1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tuyển chọn và sử dụng các bài tập hóa học có nội dung liên quan đến thực tiễn tại Hải Phòng trong chương trình hóa vô cơ ở trường trung học phổ thông : Luận văn ThS. Giáo dục học: 60 14 10

120 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể trong luận văn tôi nghiên cứu một cách có hệ thống bài tập hóa học có nội dung thực tiễn phần vô cơ - Tuyển chọn và xây dựng được một hệ thống bài tập có nội dung liên quan đến th

Trang 1

VSV Vi sinh vật

Trang 2

DANH MỤC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Kết quả điều tra tần suất sử dụng bài tập hóa học có nội dung

liên quan đến thực tiễn đối với giáo viên THPT 14 Bảng 1.2 Kết quả điều tra về việc sử dụng những nội dung hóa học có

liên quan đến thực tiễn 14 Bảng 1.3 Kết quả về sử dụng dạng bài tập có nội dung liên quan đến thực

tiễn 15 Bảng 1.4 Kết quả về ý kiến sử dụng bài tập hóa học có nội dung liên

quan đến thực tiễn đối với giáo viên THPT 15 Bảng 1.5 Kết quả điều tra về hứng thú khi học về những bài học có nội

dung liên quan đến thực tiễn 15 Bảng 1.6 Kết quả về điều tra thái độ của học sinh đối với bài tập có nội

dung liên quan đến thực tiễn 15 Bảng 1.7 Kết quả điều tra về nội dung liên quan đến thực tiễn , học sinh

thích 15 Bảng 1.8 Kết quả về ý kiến của học sinh về sự cần thiết của bài tập hóa

học có nội dung liên quan đến thực tiễn 16 Bảng 3.1 Bảng thống kê điểm bài kiểm tra trước tác động 85 Bảng 3.2 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích trường Lý

Thường Kiệt 88 Bảng 3.3 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích trường

Thủy Sơn 89 Bảng 3.4 Phân loại kết quả học tập của HS(%) 90 Bảng 3.5 Bảng các tham số đặc trưng 91 Bảng 3.6 Thông số xem xét sự khác biệt giá trị trung bình của 2 nhóm

(TN-ĐC) 93

Trang 3

DANH MỤC HÌNH

Trang Hình 3.1 Đường lũy tích biểu diễn kết quả kiểm tra trường Lý Thường Kiệt 88

Hình 3.2 Đường lũy tích biểu diễn kết quả bài kiểm tra trường Thủy Sơn 89 Hình 3.3 Đồ thị cột biểu diễn kết quả kiểm tra trường Lý Thường Kiệt 90 Hình 3.4 Đồ thị cột biểu diễn kết quả kiểm tra trường Thủy Sơn 90

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục các từ viết tắt ii

Danh mục bảng iii

Danh mục hình iv

Mục lục v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4

1.2 Cơ sở lí luận về bài tập hóa học 4

1.2.1 Khái niệm về bài tập hóa học 4

1.2.2 Ý nghĩa tác dụng của bài tập hóa học 4

1.2.3 Phân loại bài tập hóa học 5

1.2.4 Bài tập trắc nghiệm khách quan 5

1.2.5 Tuyển chọn và xây dựng bài tập hóa học 6

1.3 Cơ sở lí luận của bài tập hóa học thực tiễn 7

1.3.1 Khái niệm bài tập hóa học thực tiễn 7

1.3.2 Vai trò chức năng của bài tập hóa học thực tiễn 8

1.3.3 Phân loại bài tập hóa học thực tiễn 9

1.4 Năng lực và phát triển năng lực sáng tạo 12

1.4.1 Khái niệm năng lực 12

1.4.2 Phát triển năng lực 12

1.4.3 Năng lực sáng tạo 12

1.5 Đặc điểm tình hình kinh tế –xã hội của Hải Phòng 13

1.6 Điều tra thực trạng sử dụng bài tập hóa học có nội dung liên quan đến thực tiễn ở các trường THPT tại Hải Phòng 13

1.6.1 Mục đích điều tra 13

1.6.2 Nội dung điều tra 13

1.6.3 Đối tượng điều tra 14

1.6.4 Phương pháp điều tra 14

1.6.5 Kết quả điều tra 14

1.6.6 Đánh giá kết quả điều tra 16

Tiểu kết chương 1 16

Chương 2: TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC PHẦN

VÔ CƠ CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TIỄN TẠI HẢI

Trang 5

PHÒNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 17

2.1 Nguyên tắc ,quy trình lựa chọn bài tập hóa học có nội dung thực tiễn 17

2.1.1 Nguyên tắc lựa chọn bài tập hóa học có nội dung thực tiễn 17

2.1.2 Quy trình lựa chọn bài tập hóa học có nội dung thực tiễn 18

2.2 Sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học hóa học ở các trường THPT 20

2.2.1 Sử dụng bài tập khi nghiên cứu tài liệu mới 20

2.2.2 Sử dụng bài tập khi luyện tập và ôn tập 22

2.2.3 Sử dụng bài tập trong tiết kiểm tra, đánh giá 23

2.2.4 Sử dụng bài tập trong tiết thực hành 23

2.3 Cách giải bài tập thực tiễn 24

2.4 Hệ thống câu hỏi lý thuyết và bài tập thực tiễn hóa học phần vô cơ ở THPT 26

2.4.1 Chương halogen 26

2.4.2 Chương oxi-lưu huỳnh 36

2.4.3 Chương nitơ – photpho 48

2.4.4 Chươngcacbon – silic 56

2.4.5 Chương kim loại kiềm , kim loại kiềm thổ và nhôm 65

2.4.6 Chương sắt và một số kim loại quan trọng 75

Tiểu kết chương 2 83

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 84

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 84

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 84

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 84

3.2 Đối tượng và địa bàn TNSP 84

3.3 Thiết kế chương trình TNSP 85

3.4 Kết quả TN và xử lý kết quả TN 86

3.4.1 Xử lí theo thống kê toán học 86

3.4.2 Xử lí theo tài liệu nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng 91

Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

1 Kết luận 95

2 Khuyến nghị 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 99

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hoá học là một môn khoa học lý thuyết và thực nghiệm Việc dạy và học phải gắn lý thuyết với thực hành , thực tiễn đời sống và sản xuất Sử dụng bài tập trong các khâu của quá trình dạy học hóa học là rất cần thiết Việc sử dụng câu hỏi và bài tập có liên quan thực tiễn sẽ thường xuyên kích thích tính năng động sáng tạo của học sinh (HS) Khi đó học sinh sẽ cảm thấy vai trò thiết thực của khoa học hóa học với đời sống, sản xuất Sau khi giải một bài tập hóa học (BTHH) mà HS có thể giải đáp được những tình huống có vấn đề nảy sinh trong đời sống , trong lao động sản xuất thì sẽ l àm tăng lòng say mê học hỏi, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Đó có thể là những bài tập (BT) có những điều kiện và yêu cầu thường gặp trong thực tiễ n (bài tập thực tiễn) như: bài tập về cách sử dụng hóa chất; đồ dùng thí nghiệm; cách xử lí tai nạn

do hóa chất; bảo vệ môi trường; sản xuất hóa học; xử lí và tận dụng các chất thải … Tăng cường sử dụng bài tập thực tiễn trong d ạy và học hóa học sẽ góp phần thực hiện nguyên lí giáo dục : học đi đôi với hành , giáo dục đi đôi với sản xuất ,lí luận gắn liền với thực tiễn Bằng những kiến thức hóa học , trước tiên HS có thể giải đáp những câu hỏi “Tại sao ” nảy sinh từ thực tiễn và hơn nữa là có thể đưa ra những giải pháp tối

ưu có tình huống có vấn đề nảy sinh từ chính thực tiễn đó

Hiện nay trong chương trình SGK Hoá học 12 đã đưa ra chương 9 (Hoá học và vần đề phát triển kinh tế, xã hội, môi trường) ở cuối sách Song thực tế giảng dạy tôi thấy rằng những bài tập hoá học liên quan đến thực tiễn hoàn toàn có thể đưa vào lồng ghép ở mỗi bài dạy cho phù hợp Như vậy, không chỉ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, sáng tạo mà còn tăng thêm hứng thú cho học sinh đối với bộ môn, góp phần phát triển khả năng tư duy và hình thành thế giới quan cho học sinh

Đó là lí do tôi đã chọn đề tài : “Tuyển chọn và sử dụng các bài tập hoá học có

nội dung liên quan đến thực tiễn tại Hải Phòng trong chương trình hóa vô cơ ở trường trung học phổ thông ”

2 Mục đích , nhiệm vụ nghiên cứu

Tuyển chọn và sử dụng bài tập hoá học có nội dung liên quan đến thực tiễn tại Hải Phòng phần vô cơ ở trung học phổ thông (THPT)

Trang 7

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đề tài cần phải thực hiện những “nhiệm vụ nghiên cứu” cụ thể sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của bài tập hóa học thực tiễn

- Nghiên cứu nội dung ,cấu trúc chương trình và sách giáo khoa (SGK) hóa học phổ thông để tuyển chọn ,xây dựng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập hóa học có liên quan đến thực tiễn tại Hải Phòng phần vô cơ ở THPT để áp dụng giảng dạy ở các trường THPT

- Đề xuất việc sử dụng hệ thống bài tập thực tiễn trong dạy học hóa học

- Thực nghiệm sư phạm nhằm xác định tính khả thi ,tính phù hợp và hiệu quả của đề tài

3 Phạm vi nghiên cứu

Với mục đích , yêu cầu và nội dung luận văn t hạc sĩ sư phạm hóa học tôi nghiên cứu các bài tập trắc nghiệm khách quan và bài tập tự luận có nội dung gắn với thực tiễn

và thử nghiệm kiểm chứng trên đối tượng là học sinh THPT Lý Thường Kiệt –huyện Thủy Nguyên ,THPT Thủy Sơn – Thủy Nguyên –Hải Phòng

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT tại Hải Phòng 4.2 Đối tượng nghiên cứu : Hệ thống bài tập hóa học có nội dung liên quan đến thực

tiễn tại Hải Phòng phần hóa học vô cơ ở THPT

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu tuyển chọn và sử dụng tốt hệ thống câu hỏi và bài tập có nội dung liên quan đến

thực tiễn trong dạy học hóa học thì sẽ góp phần rè n luyện kĩ năng vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn ,phát triển năng lực sáng tạo và tư duy của học sinh qua đó n âng cao chất lượng dạy và học hóa học ở các trường THPT

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài , trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau :

- Nhóm các phươn g pháp nghiên cứu lí thuyết : phân tích, tổng hợp, các nguồn tài liệu

có liên quan đến đề tài

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễ n: phương pháp quan sát khoa học ,phương pháp chuyên gia ,phương pháp thực nghiệm sư phạm

Trang 8

- Nhóm các phương pháp xử lí thông tin : Xử lí trên phần mềm excel ,sử dụng thống kê toán học, khoa học giáo dục để xử lí và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

7 Những đóng góp mới của đề tài

- Góp phần làm đa dạng hóa về bài tập hóa học Cụ thể trong luận văn tôi nghiên cứu một cách có hệ thống bài tập hóa học có nội dung thực tiễn phần vô cơ

- Tuyển chọn và xây dựng được một hệ thống bài tập có nội dung liên quan đến thực tiễn tại Hải Phòng, phần vô cơ môn hóa học THPT nhằm nâng cao chất lượng dạy và học hóa học ở các trường THPT

- Đề xuất những biện pháp sử dụng bài tập hóa học có nội dung thực tiễn trong dạy học hóa học ở các trường THPT tại Hải Phòng

8.Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính cuả luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cở sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 : Tuyển chọn và sử dụng các bài tập hoá học phần vô cơ có nội dung liên quan đến thực tiễn tại Hải Phòng ở trường trung học phổ thông

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 9

PGS.TS.Nguyễn Xuân Trường nghiên cứu về bài tập thực nghiệm định lượng; PGS.TS

Lê Xuân Trọng; PGS.TSĐào Hữu Vinh; PGS.TS Cao Cự Giác và nhiều tác giả đã quan tâm đến nội dung và phương pháp giải toán hóa học ,câu hỏi và bài tập trắc nghiệm hóa học .Một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu để xây dựng hệ thống BTHH Tuy nhiên trong các nghiên cứ u hệ thống bài tập gần đây , đa số ít đề cập đến các dạng bài tập theo định hướng đổi mới như : Bài tập thực nghiệm ,thực tiễn ,bài tập có hình vẽ ,đồ thị, bài tập sử dụng dụng cụ thực hành hóa học ,bài tập bảo vệ môi trường .có thể sử dụng phù hợp với các tỉnh miền núi ,các vùng miền còn khó khăn về mọi mặt Vì vậy việc sử dụng bài tập thực tiễn trong giảng dạy nhằm khai thác vốn hiểu biết , kinh nghiệm của học sinh cũng chưa được quan tâm một cách đúng mức

1.2 Cơ sở lí luận về bài tập hóa học

1.2.1 Khái niệm về bài tập hóa học

Bài tập hoá học là nhiệm vụ học tập giáo viên đặt ra cho người học, buộc người học phải vận dụng các kiến thức đã biết hoặc các kinh nghiệm thực tiễn, sử dụng các hành động trí tuệ hay hành động thực tiễn để giải quyết các nhiệm vụ đó, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng một cách tích cực, hứng thú và sáng tạo

1.2.2 Ý nghĩa tác dụng của bài tập hóa học

1.2.2.1 Ý nghĩa trí dục

- Làm chính xác hóa các khái niệm hóa học Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được các kiến thức vào việc giải bài tập, học sinh mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc

- Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất Khi ôn tập, học sinh sẽ buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức Thực tế cho thấy học sinh chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập

-Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng hóa học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóa học

-Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường

-Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và các thao tác tư duy

Trang 10

1.2.2.2 Ý nghĩa phát triển

Phát triển ở học sinh các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát độc lập, thông minh và sáng tạo

1.2.2.3 Ý nghĩa giáo dục

Rèn luyện cho học sinh đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học Hóa học Bài tập thực tiễn, thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động (lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc)

1.2.3 Phân loại bài tập hóa học

- Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh khi giải bài tập : bài tập lí thuyết và bài tập thực nghiệm

- Dựa vào tính chất của bài tập: bài tập định tính và bài tập định lượng

- Dựa vào kiểu bài hay dạng bài: bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất, tính phần trăm hỗn hợp, nhận biết, tách, điều chế …

- Dựa vào nội dung:

+bài tập nồng độ, điện phân, áp suất…

+bài tập có nội dung thuần tuý hoá học, bài tập có nội dung gắn với thực tiễn

- Dựa vào mức độ nhận thức của học sinh : bài tập kiểm tra sự nhớ lại, hiểu, vận dụng

1.2.4.2 Phân loại câu trắc nghiệm

Câu hỏi trắc nghiệm khách quan chia làm 4 loại chính:

a.Câu trắc nghiệm “Đúng -Sai”

Đây là loại câu hỏi được trình bày dưới dạng câu phát biểu và học sinh trả lời bằng cách lựa chọn một trong hai phương án “Đúng” hoặc “ Sai”

Trang 11

b Câu trắc nghiệm “Nhiều lựa chọn”

Đây là loại câu hỏi thông dụng nhất Loại này có một câu phát biểu căn bản gọi là câu dẫn và có nhiều câu trả lời để học sinh lựa chọn trong đó chỉ có một câu trả lời đúng nhất còn lại đều là sai ,là câu mồi hay câu nhiễu

c Câu trắc nghiệm“Ghép đôi”

Đây là loại hình đặc biệt của loại câu hỏi nhiều lựa chọn trong đó học sinh tìm cách ghép câu trả lời ở cột này với câu trả lời ở cột khác cho phù hợp

d Câu trắc nghiệm“Điền khuyết ”

Đây là câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhưng có câu trả lời tự do Học sinh viết câu trả lời bằng một vài từ hoặc câu ngắn

1.2.5 Tuyển chọn và xây dựng bài tập hóa học

Thực tế cho thấy có nhiều BTHH còn quá nặng nề về thuật toán , nghèo nàn về kiến thức hóa học và không có liên hệ với thực tế hoặc mô tả không đúng với quy trình hóa học Khi giải các bài tập này thường mất thời gian tính toán toán học ,kiến thức hóa học lĩnh hội được không nhiều và hạn chế khẳ năng sáng tạo nghiên cứa khoa học hóa học của HS Các bài tập này dễ tạo lối mòn trong suy nghĩ hoặc nhiều khi lại quá phức tạp với HS làm cho các em thiếu tự tin vào bản thân dẫn đến học kém , chán học

Định hướng xây dựng chương trình SGK THPT của Bộ Giáo dục và Đào tạo (năm 2002) có chú trọng đến tính thực tiễn và đặc thù của môn học trong lựa chọn nội dung kiến thức SGK Quan điểm thực tiễn và đặc thù của môn học cần được hiểu ở các góc độ sau đây :

- Loại bỏ những nội dung trong hóa học nghèo nàn nhưng lại cần đến những thuật toán phức tạp để giải

- Loại bỏ những bài tập có nội dung lắt léo, giả định rắc rối ,phức tạp ,xa rời hoặc phi thực tiễn hóa học

- Xây dựng nhiều bài tập có nội dung liên quan đến thực tiễn ở nhiều lĩnh vực ( môi trường, sức khỏe, lao động sản xuất ……)

- Đa dạng hóa các dạng bài tập như : Vẽ hình , vẽ đồ thị, sơ đồ , lắp dụng cụ thí nghiệm ….Nội dung kiến thức phải gắn với thực hành, thí nghiệm hóa học và tăng cường thí nghiệm hóa học

Trang 12

- BTHH phải đa dạng phải có nội dung thiết thực trên cơ sở của định hướng xây dựng chương trình hóa học phổ thông Do đó BTHH trong giai đoạn hiện nay cần đảm bảo các yêu cầu :

+ Nội dung BTHH phải ngắn gọn, xúc tích, không quá nặng về tính toán

mà chú ý tập trung về rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy hóa học và hành động cho HS

+ BTHH cần chú ý đến mở rộng kiến thức hóa học và các ứng dụng của hóa học trong thực tiễn thông qua BTHH này HS thấy được việc học hóa học có ý nghĩa

+ BTHH định lượng được xây dựng trên quan điểm không phức tạp hóa bởi các thuật toán mà chú trọng đến nội dung hóa học và các phép tính được sử dụng nhiều trong tính toán hóa học

+ Cần sử dụng bài tập TNKQ , chuyển hóa một số dạng BT tự luận , tính toán sang dạng bài TNKQ

- Xây dựng và tăng cường sủ dụng bài tập thực nghiệm định lượng

Như vậy xu hướng phát triển của BTHH hiện nay hướng đến rèn luyện khẳ năng vận dụng kiến thức, phát triển khẳ năng tư duy hóa học cho HS ở các tiết lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những dạng bài tập có tính chất học thuộc trong các bài tập lí thyết sẽ giảm dần mà được thay thế bằng các dạng BT đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi

1.3 Cơ sở lí luận của bài tập hóa học thực tiễn

1.3.1 Khái niệm bài tập hóa học thực tiễn

Bài tập thực tiễn là những bài tập có nội dung ( những điều kiện và yêu cầu) xuất phát từ thực tiễn Quan trọng nhất là các bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc sống và sản xuất, góp phần giải quyết một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn

1.3.2 Vai trò chức năng của bài tập hóa học thực tiễn

1.3.2.1 Về kiến thức

- Thông qua bài tập thực tiễn HS hiểu kĩ hơn các khái niệm , tính chất hóa học , củng cố kiến thúc một cách thường xuyên và hệ thống h óa kiến thức , mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú mà không làm cho HS tiếp thu kiến thức một cách nặng nề

- Giúp HS hiểu thêm về thiên nhiên , môi trường sống xung quan h, ngành sản xuất hóa học, những vấn đề mang tính thời sự trong nước và quốc tế

Trang 13

- Bước đầu giúp học sinh vận dụng kiến thức để lí giải và cải tạo thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống

1.3.2.2 Về kĩ năng

- Rèn luyện và phát triển cho HS năng lực nhậ n thức ,năng lực thích ứng, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác và làm việc theo nhóm

- Rèn luyện và phát tri ển các kĩ năng học tập như : Kĩ năng thu thập thông tin , vận dụng kiến thức để giải quyết tính huống có vấn đề một cách linh hoạt, sáng tạo

- Rèn luyện kĩ năng thực hành hóa học

- Bồi dưỡng và phát triển các thao tác tư duy: quan sát, so sánh, phân tích,suy đoán, tổng hợp…

1.3.2.3 Về giáo dục tư tưởng

- Rèn cho HS tính kiên nhẫn ,tự giác ,chủ động ,chính xác ,sáng tạo trong học tập và quá trính giải quyết các vấn đề thực tiễn

- Thông qua nội dung các bài tập thưc tiễn giúp HS thấy rõ lợi ích của việc học môn hóa học từ đó tạ o động cơ học tậ p tích cực , kích thích trí tò mò , óc quan sát , sự hiểu biết, làm tăng hứng thú học môn hóa học từ đó giúp HS say mê nghiên cứu khoa học và công nghệ giúp HS có những định hướng nghề nghiệp tương lai

1.3.2.4 Về giáo dục kĩ thuật tổng hợp

Bộ môn hóa học có nhiệm vụ giáo dụ c kĩ thuật tổng hợp cho HS , BTHH tạo điều kiện tốt cho HS làm việc này Những vấn đề của kĩ thuật của nền sản xuất yêu cầu được biến thành nội dung của các BTHH , lôi cuốn HS suy nghĩ về các vấn đề của kĩ thuật BTHH còn cung cấp cho HS những số liệu lý thú của kĩ thuật , những số liệu mới về phát minh, về năng suất lao động… giúp HS hòa nhập với sự phát triển của khoa học, kĩ thuật thời đại mình đang sống

1.3.3 Phân loại bài tập hóa học thực tiễn

Từ cơ sở phân loại bài tập hoá học nói chung, chúng ta có thể phân chia bài tập hoá học thực tiễn như sau:

1.3.3.1 Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh khi giải bài tập

+ Bài tập lý thuyết

+ Bài tập thực nghiệm

Trang 14

1.3.3.2 Dựa vào tính chất của bài tập

+ Bài tập định tính: giải thích các hiện tượng, các tình huống nảy sinh trong thực tiễn;

lựa chọn hoá chất cần dùng cho phù hợp với tình huống thực tiễn, nhận biết, tách, làm khô, tinh chế, đề ra phương hướng để cải tạo thực tiễn…

VD: Trong các nhà máy nước ở Hải Phòng người ta thường dùng clo để khử trùng nước sinh hoạt là một phương pháp rẻ tiền và dễ sử dụng Tuy nhiên cần phải thường xuyên kiểm tra nồng độ clo dư ở trong nước bởi vì lượng clo dư nhiều sẽ gây nguy hiểm cho con người và môi trường Cách đơn giản để kiểm tra lượng clo dư là dùng kali iôtua và

hồ tinh bột Hãy nêu hiện tượng của quá trình kiểm tra này và viết phương trình phản ứng xảy ra (nếu có)

+ Bài tập định lượng: tính lượng hoá chất cần dùng, pha chế dung dịch…

VD: Theo tính toán của các nhà khoa học mỗi ngày cở thể người cần được cung cấp 1,5.10 -4 g nguyên tố iot Nếu nguồn cung cấp chỉ là KI thì khối lượng KI cần dùng cho mỗi người trong một ngày là bao nhiêu ?

+ Bài tập tổng hợp : bao gồm cả kiến thức định tính lẫn định lượng

1.3.3.3 Dựa vào lĩnh vực thực tiễn được gắn với nội dung bài tập

+ Bài tập về sản xuất hoá học :

Ví dụ: Trong quá trình sản xuất vôi xảy ra phản ứng sau :

CaCO 3 CaO + CO 2 – Q

a.Làm cách nào để thu được nhiều vôi Trong sản xuất người ta giải quyết như thế nào? b.Nung 1 tấn đá vôi chứa 8% tạp chất Tính khối lượng vôi sống thu được nếu hiệu suất phản ứng là 95%

+ Bài tập về các vấn đề trong đời sống, học tập và lao động sản xuất:

* Giải quyết các tình huống có vấn đề trong quá trình làm thực hành, thí nghiệm: sử dụng dụng cụ thí nghiệm, sử dụng hoá chất hợp lí; xử lí tai nạn xảy ra, phòng chống độc hại, ô nhiễm trong khi làm thí nghiệm…

Ví dụ: Trong khi làm thí nghiệm chẳng may em bị vài giọt axit sunfuric đặc dây vào tay Lúc đó em sẽ xử lí tai nạn này như thế nào một cách có hiệu quả nhất ? Biết rằng trong phòng thí nghiệm có đầy đủ các loại hoá chất

Trang 15

* Sử dụng và bảo quản các hoá chất, sản phẩm hoá học trong ăn uống, chữa bệnh, giặt giũ, tẩy rửa…

VD:Trong vùng Lưu Kiếm –Thủy Nguyên –Hải Phòng có trồng rất nhiều sắn Sắn có chứa hiđroxianua (HCN) là một chất lỏng không màu, rất dễ bay hơi và cực độc Hàm lượng giới hạn cho phép trong không khí là 3.10 -4 mg/lít Những trường hợp bị say hay chết vì ăn sắn là do trong sắn có một lượng nhỏ HCN Lượng hiđroxianua còn tập trung khá nhiều ở phần vỏ sắn Để không bị nhiễm độc xianua do ăn sắn , theo em khi luộc sắn cần phải làm gì ?

* Sơ cứu tai nạn do hoá chất

* An toàn trong lao động sản xuất, an toàn thực phẩm

VD: Trong cuốn sách “ Những điều cần biết và nên tránh trong cuộc sống hiện đại” có viết rằng: Đồ ăn uống có chất chua không nên đựng trong đồ dùng bằng kim loại mà nên đựng trong đồ dùng bằng thuỷ tinh, sành sứ Nếu ăn uống đồ ăn có chất chua đựng trong đồ dùng bằng kim loại thì có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ Em hãy giải thích vì sao?

* Giải thích các hiện tượng, tình huống có vấn đề nảy sinh trong đời sống, lao động sản xuất

VD : Vì sao trộn phân đạm một lá (NH 4 ) 2 SO 4 và hai lá NH 4 NO 3 hoặc nước tiểu với vôi Ca(OH) 2 hay tro bếp (hàm lượng K 2 CO 3 cao ) đều bị mất đạm

+Bài tập có liên quan đến môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường

* Tìm hiểu nguyên nhân gây ô nhiễm

VD: Để kiểm tra tình trạng gây ô nhiễm môi trường của một nhà máy sản xuất supe phôtphat, người ta đã lấy mẫu đất xung quanh nhà máy để phân tích Kết quả phân tích cho thấy đất đó có pH = 2,5 Như vậy là đất đó đã bị quá chua (đất có pH < 6,5 gọi là đất chua) Vậy ta phải xử lí như thế nào để cho đất đỡ chua? Theo em, nguyên nhân nào làm cho đất bị chua?

Mỗi lĩnh vực thực tiễn trên lại bao gồm tất cả các loại bài tập định tính, định lượng, tổng hợp; bài tập lí thuyết, bài tập thực hành

1.3.3.4 Dựa vào mức độ nhận thức của học sinh

+ Mức 1: Chỉ yêu cầu học sinh tái hiện kiến thức để trả lời câu hỏi lí thuyết

Trang 16

VD: Xi măng Hải Phòng có thành phần hóa học chính là gì và được sản xuất như thế nào?

+ Mức 2: Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức để giải thích được các sự kiện, hiện

tượng của câu hỏi lí thuyết

VD: Khi mới cắt, miếng natri có bề mặt sáng trắng của kim loại Sau khi để một lát trong không khí thì bề mặt đó không còn sáng nữa mà bị xám lại Hãy giải thích nguyên nhân và viết phương trình phản ứng xảy ra nếu có

+ Mức 3: Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức hoá học để giải thích những tình huống

xảy ra trong thực tiễn

VD : Khi làm bánh từ bột mì không có bột nở thì bánh không xốp nhưng nếu trộn thêm

vào bột mì một ít nước phèn nhôm – kali { K 2 SO 4 Al 2 (SO4) 3 24H 2 O} và xôđa

(Na 2 CO 3 10H 2 O ) thì bánh nở phồng, xốp sau khi nướng

a.Hãy giải thích hiện tượng trên

b.Cần cho phèn và xôđa theo tỉ lệ khối lượng nào thì hợp lí?

c.Nếu ta thay phèn bằng một lượng dung dịch axit clohiđric vừa đủ vào hỗn hợp bột trên có được không? Vì sao?

+ Mức 4: Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng hoá học để giải quyết những

tình huống thực tiễn hoặc để thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học nhỏ, đơn giản, đề ra kế hoạch hành động cụ thể, viết báo cáo

Từng mức độ trên có thể được chia làm nhiều mức độ nhỏ hơn nữa để phù hợp với trình độ của học sinh đồng thời cũng thể hiện sự phân hoá học sinh trong cùng một bài, trong hệ thống bài tập thực tiễn

Trên đây là một số cách phân loại bài tập thực tiễn Tuy nhiên, có nhiều bài tập thực tiễn lại là tổng hợp của rất nhiều loại bài

1.4 Năng lƣ̣c và phát triển năng lƣ̣c sáng tạo

1.4.1 Khái niệm năng lực

- Có nhiều quan điểm khác nhau về các vấn đề liên quan đến năng lực như :

Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt kết quả

Theo Weinert “Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của

cá thể nhằm giải quyết c ác tình huống xác định , cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã

Trang 17

hội và khẳ năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong các tình huống linh hoạt”

1.4.2 Phát triển năng lực

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý đến việc tích cực hóa HS về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giả i quyết vấn đề gắn với nh ững cuộc sống và nghề nghiệp đồng thời gắn với hoạ t động trí tu ệ với hoạt động thực hành, thực tiễn

Trong học tập hóa học, việc gải các BTHH là một trong những hoạt động chủ yếu

để phát triển năng lực nhận thức Mặt khác tăng cường việc hoạt động trong nhóm, đổi mới quan hệ HS -GV theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp n hằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

1.4.3 Năng lực sáng tạo

1.4.3.1 Khái niệm sáng tạo

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Liên Xô –tập 42: “Sáng tạo là một hoạt động

mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị thực tiễn ”

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng : “Sáng tạo là tạo ra giá trị mới, giá trị có ích hay

có hại tùy theo quan điểm của người sử dụng và đối tượng nhận hiệu quả dùng”

1.4.3.2 Những quan điểm về năng lực sáng tạo của học sinh

- Năng lực tự chuyển tải tri thức và kĩ năng từ lĩnh vực quen thuộc sang tình huống mới

- Năng lực nhận thấy vấn đề mới trong điều kiện quen biết

- Năng lực nhận thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên cứu

-Năng lực biết đề xuất các giải pháp khác nhau

-Năng lực xác nhận bằng lí thuyết và thực hành các giả thuyết

- Năng lực nhìn nhận một vấn đề dưới những góc độ khác nhau

1.5 Đặc điểm tình hình kinh tế –xã hội của Hải Phòng

Đây là nơi có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội, công nghệ thông tin và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển

Trang 18

phía Bắc Với lợi thế cảng nước sâu nên vận tải biển rất phát triển, đồng thời là một trong những động lực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ

Là nơi có ưu thế về tình hình kinh tế, xã hội, tuy nhiên với đại đa số học sinh khi học, yêu cầu các em giải thích các hiện tượng trong thưc tế, liên quan nhiều đến cuộc sống, nhiều em không giải thích được Chẳng hạn: tại Thủy Nguyên Hải Phòng có nhiều

cơ sở đúc ở xã Chính Mĩ khi hỏi “quy trình đúc đồng hay nguyên liệu để sản xuất đồng

là gì ?”, “Nhà máy hóa chất đất đèn dùng để sản xuất ra những nguồn nhiên liệu nào và tại sao khi cho đất đèn xuống ao thì cá bị chết?”, để tiêu diệt chuột người ta dùng chất gì

? Đó là các kiến thức mà đòi hỏi khi ra cuôc sống các em cần phải biết Thậm chí nhiều học sinh con nhà nông nghiệp cũng không biết tại sao phải bón phân cho cây theo đúng thời kì và đúng loại hay tại sao trước khi bón phân phải khử chua trước và khử chua bằng cách nào? Vì vậy các dạng bài tập thực tiễn lồng ghép trong các tiết học giải thích các hiện tượng tự nhiên, liên quan trực tiếp đến đời sống các em, làm giờ học hóa trở nên sôi nổi, HS hào hứng khi tự mình có thể giải thích được các vấn đề trong cuộc sống, từ đó HS thêm tin tưởng vào khoa học và biết sống, làm việc, lao động, sản xuất

có trách nhiệm với bản thân , gia đình và xã hội hơn

1.6 Điều tra thực trạng sử dụng bài tập hóa học có nội dung liên quan đến thực tiễn ở các trường THPT tại Hải Phòng

1.6.1 Mục đích điều tra

- Tìm hiểu thực trạng dạy và học hóa học ở các trường THPT

- Tìm hiểu hứng thú của học sinh với bộ môn hóa học

- Cách sử dụng BTHH có nội dung liên quan đến thực tiễn

1.6.2 Nội dung điều tra

- Điều tra về hứng thú của học sinh về hóa học ở trường THPT

- Điều tra về chất lượng dạy và học hóa học ở trường THPT

- Điều tra việc sử dụng các bài tập hóa học có nội dung liên quan đến thực tiễn ở trường THPT

1.6.3 Đối tượng điều tra

- Các giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn hóa học ở các trường THPT tại Hải Phòng

-Học sinh các trường THPT tại thành phố Hải Phòng

Trang 19

1.6.4 Phương pháp điều tra

- Gặp gỡ trực tiếp giáo viên và học sinh một số trường THPT

- Gửi và thu phiếu điều tra cho giáo viên và học sinh

1.6.5 Kết quả điều tra

- Tôi gửi phiếu điều tra tại 2 trường : THPT Lý Thường Kiệt , THPT Thủy Sơn với tổng số giáo viên 20 và tổng số học sinh 150( với HS gửi 2 phiếu điều tra trước và sau thực nghiệm )

- Tham gia dự giờ một số giáo viên dạy hóa tại các trường này

1.6.5.1 Trước khi thực nghiệm

- Thích học hóa : 120/150

- Lí do thích học hóa : vì hóa gắn liền với thực tiễn 100/150

1.6.5.2 Sau khi thực nghiệm

Bảng 1.1 Kết quả điều tra tần suất sử dụng bài tập hóa học có nội dung liên quan

đến thực tiễn đối với giáo viên THPT

Thường xuyên Thỉnh thoảng Ít khi Không bao giờ

Bài tập tính toán

Cả hai

Trang 20

Bảng 1.4 Kết quả về ý kiến sử dụng bài tập hóa học có nội dung liên quan đến

thực tiễn đối với giáo viên THPT

Cần thiết Không cần thiết Ý kiến khác

Bảng 1.5.Kết quả điều tra về hứng thú khi học về những bài học có

nội dung liên quan đến thực tiễn

Thích thú Bình thường Không thích

Bảng 1.6 Kết quả về điều tra thái độ của học sinh đối với bài tập có

nội dung liên quan đến thực tiễn

Môi trường Sức khỏe con

ngừời

Du lịch quốc phòng

Trong dời sống hàng ngày

Bảng 1.8 Kết quả về ý kiến của học sinh về sự cần thiết của bài tập hóa học có nội

dung liên quan đến thực tiễn

Cần thiết Không cần

thiết Ý kiến khác

Trang 21

Phần trăm 100% 0% 0%

1.6.6 Đánh giá kết quả điều tra

Qua số liệu có ở các bảng thu được ,chúng tôi nhận thấy :

- Đối với giáo viên, việc sử dụng bài tập có nội dung liên quan đến thực tế còn hạn chế nếu có thì ở mức độ trung bình

- Hầu hết các ý kiến giáo viên và học sinh cho rằng cần thiết phải có BTHH thực tiễn trong khi giảng dạy ở các trường THPT

- Hầu hết học sinh đều hứng thú với những bài học hoặc bài tập có nội dung liên quan đến thực tiễn

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1 chúng tôi đã đề cập đến: Cơ sở lí luận và thực tiễn của BTHH có nội dung liên quan đến thực tiễn trong dạy học hóa học ở các trường THPT tại Hải Phòng, cụ thể là: Lịch sử vấn đề nghiên cứu , Cơ sở lí luận về bài tập hóa họ c ,Cơ sở lí luận về bài tập hóa học thực tiễn , Năng lực và phát triển năng lực sáng tạo , Đặc điểm tình hình kinh tế –xã hội của Hải Phòng , Điều tra thực trạng sử dụng bài tập hóa học có nội dung liên quan đến vi ệc dạy và học hóa học của GV và HS ở các trường THPT tại Hải Phòng

Trang 22

CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC PHẦN VÔ CƠ CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TIỄN TẠI HẢI PHÒNG Ở

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Nguyên tắc ,quy trình lựa chọn bài tập hóa học có nội dung thực tiễn

2.1.1 Nguyên tắc lựa chọn bài tập hóa học có nội dung thực tiễn

a/ Bài tập thực tiễn phải phù hợp với mục tiêu và nội dung học tập

Các bài tập thực tiễn cần có nội dung sát với chương trình mà HS được học Nếu bài tập thực tiễn có nội dung hoàn toàn mới về kiến thức hóa học thì sẽ không tạo được động lực cho HS để giải bài tập đó

b/ Nội dung bài tập thực tiễn phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại

+ trong một bài tập hóa học thực tiễn, bên cạnh nội dung hóa học nó còn có những dữ liệu thực tiễn những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cách chính xác không tùy tiện thay đổi nhằm mục đích dễ tính toán được

+ Trong một số bài tập về sản xuất hóa học nên đưa vào các dây chuyền công nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam hoặc trên thế giới, không nên đưa các công nghệ đã quá

cũ và lạc hậu hiện không dùng hoặc ít dùng

c/ Bài tập thực tiễn phải gần gũi với kinh nghiệm của HS

Những vấn đề thực tiễn có liên quan đến hóa học thì rất nhiều, rất rộng Nếu bài tập hóa học thực tiễn có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm, với đời sống và môi trường xung quanh HS thì sẽ tạo cho các em động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi giải bài tập

Các em HS ở Hải Phòng có thể giải thích được câu hỏi: Quy trình đúc đồng diễn

ra như thế nào? hay đất đèn dùng để làm gì ? hay để sản xuất xi măng Hải Phòng cần những nguồn nguyên liệu nào?

HS với kinh nghiệm có được trong quá trình tham gia sản xuất và kiến thức hóa học đã có sẽ lựa chon phương án trả lời, giải thích sự lựa chọn của mình HS sẽ có sự háo hứng chờ đợi GV đưa ra đáp án đúng để khẳng định mình Trong bài tập này khi HS giải sẽ có một số khả năng xảy ra như sau:

+ HS lựa chọn và giải thích đúng Đây sẽ là niềm vui rất lớn đối với HS vì kiến thức của mình rất đúng theo khoa học

Trang 23

+ HS lựa chọn đúng nhưng không giải thích được hoặc giải thích chưa đúng + HS lựa chọn và giải thích chưa đúng

Trong trường hợp 2,3 HS sẽ cảm thấy tiếc nuối vì mình đã gần tìm ra câu trả lời từ

đó có động lực để quan sát thực tiễn và vận dụng kiến thức hóa học một cách linh hoạt hơn để giải thích thực tiễn hoặc thay đổi việc làm theo thói quen chưa đúng khoa học của mình vì những kinh nghiệm đúng thường có gắn với sự chính xác khoa học

d/ Phải đảm bảo logic sư phạm

Các tình huống thực tiễn thường phức tạp hơn những kiến thức hóa học phổ thông trong chương trình nên khi xây dựng bài tập thực tiễn cho HS cần phải có bước

xử lý sư phạm để làm đơn giản tình huống thực tiễn Các yêu cầu giải bài tập tình huống thực tiễn cũng phải phù hợp với trình độ và khả năng của HS

e/ Bài tập thực tiễn phải có tính hệ thống, logic

+ Các bài tập thực tiễn trong chương trình cần phải sắp xếp theo chương, bài, theo mức độ phát triển của HS Trong mỗi chương bài cần có các loại, dạng bài tập thực tiễn

+ Trong quá trình dạy học, thông qua kiểm tra, đánh giá, cần phải xây dựng những bài tập thực tiễn ở mức độ vừa và cao hơn một chút so với mức độ so với mức độ nhận thức của HS để nâng dần trình độ, khả năng nhận thức của HS

+ Biến hóa nội dung bài tập thực tiễn theo tiếp cận mođun Xây dựng một số bài tập thực tiễn điển hình (Xây dựng theo tiếp cận mođun) và từ đó có thể lắp ráp chúng vào các tình huống thực tiễn cụ thể, nội dung bài học cụ thể, hoặc tháo gỡ bài toán phức

tạp thành những bài toán đơn giản, tạo ra những bài tập mới

2.1.2 Quy trình lựa chọn bài tập hóa học có nội dung thực tiễn

Khi xây dựng bài tập thực tiễn GV cần lưu ý các vấn đề sau:

Bước 1:

+ Phân tích mục tiêu của chương, bài để định hướng cho việc thiết kế bài tập + Nghiên cứu kỹ nội dung các tài liệu giáo khoa, tài liệu tham khảo về nội dung hóa học và các ứng dụng hóa học của các chất trong thực tiễn, tìm hiểu các công nghệ, nhà máy sản xuất có liên quan đến nội dung của bài

Trang 24

+ Nghiên cứu đặc điểm trình độ nhận thức của HS, kinh nghiệm sống của HS để thiết kế bài tập thực tiễn cho phù hợp, tạo hứng thú cho HS khi giải các bài tập thực tiễn

đó

Bước 2:

+ Thiết kế bài tập thực tiễn phù hợp với những yêu cầu ở bước 1

+ Giải và kiểm tra lại bài tập thực tiễn

Dự kiến các cách giải của từng bài tập, dự kiến các cách giải của HS, dự kiến những sai lầm dễ mắc của HS trong quá trình giải và đưa ra cách khắc phục

Bước 3: Dự kiến thời điểm và phương pháp sử dụng để đạt hiệu quả cao nhất

Bước 4:Triển khai sử dụng BTTT trong dạy học hóa học

Bước 5: Chỉnh lý hoàn thiện BTTT

VD: Khi học bài “ các hợp chất của cacbon” GV có thể đưa hiện tượng tự nhiên cho HS giải thích

a Giải thích câu nói “Nước chảy đá mòn”

b Giải thích sự hình thành nhũ đá, măng đá trong các hang động ở Thủy Nguyên

Đây là hiện tượng tự nhiên và câu nói quen thuộc mà HS đã biết trong cuộc sống (HS có thể dựa vào kiến thức đã học ở bài hợp chất của cacbon để giải thích các vấn đề trên)

Bước 1:

- Mục tiêu của bài: các hợp chất của cacbon không phải là mới đối với HS vì vậy mục tiêu của bài này là tìm hiểu các hợp chất này dưới ánh sáng của lý thuyết về cấu tạo chất, sự điện li, thuyết cân bằng hóa học, lý thuyết về p/ư OXH – K … từ đó phải vận dụng những kiến thức đã biết để giải thích những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, trong đời sống, cải tạo thiên nhiên, nâng cao hiệu suất lao động, bài trừ mê tín dị đoan, nâng cao chất lượng cuộc sống…

- Tham khảo tài liệu về các vấn đề thực tiễn có liên quan đến các hợp chất của cacbon như: sản xuất vôi; tài liệu natri hidrocacbonat, đá vôi, thạch nhũ trong các hang động…

- Các hợp chất của cacbon rất quen thuộc đối với HS.Nhiều HS đã từng tham gia sử dụng chúng trong nông nghiệp, xây dựng, thuốc uống, phụ gia, thực phẩm…

Bước 2: Thiết kế bài tập: xây dựng bài tập ở hai mức 3,4

Trang 25

VD: Giải thích sự hình thành nhũ đá, măng đá trong các hang động ở Hang Lương - Thủy Nguyên - Hải Phòng

Dự kiến cách giải: Trên đỉnh các hang động, núi đá vôi có các kẽ nứt rất nhỏ khiến nước mưa thấm dần xuống kết hợp với đá vôi và khí cacbonic trong không khí tạo thành muối canxi hidrocacbonat tan chảy xuống:

CaCO3 + CO2 +H2O Ca(HCO3)2 Một phần muối canxi hidrocacbonat rơi xuống đất rồi mới chuyển thành đá vôi, qua nhiều năm tháng tạo thành măng đá

Ca(HCO3)2 CaCO3 + CO2 + H2O

Dự kiến những sai lầm của HS:

- HS có thể khó hiểu khái niệm măng đá nên cần có hình ảnh minh họa

- HS viết được PTHH nhưng giải thích có thể không mạch lạc

GV cần hướng dẫn các em cách trình bày ý nghĩ, lập luận của mình một cách có khoa học

Bước 3: Bài tập này nên sử dụng để luyện tập hoặc giao bài tập về nhà

Bước 4: Triển khai sử dụng BTTT trong dạy học hóa học

Bước 5: Chỉnh lý hoàn thiện BTTT

2.2 Sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học hóa học ở các trường THPT

2.2.1 Sử dụng bài tập khi nghiên cứu tài liệu mới

Trong giảng dạy chúng ta thường phải hướng dẫn học sinh nghiên cứu những vấn

đề mà học sinh chưa được học từ trước hoặc chưa biết một cách rõ ràng, chính xác Ở những tiết học này học sinh tiếp thu nội dung kiến thức mới về khái niệm, định luật, tính chất lí hóa, ứng dụng của các chất, các phản ứng hóa học hoặc có cách hiểu biết mới về kiến thức đã học, hoặc thấy rõ phạm vi giới hạn áp dụng kiến thức đã biết

a) Sử dụng bài tập hóa học nêu và giải quyết vấn đề

Hiện nay dạy học nêu vấn đề đang là một phương pháp dạy học tích cực có hiệu quả rất cao trong việc hoạt động hóa người học, phát triển con người tự chủ sáng tạo, để giải quyết tốt các tình huống có vấn đề thì một trong những phương pháp tối ưu nhất là

sử dụng bài tập

VD: Khi tiến hành điều chế clo khan trong phòng thí nghiệm bằng dd HCl đặc và KMnO4 học sinh quan sát sơ đồ thí nghiệm nhận xét

Trang 26

Vấn đề đặt ra là tại sao bình rửa khí (1) là dung dịch NaCl bão hòa, bình (2) là dung dịch H2SO4 đặc, nếu thay đổi thứ tự có được không? Vì sao?

Lọ đựng khí phải có bông tẩm NaOH, không có thì sẽ như thế nào, có thể cần thêm dụng cụ nào nữa để đảm bảo an toàn cho người làm thí nghiệm?

Như vậy bài tập này có tính chất nêu vấn đề, làm cho học sinh phải vận dụng những tính chất của các chất đã học để giải quyết vấn đề đó

Những vấn đề nêu ra như vậy nhằm kích thích tính tò mò, tư duy tích cực của học sinh Để giải quyết các vấn đề đặt ra ở trên, thông thường người ta đưa ra các bài tập để học sinh tự giải quyết vấn đề Sau khi đưa vấn đề dưới dạng những câu hỏi thực tiễn, học sinh tự giải quyết vấn đề và rút ra cho mình những nhận xét

b) Sử dụng bài tập hóa học trong việc củng cố kiến thức và kĩ năng

Đối với tiết nghiên cứu tài liệu mới, kiến thức và kĩ năng mới được hình thành sẽ chưa vững chắc nếu không được củng cố ngay Việc củng cố bằng cách nhắc đi nhắc lại nhiều lần một khái niệm, một tính chất cho đến nay không được coi là củng cố có chất lượng Nội dung bài tập củng cố có thể đưa ra ngay sau bài học

VD Khi giáo viên dạy bài "Cacbon và các hợp chất của cacbon" Sau khi giáo viên dạy xong phần điều chế khí CO Giáo viên có thể đưa ra bài tập sau:

Vì sao khí than ướt, khí lò ga có chứa CO độc nhưng người ta điều chế nó từ than

để làm nhiên liệu khí, chất khử trong công nghiệp luyện kim?

Giáo viên hướng dẫn cách làm như sau:

GV: Khi đốt than thì có những phản ứng nào xảy ra? Tạo thành sản phẩm nào?

Trang 27

Như vậy khi đốt than có thêm lượng khí CO sinh ra độc hại còn khi sử dụng nhiên liệu khí hoặc làm chất khử thì sản phẩm các phản ứng xảy ra hoàn toàn không có

CO

GV: Như vậy nếu biết cách sử dụng và vận hành tốt thì chúng ta có thể tận dụng cũng như sáng tạo ra những sản phẩm tương tự đem lại lợi ích kinh tế mà không ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người

Qua bài tập trên, không những học sinh nắm vững phương pháp điều chế CO và tính chất của C và hợp chất của C mà còn hiểu và biết thêm ý nghĩa sử dụng các nguồn nhiên liệu đốt, ứng dụng của chúng, những tác động đến môi trường khi sử dụng nhiên liệu trong đời sống, sinh hoạt

2.2.2 Sử dụng bài tập khi luyện tập và ôn tập

Các bài tập được sử dụng trong tiết học này, phần lớn là những bài tập có tính chất tổng hợp nhằm mục đích củng cố và giúp học sinh nắm chắc kiến thức và kĩ năng đã học

VD Sau khi học xong chương "Kim loại kiềm, kiềm thổ và nhôm" Giáo viên có thể đưa những bài tập có tính chất tổng hợp mà nội dung liên quan với thực tiễn, về ảnh hưởng của các hợp chất hóa học đối với sức khỏe con người

Các hợp chất nào sau đây được sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm? CaCl2, NaHCO3, Ca(HCO3)2, C6H5COONa, CaOCl2, NaCl, KNO3, MgSO4, NaNO2, MgCl2, NaSO3, Ca(H2PO4)2, C6H12NHSO3Na

Giáo viên gợi ý làm bài như sau:

GV: Những muối có ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe con người, làm giảm chất lượng thực phẩm cũng như thiết bị máy móc và các đồ dùng gia dụng khác?

HS: Đó là những muối chứa các ion Ca2+, Mg2+, Cl-, SO42-, HCO3

2-GV: Vì sao?

HS: Vì đó là những ion gây ra độ cứng cho nước

GV: Muối được ứng dụng trong công nghệ chế biến thực phẩm phải có những tính năng gì?

HS: Các muối phải có tính chất như: là chất bảo quản chống nấm mốc, chống sự oxi hóa, là chất phụ gia tạo màu, mùi, vị

Trang 28

GV: Vậy những muối nào trong số những muối trên được sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm?

HS: NaHCO3, C6H5COONa, NaCl, KNO3, NaNO2, NaSO3

GV bổ sung: Trong công nghiệp chế biến thực phẩm người ta có thể sử dụng: NaHCO3 làm chất tạo bột nở

C6H5COONa, NaCl, KNO3, NaNO2, NaSO3 làm chất chống nấm mốc, chống sự xâm nhập của vi khuẩn, chống sự oxi hóa

C6H12NHSO3Na làm chất tạo vị ngọt(đường hóa học) tốt cho các sản phẩm thực phẩm và nước giải khát có độ calo thấp, đặc biệt đối với người bị đái tháo đường

Ca(H2PO4)2 được sử dụng làm phân bón hóa học(phân lân)

2.2.3 Sử dụng bài tập trong tiết kiểm tra, đánh giá

Trong quá trình thực nghiệm chúng tôi đã sử dụng bài tập có nội dung liên quan đến thực tiễn trong tiết kiểm tra đánh giá. (xem phụ lục)

2.2.4 Sử dụng bài tập trong tiết thực hành

Tiết thực hành ở trường THPT hiện nay thường tiến hành theo phương pháp chứng minh, hoặc học sinh tiến hành thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên bộ môn Sử dụng những bài tập có nội dung liên quan, không những học sinh được kiểm chứng lại lý thuyết mà còn rèn luyện cho học sinh các thao tác kĩ năng tiến hành thí nghiệm an toàn, hiệu quả, biết phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, tác động đến sức khỏe, từ đó lựa chọn biện pháp xử lí

VD Khi làm các thí nghiệm giữa HNO3 đặc nóng, và Cu cần tiến hành như thế nào để đảm bảo an toàn và không ảnh hưởng đến môi trường? Viết phương trình phản ứng xảy ra

Hương dẫn: Khi làm các thí nghiệm trên cần lấy lượng hóa chất cần thiết không quá 1/3 ống nghiệm, phản ứng có khí độc thoát ra cần làm ở trong tủ hút hoặc nơi thoáng khí, trên miệng ống nghiệm cần nút bông tẩm dung dịch kiềm NaOH

Trang 29

Khí sinh ra bị hấp thụ bởi dung dịch kiềm theo phương trình:

2.3 Cách giải bài tập thực tiễn

Các dạng bài tập khác nhau có phương pháp giải cụ thể khác nhau Mặt khác, tùy theo mức độ nhận thức của HS, kinh nghiệm sống của HS mà các giáo viên tự xây dựng phương pháp giải cụ thể Dưới đây là một phương pháp giải chung nhất

Phương pháp giải bài tập hóa học

Các bài tập thực tiễn phải tuân theo phương pháp trên, cụ thể như sau:

Bước 1: Đọc kỹ đầu bài xem bài tập đề cập đến lĩnh vực nào trong thực tiễn

Bước 2: Tìm hiểu kỹ lời văn của đề bài để tìm ra những điều kiện và yêu cầu của bài

Bước 3: Vận dụng sự hiểu biết thực tế và kinh nghiệm sống của bản thân để phát hiện

thêm những dữ kiện khác (dữ kiện tìm thêm) và yêu cầu tìm thêm

Bước 4: Lựa chọn những kiến thức hóa học có liên quan để tìm ra mối liên hệ logic giữa

dữ kiện và yêu cầu Trong quá trình tìm sẽ nảy sinh các bước trung gian Vì vậy dữ kiện

và yêu cầu luôn được bổ sung Bài tập luôn được phát biểu lại sao cho lần phát biểu sau

Bài tập hóa

họctthohọc học

đầu

Yêu cầu tìm thêm

Bài tập hóa học

Yêu cầu ban đầu

Trang 30

đơn giản hơn lần phát biểu trước đến khi thực hiện được yêu cầu của bài tập Trình bày lời giải

Bước 5: Rút ra những kinh nghiệm cho bản thân từ việc giải bài tập thực tiễn từ đó có ý

thức phổ biến và áp dụng kinh nghiệm đó vào thực tiễn

Tuy nhiên, không phải bài tập nào cũng có đầy đủ các bước như trên

VD: Khi giảng bài axit sunfuric – muối sunfat lớp 10 GV có thể đưa bài tập vận dụng như sau: Khi thu dọn các dụng cụ hóa chất sau khi làm thí nghiệm, do bất cẩn, một bạn

HS vài giọt axit sunfuric đặc dây ra tay Sau khi rửa tay bằng nước bạn đó nên ngâm tay bằng dung dịch nào sau đây?

A NaHCO 3 loãng B Ca(OH) 2 C CuSO 4 loãng D KMnO 4 loãng

Quy trình giải đề nghị như sau:

Bước 1: Bài tập này đề cập đến vấn đề sơ cứu tai nạn do bỏng axit Đây là một thực tế thường gặp trong PTN

Bước 2: -Tìm ra những dữ kiện đầu bài cho: vết bỏng do axit sunfuric đặc dây ra tay, có

4 phương pháp sơ cứu

-Yêu cầu bài: lựa chọn phương án tối ưu nhất

Bước 3+4: Quá trình tư duy khoa học:

- Vì vết bỏng do axit sunfuric đặc là chất háo nước mạnh, quá trình hút nước tỏa nhiệt mạnh nên cần làm mát

- Vì vết bỏng do axit nên cần có thứ gì đó có tính bazơ để trung hòa

- Các chất đã cho trong phương án có tính axit, bazơ hay trung tính?

NaHCO 3 có tính bazơ yếu, Ca(OH)2 có tính bazơ mạnh, CuSO4 loãng và KMnO4 loãng trung tính

Giữa NaHCO 3 loãng và Ca(OH)2 chọn chất nào?

+ Ca(OH)2 có tính kiềm mạnh gây ăn da

+ NaHCO 3 có tính bazơ yếu không hại da tay

 NaHCO 3 sẽ thích hợp hơn

Vậy đáp án cho bài này là đáp án A

Bước 5 Từ việc giải bài tập trên HS được:

- Củng cố kiến thức về tính háo nước của H2SO4, kiến thức về axit và bazơ

- Thấy rõ ý nghĩa của việc dạy và học môn hóa học

Trang 31

- Tăng thêm niềm say mê tìm hiểu ứng dụng của các chất đã học

- Có thêm 1 kinh nghiệm thực tiễn Có ý thức vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn

2.4 Hệ thống câu hỏi lý thuyết và bài tập thực tiễn hóa học phần vô cơ ở THPT

Ở chương 1 chúng tôi đã đề cập đến cở sở lí luận và thực tiễn của BTHH có nội

dung liên quan đến thực tiễn trong dạy học hóa học ở các trường THPT tại Hải Phòng

Dưới đây chúng tôi tuyển chọn và đề ra các câu hỏi bài tập có liên quan đến thực tiễn

sản xuất và đời sống tại Hải Phòng

2.4.1 Chương halogen

2.4.1.1 Bài tập trắc nghiệm khách quan

Câu 1: Trong các ứng dụng sau đâu ứng dụng nào không phải là ứng dụng quan trọng của

clo?

A.Tẩy trắng vải sợi và bột giấy B.Sát trùng nước ăn

C.Tổng hợp axit clohiđric và các hợp chất khác D.Làm dược phẩm

Câu 2: Khi sục khí clo vào dung dịch natri cacbonat thấy có khí không màu thoát ra

Khí đó là khí nào trong các khí sau?

A Cl2 B H2O hơi C HCl D CO2

Câu 3: Có một ống hình trụ đựng đầy khí clo Người ta làm thí nghiệm đốt cháy khí

Hiđrô ở phần trên của ống Sau đó đưa một ngọn nến đang cháy vào ống nghiệm Nếu đưa nến từ từ vào ống thì nến tắt ngay ở phần trên của ống Nếu đưa nhanh ngọn nến vào ống thì hiện tượng gì xảy ra?

A Ngọn nến tiếp tục cháy B.Ngọn nến tắt dần

C.Ngọn nến bùng cháy D.Ngọn nến tắt ngay

Câu 4: Trong PTN khi điều chế hoặc chứng minh tính chất của clo Một lượng nhỏ khí

clo thoát ra làm nhiễm bẩn không khí gây ảnh hướng xấu đến sức khỏe Để loại bỏ khí clo đó có thể dùng khí nào sau đây?

A H2 B NH3 C HCl D CH4

Trang 32

Câu 5: Khí clo hòa tan trong nước một phần clo tác dụng với nước thep PTHH sau: Cl2 + H2O HCl + HClO Có thể giải thích tính tảy màu và sát trùng của nước clo theo nguyên nhân nào trong các nguyên nhân sau:

A.Clo có chất oxi hóa mạnh B.HClO là chất oxi hóa mạnh

C.HCl là chất oxi hóa mạnh (H+ -> H0) D.HCl là chất khử mùi (Cl+ -> Cl0)

Câu 6: Tại sao nước clo để lâu lại mất đi tính tẩy màu và sát trùng?

A.Vì nước clo chỉ chứa hàm lượng nhỏ HclO

B Vì HClO sinh ra lại oxi hóa HCl tạo Cl2 và H2O

C Vì HClO là chất kếm bền dễ phân hủy (2HClO  2HCl +O2)

D Vì các chất trong nước clo dễ bị bay hơi

Câu 7: Trong các nhà máy nước cung cấp nước sinh hoạt thì giai đoạn cuối cùng của

việc xử lý nước là khử trùng nước Có nhiều phương pháp khử trùng nước nhưng dùng clo là phương pháp phổ biến nhất Nguyên nhân là:

A.Clo là nguyên liệu sẵn có B Dùng clo là phương pháp rẻ tiền, dễ sử dụng

C Clo không gây độc D Clo có tính khử trùng rất mạnh

Câu 8: Hồi đầu thế kỷ 19 người ta sản xuất natri sunfat bằng cách cho axit sunfuric đặc

tác dụng với muối ăn Khi đó, xung quanh các nhà máy sản xuất bằng cách này, dụng cụ của thợ thủ công rất nhanh hỏng và cây cối bị chết rất nhiều Người ta đã cố gắng cho khí thải thoát ra bằng những ống khói cao tới 300m nhưng tác hại của khí thải vẫn tiếp diễn, đặc biệt là khí hậu ẩm Hãy cho biết khí thải đó có chứa thành phần chủ yếu là chất nào trong các chất sau?

A H2SO4 B HCl C SO2 D Cl2

Câu 9: Cacnalit là muối khoáng, thành phần gồm có kali clorua và magie clorua ngậm

nước Biết rằng khi đun nóng 5,55gam cacnalit thì thu được 3,39 gam muối khan Mặt khác nếu cho 5,55 gam cacnalit tác dụng với dung dịch natri hiđroxit, được kết tủa Vậy công thức hóa học của Cacnalit?

A.KCl.2MgCl2.4H2O B.KCl.MgCl2.4H2O

C KCl.MgCl2.3H2O D.KCl.2MgCl2.6H2O

Câu 10: Cách bảo quản nước Javen tốt nhất là?

A.Tránh tiếp xúc với ánh sáng B.Tránh tiếp xúc với không khí

Trang 33

C.Tránh tiếp xúc với chất oxi hóa D.Không để nơi ẩm ướt

Câu 11: Chất này lần đầu tiên được C.Betholettet điều chế ở thành phố (Chất mang tên

thành phố) ở gần Pari Và ở nước ta nhà máy hóa chất Việt Trì, các nhà máy nằm trong khu công nghiệp giấy Bãi Bằng cũng sản xuất bằng cách điện phân muối ăn Chất này là:

A.Dung dịch NaOH B.Dung dịch HCl

Câu 12: Điện phân dung dịch muối ăn không có màng ngăn xốp là phương pháp dùng

để điều chế:

A Na B NaOH C NaCl D Nước Javen

Câu 13: Sau quá trình điện phân dung dịch NaCl có màng ngăn khí clo ra khỏi thùng

điện phân có chứa một lượng lớn hơi nước gây ăn mòn thiết bị, không thể vận chuyển

và sử dụng được Hãy lựa chọn trong các hóa chất sau, chất nào có thể dùng để sấy khô khí clo ẩm? Giải thích?

A CaO rắn B H2SO4 đặc C NaOH rắn D Cả A, B, C

Câu 14: Cho khí clo sục qua dung dịch kali iotua một thời gian dài sau đó người ta dùng

hồ tinh bột để xác định sự có mặt của iot tự do nhưng không thấy màu xanh Nguyên nhân của hiện tượng này là?

A.Do I2 thăng hoa B Do I2 + Kl -> Kl3

C.Do I2 + H2O Hl + HIO D.Do I2 bị khử

Câu 15: Brom rơi vào da sẽ gây bỏng nặng Khi bị bỏng brom ta nên ngâm vết bỏng

brom vào dung dịch nào?

A.dd NH3 loãng B.dd HCl C.dd NaCl D.dd C2H5OH

Câu 16: Khí Clo hay Brom đều rất độc Trường hợp có người bị ngộ độc clo hay brom

ta phải xử lý như thế nào?

A.Cho ngửi rượu

B.Cho ngửi dd loãng của amoniac pha trong rượu để tiêu độc

C.Nhỏ dd nước muối vào mũi

D.Nhỏ nước vào mũi

Câu 17: Dung dịch HBr trong PTN khi để lâu trở nên có màu vàng nâu vì xảy ra PTHH :

A.O2 + 4HBr -> 2H2O + 2Br2 B.HBr -> H2 + Br2

Trang 34

C.2HBr + H2SO4 -> Br2 + SO2 + 2H2O D.HBr + H2O + O2 -> HBrO + Br2

Câu 18: Iot bán trên thị trường thường lẫn tạp chất là clo, brom, nước Để tinh chế loại

iot đó người ta nghiền nó với X và vôi sống rồi nung hỗn hợp trong cốc đậy bằng một bình có chứa nước lạnh Khi đó iot sẽ bám vào đáy bình Chất X đó là chất nào trong các chất sau?

A KCl B Kl C KBr D KOH rắn

Câu 19: Kali iotua trộn trong muối ăn để làm muối iốt là một chất rất dễ bị oxi hóa

thành I2 Theo nghiên cứu thì sau 3 tháng kali iotua trong muối ăn sẽ bị mất hoàn toàn

Để đề phòng điều đó người ta hạn chế hàm lượng nước trong muối iot không vượt qua 3,5% về khối lượng (theo tiêu chuẩn của Liên Xô) cho thêm chất ổn định như iot

Na2S2O3 Khi đó có thể giữ lượng Kl trong muối iot khoảng 6 tháng Phương pháp sử dụng muối ăn hiệu quả là

A Để muối iot ở nơi khô ráo C.Không để muối iot ở nhiệt độ cao

B Nêm muối iot vào thức ăn khi sắp chín D.Cả A, B, C đều chín

Câu 20: Chọn câu trả lời đúng nhất Để sát trùng da khi bị thương có thể dùng:

A.Cồn iot B.Cồn Clo C.Dung dịch Cl2 D.Dung dịch H2SO4 đặc

Câu 21: Sấy khô rong tảo, đốt cháy, lấy tro Xử lý bằng nước, sau đó cho H2SO4 đặc vào thu được

A.Clo và SO2 B.Clo và H2S C.I2 và SO2 D.I2 và H2S

Câu 22: Chọn câu sai:

A.Dung dịch NaF được dùng làm thuốc chữa sâu răng

B.Flo được dùng trong công nghiệp hạt nhân làm giàu 235U

C.CFC (Freon) làm chất sinh hàn trong tủ lạnh và điều hòa

D.Dung dịch HF có tác dụng sát trùng vết thương

Câu 23: Để chữa sâu răng người ta có thể sử dụng:

A.Dung dịch NaF và CaF2 B.Dung dịch NaF và HClO3

C.Dung dịch NaF và Nal D.Khí O3 và dung dịch NaF

Câu 24: Muối iot là gì?

A.Muối có công thức NaI C.Muối ăn có trộn thêm I2 với tỉ lệ nhất định

B.Muối ăn có trộn thêm I2 D.Muối ăn có trộn thêm một lượng nhỏ Kl hoặc KlO3

Trang 35

Câu 25: Thiếu muối iot có thể gây ra bệnh bướu cổ Tính khối lượng Kl cần lấy để trộn

với muối ăn để sản xuất 10 tấn muối iot có chứa 1,9% iot

A 0,19 tấn B 0,248 tấn C 1, 9 tấn D 2,48 tấn

Câu 26: Trước đây trong các xưởng chế tạo axit flohiđric hầu hết các bóng đèn đều biến

thành màu trắng sữa, các cửa số kính trong dần dần biến thành kính mờ PTHH nào sau đây giải thích hiện tượng này?

A.4HF + SiO2 -> 2H2O + SiF4 B.CaF2 + H2SO4 -> CaSO4 + 2HF

C.2F2 + H2O 4HF + O2 D.O2 + 4 HF -> 2H2O + F2

Câu 27: Để răng chắc khỏe và giảm bệnh sâu răng thì hàm lượng flo trong nước cần đạt

1,0 -> 1,5 mg/l Lượng Natri clorua cần phải pha vào trong nước có hàm lượng flo từ 0,5mg/l đến 1mg/l để cung cấp cho 3 triệu người dân Hà Nội mỗi người dùng 200 lit nước mỗi ngày là bao nhiêu?

A 200,00 kg B 663,16kg C 336,16kg D Đáp án khác

Câu 28: Lượng (gam) dược phẩm Nabica cần dùng để trung hòa 10ml HCl 0.44 M có

trong dạ dày là:

A 0,336 B 0,636 C 0,366 D 0, 663

Câu 29: Để trung hòa 788 ml HCl có trong dạ day cần dùng 10ml sữa magie Biết rằng

cứ 0,1 ml sữa có 0,08 gam Mg(OH)2 Người này mắc bệnh:

A.Tiêu chảy B.ợ chua C.khó tiêu D.Viêm đường ruột

Câu 30: Clo là một khí độc ,một lượng nhỏ cũng gây kích thích đường hô hấp

viêm niêm mạc Vì vậy khi dùng clo để khử trùng nước phải thường xuyên kiểm tra độ độc clo dư trong nước Cách đơn giản là dùng dd KI và hề tinh bột Hiện tượng uqan sát được là :

A.Dd chuyển sang màu xanh tím B.Dd chuyển sang màu xanh

C.Dd xuất hiện kết tủa đen D Dd chuyển sang màu nâu

Câu 31 Những người đau dạ dày do dư axit người ta thường uống trước bữa một loại

thuốc chứa chất nào trong các chất sau?

A (NH4)2CO3 B Na2CO3 C NH4HCO3 D NaHCO3

Câu 32 Một lượng lớn clo được dùng để

Trang 36

A Diệt trùng nước sinh hoạt B Sản xuất các hóa chất hữu cơ

C Sản xuất nước gia-ven D Sản xuất axit clohidric, kaliclorat

Câu 33: Clo là một nguyên tố có nhiều ứng dụng trong cuộc sống cũng như các ngành

công nghiệp Tuy nhiên khí clo rất độc, nó phá hoại niêm mạc đường hô hấp Trong phòng thí nghiệm để đảm bảo an toàn khi điều chế từ MnO2 và HCl đặc, cần dẫn khí thu được lần lượt qua các bình:

A (1) chứa H2SO4 đặc, (2) chứa dung dịch NaCl bão hòa, (3) có bông tẩm NaOH đặc

B (1) chứa dung dịch NaCl, (2) chứa H2SO4 loãng, (3) có bông tẩm NaOH đặc

C (1) chứa dung dịch NaCl bão hòa, (2) chứa H2SO4 đặc, (3) có bông tẩm NaOH đặc

D (1) chứa H2SO4 đặc, (2) chứa dung dịch NaCl

Câu 34: Trong mọi trường hợp, khi điều chế hay sử dụng khí clo đều không được để clo

thoát ra ngoài, vì:

A Khí clo gây ra mưa axit B Khí clo làm thủng tầng ozon

C Khí clo làm ô nhiễm không khí D Khí clo rất độc đối với con người

Câu 35: Khi điều chế clo trong phòng thí nghiệm, ở miệng bình thu khí clo có bông tẩm

xút, để:

A Nhận biết khí clo đã thu đầy hay chưa

B Không cho khí clo khuếch tán vào không khí

C Dùng để nhận biết khí clo tác dụng với xút sinh ra nước gia-ven có tác dụng làm trắng bông

A Nước B Dung dịch HCl C Dung dịch NaOH D Dung dịch NaCl bão hòa

2.4.1.2 Bài tập tự luận

Câu 1: Trong thí nghiệm ở hình bên người ta dẫn khí clo mới điều chế từ manganđioxit

rắn và dung dịch axit clohiđric đậm đặc vào ống hình trụ A có đặt một miếng giấy màu

Trang 37

Nếu đóng khóa K thì miếng giấy màu không mất màu Nếu mở khóa K thì miếng giấy mất màu Hãy giải thích hiện tượng

Đáp án MnO2 + HCl  MnCl2 + Cl2 + H2O

Khi mở khóa K thì khí clo sinh ra kéo theo hơi nước tạo ra nước clo có tính tẩy màu làm cho miếng giấy mất màu Cl2 + H2O  HCl + HClO

HClO có tính oxi hóa mạnh và có tác dụng tẩy màu

Câu 2: Cloramin là chất gì ? Tại sao cloramin là chất được sử dụng nhiều để làm sạch

nước trong các vùng lụt bão?

Đáp án : Cloramin là NH2Cl và NHCl2 Khi hóa tan cloramin vào nước sẽ giái phóng ra khí clo.Clo tác dụng với nước tao ra nước clo có chứa HClO HClO có tính oxi hóa mạnh nên phá hoại hoạt tính của một số enzim trong VSV ,làm cho VSV chết Cloramin không gây độc hại cho người dùng nước đã được khử trùng bằng chất này

Câu 3: Để sát trùng nước nhanh người ta bơm clo vào trong nước với hàm lượng

10gam/m3 để có thể tiêu diệt các vi khuẩn và phá hủy các hợp chất hữu cơ trong vòng

10 phút Cuối giai đoạn khử trùng này người ta trung hòa clo dư bằng lưu huỳnh đioxit hoặc natri sunfit Hãy viết các PTHH của các phản ứng trung hòa đó

Đáp án: Cl2 + SO2 + 2H2O  2HCl + H2SO4

Cl2 + Na2SO3 + H2O  2HCl + Na2SO4

Câu 4: Nếu mở nút một bình đựng đầy hiđroclorua thì thấy khói xuất hiện ở miệng

bình Giải thích hiện tượng đó

Đáp án :Khí hidroclorua tan tốt trong nước tạo dd axit clohidric Trong không khí

có hơi nước nên khí bay ra tác dụng với hơi nước có trong không khí tạo dd axit clohidric ở dạng khói

Câu 5: Đưa ra ánh sáng một ống nghiệm đựng bạc clorua có nhỏ thêm một ít giọt dung

dịch quỳ tím Quý tím chuyển sang màu hồng Hãy giải thích hiện tượng trên

Đáp án : AgCl bị phân hủy khi có ánh sáng tạo Ag và Cl2 Khi nhỏ dd quỳ tím vào thì clo tác dụng với nước tạo 2 axit HCl và HClO nên làm cho quỳ tím chuyển sang màu hồng

Câu 6:Thu đầy khí HCl (hoặc NH3) vào 1 bình cầu cổ hẹp và dài, đặt vào miệng bình một quả trứng chim cút đã bóc sạch vỏ (đầu nhọn hướng xuống phía dưới) Cẩn thận nhấc quả trứng ra và nhỏ vào bình 1 ít nước rồi đặt nhanh quả trứng vào như cũ Lắc bình, quả trứng sẽ tự chui vào bình Giải thích thí nghiệm trên?

Trang 38

Cũng với thí nghiệm trên, khi quả trứng mới chui vào trong miệng bình mà chưa chui hẳn xuống Nếu ta đun nóng đáy bình thì quả trứng lại chui ra khỏi miệng bình Hãy giải thích?

Đáp án Khí HCl hoặc NH3 là những chất khí tan rất tốt trong nước, khi nhỏ vào bình một ít nước thì chúng sẽ hòa tan vào nước, làm giảm đột ngột áp suất trong bình,

sự chênh lệch với áp suất khí quyển bên ngoài làm áp suất khí quyển đẩy quả trứng vào

trong bình

Khi đun nóng bình, HCl hoặc NH3 sẽ bay hơi, làm áp suất trong bình tăng, đẩy quả trứng ra khỏi bình

Câu 7: Tại sao trong phòng thí nghiệm không có dung dịch axit HBr và HI ?

Đáp án :Trong PTN không có 2 dung dịch axit này vì chúng là những chất có

tính khử mạnh, có thể bị O2 không khí oxi hóa, vì vậy trong PTN không pha chế Khi cần sử dụng ta có thể điều chế trực tiếp chúng từ muối tương ứng và axit H2SO4 Chú ý rằng H2SO4 đặc cũng là một chất oxihóa mạnh và có thể oxihóa HBr và HI, vì vậy nên

quá trình này phải hết sức chú ý

Chính vì tính khử mạnh của HBr và HI nên chúng không thể tổng hợp được bằng phương pháp sunfat như HCl

Câu 8: Để điều chế kaiclorat với giá thành hạ người ta thường làm như sau: cho khí clo

đi qua nước vôi đun nóng, lấy dung dịch thu được trộn với kaliclorua và làm lạnh Khi

đó kaliclorat sẽ kết tinh Hãy viết PTHH của các p/ư xảy ra và giải thích vì sao kaliclorat kết tinh?

Đáp án : 6Cl2 + 6Ca(OH)2  5CaCl2 + Ca(ClO3)2 + 6H2O

2KCl + Ca(ClO3)2  2KClO3 + CaCl2

Câu 9: Nhiên liệu rắn dành cho tên lửa tăng tốc của tàu vũ trụ con thoi là một hợp chất

amoni peclorat (NH4ClO4) và bột nhôm Khi được đốt đến trên 200oC amoni peclorat phát nổ: 2NH4ClO4 -> N2 + Cl2 + 2O2 + 4H2O

Mỗi lần phóng tàu con thoi tiêu tốn 750 tấn amoni peclorat

Giả sử tất cả oxi sinh ra tác dụng với bột nhôm, hãy tính khối lượng nhôm p/ư với oxi

và khối lượng nhôm oxit sinh ra

Đáp án : 2NH4ClO4 -> N2 + Cl2 + 2O2 + 4H2O

2.117,5 tấn 2.32 tấn

750 tấn  750.2.32/2.117,5 =204,26 (tấn)

Trang 39

4Al + 3O2  2 Al2O3

4.27 3.32 2.102 (tấn )

204,26.4.47/3.32 < 204,26 > 204,26.2.102/2.32

= 400 tấn =651 tấn

Câu 10: Tại sao clorua vôi được dùng rộng rãi hơn nước Javen?

Đáp án : clorua vôi được dùng rộng rãi hơn nước Javen vì clorua vôi giá thành rẻ , dễ vận chuyển và tạo ra hàm lượng HClO cao

Câu 11: Trên thị trường hiện có bán một đồ dùng bằng điện để các gia đình tự chế dung

dịch tiêu độc Chỉ cần dẫn nước máy vào dụng cụ, cho ít muối ăn vào rồi cắm điện Một lát sau ta sẽ có dung dịch tiêu độc dùng để rửa rau, quả, dụng cụ nhà bếp, giặt khăn mặt, giẻ lau… và còn tác dụng làm trắng nữa Vì sao dung dịch thu được có tác dụng tiêu độc

và tẩy trắng?

Đáp án : Vì dd NaClO có tính oxi hóa mạnh Nước muối hút hết nước của tế bào

vi khuẩn

Câu 13: Một ống nghiệm hình trụ có một ít hơi brom Muốn hơi thoát ra nhanh cần đặt

ống đứng thẳng hay úp ngược ống treo trên giá? Vì sao?

Đáp án : Muốn hơi brom thoát ra nhanh thì cần úp ngược ống treo trên giá vì brom có khối lượng lớn hơn nhiều so với không khí

Câu 14: Khí hiđro thu được bằng phương pháp điện phân dung dịch natriclorua đôi khi

bị lẫn tạp chất khí clo Để kiểm tra khí hiđro có lẫn khí clo hay không người ta thổi khí

đó qua dung dịch chứa kali iôtua và hồ tinh bột Hãy giải thích vì sao người ta lại làm như vậy?

Đáp án : Vì nếu có clo thì clo tác dụng với KI tạo ra iot làm xanh hồ tinh bột

Cl2 + 2KI  2KCl + I2

Câu 15: Tại sao phải ăn muối có Iod?

Đáp án : Ăn muối để bổ sung hàm lượng iot cho cơ thể trong cơ thể một người trưởng thành có chứa 20-50mgiot chủ yếu tập trung tuyến giáp trạng , thiếu iot trong tuyến này thì cơ thể sẽ bị một số bệnh: bướu cổ, nặng hơn là đần độn , phụ nữ thiếu iot dẫn đến vô sinh ,có biến chứng sau khi sinh

Câu 16: Cảnh sát điều tra đã phát hiện ra cách lấy dấu vân tay của tội phạm lưu trên các

hiện vật ở hiện trường như thế nào chỉ sau một vài phút thí nghiệm

Trang 40

Đáp án : Lấy một tờ giấy sạch ấn một ngón tay vào mặt giấy nhấc ra sau đó đem phần giấy có dấu vân tay đặt trên miệng ống nghiệm có đựng cồn iot ,dùng đèn cồn để đun nóng phần đáy ông nghiệm Đợi cho khí màu tím thoát ra từ ống nghiệm thấy dấu vân tay dần hiện rõ nét (màu nâu) Nếu cất giấy đó đi máy tháng sau làm lại vẫn có hiện tượng đó Do đầu ngón tay có chất khoáng, chất béo và mồ hôi khi ấn tay vào sẽ lưu lại một phần trên giấy và mắt thường không nhìn được (Chú ý iot rất độc không ngửi)

Câu 17: Để điều chế flo người ta phải điện phân dung dịch kaliflorua trong dung dịch hiđro

florua lỏng đã được làm sạch nước Vì sao phải tránh sự có mặt của nước?

Đáp án : Vì khí flo sinh ra tiếp xúc với nước sẽ bốc cháy

Câu 19: Làm thế nào để khắc được thủy tinh?

Đáp án : Muốn khắc chữ trên thủy tinh ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy, lấy

ra cho nguội dùng vật nhọn tọa hình, chữ….cần khắc nhờ lớp sáp nến mất đi rồi nhỏ dung dịch HF vào thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo đi lớp sáp Nếu không có dd

HF ta thay bằng dd axit sufuric đặc và CaF2 (màu trắng, bột) nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy, lấy ra cho nguội dùng vật nhọn tọa hình, chữ… cần khắc nhờ lớp sá, nến mất đi rồi rắc bột CaF2 vào chỗ cần khắc cho thêm H2SO4 đặc vào và lấy tấm kính khác hoặc bìa cứng đặt nên khu vực khắc, sau một thời gian thủy tinh cũng sẽ

Câu 20: Tại sao khi điều chế F2 bằng điện phân CaF2 nóng chảy, người ta có thể dùng điện cực bằng Cu, mặc dù F2 là một phi kim hoạt động hóa học bậc nhất

Đáp án : Thực tế Flo tác dụng với Cu tạo ra CuF2, nhưng chất này lại bám lên trên bề mặt điện cực Cu, ngăn cản quá trình tiếp xúc của Cu với F2 nên ta vẫn dùng Cu

làm điện cực được

Câu 21: Tại sao Cl2 là một khí rất độc nhưng người ta vẫn sục một lượng thích hợp vào nước sinh hoạt? (một mãu nước được coi là sạch có thể dùng trong sinh hoạt lại phải có một lượng nhỏ Clo dư ở cuối mạng lưới)

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w