộng,s len lỏi trong mọi hoạt động sản xuất và sinh

hoạt thường nhật của người dân nông thôn

Thứ ba, tác động xấu đến sức khoẻ cộng đồng nông thôn và hậu quả của vấn đề mang

tính lâu dài, không những đối với thế hệ hiện tại mà cả thế hệ mai sau

Căn cứ vào các tiêu chí trên, các vấn đề MT bức xúc nhất ở nông thôn Việt Nam hiện nay là:

6 1 Nước sạch và vệ sinh m ôi trường nông thôn

Theo báo cáo điều tra VSMT nông thôn toàn quốc năm 2006 của Cục Y tế dự phòng,

Bộ Y tế thì nguồn nước giếng khoan và giếng khơi chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu nguồn nước ăn uống, sinh hoạt chính ở nông thôn Việt Nam (33,1% và 31,2%) Các nguồn nước khác chiếm tỷ lệ thấp hơn, trong đó nước máy chỉ chiếm 11,7%; suối đầu nguồn là 7,5% và sông, ao, hồ là 11% Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy, ở các tỉnh miền núi (miền núi phía Bắc và vùng cao nguyên Trung Bộ) vẫn còn hiện tượng thiếu nước sinh hoạt Ở những vùng này do địa hình cao, người dân lại phụ thuộc vào nguồn nước từ sông suối, ao hồ nên vào mùa khô thường thiếu nước dùng Thói quen sử dụng nước sông suối, ao, hồ vẫn chưa thể xoá bỏ được trong sinh hoạt của người dân vùng nông thôn Tinh hình cấp nước sinh hoạt theo vùng được thể hiện ở bảng 1.6

Bảng 1.6 Tình hình cấp nước sinh hoạt theo vù n g tính đến năm 2005

Vùng Số dân được cấp nước (người) Tỷ lệ (%)

Nguồn: Trung tâm NS&VSMT nông thôn, 2006.

Liên quan đến chất lượng nước, các biện pháp xử lý nước được các hộ gia đình sử dụng nhiều nhất là lọc nước (20,8%), tiếp theo là để lắng (18,6%), đánh phèn (8,4%) Biện pháp sử dụng hoá chất và các biện pháp khác được sử dụng rất ít Loại nguồn nước

26

Trang 29

được người dân quan tâm xử lý nhiều nhất trước khi đưa vào sử dụng là nước sông, ao, hồ (74,7%); nước mưa (60,4%) và nước giếng khoan (50,1%).

Hầu hết giếng khơi không được xử lý trước khi đưa vào sử dụng, tuy nguồn nước này được coi là sạch nhưng vẫn có nguy cơ ô nhiễm vi sinh, đặc biệt với những giếng được xây dựng gần nguồn gây ô nhiễm như nhà tiêu, chuồng gia súc, hoặc không có thành chắn, hoặc có vũng nước đọng quanh giếng Kết quả điều tra của Cục Y tế dự phòng cũng cho thấy, năm 2006 chỉ có 15,6% hộ gia đình được tiếp cận với nguồn nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn vộ sinh cả về vi sinh và hoá lý theo Quyết định 09/2005/QĐ-BYT Số liệu điều

- tra cũng cho thấy, khoảng một nửa các bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc cao nhất là những bệnh có liên quan đến NS&VSMT (bảng 1.7)

Bảng 1.7 Tình hình mắc bệnh và tử vong do m ột số bệnh truyểri nhiễm

liên quan đến NS&VSMT

Nguồn: Niên giám thống kê bệnh truyền nhiễm 2001 - 2006, Bộ Y tế, 2007.

Ô nhiễm MT nước tác động trực tiếp đến sức khoẻ, là nguyên nhân gây các bệnh như tiêu chảy, tả, thương hàn, giun sán, Các bệnh này gây suy dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu Sắt, kém phát triển, gây tử vong nhất là ở trẻ em Có đến 88% trường hợp bệnh tiêu chảy

là do thiếu nước sạch, VSMT kém (khung 1.10)

Khun g 1.10. Đánh giá và lượng hoá gánh nặng bệnh tật do các yếu tố MT

N gày 1 2 / 0 9 / 2 0 0 6 , tại H à Nội, Cục BVMT tổ chức hội thảo "Đánh giá và lượng hoá gánh nặng bện h tật do các yếu tố MT" nhằm thu th ập ý kiến tư vấn của các chuyên gia, các nhà quản lý, các

n h à khoa học về vấn đề này TS Peter Furu, C ố vấn kỹ thuật của Tổ chức Y t ế th ế giới (WHO) về đán h giá tác động sức khoẻ MT đã trình bày m ột số kinh nghiệm của quốc t ế trong lĩnh vực này

T h eo ông, có 6 nhóm chính gây nguy hại cho sức khoẻ con người là các bệnh truyền nhiễm, bệnh không truyền nhiễm (ví dụ như ngộ độc), bệnh về cơ lý, suy dinh dưỡng, rối loạn về tâm lý, các yếu

tố tác động tích cực Tuy nhiên, các yếu tố tác động tới sức khoẻ phải được xem xét và xác định các yếu tố can thiệp từ MT như MT sinh học, vật lý và các vấn để MT xã hội. _

Tinh hình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh: Tính chung, 75% hộ gia đình ở các vùng nông thôn Việt Nam hiện có nhà tiêu, bao gồm tất cả các loại, cả loại hợp vệ sinh được

Bộ Y tế quyết định 08/2005/QĐ-BYT (tự hoại, thấm dội nước, hai ngăn ủ phân tại chỗ, chìm có ống thông hơi, biogas) và loại không hợp vệ sinh (1 ngăn, cầu, thùng, đào, cầu

27

Trang 30

tiêu ao cá, ) Tỷ lệ hộ gia đinh có nhà tiêu cao nhất ở vùng ĐBSH (96,7%), thấp nhất ở vùng ĐBSCL (49,6%) va Tây Nguyên (55,4%).

Kết quả điều tra cũng cho thấy, có 33% số hộ gia đình nông thôn Việt Nam hiện có nhà tiêu hợp vệ sinh, nhà tiêu tự hoại chiếm tỷ lệ cao nhất (12,4%), tiếp đến là nhà tiêu thấm dội nước (11,2%), nhà tiêu 2 ngãn (8,7%), thấp nhất là nhà tiêu chìm có ống thông hơi và biogas (0,1 và 0,7%) Còn 42% số hộ gia đình hiện có nhà tiêu thuộc loại không hợp vệ sinh và 25% gia đình không có nhà tiêu Tính chung, có 18% số hộ gia đình: ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh đảm bảo yêu cầu về xây dựng cũng như bảo quản, sử dụng Trong số này thì nhà tiêu tự hoại và thấm dội nước chiếm tỷ lệ cao nhất (6% và7,8%), thấp hơn là nhà tiêu 2 ngăn (1,6%) nhà tiêu biogas (0,3%)

- Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu quả phân bón thấp

- Bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm (bảng 1.8)

- Chất lượng phân bón không đảm bảo, các loại phân N.P.K, hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nổi trên thị trường không đảm bảo chất lưọvng đăng ký, nhãn mác bao bì nhái, đóng gói không đúng khối lượng đang là những áp llực chính cho nông dân và MT đất

Ngoài ra, ở miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tập quán sử dụng phân bắc, phân chuổmg tươi vào canh tác ở ĐBSCL, phân tươi được coi là nguồn thức ăn cho cá, gây ô nhiiễm

MT đất, nước và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người

B ả n g 1.8 S ô' lư ợ n g p h â n b ó n h o á h ọ c d ư ợ c s ử d ụ n g V iệ t N a m q u a c á c n ă m

Đơn vị: 1.000 tấn dinh dưỡng

Trang 31

6.2.2 Hoá chất bảo vệ thực vật

u) Khái niệm

Hoá chất BVTV là các loại hoá chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp bằng con đường công nghiệp dùng để phòng chống hoặc tiêu diệt những sinh vật gây hại mùa màng

tro n g n ô n g , lâm nghiệp hoặc gây bệnh đối với sức khoẻ con người Theo FAO, “Hoá chất

BVTV được hiểu theo nghĩa rộng là chất diệt hại (pesticides), tức là tất cả các chất hoặc hỗn hợp các chất được sử dụng d ể ngăn ngừa, tiêu diệt hoặc kiểm soát bất cứ dịch hại nào, bao gồm các vật mang mầm bệnh cho người và động vật; các loài cây, con không được ưa chuộng có th ể gây hại cho mùa màng, vận chuyển, c h ế biến và bảo quản, kinh doanh lương thực, thực phẩm, các sản phẩm nông nghiệp, gỗ và các sản phẩm gổ, thức ăn gia súc, Chúng có th ể đưa vào trong hay trên cơ th ể động vật đ ể ngăn ngừa các côn trùng, nhện và các loại dịch hại khác Chúng cũng bao gồm các hoá chất kích thích, ngăn ngừa sự rụng quả, chín sớm, rụng lá, áp dụng cho mọi đối tượng cây trồng".

Căn cứ vào loại sâu hại cần diệt, hoá chất BVTV có các tên gọi tương ứng:

- Thuốc trừ sâu - Thuốc trừ b ệ n h

- Thuốc trừ n ấ m - Thuốc trừ cỏ

- Thuốc trừ chuột v.v

Hiện nay có khoảng 450 hợp chất được sử dụng làm hoá chất BVTV (bảng 1.9)

Bảng 1.9 Các nhóm th u ố c trừ sâu và diệt cỏ chủ yếu

Các nhóm thuốc trừ dịch hại Những loại thuốc đặc hiệu

1 Thuốc trừ sâu

- Clo hữu cơ - DDT, Aldrin, Heptachor

- Lân hữu cơ - Parathion, Malathion

2 Thuốc trừ cỏ

- Phenoxiaxetỉc - 2,4 D; 2,4,5-T

b) Đặc trưng các tác động của hoá chất BVTV

Rất độc đối các cơ thể sinh vật: Chúng thường tác động đến hệ thần kinh làm cho sinh vật uể oải, tê liệt và chết Nếu dùng nhiều lần một loại thuốc thì côn trùng và sâu hại

sẽ tạo ra sức để kháng, trơ dần với thuốc, làm xuất hiện những loài ký sinh trùng mới, buộc chúng ta phải dùng những loại thuốc đặc hiệu hơn, nồng độ cao hơn, số lần phun nhiều hơn và MT càng trở nên ô nhiễm

29

Trang 32

Tồn dư lâu dài trong đất, nước, sau đó qua chuỗi thức ăn sẽ xâm nhập vào cơ thể người gây nhiều tai biến Như vậy, tác động của hoá chất BVTV rất âm thầm, lặng lẽ ăn sâu, bào mòn và khi phát bệnh ở người thường khó cứu chữa (hình 1.8).

Hình 1.8 Tổn lưu th u ố c trừ sâu và trừ cỏ theo th ờ i gian

Chúng tác động không phân biệt đến sinh vật, nghĩa là chúng không chỉ tiêu diệt sâu

bọ, côn trùng có hại, mà đồng thời còn tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích (thiên địch) như ếch, nhái, rắn, v s v , tôm, cua, cá, Những sinh vật có ích này thường khống chế và ăn sâu hại, giữ cho HST đồng ruộng luôn được cân bằng

- Ở trong đất, hoá chất BVTV tác động vào khu hệ v s v đất, giun đất và những động vật khác làm hoạt động của chúng giảm, chất hữu cơ không được phân huỷ, đất nghèo dinh dưỡng, độ phì nhiêu đất giảm sút

- ở trong nước, hoá chất BVTV được tích đọng trước hết trong nước bề mặl ruộng lúa, sông ngòi, hồ ao và sau đó xuống nước ngầm Chúng tiêu diệt các loài sinh vật ở nước như tôm, cua, cá, rong rêu và tảo

c)T á c động của hoá chất BVTV đến MT

Khi phun hoá chất BVTV, có khoảng 50% rơi vào đất Ở trong đất, chúng sẽ biến đổi

và phân tán theọ nhiều con đường khác nhau (hình 1.9)

Hình 1.9 Sự biến đối hoá chất BVTV tro n g đất (Ross, 1989)

Nhự vậy, sau khi phun, hoá chất BVTV có thể tích lại không những trong đất mà cả trong nước bề.mặt và nước ngầm, thậm chí trong các cặn lắng và không khí

30

Trang 33

Hoá chất BVTV cùng cây cối và động vật hấp thụ và theo chuỗi thức ăn (hình 1.10)

sẽ xám nhập và tích luỹ trong cơ thể người

Hình 1.10 Các bậc dinh dưỡng tro n g HST

Trong tự nhiên và trên đồng ruộng có nhiều loài sinh vật có ích, đặc biệt là các ký sinh trùng có ích và các động vật ăn sâu bọ, chúng giúp cân bằng sinh thái Khi sử dụng hoá chất BVTV, các kẻ thù tự nhiên hay các thiên địch của sâu bệnh này cũng bị ảnh hưởng mạnh theo chiều hướng bất lợi Thiên địch bị tiêu diệt thì dịch bệnh, sâu bọ có nguy cơ bùng phát và lây lan rộng Khi đó, con người phải thực hiện các biện pháp bổ sung để diệt sâu bệnh, thông thường với chi phí cao hơn trước Theo Pamelet (1971), để chống lại 1.000 loài sâụ hại thì hoá chất BVTV lại tác động đến khoảng 100.000 loài động, thực vật khác nhau không thuộc đối tượng phòng trừ nhưng rất cần cho đời sống con người

Việc sử dụng hoá chất BVTV, đặc biệt là thuốc trừ sâu là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm MT đất, nước và không khí Khi phun thuốc trừ sâu, bệnh, cỏ dại, thuốc sẽ tạo thành một lớp mỏng trên bề mặt vật được phun (lá cây, trái cây, thân cây, mặt đất, mặt nước) và một lớp chất lắng của thuốc có những biến đổi gọi là dư lượng của thuốc Một phần khác là dung môi, chất mang tải và các phụ gia khác Dư lượng của các loại hoá chất BVTV có thể tồn tại trên mặt đất hoặc di chuyển xuống các lớp đất sâu, được rửa trôi xuống mương, ao, hồ, sông hoặc xâm nhập xuống mạch nước ngầm làm ô nhiễm nguồn nước

cl)Tác động của hoá chất BVTV đến sức khoẻ con người

Các yếu tố quyết định mức độ độc hại của hoá chất BVTV phụ thuộc vào độ độc hại của thuốc, tính mẫn cảm của từng người, thời gian tiếp xúc và con đường xâm nhập vào

cơ thể Có 3 con đường xâm nhập vào cơ thể người:

- Đường hô hấp: Hít thở thuốc ở dạng khí, hơi hay bụi

- Hấp thụ qua da: khi thuốc dính bám vào da

31

Trang 34

- Đường tiêu hoá: do ăn uống phải thức ăn nhiễm thuốc hoặc sử dụng những dụng cụ

ăn, uống nhiễm thuốc

Con người tiếp xúc với hoá chất BVTV trong lao động, sản xuất, cất giữ, nhầm lẫn và thông qua đất, nước, thực phẩm, không khí Hoá chất BVTV có thể gây ra các tác hại sau:

- Ngộ độc do tiếp xúc trực tiếp, tự tử, uống nhầm

- Ngộ độc do ăn nhầm các loại rau, quả còn chứa nhiều thuốc trừ sâu

- Gây các ảnh hưởng di truyền (quái thai, vô sinh, )

- Ô nhiễm nguồn nước, đất và không khí

- Tiêu diệt các loại côn trùng có lợi cho MT

Những ảnh hưởng của hoá chất BVTV có thể là cấp tính hoặc mãn tính tuỳ thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc Hoá chất BVTV cũng gây ra những phản ứng khác nhau Theo tính chất tác động của hoá chất BVTV trên cơ thể con người, có thể phân loại theo các nhóm sau đây:

- Kích thích gây khó chịu;

- Gây dị ứng; gây ngạt; gây ung thư;

- Gây mê và gây tê; hư bào thai;

- Tác động đến hệ thống các cơ quan chức năng;

- Ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai (đột biến gen);

- Bệnh bụi phổi

Ở nước ta tỷ lệ ngộ độc và tử vong do hoá chất BVTV còn cao so với nhiều nước là

do các nguyên nhân sau:

- Các tiêu chuẩn an toàn lao động không đủ nghiêm ngặt theo phương châm 4 đúng:

"Đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc và dùng đúng cách".

- Hoá chất BVTV không được dán nhãn mác đầy đủ, hoạt chất thường phiên âm từ tiếng Anh, trong khi nhận thức người dân còn hạn chế và không am hiểu những thuật ngữ này

- Thiếu thốn các điều kiện vệ sinh và phòng hộ cá nhân

Hoá chất BVTV xâm nhập vào cơ thể tích tụ lâu dài sẽ gây bệnh ung thư, tổn thương các

cơ quan di truyền, gây vô sinh ở nam và nữ giới, giảm khả năng đề kháng của cơ thể, mắc cácbệnh về thần kinh như giảm trí nhớ, bệnh tâm thần Những bà mẹ tiếp xúc với hoá chấtBVTV có thể truyền độc tố của thuốc cho thai nhi và có thể gây dị dạng cho chúng Ngoài ra, sữa mẹ bị nhiễm độc có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ sơ sinh

Điểu tra của Cục BVTV năm 2006 cho thấy, những người trực tiếp tiếp xúc, phun thuốc thường có biểu hiện một mỏi, lợm giọng, ngứa da, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, choáng váng, họng khô, mất ngủ Tỷ lệ sảy thai ở phụ nữ trực tiếp phun thuốc là 3,97%.Trẻ con rất nhạy cảm với hoá chất BVTV vì hoạt động sinh lý của cơ thể trẻ khác với người lớn; tốc độ trao đổi chất cao hơn, khả năng khử độc và loại thải chất độc thấp hơn người lớn Ngoài ra, do trọng lượng cơ thể thấp nên mức dư lượng hoá chất BVTV trên

32

Trang 35

một đơn vị thể trọng ở trẻ em cũng cao hơn so với người lớn Nhìn chung, trẻ'em nhạy cảm với hoá chất BVTV cao hơn người lớn 10 lần và nảy sinh các hội chứng thiếu ó xi trong máu, da xanh xao, suy dinh dưỡng, chậm lớn, giảm chỉ số thông minh, chậm biết đọc, biết viết Hoá chất BVTV còn tích luỹ trong thịt các sinh vật đáy vùng ven biển Đó

là do thuốc trừ sâu từ MT xung quanh theo mùn bã hữu cơ, nước đi vào cơ thể sinh vật (bảng 1.10; 1.11)

Bảng 1.10 Hàm lượng th u ố c trừ sâu tro n g m ột số đối tư ợng vùng ven biển

lượng Có dư lượng

Trang 36

BVTV như "Thần dược" nên có thói quen thường xuyên sử dụng Gần đây có nhiều báo

cáo đề cập đến hiện tượng lạm dụng hoá chất BVTV như tãng số lần và nồng độ phun thuốc, không đảm bảo thời gian cách ly, phun không theo diễn biến của dịch hại Hiện tượng này đã trở thành phổ biến ở hầu hết các vùng sản xuất, đặc biệt trên các loại cây trồng bị nhiễm nhiều sâu bệnh như rau thập tự, chè Điều đáng quan tâm là tình hình ngộ độc thực phẩm do các hoá chất độc, trong đó có hoá chất BVTV vẫn diễn ra phức tạp

và có chiều hướng gia tăng

Hằng năm, Cục BVTV đã tiến hành thanh tra, kiểm tra khoảng 5.000 lượt hộ nông dân trồng rau Kết quả kiểm tra năm 2004 có 32,9% số hộ vi phạm việc sử dụng hoá chất

BVTV, năm 2006, tỷ lệ này giảm xuống còn 22,83% Trong tổng số vụ vi phạm thì sử

dụng thuốc không đúng quy trình chiếm khoảng 73%, khoảng 20% sử dụng không đảm bảo thời gian cách ly trước thu hoạch sản phẩm

Riêng trong 10 tháng đầu năm 2007, thanh tra chuyên ngành Chi cục BVTV các tỉnh, thành phố đã tiến hành kiểm tra 5.768 hộ trồng rau, kết quả có 1.742 hộ (chiếm 30% số hộ) vi phạm sử dụng hoá chất BVTV trong sản xuất rau Trong đó, hình thức vi phạm chủ yếu là sử dụng hoá chất không đúng quy trình, không đúng thời gian cách ly và có trường

Các vi phạm chủ yếu như: Người bán thuốc không có chứng chỉ chuyên môn; người bán vẫn lén lút bán một số loại thuốc đã quá hạn sử dụng, thuốc cấm sử đụng, kém phẩm chất Thuốc bán ra thị trường bị pha chế bởi một số hoá chất BVTV giả Ví dụ, ở Lâm Đồng đã phát hiện vụ sản xuất, lưu thông 229kg thuốc trừ cỏ Zineb Bui 80WP; Diplomate 80WP và Sancozeb 80WP giả

Những hiểu biết và thói quen thực hành chưa đúng khi tiếp xúc với hoá chất BVTV Đặc biệt phun rau quả ngay trước lúc thu hoạch, gây tồn dư cao, dẫn đến ngộ độc thức ăn.Chi cục BVTV Hà Nội năm 2006 thông báo, 100% nông dân vùng ngoại thành vẫn phun thuốc định kỳ để tránh rủi ro, có tới 50% nống dân tự tiện tăng nồng độ lên gấp đôi

Ở Tp.HCM, nông dân ngoại thành phải phun 20 - 30 lần thuốc trên rau cải bắp , còn trên cây nho, nông dân ở Ninh Thuận phải phun thuốc tới 80 lần/vụ Hầu hết người trồng rau chỉ dùng thuốc trừ sâu mà không qùan tâm đến thời gian cách ly để đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh thực phẩm Hiện tượng phun thuốc trừ sâu ngày hôm trước và vài ngày sau đã thu hoạch rau để bán diễn ra phổ biến Bên cạnh việc tăng lượng dùng và sô' lần phun, nông dân thường tăng nồng độ thuốc phun Nông dân thường trộn các loại thuốc khác nhau thành hỗn hợp Họ kỳ vọng rằng, có thể tạo ra loại thuốc mới có phổ tác động rộng trừ đồng thời nhiều loại sâu bệnh và nâng cao hiộu quả của thuốc Tuy nhiên, do thiếu kiến thức về hỗn hợp thuốc nên các hỗn hợp tự pha chế thường không hợp lý, không những khống có tác dụng hỗ trợ cho nhau mà đôi khi còn làm giảm tác dụng, gây lãng phí thuốc, gây ô nhiễm MT nghiêm trọng

f) Quản lý hoá chất BVTV

Danh mục hoá chất BVTV hạn chế sử dụng tại Việt Nam đã ban hành kèm theo Quyết định số 23/2007/QĐ -BNN ngày 28/3/2007 của Bộ NN&PTNT gồm:

34

Trang 37

- Thuốc trừ sâu: 6 hoạt chất - Thuốc diệt chuột: 1 hoạt chất

- Thuốc trừ mối: 2 hoạt chất - Thuốc bảo quản lâm sản: 4 hoạt chất

- Thuốc khử trùng kho: 3 hoạt chất

Và danh mục hoá chất BVTV cấm sử dụng tại Việt Nam ban hành theo Quyết định

số 23/2007/QĐ -BN N ngày 28/3/2007 của Bộ NN&PTNT gồm:

- Thuốc trừ sâu, thuốc bảo quản lâm sản: 21 hoạt chất

- Thuốc trừ bệnh: 6 hoạt chất

- Thuốc trừ chuột: 1 hoạt chất

- Thuốc trừ cỏ: 1 hoạt chất

Nhưng các loại thuốc trên vẫn tiếp tục được sử dụng ở nơi này hoặc nơi khác do:

Gia tăng sử dụng hoá chất BVTV: Theo TS Marcus Theurig (2002), nếu không sử

dụng hoá chất BVTV thì loài người phải cần đến 3 lần diện tích trồng cây như hiện nay

Vì vậy, hoá chất BVTV cùng với phân bón hoá học là những phát minh quan trọng nhằm đảm bảo an ninh lương thực cho loài người Tuy nhiên, mặt trái của hoá chất BVTV là rất độc hại cho sức khoẻ con người và có nguy cơ gây ô nhiễm MT cao Ngoài ra, khi phun hoá chất BVTV thì có tới 50% lượng thuốc rơi vào đất và khi đó chúng sẽ bị biến đổi, phân tán theo nhiều con đường khác nhau gây ô nhiễm MT Ở Việt Nam, hầu hết các loại hoá chất BVTV sử dụng trong nông nghiệp đều được nhập khẩu từ nước ngoài với khối lượng tăng từ 1 3 0 0 0 - 15.000 tấn/năm những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX lên33.000 - 38.000 tấn những năm 2000 và hiện nay ước khoảng 30.000 tấn/năm Hiện tượng nhập lậu các loại hoá chất BVTV (gồm cả thuốc cấm (khoảng 10%), thuốc ngoài danh mục, thuốc hạn chế sử dụng) vẫn không kiểm soát được

Hiện nay, nước ta chưa sản xuất được nguyên liệu hoá chất BVTV mà phải nhập khẩu để gia công hoặc nhập khẩu thuốc thành phẩm bao gói lớn để sang chai, đóng gói nhỏ tại các nhà máy trong nước So với năm 1995, tổng lượng thuốc sử dụng hằng năm tăng từ 1,2 - 1,5 lần (bảng 1.12)

Chưa triển khai triệt đ ể Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM ):

Ở Việt Nam, lượng hoá chất BVTV dùng cho lúa chiếm 80,3%- Các cây trồng khác chỉ chiếm từ 5 - 11% Do đó, người nông dân trồng lúa ở các tỉnh đồng bằng sử dụng nhiều hoá chất BVTV hơn (1,15 - 2,66kg thành phẩm/ha/năm so với các tỉnh miền núi (0,23kg thành phẩm/ha/năm) Những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ nên lượng và chủng loại hoá chất BVTV sử dụng cũng tăng lên Nếu như trước năm 1985, lượng thuốc

sử dụng bình quân khoảng 0,3kg hoạt chất/ha thì từ năm 1991 đến nay, lượng thuốc sử dụng cũng tăng lên 0,67 - 1 ,0 lkg hoạt chất/ha Cơ cấu hoá chất BVTV sử dụng cũng có biến động: thuốc trừ sâu giảm từ 83,3% năm 1981 xuống 50,5% năm 1997 và chỉ còn 45,5% nãm 1998 trong khi thuốc trừ cỏ, trừ bệnh gia tăng cả về số lượng lẫn chủng loại Nguyên nhân chủ yếu là do áp dụng chương trình IPM Tại nhiều địa phương, số lần phun thuốc đã giảm 73%, trong đó số lần phun thuốc trừ sâu đã giảm 80 - 90%

35

Trang 38

Bảng 1.12 Lượng hoá chất BVTV nhập khẩu vào V iệt Nam

Năm Tổng khối lượng

có vi phạm (chiếm 14,3%) Tính đến nay, số lượng hoá chất BVTV tồn đọng bị thu giữ cần phải tiêu huỷ trong cả nước gần 171 tấn Tổng số tiền phạt thu nộp ngân sách trên 1,7

tỷ đồng

Việc sử dụng hoá chất BVTV còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa tương xứng với yêu cầu của nền sản xuất nông nghiệp sạch Việc tăng liều lượng thuốc, tăng số lần phun thuốc, dùng không theo hướng dẫn cũng như lạm dụng đã gây hiện tượng kháng thuốc, làm thuốc mất hiệu lực hoặc để lại tồn dư hoá chất trong nông sản, thực phẩm, làm giảm sức cạnh tranh của nông sản, hàng hoá trên thị trường thế giới, cũng là nguy cơ tiềm ẩn đe doạ đến sức khoẻ cộpơ đồng và gây ô nhiễm MT

36

Trang 39

Mặt khác, trừ các đại lý cấp 1 còn lại phẩn lớn các cửa hàng kinh doanh hoá chất B.VTV đều không có kho chứa riêng biệt hoặc có kho chứa nhưng nằm quá gần khu dân

cư Kết quả thanh tra 14.570 lượt cửa hàng, đại lý kinh doanh hoá chất BVTV năm 2006 cho thấy, có 14,8% vi phạm các quy định về kinh doanh thuốc Đặc biệt, trình độ của người kinh doanh hoá chất BVTV còn thấp so với yêu cầu Theo khảo sát, chỉ có 7,4% có trình độ đại học; 5,9% có trình độ trung cấp; số còn lại mới chỉ qua các lớp huấn luyện ngắn ngày, trong khi có tới 91% nông dân tìm hiểu cách sử dụng hoá chất BVTV trực tiếp

Nguồn: Phan Trần Khánh, Cục ATVSTP, 2005.

Những năm gần đây, trong nông nghiệp và nông thôn đã phát động phong trào 4

đúng đôi với hoá chất BVTV là: đúng chủng loại, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng phương pháp Tuy nhiên, phong trào chưa đi vào diện rộng và còn nhiều hạn chế.

Điều đáng quan tâm là tình hình ngộ độc thực phẩm do các hoá chất độc, trong đó có hoá chất BVTV vẫn diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia tăng (bảng 1.13, hình 1.11)

Hình 1.11 Nguỵên nhân ô nhiễm thự c phẩm

3 7

Trang 40

Việc quản lý hoá chất BVTV còn nhiều bất cập và gặp nhiều khó khăn Hằng năm, khoảng 10% khối lượng thuốc được nhập lậu theo đường tiểu ngạch, đa dạng về chủng loại, chất lượng không đảm bảo.

Việc sử dụng còn tuỳ tiện, không tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật theo nhãn mác, không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc

Một lượng lớn hoá chất BVTV tồn đọng tại các kho thuốc cũ mục nát, hết niên hạn

sử dụng còn nằm rải rác tại các tỉnh thành trên địa bàn cả nước.,Số liệu của Ttrung tâm Công nghệ xử lý MT, Bộ Tư lệnh Hoá học (2004) cho biết, trong khoảng hơn 300 tấn hoá chất BVTV tồn đọng có nhiều chất nằm trong số 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huv.Việc bảo quản hoá chất BVTV còn tuỳ tiện, không có nơi bảo quản riêng, nhiều nông

hộ để hoá chất BVTV trong nhà, trong bếp và trong chuồng nuôi gia súc

h) Vi phạm trong quá trình giết m ổ và chôn lấp gia súc, gia cầm chết dịch

Theo thống kê của Cục Thú y, hiện nay cả nước có 491 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, 8.458 cơ sở giết mổ gia súc nhỏ lẻ, 881 cơ sở giết mổ gia cầm nhỏ lẻ, phân tán trong khu dân cư Trong số này chỉ có tổng cộng 1.945 cơ sở được kiểm soát giết mổ Đa số các cơ sở giết mổ tập trung đều thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về vệ sinh thú y, xử lý phủ tạng, nước thải trước khi thải ra MT Các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ chưa kiểm soát được Cũng theo số liệu của Cục Thú y, số lượng tiêu huỷ gia cầm do dịch cúm lên tới 40 triệu con vào năm 2007 (chiếm 20% tổng đàn gia cầm trên cả nước) Trong đó tại nhiều tỉnh, thành phố có dịch đã chôn lấp gia cầm chết không qua xử lý; không tuân thủ quy định của ngành Thú y, hố chôn lấp đào tại những nơi gần nguồn nước, gần khu dân cư; đào hố không đúng quy cách (không lót đáy hố, lót đáy không kỹ, không đủ độ sâu), thậm chí có nhiều người vứt xác gia cầm chết bừa bãi trên sông ngòi, trên cánh đồng làm ô nhiễm nguồn nước, đặc biệt nguy cơ cao vào mùa lũ

6.2.3 Chất thải rắn làng nghề và sinh hoạt

Theo thống kê của Cục Y tế dự phòng (2006), CTR tập trung chủ yếu ở những đô thị

lớn, khoảng 7 triệu tấn/năm, trong đó có 2,6 triệu tấn do công nghiệp Ước tính có 0,5 - 0,7kg CTR/người ngày tại các đô thị lớn và 0,3 - 0,4kg/người /ngày ỏ khu vực thành thị nhỏ và nông thôn Các khu vực làng nghề thải ra 774.000 tấn CTR/năm, trong số đó chỉ

có 53,4% số hộ gia đình được thu gom và trung bình có khoảng 13 -15% được tái chế Chất thải bệnh viện khoảng 21.000 tấn/năm, với tỷ lệ 0,75kg/bệnh nhân/ngày; 92,5% số bệnh viện có thu gom rác thường kỳ; 14% bệnh viện có phân loại rác y tế và sinh hoạt để

xử lý (khung 1.11)

Hiện cả nước có khoảng 2.000 làng nghề, phân bố ở 58 tỉnh, thành phố trong cả nước Làng nghề sử dụng tới 30% LLLĐ nông thôn và đóng góp khoảng 9% GDP Ngành, nghề của các làng nghề phát triển rất đa dạng, biến động, tập trung vào chế biến nông sản, thực phẩm, giết mổ, dệt nhuộm, thủ công mỹ nghệ, tái chế kim loại, tái chế chất thải và vật liệu xây dựng Bên cạnh mặt tích cực thì hoạt động sản xuất làng nghề cũng đã gây ảnh hưởng xấu tới MT, tài nguyên, cảnh quan nông thôn và sức khoẻ cộng đồng Phần lớn làng nghề đều áp dụng các công nghệ cũ, lạc hậu dẫn đến tiêu hao nhiều

38

Ngày đăng: 21/11/2019, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w