Định hướng về đổi mới PPDH- Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡn
Trang 1ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC
MÔN VẬT LÝ Anh, chị hãy cho biết đổi mới PPDH ở trường
THCS là gì ?
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
II NHỮNG PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC CẦN ĐƯỢC
ÁP DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN TRONG TRƯỜNG PT
III NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PPDH VẬT LÝ
Trang 2I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Vì sao phải đổi mới PPDH
- Do yêu cầu của xã hội đòi hỏi đổi mới GD
trong đó có đổi mới PPDH.
- Yêu cầu của toàn cầu hoá và xã hội tri thức đối với GD Giáo dục cần đào tạo con người đáp ứng: Năng lực lao động; tính sáng tạo năng
động; tính tự lực và trách nhiệm; năng lực
cộng tác làm việc; năng lực giải quyết các vấn đề; khả năng học tập suốt đời.
Trang 32 Thực trạng của việc đổi mới PPDH
- Vẫn là GV truyền thụ kiến thức SGK, học sinh thụ động.
- Việc sử dụng và phối hợp các phương pháp
tích cực còn hạn chế.
- Gắn nội dung dạy học với thực tế chưa được chú trọng
Trang 43 Định hướng về đổi mới PPDH
- Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
- Đổi mới nội dung tổ chức hoạt động của GV và HS.
- Đổi mới hình thức tương tác xã hội trong dạy học (dân
Trang 5II NHỮNG PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC CẦN ĐƯỢC
ÁP DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN TRONG TRƯỜNG PT
Có thể nêu 4 dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau đây, đủ
để phân biệt với các phương pháp thụ động:
a Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS.
Trang 6a Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
- Người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học”- được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá
những điều mình chư rõ
- HS được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề theo cách suy nghĩ của mình, từ đó vừa nắm được kiến thức kỹ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức kỹ năng đó, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
- Dạy theo cách này thì GV không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức
mà còn hướng dẫn hành động, giúp cho từng HS biết hành động
và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng
đồng
Trang 7b Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp
tự học
- Rèn luyện phương pháp tự học cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
- Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho HS có được PP, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho HS lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV
Trang 8c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
- Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng PPTC buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuổi công tác độc lập; áp dụng PPTC ở trình độ càng cao thì sự phân hoá càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong giảng dạy sẽ đáp ứng được yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi HS.
- Trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy-trò, trò-trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó HS nâng mình lên một trình độ mới Bài học được vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi học sinh và của cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy giáo.
- Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp, hoặc trường Được phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc thực sự cần sự phối hợp giữa các cá nhân.
- Hoạt động hợp tác theo nhóm nhỏ sẽ tạo cho HS quen đần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác
Trang 9d Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
- Việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực
trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
- Trong PPTC, GV phải hướng dẫn HS phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, GV cần tạo diều kiện thuận lợi cho HS được tham gia đánh giá lẫn
nhau
- Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với GV, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
Trang 102 Những phương pháp tích cực cần được áp dụng và phát triển ở trường phổ thông.
a Vấn đáp tìm tòi.
b Dạy - Học đặt và giải quyết vấn đề.
c Dạy - Học hợp tác trong nhóm nhỏ
Trang 11
a Vấn đáp tìm tòi.
Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó
GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó
HS lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt ba phương pháp vấn đáp.
Trang 12- Vấn đáp tái hiện:
GV đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã học, đã biết để trả lời, không cần suy luận Vấn đáp tái hiện không được xem là một phương pháp có giá trị sư phạm
Đó là một biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến
thức sắp học hoặc khi củng cố kiến thức vừa mới học.
Trang 13- Vấn đáp giải thích – minh hoạ:
Nhằm mục đích làm sáng tỏ một vấn đề nào
đó, GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm
theo những ví dụ minh hoạ để cho HS dễ hiểu,
dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn
Trang 14- Vấn đáp tìm tòi:
hướng dẫn HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết GV tổ chức sự trao đổi ý kiến - kể cả tranh luận - giữa
GV với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn
đè xác định Trong vấn đáp tìm tòi GV giống như người tổ chức
sự tìm tòi còn HS giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy khi kết thúc cuộc đàm thoại, HS có được niềm vui của sự khám phá, trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy
Hiện nay, đa số GV dùng lại ở phương pháp vấn đáp kiểm tra tái hiện hoặc vấn đáp giải thích - minh hoạ
Trang 15b Dạy-Học đặt và giải quyết vấn đề
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức: Tạo tình huống có vấn đề; Phát triển và nhận dạng vấn đề nảy sinh; Phát biểu vấn đề cần giải
quyết.
- Giải quyết vấn đề đặt ra: Đề xuất các giả
thuyết; Lập kế hoạch giải quyết vấn đề; Thực hiện kế hoạch.
- Kết luận : Thảo luận kết quả và đánh giá;
Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu; Phát biểu kết luận; Đề xuất vấn đề mới.
Trang 16Các mức trình độ của dạy-học đăt và giải quyết vấn đề.
Các
mức ĐặtVĐ Nêugiả thuyết Lậpkế
hoạch
Giải Quyết VĐ
Trang 17c Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ
- Làm việc chung cả lớp: Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức; Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ; Hướng dẫn cách làm việc của nhóm.
- Làm việc theo nhóm: Trao đổi, thảo luận trong nhóm;
Phân công trong nhóm, cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi; Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm.
- Tổng kết trước lớp: Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả; Thảo luận chung; GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp
theo hoặc vấn đề tiếp theo.
Mọi người cùng tham gia
Chia sẽ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau
Chuẩn bị cho lao động phân công hợp tác trong cộng đồng
Trang 18III Những giải pháp đổi mới PPDH Vật lý
1 Trước hết GV phải nắm được chuẩn kiến thức, kỹ
năng của từng bài, từng đơn vị kiến thức để lượng hoá mục tiêu của tiết học.
2 Nghiên cứu các cách tổ chức cho HS hoạt động chiếm lĩnh kiến thức và kỹ năng phù hợp với mục tiêu đã
được lượng hoá.
3 Sử dụng thiết bị thí nghiệm, đồ dùng và phương tiện dạy học theo hướng tích cực.
4 Đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS.
5 Đổi mới việc soạn giáo án (lập kế hoạch bài học)
Trang 191 Trước hết GV phải nắm được chuẩn kiến thức, kỹ
hoá mục tiêu của bài học.
- Với định hướng dạy-học mới, mục tiêu của bài học được thể hiện bằng lời
- Mục tiêu của bài học sẽ là căn cứ để đánh giá chất lượng học tập của HS và
động từ có thể dùng ở các nhóm mục tiêu khác nhau.
- Mục tiêu của day-học không chỉ là những yêu cầu thông hiểu, ghi nhớ, tái
thành dần dần qua hệ thống nhiều bài học; nhiều môn học và chỉ có thể đánh giá được sau một giai đoạn học tập xác định (một học kỳ, một năm học hoặc một cấp học) nên thường ít được thể hiện trong mục tiêu của một bài học cụ thể Tuy nhiên cũng có thể đánh giá GV qua việc tổ chức cho
HS hoạt động chiếm lĩnh kiên thức và kỹ năng
Trang 201.1 Đối với nhóm mục tiêu kiến thức ,ta tạm
lượng hoá theo 3 (trong 6) mức độ nhận thức.
để lượng hoá mục tiêu ở mức độ này là: phát biểu , liệt
kê, mô tả , trình bày, nhận dạng,…
để lượng hoá mục tiêu ở mức độ này là: phân tích , so sánh , phân biệt , tóm tắt , liên hệ , xác định,…
động từ thường được dùng để lượng hoá mục tiêu ở
Trang 211.2 Đối với nhóm mục tiêu kỹ năng, ta tạm đưa
ra 2 mức độ:
Có thể lượng hoá mục tiêu kỹ năng bằng các động từ sau: nhận dạng, liệt kê, thu thập, đo đạc, vẽ, phân loại, tính toán, làm thí nghiệm, sử dụng…
1.3 Đối với nhóm mục tiêu thái độ, có thể lượng hoá bằng các động từ sau: tuân thủ, tán thành, phản đối, hưởng ứng, chấp nhận, bảo vệ, hợp tác…
Trang 22Ví dụ: Trình bày mục tiêu về kiến thức và kỹ
năng của bài học “Đòn bẩy” Vật lý lớp 6
(mức độ “nhận biết”)
số dụng cụ thực tế có sử dụng nguyên tắc đòn bẩy
(mức độ “thông hiểu”).
lợi về lực hoặc có lợi về đường đi (mức độ kiến thức
“vận dụng” và mức độ kỹ năng “làm được”)
Trang 232 Nghiên cứu các cách tổ chức cho HS hoạt
động chiếm lĩnh kiến thức và kỹ năng phù hợp với mục tiêu đã được lượng hoá
2.1 Lựa chọn nội dung kiến thức để tổ chức cho HS hoạt động.
2.2 Dự kiến hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS hoạt động 2.3 Nghiên cứu tổ chức cho HS hoạt động trên lớp dưới những hình thức học tập khác nhau (cả lớp, nhóm, cá nhân).
Trang 242.1 Lựa chọn nội dung kiến thức để tổ chức cho
HS hoạt động.
SGK đã trình bày đơn vị kiến thức theo định hướng hoạt động Vì vậy trong từng đơn vị
kiến thức, GV có thể tổ chức những hoạt động khác nhau để giúp HS chiếm lĩnh kiến thức
Căn cứ vào nội dung kiến thức trong SGK, tuỳ điều kiện thiết bị cụ thể, thời gian học tập cho phép cũng như khả năng học tập của HS, GV cần cân nhắc và lựa chọn nội dung để tổ chức cho HS hoạt động.
Trang 25Dưới đây là một số hoạt động thường gặp trong dạy học Vật lý
a Tổ chức tình huống học tập (chủ yếu là xác định nhiệm
Trang 26a Tổ chức tình huống học tập (chủ yếu là xác định nhiệm vụ học tập):
- Đặt câu hỏi nghiên cứu;
- Nêu dự đoán;
- Đề ra giả thuyết.
Trang 27b Thu thập thông tin:
- Quan sát các sự kiện, hiện tượng,TN;
- Tìm được những thông tin cần thiết từ quan sát, sách, báo…;
- Lập kế hoạch khám phá (thiết kế TN; lựa chọn dụng cụ thiết
bị TN; chỉ ra đại lượng cần đo, những điều cần xác định trong
TN, những yếu tố cần giữ nguyên, không thay đổi khi làm TN);
- Tiến hành khám phá (Bố trí, lắp đặt dụng cụ thiết bị TN; Thực hiện TN theo hướng dẫn; Thay đổi phương án TN nếu kết quả không phù hợp với vấn đề đặt ra);
- Ghi các kết quả khám phá (Đọc ghi các số chỉ của các dụng cụ
TN cần thiết cẩn thận và chính xác; lập bảng kết quả; biểu diễn kết quả bằng đồ thị, sơ đồ…)
Trang 28c Xử lý thông tin:
nêu ý nghĩa của chúng.
- Tìm quy luật từ bảng biểu, đồ thị.
- Phân biệt dấu hiệu giống nhau, khác nhau; Nhận biết dấu hiệu bản chất của những nhóm đối tượng đã quan sát…
- So sánh, phân tích, tổng hợp dữ liệu và rút ra kết luận.
Trang 29d Thông báo kết quả làm việc:
- Trình bày, giải thích những việc đã làm (bằng lời, bằng hình vẽ, đồ thị,…)
- Nêu kết luận đã tìm thấy dược.
Trang 30e Vận dụng, ghi nhớ kiến thức:
- Làm đồ chơi, dụng cụ học tập,…
- Học thuộc lòng.
Trang 312.2 Dự kiến hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS hoạt động.
- Trong mỗi hoạt động nên dự kiến hệ thống câu hỏi xen
kẽ với những yêu cầu HS hoạt động để hướng dẫn HS tiếp cận, tự phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới.
- Mỗi hoạt động nêu trên đều nhằm mục đích chiếm lĩnh một kiến thức hay rèn luyện một kỹ năng cụ thể và
phục vụ cho việc đạt được mục tiêu chung của bài học Song, hệ thống câu hỏi của GV nhằm hướng dẫn HS tiếp cận, phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức trong từng hoạt động giữ vai trò chỉ đạo, quyết định chất lượng lĩnh hội của HS Muốn vậy, GV phải:
Trang 32+ Giảm số câu hỏi có yêu cầu thấp về mặt nhận thức mang tính chất kiểm tra.
Loại câu hỏi này thường được sử dụng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học, khi HS đang thực hành, luyện tập hoặc khi củng
cố kiến thức vừa mới học.
Trang 33+ Tăng số câu hỏi then chốt, nhằm
vào những mục đích nhận thức cao hơn
Loại câu hỏi này đòi hỏi sự thông hiểu, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá, vận dụng kiến thức đã học cũng như các câu hỏi mở có nhiều phương án trả lời Loại câu hỏi này thường được sử dụng khi HS đang được cuốn hút vào các cuộc thảo luận tìm tòi, khi HS tham gia giải quyết vấn đề cũng như khi vận dụng các kiến thức đã học trong tình huống mới Việc tăng cường câu hỏi có yêu cầu nhận thức cao không có nghĩa là xem thường loại câu hỏi kiểm tra sự ghi nhớ vì không tích luỹ kiến thức, sự kiện đến một mức độ nhất định nào đó thì khó mà tư duy sáng tạo
Trang 34Ví dụ về một số kỹ năng đặt câu hỏi theo các mức độ
nhận thức tăng dần
lời các câu hỏi này giúp HS ôn lại được những gì đã học hoặc đã trải qua.
kết nối các dữ kiện, số liệu…; Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học
các dữ kiện, khái niệm, quy luật, các phương pháp… vào hoàn cảnh và điều kiện mới; Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy HS có khả năng hiểu được các khái niệm, quy luật, có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết vấn đề, vận dụng các phương án này vào thực tiển.
Khi đặt loại câu hỏi này cần tạo ra những tình huống mới khác với điều kiện đã học trong bài học và
sử dụng cụm từ : làm thế nào, Hãy tính, Em có thể…như thế nào?
nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết luận, tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh một luận điểm; Việc trả câu hỏi này cho thấy HS có khả năng tìm ra được các mói quan hệ mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận.
Khi đặt loại câu hỏi này đòi hỏi HS phải giải thích được các nguyên nhân từ thực tế: Tại sao; đi đến kết luận: Em có nhận xét gì về, hãy chứng minh…
được cách giải quyết một vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo; Việc trả lời câu hỏi này khiến HS phải: dự đoán, giái quyết vấn đề và đưa ra các câu trả lời sáng tạo.