1. Trang chủ
  2. » Tất cả

dan y dat nuoc

14 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 67,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phong cách điển hình: + Thơ ông giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, thể hiện tâm tư, ý thức của một công dân yêu nước về vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong cuộc chiến đấu chung c

Trang 1

ĐẤT NƯỚC

Nguyễn Khoa Điềm

Đề 1: Phân tích đoạn thơ mở đầu đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm.

“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó”.

Gợi ý :

MỞ BÀI

1 Dẫn dắt vào vấn đề:

- “Có mối tình nào cao hơn là Tổ quốc?” - Trần Mai Ninh Bằng tình cảm yêu thương sâu nặng ấy, các

nhà thơ - chiến sĩ đã có biết bao bài thơ rất hay về Tổ quốc, đất nước Việt Nam thương yêu

- Nếu như các nhà thơ khác thường dùng những hình ảnh kì vĩ, mĩ lệ mang tính biểu tượng, tạo ra một khoảng cách để cảm nhận, chiêm ngưỡng về đất nước thì Nguyễn Khoa Điềm lại cảm nhận về đất nước qua những gì hết sức gần gũi, đơn sơ, bình dị

2 Tác giả, tác phẩm:

- Vị trí: Nguyễn Khoa Điềm là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trưởng

thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ

- Phong cách điển hình:

+ Thơ ông giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, thể hiện tâm tư, ý thức của một công dân yêu nước về vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong cuộc chiến đấu chung của cả dân tộc

+ Thơ ông còn thể hiện những nhận thức sâu sắc về nhân dân, đất nước qua những trải nghiệm của chính mình

3 Vấn đề nghị luận:

- Xuất xứ, vị trí của đoạn thơ:

Đoạn trích mang tên Đất Nước thuộc phần đầu chương V, trường ca Mặt đường khát vọng được

Nguyễn Khoa Điềm viết ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971, in lần đầu 1974

- Nội dung cơ bản:

+ Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị bị tạm chiếm miền Nam,

+ mở rộng ra là sự tự ý thức của tuổi trẻ Việt Nam, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

- Nội dung đoạn trích:

+ Đất nước là nguồn cảm hứng chủ đạo trong sáng tác văn học, đặc biệt là trong thơ ca hiện đại + Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những cảm nhận, suy tư của mình về đất nước một cách thật độc đáo

+ Đoạn thơ mở đầu được xem là những cảm nhận riêng của tác giả về đất nước qua những hình tượng

Trang 2

cụ thể, sinh động, gợi cảm với một giọng thơ thiết tha, sôi nổi.

THÂN BÀI:

1 Đất Nước có từ bao giờ?

- Nguyễn Khoa Điềm tập trung thể hiện những khám phá mới mẻ về đất nước trên ba phương diện:

chiều dài của thời gian lịch sử, chiều rộng của không gian địa lí và chiều sâu của truyền thống văn hóa dân gian.

- Khi khám phá đất nước ở chiều dài miên viễn của thời gian lịch sử, Nguyễn Khoa Điềm không dựa vào sử

liệu hay những khái niệm trừu tượng mà chọn những hình ảnh tự nhiên, bình dị để cảm nhận về đất nước

Đất Nước, hai chữ thiêng liêng cao cả ấy chẳng phải ở đâu xa mà ở ngay trong mỗi gia đình chúng ta: từ lời

kể chuyện của mẹ, miếng trầu của bà, đến phong tục tập quán quen thuộc, tình nghĩa thuỷ chung của cha mẹ, hạt gạo, hòn than, cái kèo, cái cột trong nhà…

- Bằng giọng tâm tình, dịu ngọt như lời kể truyện cổ tích, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những cảm nhận, suy tưởng của mình về cội nguồn sâu xa của đất nước

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa…" mẹ thường hay kể”

+ Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Hình như nhà thơ không cố tình làm thơ Nhà thơ như chỉ muốn nói

lên điều mà bất kì ai cũng có thể nói lên Nhà thơ nói lên cho mình mà cũng cho tất cả mọi người, cho tất cả bạn bè cùng trang lứa với mình

+ Lắng nghe cho kĩ, người đọc có thể nghe xôn xao trong câu thơ là cả một niềm tự hào mãnh liệt và niềm biết ơn mênh mông

“Lớn lên” thì “Đất Nước đã có rồi”, Đất Nước có trong lịch sử hàng ngàn năm, điều mà không phải bất kì

Đất Nước nào trên mặt đất này cũng có được

“Đất Nước đã có rồi”: bất cứ con người Việt Nam khi sinh ra ngay lập tức đã được bao bọc, đã được

nâng niu, chở che trong một cái nôi ấm áp, thân yêu vô cùng là Đất Nước

“Lớn lên” thì “Đất Nước đã có rồi”, ta đang có được Đất Nước từ công lao của hàng ngàn thế hệ con

người, với bao nhiêu hi sinh xương máu, bao nhiêu nước mắt và mồ hôi

+ Từ cảm xúc tự hào và biết ơn của mình, nhà thơ tìm cho mình những điều khẳng định:

“Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể”

+ Giản dị và bất ngờ quá, Đất Nước bắt đầu từ “ngày xửa ngày xưa…” có nghĩa là Đất Nước được bắt

nguồn từ những câu chuyện truyền thuyết xa xưa Từ chuyện Lạc Long Quân dựng nên Đất Nước, chuyện

Thánh Gióng đánh giặc… Ngoài ra, hình ảnh “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể” gợi hình ảnh đất

nước thanh bình trong những câu chuyện cổ tích Có tâm hồn Việt Nam nào mà không được nuôi dưỡng từ

những câu chuyện “ngày xửa ngày xưa” ấy.

- Đất nước còn được cảm nhận trong chiều sâu tâm hồn nhân dân, văn hoá và lịch sử :

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

+ Trong khoảng thời gian mênh mông của Đất Nước, nhà thơ muốn tìm đến những thuở đầu tiên khi Đất Nước tượng hình Thì cũng giản dị vô cùng:

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”

+ Phát hiện thật bất ngờ nhưng cũng thật chính xác Không biết ngày xưa, ai là người đầu tiên ăn miếng

trầu để rồi có “miếng trầu bây giờ bà ăn” Có lẽ con người không hề nghĩ rằng với miếng trầu ấy, cũng bắt

đầu một tập tục Việt Nam, một nét văn hóa Việt Nam Bắt đầu tạo dựng văn hóa, cũng là bắt đầu tạo nên Đất

Trang 3

Nước Bởi nếu không có nền văn hóa thì làm sao có thể gọi là Đất Nước

+ Đất Nước còn lớn lên cùng truyền thống đấu tranh giữ nước của dân tộc

“Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

+ Nhà thơ thật sâu sắc khi nói đến việc “dân mình đánh giặc” mà nhắc đến việc “trồng tre”

Từ muôn đời nay, con người Việt Nam trồng tre là để có lũy tre bao bọc làng quê, để có bóng tre xanh mát rượi con đường làng, để lấy cây tre làm nên nhà cửa, làm nên những dụng cụ sinh hoạt hàng ngày như

chiếc đòn gánh tre, cái cối xay tre, cái chõng tre, chiếc nôi tre, con sáo diều tre lơ lửng lưng trời…

+ Như vậy, lịch sử lâu đời của đất nước được kết tinh trong từng câu chuyện kể, trong miếng trầu bà ăn

thường ngày, trong “cây tre đánh giặc” thân quen quanh ta Với cái nhìn độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm,

đất nước đã nằm sâu trong tiềm thức mỗi chúng ta, mỗi người dân; trong đời sống tâm hồn của nhân dân từ thế hệ này qua thế hệ khác

- Đất nước còn là phong tục búi tóc thành cuộn sau gáy rất quen thuộc của người phụ nữ Việt Nam từ bao đời nay:

“Tóc mẹ thì bới sau đầu”

+ Bắt đầu tạo dựng, rồi Đất Nước lớn lên, trong khoảng thời gian đằng đẵng mấy nghìn năm Đất Nước

đã làm nên biết bao điều, tạo nên biết bao giá trị từ vật chất cho đến tinh thần Những chuyện ấy hôm nay vẫn

còn đó Có những chuyện tưởng chừng như rất nhỏ: “Tóc mẹ thì bới sau đầu”.

+ “Thì bới sau đầu”, hóa ra cái bới tóc sau đầu ấy là một một nét đẹp tự nhiên của người mẹ Việt Nam, của người phụ nữ Việt Nam, một nét đẹp cần thiết bởi “cái răng cái tóc là góc con người”

- Đất nước Việt Nam còn mang vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam: tình nghĩa đậm đà, thuỷ chung son sắt của cha mẹ:

“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”.

Gừng bao giờ cũng cay, muối bao giờ cũng mặn Đó là một giá trị, một đạo lí của gia đình Việt Nam

Ý thơ nhằm ca ngợi lối sống giàu tình nghĩa và tấm lòng thuỷ chung son sắt của người Việt Nam

- Tiếp tục suy nghĩ về những giá trị mà các thế hệ cha anh đã tạo dựng nên, đến đây nhà thơ lại có một phát hiện bất ngờ mà thú vị:

“Cái kèo, cái cột thành tên”

+ “Cái kèo, cái cột thành tên”, bởi đó là những tên gọi quen thuộc mà người Việt Nam ngày trước đã dùng để đặt tên cho con cái mình, những tên gọi hồn nhiên lấy từ những sự vật quen thuộc, như tên Cột, Kèo, Chanh, Khế, Nụ, Búp, Khoai, Sắn… Đó là những tên gọi không thể viết bằng chữ Hán, những tên gọi

hoàn toàn Việt Nam

Như thế là từ mấy nghìn năm trước, không đợi tới người Hán đến đây, dân tộc ta đã có tiếng nói riêng

mà bây giờ ta gọi là tiếng mẹ đẻ

- Tạo nơi ăn chốn ở, tạo nên tiếng nói, tạo nên Đất Nước, tổ tiên ta còn tạo nên một điều vô cùng quan trọng:

“Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”

+ Với người Việt Nam vốn gắn bó lâu đời với nền văn minh lúa nước, hạt gạo trở thành gia bảo vô cùng cần thiết cho cuộc sống Cho nên ngay khi còn là đứa trẻ mới lớn, cảm nhận về vật chất đầu tiên phải

là hạt gạo trải qua một quá trình lam lũ, vất vả kết tinh mồ hôi, nước mắt của người lao động

+ Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm như gói gọn cả quy trình lao động vất vả của con người Việt Nam

để làm nên hạt gạo qua nghìn đời nay Để từ đất mà làm nên hạt lúa, phải “một nắng hai sương”, bao nhiêu

khó nhọc Rồi từ hạt lúa mà có được hạt gạo để có bát cơm ăn, còn bao nhiêu công việc phải đổ mồ hôi:

Trang 4

“xay, giã, giần, sàng…”, phải suốt ngày “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, “dầm mưa dãi nắng”

+ Như vậy thì rõ ràng là từ mấy nghìn năm trước, con người ở đây đã biết tự mình làm nên hạt gạo để có miếng ăn hàng ngày cho mình, để cho các thế hệ con cháu vững vàng mà làm nên Đất Nước, để tạo dựng cho

mình một nền văn minh riêng mà các nhà nghiên cứu ngày nay gọi là “nền văn minh sông Hồng”!

- Kết lại đoạn thơ, Nguyễn Khoa Điềm khẳng định:

“Đất Nước có từ ngày đó”.

+ Đất Nước của bây giờ là “Đất Nước có từ ngày đó”, thuở đó.

- Trong đoạn thơ trên, tác giả sử dụng khéo léo các kiểu cấu trúc thơ “Đất nước đã có…”, “Đất nước bắt đầu…”, “Đất nước lớn lên…”, “Đất nước có từ…” đã giúp cho ta hình dung được cả quá trình hình

thành và phát triển của đất nước trong trường kì lịch sử nằm sâu trong tâm thức của con người Việt Nam qua bao thế hệ

- Trường từ vựng: ông, bà, cha, mẹ gợi về tình cảm gia đình ruột thịt thân thương

KẾT LUẬN

- Tóm lại, bằng những hình ảnh gần gũi, quen thuộc thường ngày, bằng chất liệu văn hoá dân gian, truyền thuyết, cổ tích, chỉ qua một đoạn thơ ngắn, Nguyễn Khoa Điềm đã trình bày được một ý niệm về đất nước thật độc đáo, hấp dẫn; vừa thiêng liêng, vừa hiện hữu rõ ràng, vừa có chiều sâu văn hoá lịch sử , vừa bình dị thân quen với cuộc sống nhân dân hàng ngày

- Đó là một đóng góp quan trọng của Nguyễn Khoa Điềm làm sâu thêm ý niệm về đất nước của nhân dân cho thơ ca hiện đại

Đề 2: Phân tích đoạn thơ sau trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn

Khoa Điềm:

Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng Những ai đã khuất

Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu mai sau

Hằng năm đi đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.”

Gợi ý:

MB:

TB:

1 Khái quát về hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ đoạn trích:

Trường ca “Mặt đường khát vọng” được sáng tác trong thời kì tác giả sống và làm việc tại chiến khu

Trang 5

Trị - Thiên từ 1971 và được xuất bản năm 1974 với nội dung nói về sự thức tỉnh của tầng lớp thanh niên đô thị vùng tạm chiếm trước bước ngoặt lịch sử của dân tộc, trong cuộc đối đầu giữa chính nghĩa và phi nghĩa để giành độc lập hòa bình cho Tổ quốc, cho dân tộc, về sứ mệnh của lớp người trẻ tuổi đối với đất nước Đoạn trích “Đất Nước” thuộc phần đầu chương V của trường ca này, với cảm hứng chủ đạo “Đất Nước của Nhân dân”, là đoạn tiêu biểu của “Mặt đường khát vọng”

2.1 Nếu như chín câu thơ đầu của đọan trích, nhà thơ đi trả lời câu hỏi “Đất nước có từ bao giờ?” thì

ở đoạn thơ tiếp theo, ông trả lời cho câu hỏi “Đất nước là gì?” Để trả lời câu hỏi đó, Nguyễn Khoa Điềm trước tiên đã soi chiếu Đất Nước trên phương diện về không gian địa lý trong 6 câu tiếp:

“Đất là nơi anh đến trường

……….

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

- Đất Nước không phải ở đâu xa, mà nó gắn với những kỉ niệm riêng tư của mỗi chúng ta:

“ Đất là nơi anh đến trường,

Nước là nơi em tắm”.

Nhà thơ dùng phép chiết tự tách đôi khái niệm đất nước thành hai vật thể hữu tình “Đất là ”, “Nước là…” Bằng cách ấy, cái khái niệm trừu tượng xa xôi kia trở thành cụ thể và gần gũi Thì ra đất nước gắn bó với máu thịt của từng con người “Đất” là con đường hàng ngày anh vẫn đến trường, “Nước”

là thứ hàng ngày em vẫn tắm ở bến quê Đất Nước làm cho tình yêu của anh và em đẹp hơn Ngược lại tình yêu của anh và em làm cho đất nước thêm sinh sôi nảy nở

- Cứ như thế, từ cái riêng, nhà thơ nâng lên thành cái chung:

“Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

 Tất cả đều bình dị, cụ thể gần gũi đáng yêu với anh, và em, với mỗi chàng trai cô gái Nó thấm vào máu vào hồn của mỗi chúng ta Tình yêu của con người Việt Nam trong sáng như Đất và Nước

Họ chọn đất nước làm nơi hò hẹn gặp gỡ của tình yêu Đất nước chứng kiến cho tình yêu của con người và con người đã hóa tình yêu của mình vào đất nước

- Và như thế, Đất Nước, không chỉ là nơi nảy sinh tình yêu đôi lứa “anh” và “em”, mà đó còn núi sông rừng bể bao la, kì vĩ :

Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

Nhà thơ tiếp tục tách Đất và Nước ra làm hai để ông suy ngẫm và khẳng định không gian lãnh thổ của đất nước ta là “rừng vàng biển bạc”, giàu đẹp

2.2- Từ hiện tại nhà thơ ngược dòng về quá khứ, để cảm nhận Đất Nước trên bình diện lịch sử trong

7 câu tiếp:

“Thời gian đằng đẵng

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”

- Và nhà thơ tìm thấy linh hồn của Đất Nước được kết tinh trong chiều dài của thời gian lịch sử và chiều rộng của không gian địa lí:

“Thời gian đằng đẵng

Không gian mênh mông”

 Hai câu thơ ngắn gọn, cô đọng kết hợp hai từ láy “đằng đẵng”, “mênh mông”, nhà thơ đã bao quát được chiều dài, chiều sâu thăm thẳm của thời gian và chiều rộng vô cùng của không gian Đất Nước

Để từ đó ông khẳng định từ khi hình thành, phát triển cho đến nay, “Đất Nước là nơi dân minh đoàn tụ” Đất nước chính là nơi sinh tồn và phát triển của bao thế hệ người Việt Nam

- Không gian lãnh thổ ấy được tạo lập từ thuở sơ khai với những truyền thuyết về nguồn gốc tổ tiên Theo mạch suy tưởng ấy, nhà thơ tiếp tục cảm nhận Đất Nước :

“Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Trang 6

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”.

Nếu như Nguyễn Trãi phát hiện ra đất nước qua các triều đại phong kiến hùng mạnh :

“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương” (Đại cáo bình Ngô)

Thì Nguyễn Khoa Điềm lại đưa ta trở về với cội nguồn rất xa xưa của dân tộc qua huyền thoại “Chim về” và “Rồng ở” Đất nước này đã trở thành đất nước “Con rồng cháu tiên” Mẹ Âu Cơ lấy cha Lạc Long Quân đẻ ra bọc trứng từ đó sinh ra khái niệm “đồng bào” Và sự nghiệp mở mang bờ cõi được bắt đầu từ cuộc chia li lịch sử đầu tiên của dân tộc “Âu Cơ mang năm mươi người con lên núi, Lạc Long Quân mang năm mươi người con xuống biển” Chia li mà vẫn gắn bó thủy chung vì bổn phận với non sông đất nước, đây là một nét đẹp tạo nên bản sắc văn hóa của con người Việt Nam Để từ

đó, tất cả các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều là anh em trong quan hệ máu thịt Tư tưởng “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” (Hồ Chí Minh) được gợi ra chính từ cái tình yêu nguyên thủy ấy Khổ thơ như một lời thầm thì về tình non nước, về cội nguồn truyền thống ông cha

Lần thứ ba Nguyễn Khoa Điềm sử dụng biện pháp chiết tự, tách đôi khái niệm “Đất Nước” thành hai vật thể hữu tình để nói về tổ tiên người Việt, khẳng định những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Và chính những truyền thống văn hoá vững bền ấy, tạo nên mạch ngầm chảy từ quá khứ nối liền với hiện tại và tương lai

2.3- Bảy câu cuối đoạn - Trên cơ sở đó, nhà thơ đã thức dậy lòng yêu nước, niềm tự hào về dòng máu Lạc Hồng, “con rồng cháu tiên” để nhắc nhở thế hệ trẻ phải biết kế tục truyền thống của cha ông, của đất nước:

“Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau”

Yêu nước, lớp lớp con cháu người Việt nối bước cha ông, gánh vác trên vai trách nhiệm xây dựng và bảo vệ đất nước

Cảm xúc và suy tư, trữ tình và chính luận khiến những câu thơ trên có sức lay động lớn đến tâm hồn người đọc về ý thức trách nhiệm của mỗi chúng ta: Dù người mất hay còn thì truyền thống dân tộc, đạo lí cha ông, các thế hệ con cháu phải có trách nhiệm kế thừa và phát huy

- Quá khứ, hiện tại, tương lai đã gắn kết trong một ý thức cộng đồng bền chặt, là nguồn sức mạnh và cũng là phẩm chất tâm hồn dân tộc đã được nhà thơ lý giải qua những hình tượng thơ giàu tính thẩm mỹ:

“Hằng năm ăn đâu làm đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”

Hai chữ “cúi đầu” thể hiện niềm thành kính thiêng liêng, chạm vào tình cảm cội nguồn, khơi dậy trong lòng người truyền thuyết vua Hùng dựng nước “Tổ” là cội nguồn, giống nòi của dân tộc, là tổ tiên là nhân dân thuở trước Xúc động và đáng trân trọng biết bao thái độ thành kính của nhà thơ hướng về quá khứ, cội nguồn của dân tộc

3 Nghệ thuật: Với lời thơ tự do ngọt ngào, đằm thắm như lời tâm tình trò chuyện giữa “anh” và

“em”, với vốn kiến thức phong phú và khả năng sáng tạo các yếu tố văn hóa văn học dân gian, Nguyễn Khoa Điềm đã làm sáng tỏ câu hỏi “Đất Nước là gì?” bằng quan điểm và cái nhìn thật mới

mẻ, sâu sắc

KB:

Đề 3: Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong đoạn trích Đất Nước trích trường ca Mặt đường

khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm:

“Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay

Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm

Trang 7

Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời…”

Gợi ý :

* MB: Nêu được vấn đề cần nghị luận (tác giả, tác phẩm, đoạn trích, cảm nhận chung về đoạn trích:

Đất Nước gán bó thân thiết với mỗi con người Việt Nam)

* TB:

- Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, vị trí đoạn trích

- Cảm nhận chung: Trong chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”, hai từ Đất Nước và Nhân Dân đều được viết hoa , trở thành “mĩ tự” gợi lên không khí cao cả, thiêng liêng và biểu lộ cao

độ cảm xúc yêu mến, tự hào về Đất Nước và Nhân Dân Chủ thể trữ tình là “anh và em”, giọng điệu tâm tình thổ lộ, sâu lắng, thiết tha, ngọt ngào Cấu trức đoạn thơ 13 câu thơ là cấu trúc tổng – phân – hợp thể hiện được chất chính luận của ngòi bút Nguyễn Khoa Điềm

- Cảm nhận cụ thể từng phần:

+ 2 câu thơ đầu: Khẳng định trong bản thân anh và em đều có một phần Đất Nước, sự nhận thức chân lí về cội nguồn, về truyền thống, về lịch sử…Đất Nước gần gũi và gắn bó thân thiết với chúng ta Ta là một phần của Đất Nước thật là yêu thương và tự hào

+ 4 câu tiếp theo mở rộng ý thơ của 2 câu đầu từ 2 đứa đến mọi người

Khi hai đứa cầm tay – yêu thương, xây dựng gia đình  Đất Nước hài hòa nồng thắm  tình yêu và hạnh phúc gia đình mới tạo nên sự hài hòa nồng thắm với tình yêu quê hương Đất Nước Đó

là bản chất thống nhất trong tình cảm của thời đại mới (liên hệ với bài Nhớ của Nguyễn Đình Thi, Quê hương của Giang Nam)

Khi chúng ta cầm tay mọi người – đoàn kết, yêu thương đồng bào  Đất Nước vẹn tròn to lớn , tạo nên sức mạnh Việt Nam  cảm nhận Đất Nước từ cội nguồn của dân tộc

4 câu thơ trên cấu tạo theo phép đối xứng về ngôn từ, làm cho ý thơ liền mạch, hài hòa giữa nội dung và hình thức…

+ 3 câu tiếp theo tiếp tục mở rộng ý thơ của 2 câu đầu từ hôm nay đến ngày mai và muôn đời sau…

Tác giả nhắn nhủ kì vọng vào tương lai: “Mai này …mơ mộng” Thế hệ con cháu sẽ tiếp bước cha ông để xây dựng Đất Nước Tác giả tin tưởng vào trí tuệ và bản lĩnh của nhân dân Việt Nam trên hành trình lịch sử xây dựng Đất Nước

+ 4 câu thơ cuối cảm xúc dâng lên đến cao trào, giọng thơ tâm tình “Em ơi em” ngọt ngào say đắm: nhà thơ giãi bày, san sẻ về cảm nhận, định nghĩa về Đất Nước của mình “Đất Nước là máu xương của mình”, là mồ hôi xương máu của ông cha Tác giả kêu gọi ý thức trách nhiệm của mỗi chúng ta: gắn bó, san sẻ, hóa thân có như thế mới làm nên Đất Nước muôn đời, trường tồn với thời gian Điệp ngữ “phải biết” như mệnh lệnh khiến cho giọng thơ trở nên mạnh mẽ…

- Nhận xét chung: Đoạn thơ nói riêng, đoạn trích nói chung đã góp phần vào đề tài Đất Nước trong thơ ca Việt Nam thời kháng chiến một tứ thơ rất đẹp, thấm đẫm dư ba Thể hiện niềm tin vào tương lai Đất Nước Đoạn thơ mang tính chính luận, chất trữ tình, hàm ẩn tính công dân trong thời đại mới Giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tứ thơ dạt dào, giàu cảm xúc, sáng tạo về ngôn từ hình ảnh thể hiện một hồn thơ giàu chất suy tư…

* KB: Khái quát, cảm nhận chung ý nghĩa, nghệ thuật của đoạn thơ.

Đề 4: Phân tích đoạn thơ sau để làm rõ tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” trong đoạn trích Đất Nước

của Nguyễn Khoa Điềm:

Trang 8

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút non Nghiên Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”

Gợi ý :

MỞ BÀI

1 Dẫn dắt vào đề:

Hình ảnh đất nước đã khơi nguồn cảm hứng vô tận cho biết bao thi sĩ Cách mạng để sáng tạo nên những vần thơ đẹp tuyệt vời Nhà thơ Chế Lan Viên đã nhìn suốt chiều dài lịch sử oanh liệt để khẳng định:

“Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” Lê Anh Xuân đã tạc vào thơ một dáng đứng Việt Nam với hình ảnh: “Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất; Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” Tố Hữu với hình ảnh đất nước sáng ngời: “Ôi! Việt Nam từ trong biển máu; Người vươn lên như một thiên thần”

Với chương Đất Nước trong Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên những cảm

nhận sâu sắc về đất nước, về nhân dân, về dân tộc và trách nhiệm lớn lao của tuổi trẻ Việt Nam trước non sông đấtnước

2 Vài nét về tác giả và tác phẩm.

- Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943 ở Thừa Thiên Huế

- Đất Nước thuộc chương V của trường ca Mặt đường khát vọng (1974) Bản trường ca viết về sự

thức tỉnh của tuổi trẻ sinh viên các đô thị tạm chiếm ở miền Nam trước năm 1975 trước vận mệnh hiểm nghèo của đất nước; kêu gọi họ hướng về nhân dân mà xuống đường đấu tranh hoà nhập với cuộc kháng chiến của toàn dân tộc

- Trong các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tưởng, xúc cảm dồn nén, thể hiện một chiều sâu văn hoá, đặc trưng của thế hệ các nhà thơ thời kỳ chống Mỹ cứu nước đã có một hành trang văn hóa chuẩn bị khá chu đáo trước khi bước vào chiến trường

- Chương Đất Nước khai triển có vẻ phóng túng, tự do như một thứ tuỳ bút thơ, nhưng thật ra tứ thơ vẫn tập trung thể hiện tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” qua các bình diện chủ yếu: Đất Nước trong chiều dài thời gian lịch sử, Đất Nước trong chiều rộng không gian lãnh thổ địa lý, Đất Nước trong bề sâu truyền thống văn hoá, phong tục, lối sống tâm hồn, cốt cách dân tộc.

- Tư tưởng “đất nước của nhân dân” là một tư tưởng rất tiến bộ của thơ ca thời đại Cách mạng Đoạn trích bình giảng trên đây đã thể hiện một cách sâu sắc và cụ thể sự “hoá thân” của nhân dân vào đất

nước muôn đời

THÂN BÀI

a Nguyễn Khoa Điềm đã có những phát hiện mới mẻ về thiên nhiên địa lí của đất nước:

Trang 9

- Để nói lên công lao to lớn của nhân dân trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhà thơ đã nhắc đến những danh lam thắng cảnh, những tên đất, tên làng trên mọi miền đất nước từ Nam chí Bắc

+ Nguyễn Khoa Điềm đã nhìn thấy hình sông, thế núi là sự kết tinh đời sống tâm hồn của nhân dân Xuất phát từ quan niệm của nhà Phật (hóa thân), tác giả đã trình bày những cảm xúc, suy tưởng của mình:

chính nhân dân đã hoá thân thành đất nước “hóa thân cho dáng hình xứ sở” làm nên đất nước vĩnh hằng

+ Qua cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, những danh lam thắng cảnh không còn là những cảnh thú thiên nhiên thuần tuý nữa mà đã được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, sự “hoá thân” của những con người không tên không tuổi

Chúng chỉ trở thành thắng cảnh khi đã gắn liền với cuộc sống của nhân dân, với con người, được tiếp nhận, cảm thụ quan tâm hồn nhân dân và qua lịch sử của dân tộc

- Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” khiến cho những địa danh ngàn đời của Tổ quốc qua cái nhìn

sắc sảo đầy khám phá của nhà thơ chính là sự hoá thân của những con người bình dị, vô danh những con

người “không ai nhớ mặt đặt tên” “nhưng họ đã làm ra đất nước”:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái”

+ Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định…, hòn Trống Mái ở Sầm Sơn là do "những người vợ nhớ chồng" hoặc những "cặp vợ chồng yêu nhau" mà "góp cho", "góp thêm", làm đẹp thêm, tô điểm cho

Đất Nước Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái cũng là kết tinh tình yêu thuỷ chung của biết bao người vợ chờ chồng trong chiến tranh liên miên, của sự gắn kết muôn đời, bất chấp mọi bão tố của thời gian:

“Không hoá thạch kẻ ra đi mà hóa thạch kẻ đợi chờ

Đợi một dáng hình trở lại giữa đơn côi”

- Tác giả không chỉ chiêm ngưỡng những hình ảnh núi Bút, non Nghiên mà còn nhìn ra trong đó

phẩm chất, truyền thống hiếu học và khát vọng trí tuệ của dân tộc ta từ bao đời nay

+ Những núi Bút, non Nghiên phô bày vẻ đẹp mỹ lệ giữa đất trời nước Việt hay là hình tượng những người học trò nghèo đã gửi gắm quyết tâm, ước vọng của mình vào đấy:

“Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút non Nghiên”

- Nhà thơ đã tìm về cội nguồn để cảm nhận sâu sắc dáng hình đất nước Những hình ảnh thân quen

của non sống đất nước gợi lên quá khứ hào hùng với truyền thống đánh giặc ngoại xâm oanh liệt của nhân dân ta qua truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh đuổi giặc Ân, cùng với sự nghiệp dựng nước đầy gian lao của vua Hùng:

“Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương”

- Cho đến “những con rồng nằm im” cũng góp phần làm nên “dòng sông xanh thẳm”, “con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh” và cả những địa danh thật nôm na, bình dị

“những ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm”

+ “Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm” Những dòng sông trên đất nước ta là do rồng "nằm im" từ bao đời nay Nhờ đó mà quê hương ta có "dòng sông xanh thẳm", thơ mộng cho nước ngọt

phù sa, nhiều tôm cá, mênh mông biển lúa bốn mùa

+ Tư tưởng "Đất Nước của nhân dân" cũng thể hiện trong kì quan nổi tiếng, những tên tuổi có công

với dân với nước:

"Con cóc con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Trang 10

Những người dân nào đã góp tên ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm"

Theo cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, Hạ Long trở thành kì quan, thắng cảnh là nhờ có "con cóc, con gà quê hương cùng góp cho"

Những tên làng, tên núi, tên sông như "Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm " là do những con

người vô danh, bình dị làm nên

+ Để khẳng định và nhấn mạnh tư tưởng "Đất nước của nhân dân" và chính nhân dân vô tận, những

người vô danh không tên không tuổi đã làm nên đất nước, ở đoạn thơ trên tác giả đã sử dụng rất thành công

điệp từ "góp", một động từ diễn đạt hành động "cùng mọi người đưa cái riêng của mình vào thành cái chung" (Từ điển Tiếng Việt - trang 758)

b Từ đó, Nguyễn Khoa Điềm đi đến kết luận mang tính khái quát sâu sắc giàu chất suy tư và triết luận về sự hoá thân của nhân dân vào đất nước:

- Tính khái quát của hình tượng thơ cứ được nâng dần lên Đó là một hình dáng của tư thế truyền

thống Việt Nam, truyền thống văn hiến của dân tộc có bốn nghìn năm lịch sử:

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”

+ Thì ra trên mọi miền Đất Nước của Tổ quốc Việt Nam, những tên núi, tên sông, tên làng, tên bản, tên

ruộng đồng, gò bãi… đều mang đậm “một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”

+ Chính cuộc đời của cha ông ta – những người dân không tên tuổi – đã làm nên Đất Nước Tất cả đều do nhân dân tạo ra, đều kết tinh từ công sức và khát vọng của nhân dân - những con người bình thường, vô danh + Nhưng tầm vóc của Đất Nước và nhân dân không chỉ trên bình diện địa lí "mênh mông" mà còn ở dòng chảy thời gian lịch sử “bốn nghìn năm” "đằng đẵng"

KẾT BÀI

- Đoạn thơ có kết cấu chặt chẽ, tự nhiên và được viết theo thể tự do Câu thơ mở rộng kéo dài nhưng không nặng nề mà biến hoá linh hoạt làm cho đoạn thơ giàu sức biểu hiện và sức khái quát cao

- Đó là hình ảnh “Đất Nước của nhân dân” – nhân dân đã hoá thành đất nước Bởi trên khắp ruộng đồng gò bãi, núi sông đâu đâu cũng là hình ảnh của văn hoá, của đời sống tâm hồn, cốt cách của Việt Nam

Đề 5: Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong đoạn trích Đất Nước trích trường ca Mặt đường

khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm:

“Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn nghìn năm đất nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng

Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ Nhưng em biết không

Ngày đăng: 12/11/2019, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w