1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn luật vận tải biển

45 95 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 404,41 KB
File đính kèm bai tap lon luat van tai bien.rar (354 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này bao gồm các nội dung liên quan đến môn Luật vận tải biển, thuộc chuyên ngành Kinh tế Vận tải biển của trường Đại học Hàng hải Việt Nam. Gồm 2 nội dung chính:Phần một, tìm hiểu khái quát Công ước Quốc tế về Luật biển (UNCLOS)Phần hai, giải quyết một tranh chấp cụ thể về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU 2

Chương 1: Quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu tổ chức, vai trò của Liên Hợp Quốc và Tòa án Quốc tế

Chương 3: Quá trình hình thành và sửa đổi Công ước Quốc tế về Luật biển (UNCLOS) 12 Chương 4: Tình hình áp dụng Công ước Quốc tế về Luật biển tại Việt Nam 15

PHẦN II: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN

Yêu cầu 1: Nêu những quy định của Luật Hàng hải Việt Nam về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền miễn trách

Yêu cầu 2: Tính khối lượng hàng do người vận chuyển thực giao tại cảng dỡ và khối lượng hao hụt cho

Yêu cầu 3 : Quy định của luật hàng hải Việt Nam về khiếu nại đòi bồi thường tổn thất? Tính số tiền mà chủ tàu phải bồi thường cho chủ hàng đối với tổn thất hàng hoá Giá trị hàng tại cảng xếp trên hoá đơn thương mại là 500,0 (USD/MT) đã khai báo trên B/L, giá tại cảng dỡ là 850,0 (USD/T) 27 Yêu cầu 4: Tính số tiền mà người vận chuyển thực thu từ việc thực hiện hợp đồng vận chuyển: 31 Yêu cầu 5: Quy định của Luật Hàng hải Việt Nam về Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển về cách xác định giá trị bảo hiểm và nguyên tắc bồi thường tổn thất? Tính số tiền mà công ty bảo hiểm bồi thường cho chủ hàng, biết rằng chủ hàng mua bảo hiểm cho hàng đúng giá trị theo điều kiện mọi rủi ro 33 Yêu cầu 6: Quy định của luật hàng hải việt nam về bồi thường tổn thất cho chủ tàu? Tính số tiền mà hãng bảo hiểm BAOVIET bồi thường cho chủ tàu với tổn thất phần vỏ bị thủng, biết rằng chủ tàu mua bảo hiểm cho tàu theo điều kiện mọi rủi ro với số tiền bảo hiểm bằng 3/4 giá trị bảo hiểm, áp dụng mức khấu trừ 5 000

Trang 2

Đó cũng là mục đích chính của môn luật vận tải biển - môn chuyên ngànhđầu tiên của sinh viên ngành vận tải biển Bộ môn cho sinh viên tiếp xúc vớinhững hiểu biết đầu tiên về ngành học của mình với hệ thống lý thuyết về luậtbiển,luật vận tải biển,bảo hiểm hàng hải,giải quyết tranh chấp hàng hải…Quađó,sinh viên bước đầu nắm được một số vấn đề như:cảng biển,tàu biển-thuyền bộ,hợp đồng thuê tàu,hợp đồng vận chuyển hành hoá bằng đường biển,giới hạn tráchnhiệm người vận chuyển, đại lý tàu biển-môi giới hàng hải,tai nạn đâm va,cứu hộhàng hải, rủi ro - tổn thất trong hàng hải, hợp đồng bảo hiểm… Những kiến thức

đó còn được thực hành thông qua bài tập lớn, giúp cho sinh viên hiểu rõ hơnnhững lý thuyết được học trong môn luật vận tải biển

Môn luật vận tải biển giúp sinh viên có thể bước đầu vận dụng những điềuluật đã học vào trong thực tế được giả định để giải quyết những vấn đề trong vậntải biển như thưởng phạt thời gian làm hàng tiết kiệm-kéo dài,bồi thường thiệthại,giá trị tổn thất chung,giá trị bảo hiểm…Đây là những cơ sở ban đầu để có kiếnthức trở thành một nhà kinh tế vận tải biển trong tương lai

Trang 3

Phần I: CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN

(UNCLOS)

Chương 1: Quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu tổ chức, vai trò của Liên Hợp Quốc và Tòa án Quốc tế Liên Hợp Quốc

I.Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của Liên Hợp Quốc:

Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc nhưng cũng đã để lại những hậu quả vôcùng tàn khốc Những hình ảnh đó đã thôi thúc trong các nước Đồng minh phảicùng nhau bảo vệ cuộc sống hòa bình, ngăn chặn các cuộc chiến tranh trên toànthế giới

Quyết tâm càng được thể hiện rõ tại các Hội nghị Tehran (1943), Hội nghịYalta (1945) Sau hàng loạt trao đổi trong các năm 1943-1945, từ ngày 25/4/1945đến 26/6/1945 , đại diện của 50 quốc gia đã họp tại San Francisco, Hoa Kỳ, soạnthảo và thống nhất thông qua Bản Hiến chương Liên hợp quốc gồm 19 chương và

111 điều khoản

Ngày 24/10/1945 đánh dấu lịch sử của Liên hợp quốc khi bản Hiến chươngđược 5 nước thành viên Hội đồng Bảo an cùng hầu hết các quốc gia tham gia kýkết phê chuẩn và có hiệu lực

Tổng thống Hoa Kỳ Harry S.Truman phát biểu: “Nếu chúng ta có bản Hiếnchương này cách đây vài năm, có lẽ đã không có những cái chết vô nghĩa Chúng

ta sẽ xây dựng một tương lai mà hàng triệu triệu người đang sống sẽ được đảmbảo Có thời điểm cho những kế hoạch và thời điểm cho những hành động, và thờiđiểm đó chính là ở đây, chính vào lúc này”

LHQ được thành lập cùng 4 mục tiêu và 7 nguyên tắc cơ bản, theo đó giữvai trò duy trì hòa bình và an ninh thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị

Trang 4

giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọngnguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc.

7 thập kỷ đã trôi qua, đối với LHQ, đây là một chặng đường đầy gian khó.Nhiều thành công nhưng không ít thất bại Song có một điều mà chúng ta phải ghinhận, đó là vai trò không thể thiếu của LHQ trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc

tế ở hiện tại và tương lai

Từ con số 51 quốc gia đầu tiên vào năm 1945, LHQ ngày nay có 193 thànhviên và 2 quan sát viên; trở thành một hệ thống toàn diện gồm các cơ quan, nhưĐại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Ban Thư ký và Tòa

án Công lý quốc tế, các chương trình, quỹ và các tổ chức chuyên môn của Hệthống LHQ Trải qua một chặng đường gian khó 72 năm, LHQ có những đónggóp không thể phủ nhận

Trải qua những thăng trầm lịch sử, nhất là thời kỳ Chiến tranh lạnh, Liênhợp quốc vẫn được duy trì là một diễn đàn hòa bình để các bên đối thoại, gópphần giải tỏa những căng thẳng, ngăn chặn những leo thang có thể dẫn tới mộtcuộc chiến tranh thế giới mới Liên hợp quốc tích cực đóng vai trò trung gian hòagiải nhiều cuộc khủng hoảng quốc tế thông qua thương lượng, sáng kiến giải pháphòa bình cho hàng trăm cuộc xung đột ở các khu vực

Nhằm mục tiêu phát triển, Liên hợp quốc luôn ưu tiên tạo dựng môi trườngkinh tế, thương mại, tài chính quốc tế thuận lợi, bình đẳng, đáp ứng được nhữnglợi ích chính đáng của các quốc gia thành viên, nhất là những quốc gia đang pháttriển Hơn 500 điều ước quốc tế đa phương quan trọng trong nhiều lĩnh vực củagiao lưu quốc tế, trong đó phải nói đến Công ước về Luật Biển (năm 1982) đãđược ký kết, xây dựng chuẩn mực cho các lĩnh vực chuyên môn và đưa ra khuyếnnghị định hướng cho luật pháp quốc tế

Theo đuổi mục tiêu nhân quyền là một lý do chính của việc thành lập LiênHiệp Quốc Qua 3/4 thế kỷ, LHQ và các cơ quan của mình là nhân tố chủ chốt

Trang 5

thúc đẩy và áp dụng các nguyên tắc thiêng liêng trong Tuyên bố Chung về Nhânquyền.

Cùng với nhiều Tổ chức quốc tế khác, LHQ cũng trở thành cơ quan quantrọng, đóng góp nhiều hỗ trợ nhân đạo tới những người dân đang phải chịu nạnđói, phải rời bỏ nhà cửa vì chiến tranh, hay bị ảnh hưởng bởi thiên tai Các cơquan nhân đạo chính của Liên Hiệp Quốc là Chương trình Lương thực Thế giới(đã giúp cung cấp thực phẩm cho hơn 100 triệu người mỗi năm ở hơn 80 quốcgia), Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn hiện điều hành các dự án ở hơn 116nước

Những cam kết và nố lực của LHQ không chỉ dừng lại ở các mục tiêu hiệntại Luôn đổi mới và khẳng định cao hơn vai trò của mình đối với sự thịnh vượngchung toàn cầu, đã thúc đẩy 193 quốc gia thành viên LHQ thông qua 17 mục tiêu

về phát triển bền vững đến năm 2030, thay thế cho 8 mục tiêu phát triển thiênnhiên kỷ thông qua năm 2000

Cách đây 17 năm, 8 mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ đã trở thành kim chỉnam cho tất cả các quốc gia thành viên xây dựng một xã hội ổn định, phát triển.Thì nay, 17 mục tiêu phát triển bền vững buộc các nước phải nhìn ra xa biên giớiquốc gia và lợi ích trước mắt để hành động trên tinh thần đoàn kết Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon:"Chúng ta cần hành động từ tất cả mọingười, ở mọi nơi, 17 mục tiêu phát triển bền vững là định hướng, là bản kết hoạchchi tiết cho thành công Để đạt được những mục tiêu toàn cầu, chúng ta cần đạtđược cam kết chính trị cao, và quan hệ đối tác toàn cầu đổi mới"

17 mục tiêu đầy táo bạo nhằm đạt được 3 thành tựu quan trọng: Chấm dứtđói nghèo, đấu tranh với trình trạng bất bình đẳng và giải quyết biến đối khí hậu

Và để thực hiện được những mục tiêu này, trong những năm tới, các Chính phủ vàcác tổ chức cần phải nỗ lực gấp đôi để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn chongười dân trên thế giới, để tất cả các quốc gia được sống trong môi trường hợptác, hòa bình và thịnh vượng

Trang 6

Trải qua hơn 70 năm, bên cạnh thành tựu đạt được, LHQ vẫn chưa thể hoànthành một cách xuất sắc những mục tiêu đề ra Xung đột vẫn chưa hoàn toànchấm dứt, tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng vẫn nhen nhóm ở nhiều nơi Điềunày đặt ra cho LHQ những nhiệm vụ vô cùng nặng nề trước mắt.

Dù vậy, LHQ vẫn luôn là ngôi nhà chung của gần 200 quốc gia và vùnglãnh thổ trên thế giới, là nơi để các thành viên gặp gỡ, đối thoại và thúc đẩy hòabình đa phương

II Cơ cấu tổ chức của Liên Hợp Quốc:

Tổ chức Liên Hiệp Quốc được hình thành bởi 5 cơ quan chính (trước kia là

6 vì gồm có Hội đồng Quản thác nhưng đã dừng hoạt động năm 1994):

 Đại hội đồng

 Hội đồng Bảo an

 Hội đồng Kinh tế và Xã hội

 Ban thư ký

 Tòa án Công lý Quốc tế

Ngoài ra, còn có các tổ chức độc lập khác đã được lập ra để giải quyết cáccông việc chuyên môn hàng ngày của Liên Hiệp Quốc

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Liên hợp quốc:

Trang 8

Chương 2: Tòa án Quốc tế Liên Hợp Quốc

Tòa án Quốc tế Liên hợp quốc hay còn gọi là Toà án Công lý Quốc

tế ( International Court of Justice – ICJ) là một trong sáu cơ quan chính của Liên

hợp quốc, được thành lập năm 1945 trên cơ sở kế thừa Toà án Thường trực quốc

tế của Hội quốc liên và hoạt động theo quy chế một bộ phận không tách rời củaHiến chương Liên hợp quốc Tất cả các thành viên của Liên hợp quốc đươngnhiên được coi là thành viên của quy chế Tòa án Quốc tế (TAQT) Các nướckhông phải là thành viên Liên hợp quốc có thể tham gia quy chế TAQT nếu đượcHội đồng Bảo an đề nghị và được Đại hội đồng Liên hợp quốc chấp thuận Cácnước không tham gia quy chế cũng có thể yêu cầu TAQT xét xử tranh chấp nếuđược Hội đồng Bảo an cho phép Trụ sở của TAQT đặt tại La Hay (Hà Lan)

Nhiêm vụ:

Nhiệm vụ trọng tâm của Liên hợp quốc là giải quyết các cuộc xung độtbằng biện pháp hoà bình phù hợp với các nguyên tắc của công lý và luật phápquốc tế (Điều 1 của Hiến chương Liên hợp quốc) Điều 33 của Hiến chương cũngchỉ rõ, trong số các phương pháp giải quyết hoà bình có phương pháp sử dụngtrọng tài và giải quyết của toà án (theo luật pháp)

Nhiệm vụ chính của TAQT: 1) Giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia

và giữa các tổ chức quốc tế trên cơ sở luật pháp quốc tế Các thể nhân và pháp nhânkhông có quyền đưa các tranh chấp ra giải quyết trước TAQT 2) Làm chức năng tưvấn pháp lí (kết luận pháp lí) cho Hội đồng Bảo an, Hội đồng Thường trực và chocác tổ chức khác của Liên hợp quốc

TAQT được quyền ra các quyết định bằng phương thức biểu quyết trênnguyên tắc quá bán với số đại biểu hợp lệ là không được ít hơn 9 người Quyếtđịnh của TAQT mang tính chất bắt buộc, có hiệu lực ngay và các đương sự không

có quyền khiếu nại Trong trường hợp quyết định của TAQT không được thi hành,

Trang 9

TAQT có thể yêu cầu Hội đồng Bảo an giúp đỡ để quyết định được thi hành.Ngoài các nhiệm vụ trên, TAQT còn có nhiệm vụ chung cùng với các cơ quankhác của Liên hợp quốc bảo vệ hoà bình, kiểm tra giám sát các nước thành viênLiên hợp quốc thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng Hiến chương Liên hợpquốc và theo các quyết định của các cơ quan của Liên hợp quốc.

Thành phần

Thành phần của TAQT gồm 15 thẩm phán, là công dân của các quốc giathành viên Liên hợp quốc, do Đại hội đồng Liên hợp quốc và Hội đồng Bảo anbầu ra với nhiệm kì 9 năm và cứ 3 năm lại bầu lại 5 thẩm phán Về nguyên tắc,trong cơ cấu của TAQT phải có đại diện của tất cả các hệ thống pháp luật trên thếgiới và là những luật gia nổi tiếng, có uy tín trong lĩnh vực pháp luật quốc tế Đã

có công dân của các quốc gia: Anh, Pháp, Bỉ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức,Italia, Hungari, Xri Lanka, Mađagaxca, Angiêri, Guyana, Vênêzuêla, Xiêra Lêôntham gia TAQT

Chức năng

Theo điều 13 của Hiến chương, một trong những chức năng của Đại hộiđồng là "thúc đẩy việc pháp điển hoá và sự phát triển của luật quốc tế theo hướngtiến bộ" Chức năng này đã được Đại hội đồng và các cơ quan khác thực hiệnthông qua việc soạn thảo, chuẩn bị rất nhiều công ước quốc tế Trong vòng nămthập kỷ qua, Liên hợp quốc đã bảo trợ cho trên 456 thoả thuận đa phương baogồm mọi lĩnh vực hoạt động giữa các nhà nước và nỗ lực của loài người Liên hợpquốc cũng là người tiên phong quan tâm tới những vấn đề toàn cầu mới hiện naynhư: môi trường, khoảng không vũ trụ, lao động di cư, buôn lậu ma tuý và chủnghĩa khủng bố

Chức năng chính của Toà án quốc tế là giải quyết hoà bình các tranh chấpquốc tế, vụ kiện do các quốc gia đưa lên phù hợp với luật pháp quốc tế Mục tiêucủa toà án là áp dụng các tập quán quốc tế để thiết lập các quy tắc được các quốc

Trang 10

gia liên quan chính thức công nhận; các thông lệ quốc tế được chấp nhận như luật;các nguyên tắc chung của luật pháp được các quốc gia công nhận; các phán quyếtcủa tòa án

Tòa án cũng khuyến nghị Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an về lĩnh vực luậtpháp, các vấn đề luật pháp nổi lên trong phạm vi hoạt động của các cơ quan này,khuyến nghị các cơ quan khác của Liên hợp quốc, các cơ quan chuyên môn với sự

uỷ quyền của Đại hội đồng

Hoạt động

Giải quyết theo luật pháp các tranh chấp:Cơ quan chính của Liên hợp quốc

giải quyết các tranh chấp là Toà án Quốc tế Kể từ khi thành lập năm 1946, đếnnay đã có 72 vụ được các nước đưa ra trước Toà án Quốc tế, 22 trường hợp hỏi ýkiến của các tổ chức quốc tế Hầu hết các trường hợp được Toà giải quyết, song

kể từ năm 1981, đã có 4 trường hợp được chuyển cho các Uỷ ban đặc biệt giảiquyết theo đề nghị của các bên liên quan 11 trường hợp vẫn chưa được giải quyết

Các trường hợp đưa ra giải quyết tại Toà án Quốc tế bao gồm nhiều lĩnhvực như: quyền về lãnh thổ (vụ tranh chấp giữa Pháp và Anh năm 1953, giữa Bỉ

và Hà Lan năm 1959, giữa Ấn Độ và Bồ Đào Nha năm 1960, giữa BuốckinaPhaxô và Mali năm 1986, giữa Libi và Sát năm 1990), liên quan đến luật biển(trường hợp Anbani phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do thuỷ lôi trongvùng lãnh hải của mình gây ra cho tầu của Anh năm 1949, tranh chấp giữa Anh và

Na uy về đánh cá), các cuộc tranh chấp liên quan đến nguyên tắc và luật lệ quốc tếtrong việc phân định ranh giới thềm lục địa, trên biển và trên bộ (vụ giữa Libi vàManta năm 1985, Canađa và Mỹ năm 1984, Đan mạch và Na uy năm 1993, giữa

En Xanvađo và Honđurat năm 1992 ), về bảo vệ ngoại giao, bảo vệ môi trường,thực hiện các nghĩa vụ của lực lượng uỷ thác tại lãnh thổ Tây Nam châu Phi, cácvấn đề liên quan đến xung đột khu vực, việc thực hiện các công ước quốc tế củacác nước các trường hợp liên quan đến quan hệ giữa Liên hợp quốc và các nước

Trang 11

thành viên như việc phái viên của Liên hợp quốc bị sát hại, đóng góp của cácnước vào ngân sách hoạt động gìn giữ hoà bình cũng được các bên liên quanđưa ra tại Toà án Quốc tế để nhận được ý kiến tham khảo.

Pháp điển hoá luật pháp quốc tế: Uỷ ban về luật pháp quốc tế đã được Đại

hội đồng thành lập năm 1947 nhằm thúc đẩy sự phát triển và pháp điển hoá luậtpháp quốc tế theo hướng tiến bộ Uỷ ban gồm 34 thành viên, nhóm họp hàng năm,các thành viên được Đại hội đồng bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm, hoạt động với tưcách cá nhân chứ không phải là đại diện của các chính phủ

Công việc chủ yếu của Uỷ ban là soạn thảo luật pháp quốc tế, lĩnh vực luậtpháp cần soạn thảo có thể do Uỷ ban tự chọn hoặc do Đại hội đồng hoặc Hội đồngKinh tế - Xã hội (ECOSOC) gợi ý Khi Uỷ ban hoàn tất dự thảo các điều khoản,Đại hội đồng sẽ triệu tập một hội nghị quốc tế để quyết định đưa các điều khoản

dự thảo đó vào một công ước quốc tế, sau đó sẽ mở cho các nước tham gia

Năm 1966, đáp ứng đòi hỏi của Liên hợp quốc phải giữ một vai trò tích cựctrong việc giảm bớt và loại bỏ các cản trở đối với thương mại quốc tế, Đại hộiđồng đã thành lập Uỷ ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế(UNCITRAL) để thúc đẩy sự thống nhất và hài hoà theo hướng tiến bộ của luậtthương mại quốc tế Uỷ ban gồm 36 thành viên, đại diện cho các khu vực địa lý vàcác hệ thống kinh tế và luật pháp khác nhau, có báo cáo hàng năm lên Đại hộiđồng và trình báo cáo lên Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển

Trang 12

Chương 3: Quá trình hình thành và sửa đổi Công ước Quốc tế

về Luật biển (UNCLOS)

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (tiếng Anh: United Nations

Convention on Law of the Sea - UNCLOS), cũng gọi là Công ước Luật biển là

một hiệp ước quốc tế được tạo ra trong Hội nghị về luật biển Liên Hiệp Quốc lầnthứ 3 diễn ra từ năm 1973 cho đến 1982 với các chỉnh sửa đã được thực hiện trongHiệp ước Thi hành năm 1994

Quá trình hình thành

Biển và đại dương luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị,kinh tế - xã hội của các quốc gia trên toàn thế giới Bước vào thời kỳ mới, khoahọc - công nghệ đã có những bước phát triển vượt bậc, cho phép con người sửdụng và vươn tới những vùng biển sâu và xa bờ để khai thác tài nguyên Để tạo cơ

sở pháp lý cho các hoạt động đó, các quốc gia ven biển ban hành luật lệ mở rộngphạm vi quyền tài phán đối với các vùng biển và thềm lục địa

Trong khi các quốc gia có năng lực thực tế làm chủ các vùng biển và thềmlục địa khác nhau, nếu không có một văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh phạm vicũng như chế độ triển khai các hoạt động trên biển và đại dương phù hợp với xuhướng phát triển chung, đồng thời duy trì an ninh, trật tự trên biển, bảo vệ lợi íchlâu dài của cộng đồng quốc tế, sẽ dẫn đến tình trạng bất công, nguy cơ khai tháccạn kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường biển

Năm 1956, Liên hợp quốc tổ chức Hội nghị về Luật biển đầu tiên(UNCLOS I) ở Geneva, Thụy Sĩ Hội nghị này đạt được bốn hiệp định kýkết vào năm 1958: Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp, có hiệu lực vào ngày10/9/1964;Công ước về thềm lục địa, có hiệu lực vào ngày 10/6/1964;Công ước

về hải phậnquốc tế, có hiệu lực vào ngày 30/9/1 962;Công ước về nghề cá

và bảo tồn tài nguyênsống ở hải phận quốc tế, có hiệu lực vào ngày 20/3/1966

Trang 13

Mặc dù Hội nghị lần này được cho là thành công, nhưng nó vẫn chưa giải quyếtđược vấn đề quan trọng là bề rộng của vùng lãnh hải.

Năm 1960, Liênhợp quốc tổ chức Hội nghị về Luật biển lần hai (UNCLOSII); tuy nhiên,Hội nghị sáu tuần ở Geneva đã không đạt được tiến bộ nào mới.Nhìn chung, các nước đang phát triển chỉ tham dựnhư khách mờimà không nói lênđược tiếng nói của mình

Năm 1967, vấn đề về các tuyên bố khác nhau về lãnh hải đã được nêu ra tại

Liên hợp quốc Năm 1973, Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ 3 về Luật biển (Third

United Nations Conference on the Law of the Sea) được tổ chức tại New York Để

cố gắng giảm khả năng các nhóm quốc gia thống trị đàm phán,Hội nghị dùng mộtquy trình đồng thuận thay cho bỏ phiếu lấy đa số Với hơn 160 nước tham gia,Hộinghị kéo dài đến năm 1982 mới hoàn chỉnh dự thảo công ước, các nước bắt đầutham gia ký kết Từ ngày 16 tháng 11 năm 1994, Công ước chính thức có hiệu lực

Với 320 điều khoản và 9 Phụ lục, Công ước Luật Biển 1982 được coi là bảnhiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế, không chỉ bao gồm các điều khoản kếthừa từ các điều ước quốc tế trước đó về biển mà còn pháp điển hoá các quy địnhmang tính tập quán quốc tế, tồn tại qua một thời gian dài trong thực tiễn của cácquốc gia, cũng như những xu hướng phát triển mới trong thực tiễn sử dụng vàkhai thác biển và đại dương

Những chế định quan trọng của Công ước:

Công ước khẳng định lại cách thức xác định đường cơ sở dùng để tínhchiều rộng lãnh hải dựa trên hai phương pháp: đường cơ sở thẳng và đường cơ sởtheo ngấn nước thủy triều thấp nhất ven bờ biển Vùng nước phía bên trong đường

cơ sở là nội thủy, phía bên ngoài đường cơ sở ra đến 12 hải lý là lãnh hải

Tại nội thủy, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ và tuyệt đốinhư đối với lãnh thổ đất liền Tại lãnh hải, quốc gia ven biển có chủ quyền đối với

Trang 14

vùng nước, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển và vùng trời phía trên lãnhhải, đồng thời, quốc gia ven biển phải tôn trọng quyền đi qua không gây hại tronglãnh hải của tàu thuyền nước ngoài.

Quốc gia ven biển có quyền xác định vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải

lý, vùng thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý, tối đa là 350 hải lý Tại các vùng biểnnày, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền thăm dò, khai thác, bảo quản tàinguyên, quyền tài phán đối với nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường biển,lắp đặt và sử dụng các thiết bị, công trình Các quốc gia khác có quyền tự do hànghải và hàng không, quyền tự do đặt cáp và ống dẫn ngầm

Bên ngoài các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tàiphán của quốc gia ven biển là vùng biển quốc tế, nơi tất cả các quốc gia có quyền

tự do hàng hải, đánh bắt cá; có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường, chống tộiphạm, đặc biệt là tội phạm cướp biển, chuyên chở, buôn bán ma túy, chất độchại… Đáy biển và lòng đất dưới đáy biển phía ngoài thềm lục địa của quốc giaven biển là tài sản chung của nhân loại, Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đạidương thay mặt các quốc gia thành viên quản lý việc thăm dò, khai thác tàinguyên ở đây theo chế độ chung

Công ước có nhiều điều khoản quy định về chế độ hợp tác giữa các quốcgia thành viên để điều chỉnh việc sử dụng các eo biển dùng cho hàng hải quốc tếhay các biển kín và nửa kín, thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học biển, chống ônhiễm môi trường biển, bảo đảm tự do và an toàn hàng hải, bảo vệ hệ thống dâycáp và ống dẫn ngầm

Đặc biệt, Công ước có hẳn một phần quy định chi tiết các nguyên tắc, thủtục, cơ chế giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế liên quan đến giải thích và

áp dụng Công ước

Trang 15

Chương 4: Tình hình áp dụng Công ước Quốc tế về Luật biển

tại Việt Nam

Trên cơ sở các căn cứ và nguyên tắc pháp lý của Công ước Luật Biển năm

1982, các nước ven biển đều xây dựng cho mình các văn bản pháp lý về biển, lãnhhải, vùng tiếp giáp lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa

Việt Nam là một trong 9 quốc gia nằm bao bọc biển Đông, có bờ biển dàitrên 3.260 km[1] Năm 1994, Việt Nam đã phê chuẩn và chính thức trở thành thànhviên của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 Tuy nhiên, cho đếntrước ngày 21/06/2012, Việt Nam chưa có một văn bản luật về biển mà chỉ mới cócác quy định trong một số văn bản pháp quy liên quan Biển Đông luôn có vị trí ýnghĩa vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, trongphòng thủ bảo vệ tổ quốc và trong giải quyết mối quan hệ giữa các nước lánggiềng

Ngày 23/06/1994, Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc: Phê chuẩn Công

ước Luật Biển năm 1992, trong đó nêu rõ: “Quốc hội giao cho Uỷ ban thường vụ

Quốc hội và Chính phủ nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết đối với các quy định liên quan của pháp luật quốc gia cho phù hợp với Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, bảo đảm lợi ích của Việt Nam”

Luật Biển Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2013, là Bộ luật đầy đủquy định pháp lý của các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền củaViệt Nam theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).Luật Biển Việt Nam gồm có 07 chương và 55 Điều đề cập đến các nội dung chủyếu sau: Các nguyên tắc, chính sách quản lý và bảo vệ biển; phạm vi và quy chếcác vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềmlục địa; quy chế các đảo, quần đảo Việt Nam; các hoạt động trong vùng biển ViệtNam; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ; bảo vệ tài nguyên và môi trường biển; nghiên

Trang 16

cứu khoa học biển; phát triển kinh tế biển; tuần tra kiểm soát trên biển; hợp tácquốc tế về biển Trong đó có một số nội dung đáng chú ý cụ thể:

Thứ nhất, Luật Biển tái khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam đối

với các đảo, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đã được nêu tạimột số quy định trong các văn bản luật đã có trước đây (như Luật Biên giới quốcgia năm 2003)

Thứ hai, Luật Biển quy định về việc xác định đường cơ sở, phạm vi và chế

độ pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam (nội thủy, lãnh hải) vàcác vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam (Điều 8 đến Điều 18)

Thứ ba, Luật Biển làm rõ thêm khái niệm về đảo, quần đảo, đá… phù hợp

với các quy định của Công ước Luật Biển của Liên Hợp quốc năm 1982(UNCLOS) và bảo đảm quyền lợi biển của Việt Nam

Thứ tư, Luật Biển dành hẳn một chương riêng (Chương IV) về phát triển

kinh tế biển, huy động mọi nguồn lực của Nhà nước, công dân, các tổ chức trong

và ngoài nước, trên cơ sở nguyên tắc phát triển kinh tế biển phải gắn với sựnghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn trênbiển

Năm là, về vấn đề tranh chấp biển, đảo với một số nước láng giềng: Luật

Biển Việt Nam quy định rõ Nhà nước Việt Nam chủ trương giải quyết các bấtđồng, tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháphòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia,phù hợp với Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, pháp luật và thựctiễn quốc tế Đây là chủ trương nhất quán của Nhà nước ta Chúng ta đã, đang và

sẽ kiên trì thực hiện chủ trương này

Luật Biển ra đời là một bước tiến rất quan trọng trong quá trình hoàn thiệnkhuôn khổ pháp lý liên quan biển, đảo của nước ta: “Chủ quyền của Việt Nam đối

Trang 17

với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tiếp tục được thể hiện rõ trong LuậtBiển” Với việc thông qua Luật Biển lần đầu tiên Việt Nam có một văn bản Luậtquy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủquyền của Việt Nam theo đúng Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm

1982 Luật cũng xác định rõ nguyên tắc, chính sách quản lý, bảo vệ biển, đảo củaViệt Nam nói chung và nguyên tắc chính sách phát triển kinh tế biển của ViệtNam nói riêng Đây là cơ sở pháp lý quan trong trong việc quản lý, bảo vệ và pháttriển kinh tế biển đảo của Việt Nam

Việc thông qua Luật Biển đã làm cho các quy định của luật pháp Việt Namhòa nhập hơn với các quy định của Luật Biển quốc tế, cụ thể là Công ước củaLiên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 Luật Biển Việt Nam khẳng định chủtrương giải quyết các tranh chấp biển, đảo bằng các biện pháp hòa bình và tăngcường hợp tác quốc tế về biển với các nước và tổ chức quốc tế

Có thể khẳng định Luật Biển Việt Nam ra đời đã thực sự trở thành dấu ấnpháp lý của Việt Nam trên Biển Đông, chúng ta đã chuyển một thông điệp quantrọng đến cộng đồng quốc tế Đó là: “Việt Nam là một thành viên có trách nhiệmtrong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ướcLiên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, phấn đấu vì hòa bình, ổn định, hợp tác vàphát triển của khu vực và trên thế giới”

Quan điểm của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về các vùng biển của Việt Nam (lãnh hải, tiếp giáp, đặc quyền kinh tế, thềm lục địa):

A) Trước khi ban hành Luật Biển Việt Nam

Các vùng này được quy định trong Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa

XHCN Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyềnkinh tế và thềm lục địa Việt Nam Đây là văn bản pháp quy đầu tiên của Việt Nam

về lĩnh vực biển và là cơ sở nền tảng cho các văn bản pháp quy sau này Theo đó:

Trang 18

- Lãnh hải của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý,

ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểmngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam tính từ ngấn nước thuỷ triều thấpnhất trở ra

- Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợpvới lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng

để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam

- Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biểnrộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam

- Thềm lục địa của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm

đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa ViệtNam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơinào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hảiViệt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từđường cơ sở đó

Mặc dù hai Tuyên bố của Việt Nam đều được ban hành trước khi UNCLOS

có hiệu lực nhưng nhìn chung là phù hợp với quy định của UNCLOS Hai tuyên

bố này đã tạo cơ sở pháp lý để xác định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng cácvùng biển của Việt Nam và là căn cứ để xác định đường biên giới, khẳng định chủquyền quốc gia và an ninh của Việt Nam trên biển Hơn nữa, sau khi phê chuẩnCông ước Liên hợp quốc về Luật Biển, ngày 23/6/1994 Quốc hội đã có nghị quyết

“Giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ nghiên cứu để có những

sữa đổi, bổ sung cần thiết đối với các quy định liên quan của pháp luật quốc tế cho phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, bảo đảm lợi ích của Việt Nam”

Trang 19

B) Các vùng biển theo Luật Biển Việt Nam

Điều 3 - Luật Biển Việt Nam xác định “Vùng biển Việt Nam bao gồm nội

thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982” Như vậy, vùng biển của Việt

Nam hoàn toàn tuân theo quy định của UNCLOS

Chương II (từ Điều 8 đến Điều 21) của Luật Biển Việt Nam quy định

cụ thể về chế độ pháp lý của từng vùng biển.

Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía

biển Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt

Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải

Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt

Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từđường cơ sở

Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm

ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền,các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa Trongtrường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thìthềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở Trong trườnghợp mép ngoài của rìa lục địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thìthềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặckhông quá 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500m

Trang 20

Có thể nhận thấy rằng khái niệm Nội thủy, Lãnh hải, Vùng tiếp giáp lãnhhải, Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trong Luật Biển Việt Nam đều dựa trênkhái niệm nêu tại UNCLOS Chế độ pháp lý đối với các vùng biển Việt Nam cũngphù hợp với quy định của UNCLOS nhưng cụ thể, chi tiết và đầy đủ hơn so vớicác Tuyên bố của Chính phủ ngày 12/5/1977 và 12/11/1982.

Đặc biệt, ngay từ Điều 1, Luật Biển Việt Nam quy định: “Luật này quy

định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo

vệ biển, đảo”; và khoản 2 - Điều 19, Luật Biển Việt Nam quy định: “Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam” Điều đó thể hiện sự gắn bó, không thể chia cắt của một bộ phận lãnh

thổ, khẳng định chủ quyền đầy đủ, toàn vẹn của nước ta đối với các đảo, quầnđảo; một lần nữa khẳng định lập trường nhất quán của hệ thống pháp luật và quanđiểm của Việt Nam về chủ quyền lãnh thổ đối với hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa Đồng thời, điều này cũng phù hợp với Hiến pháp năm 1992, Luật Biêngiới quốc gia năm 2003, các Tuyên bố năm 1977 và 1982 cũng như Nghị quyếtcủa Quốc hội năm 1994 phê chuẩn Công ước Luật biển 1982

Trang 21

Phần II: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN THEO

LUẬT HÀNG HẢIYêu cầu 1: Nêu những quy định của Luật Hàng hải Việt Nam về nghĩa

vụ, trách nhiệm và quyền miễn trách nhiệm của người vận chuyển

a) Nghĩa vụ của người vận chuyển:

Theo điều 150 của bộ luật hàng hải Việt Nam 2015 người chuyên chở cónghĩa vụ là:

Người vận chuyển phải mẫn cán để trước và khi bắt đầu chuyến đi, tàubiển có đủ khả năng đi biển, có thuyền bộ thích hợp, được cung ứng đầy đủ trangthiết bị và vật phẩm dự trữ; các hầm hàng, hầm lạnh và khu vực khác dùng để vậnchuyển hàng hoá có đủ các điều kiện nhận, vận chuyển và bảo quản hàng hoá phùhợp với tính chất của hàng hoá

b) Trách nhiệm của người vận chuyển:

Theo điều 152 của bộ luật hàng hải Việt Nam 2015 người chuyên chở cótránh nhiệm là:

1 Trong trường hợp tính chất, giá trị của hàng hóa không được người giaohàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ trong vận đơn, giấy gửihàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác thì người vận chuyển chỉ cónghĩa vụ bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa hoặc tổn thất khác liên quan đếnhàng hóa trong giới hạn tối đa tương đương với 666,67 đơn vị tính toán cho mỗikiện hoặc cho mỗi đơn vị hàng hóa hoặc 02 đơn vị tính toán cho mỗi kilôgam

Trang 22

trọng lượng cả bì của số hàng hóa bị mất mát, hư hỏng tùy theo giá trị nào caohơn.

Đơn vị tính toán quy định trong Bộ luật này là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệquốc tế xác định và được quy ước là Quyền rút vốn đặc biệt

Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỷ giá tại thờiđiểm thanh toán bồi thường

2 Khi container hoặc công cụ tương tự được dùng để đóng hàng hóa thìmỗi kiện hoặc đơn vị hàng hóa đã ghi trong chứng từ vận chuyển, đã đóng vàocông cụ được coi là một kiện hoặc 01 đơn vị hàng hóa quy định tại khoản 1 Điềunày Trường hợp chứng từ vận chuyển không ghi rõ số kiện hoặc đơn vị hàng hóathì container hoặc công cụ đó chỉ được xem là 01 kiện hoặc 01 đơn vị hàng hóa

3 Trong trường hợp chủng loại và giá trị hàng hóa được người giao hàngkhai báo trước khi bốc hàng và được người vận chuyển chấp nhận, ghi vào chứng

từ vận chuyển thì người vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hưhỏng hàng hóa trên cơ sở giá trị đó theo nguyên tắc sau đây:

a) Đối với hàng hóa bị mất mát thì bồi thường bằng giá trị đã khai báo;b) Đối với hàng hóa bị hư hỏng thì bồi thường bằng mức chênh lệch giữagiá trị khai báo và giá trị còn lại của hàng hóa

Giá trị còn lại của hàng hóa được xác định trên cơ sở giá thị trường tại thờiđiểm và địa điểm dỡ hàng hoặc lẽ ra phải dỡ hàng; nếu không xác định được thìcăn cứ vào giá thị trường tại thời điểm và địa điểm bốc hàng cộng thêm chi phívận chuyển đến cảng trả hàng

4 Trách nhiệm của người vận chuyển đối với việc chậm trả hàng được giớihạn số tiền bằng hai phẩy năm lần giá dịch vụ vận chuyển của số hàng trả chậm,

Ngày đăng: 13/11/2019, 14:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w