CTXH cá nhân thực hiện tại thị trấn pác miều bảo lâm cao bằng. nghiên cứu về bài môn ctxh cá nhân,phương pháp CTXH cá nhân, phương pháp nghiên cứu tx nhóm , thực tâp nghiên cứu tại địa bàn khó khăn của cao bằng
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Sau thời gian thực tập tại xóm chè Pẻn, thị trấn Pác Miầu, Huyện Bảo Lâm, Tỉnh Cao Bằng với sự giúp đỡ của lãnh đạo UBND thị trấn Pác Miầu các cụ Người cao tuổi, và các cô, các chú, anh, chị em đã hoàn thành bài thực
tế của mình đúng thời gian.
Đầu tiên, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Giảng Viên hướng dẫn: đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình chỉ bảo và bổ sung kiến thức, kỹ năng cũng như kinh nghiệm phục vụ cho quá trình nghiên cứu, sửa chữa và cung cấp mảng lý thuyết em còn thiếu để em hoàn thành bài thực tế của mình.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ông Lê Văn Đồng Chủ tịch UBND Thị Trấn Pác Miầu Chủ tịch hội nguời cao tuổi thị trấn Pác Miầu ông Đào Xuân Lầu và chủ tịch hội NCT xóm Chè Pẻn ông Luơng Văn Thắng đã tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp cho em nhiều thông tin bổ ích phục vụ cho bài thực
tế của mình Đặc biệt là Bà Nông Thị Ban người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa ( Là thân chủ của em) đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực tập của mình và cung cấp những thông tin để em hoàn thành bài của mình Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn vấn đề can thiệp 4
2 Lịch sử vấn đề can thiệp: 5
3 Mục tiêu và nhiệm vụ can thiệp: 6
4 Đối tuợng và phạm vi can thiệp 6
4.1 Đối tuợng can thiệp: 6
4.2 phạm vi can thiệp: 6
5 phuơng pháp can thiệp: 6
6 Bố cục báo cáo 8
NỘI DUNG CHÍNH 9
I Cơ sở lý luận và thực tiễn 9
1.1 Cơ sở lý luận: 9
1.1.1 Khái niệm: 9
1.1.2 Lý Thuyết ứng dụng trong can thiệp: 12
1.1.3 Cơ sở pháp lý: 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Đặc điểm tình hình chung của cơ sở 19
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ sở 20
Chương 2: HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP 23
2.1 Kế hoạch hoạt động 23
2.2 Đặc điểm của đối tuợng can thiệp 24
2.3 Tiến trình can thiệp 25
2.4 Đánh giá khả năng vận dụng kiến thức đã học vào quá trình thực hành 38
Môn Công tác xã hội với cá nhân: 38
Tâm lí học 39
Tham vấn 39
Gia đình học 40
Hành vi con người và môi trường xã hội 40
Những kĩ năng được vận dụng 40
Kĩ năng giao tiếp 40
Kĩ năng quan sát 40
Trang 3Kĩ năng lắng nghe tích cực 41
Kĩ năng thấu cảm 41
Kĩ năng đặt câu hỏi 41
KẾT LUẬN 42
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢỎ 43
PHỤ LỤC 1 44
PHỤ LỤC 2 46
PHỤ LỤC 3 48
PHỤ LỤC 4 52
BẢNG TỰ LƯỢNG GIÁ 52
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
5 NCTCĐKNNT Người cao tuổi cô đơn không nơi
nương tựa
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn vấn đề can thiệp
Trong những năm gầm đây điều kiện sinh đẻ giảm, do điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt, tuổi thọ trung bình kéo dài, cùng với nhiều nguyên nhân khác nhau nên số lượng người cao tuổi ngày càng tăng lên Cùng với xu hướng tăng tuổi thọ, số lượng người cao tuổi đang tăng lên trong phạm vi toàn cầu.
Dân số nước ta đang già hóa với tốc độ nhanh do tuổi thọ bình quân ngày
càng tăng, trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm.
Trong pháp lệnh người cao tuổi (số 23/2000/PL-UBTVQH ra ngày 28/4/2000) nhận định “ Người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cái về nhân cách và vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội” Người cao tuổi họ đã đi qua những cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước thời kỳ đất nước còn gian khổ, họ được coi là kho tang tri thức và những kinh nghiệm sống, họ luôn sẵn sàng truyền lại những hiểu biết của mình cho thế hệ sau
Trong bài phát biểu tại cuộc gặp mặt nhân ngày quốc tế NCT (01.10.2002) do TW Hội người cao tuổi Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, Tổng
Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “…Chưa bao giờ lực lượng người cao tuổi nước ta lại đông đảo như hiện nay Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tự hào về lớp người cao tuổi nước ta, với uy tín cao, sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống cùng với vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng lao động
và nghiệp vụ phong phú, đa dạng của mình, người cao tuổi thực sự là một bộ phận hợp thành nguồn lực nội sinh quý giá của cả dân tộc Chúng ta tôn trọng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực ấy”…
Cả đảng và nhà nước ta đều khẳng định vai trò và công lao của người cao tuổi đối với đất nước Họ là những người đi trước đã có những cống hiến lớn lao cho đất nước trong hai cuộc kháng chiến đầy gian khổ Nên thế hệ sau
Trang 5phải biết ơn và chăm sóc NCT và đền ơn đáp nghĩa với NCT Người cao tuổi
là những người đã cống hiến rất nhiều cho gia đình và xã hội, họ xứng đáng được quan tâm, chăm sóc Vì vậy em đã chọn nguời cao tuổi tại là đối tuợng nghiên cứu của mình trong bài báo cáo công tác xã hội với cá nhân của mình lần này.
2 Lịch sử vấn đề can thiệp:
Hiện nay có không ít các nghiên cứu của nhiều cán bộ nhà nuớc, các cán
bộ cơ sở, những ngưòi làm việc với nguời cao tuổi Nhưng em xin đưa ra một
số các đề tài nghiên cứu điển hình sau đây:
Nghiên cứu “ Đánh giá tình hình chăm sóc sức khoẻ cho nguời cao tuổi Việt Nam” của tác giả Đàm Viết Cuờng, Trần Thị Mai Oanh, Duơng Huy Luơng, Nguyễn Thị Thắng công bố năm 2006.
Đã có những phân tích tổng quát về tình hình chăm sóc sức khoẻ của nguời cao tuổi và các bệnh mà nguời cao tuổi gặp phải.
Nghiên cứu “ Đời sống tinh thần của NCT ở Việt Nam hiện nay’ năm
2009 của PGS/TS Hoàng Mộc Lan đã chỉ ra rằng mức thu nhập giữa NCT về hưu ở nông thôn thấp hơn NCT ở thành thị, nhưng NCT ở nông thôn lại có cuộc sống dễ chịu hơn NCT thành thị.
Ngoài ra còn có một số bài viết, bài báo , bài luận văn nói về đề tài NCT Trong bài viết : NCT ở việt nam kho kinh nghiệm quý báu cho lớp trẻ” bài viết này cũng nói về vai trò của NCT, và thế hệ sau phải yêu thuơng, phụng dưõng NCT vì họ đã cống hiến tuổi thanh xuân của mình cho đất nuớc,
3 Mục tiêu và nhiệm vụ can thiệp:
Mục tiêu can thiệp:
Nhằm mục tiêu tìm hiểu về cơ sở lý luận về công tác xã hội với người cao tuổi
Tìm hiểu về Thực trạng đời sống của người cao tuổi tại xóm chè Pẻn, Thị trấn Pác Miầu huyện Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng
Trang 6Nhiệm vụ can thiệp
Để thực hiện những mục tiêu đã đề ra em đã tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ sau:
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về CTXH đối với NCT
Tìm hiểu về đời sống vật chất và tinh thần chất của người cao tuổi, những khó khăn mà họ gặp phải
Mong đợi của Người cao tuổi tại xóm chè pẻn, thị Trấn Pác Miầu, huyện Bảo Lâm
Những hoạt động mà NVCTXH đã làm được để giúp đỡ người cao tuổi
4 Đối tuợng và phạm vi can thiệp
4.1 Đối tuợng can thiệp:
Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi
4.2 phạm vi can thiệp:
Không gian: tại Xóm Chè Pẻn, Thị Trấn Pác Miầu, Huyện Bảo Lâm, Tỉnh Cao Bằng.
Thời gian: Nghiên cứu từ ngày 04/04/2016 đến 29/04/ 2016
5 phuơng pháp can thiệp:
Phương pháp công tác xã hội với cá nhân – Phương pháp đặc thù
của CTXH.
Trong chuyên ngành, phương pháp công tác xã hội cá nhân được coi là một trong những công cụ phục vụ chủ yếu của nhân viên CTXH Nhân viên CTXH vận dụng trong các cơ sở xã hội, hoặc tổ chức để giúp đỡ những cá nhân có vấn đề thực hiện chức năng xã hội, nhằm phục hồi và củng cố, phát triển sự thực thi bình thường chức năng xã hội của cá nhân và gia đình trong bối cảnh xã hội mà vấn đề của họ đang bị diễn ra và bị tác động Có nhiều quan điểm về phương pháp này:
Theo bà Mary Richmond và cộng sự (Đầu những năm 1900): “Công tác
xã hội cá nhân là một tổng thể gồm 3 mặt: nghiên cứu xã hội chuẩn đoán
Trang 7-trị liệu” (Ngày nay gồm 7 bước: nhận diện vấn đề, thu thập dữ liệu, thẩm
định, chuẩn đoán, kế hoạch trị liệu, trị liệu, lượng giá để tiếp tục hay chấm dứt)
Nghiên cứu về phương pháp này, Lê Văn Phú - Khoa xã hội học trường
Đại học khoa học và nhân văn định nghĩa: “Phương pháp CTXH cá nhân là một phương pháp can thiệp để giúp một cá nhân thoát khỏi những khó khăn trong đời sống vật chất và tinh thần: chữa trị, phục hồi sự vận hành các chức năng xã hội của họ, giúp họ nhận thức và giải quyết vấn đề xã hội bằng khả năng của chính mình”.[5-112]
Phương pháp này được thực hiện theo tiến trình 7 bước: Từ bước tiếp cận thân chủ, xác định vấn đề, thu thập thông tin, chẩn đoán, lên kế hoạch trị liệu đến trị liệu và lượng giá
Một số cách tiếp cận trong phương pháp CTXH Cá nhân
Tùy theo mức độ các vấn đề xã hội của thân chủ và diến biến tâm sinh lý của cá nhân, nhân viên CTXH lựa chọn những cách tiếp cận phù hợp:
Cách tiếp cận tâm lý xã hội: Quan tâm đến diến biến của nội tâm con người và môi trường sống của họ.
Cách tiếp cận giải quyết vấn đề: Sự lôi cuốn thân chủ cùng tham gia vào tiến trình giải quyết vấn đề tự nó là một cách trị liệu.
Cách tiếp cận chức năng: Dịch vụ được cung cấp trên cơ sở chức năng của cơ quan xã hội là phương tiện trị liệu.
Cách tiếp cận tập trung vào một nhiêm vụ: Tập trung vào việc giúp thân chủ đạt được một mục tiêu cụ thể trong một thời gian định trước.
Cách tiếp cận can thiệp khi khủng hoảng: Tích cực tác động vào chức năng hoạt động tâm lý xã hội của một cá nhân trong giai đoạn khủng hoảng Cách tiếp cận tổng quát: Không chỉ tập trung giải quyết các khó khăn của thân chủ mà đặc biệt chú trọng đến việc phát huy sức bật dậy của đối tượng.
Phương pháp phân tích tài liệu
Trang 8Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu Nhân viên CTXH tiến hành thu thập các tài liệu văn bản cần thiết phù hợp với hoạt động trợ giúp cho thân chủ, xem xét các thông tin có sẵn trong các tài liệu mà mình sử dụng nhằm tìm kiếm các thông tin phục vụ cho mục đích tổng hợp
thông tin và đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu một cách tốt nhất
Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin quan trọng được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, được thực hiện trong nhiều giai đoạn như: từ giai đoạn khảo sát trung tâm, giai đoạn tiến hành can thiệp với thân chủ và những hoạt động khác đến giai đoạn kết thúc quá trình can thiệp Mục đích của phương pháp này là để thấy được những biểu hiện bên ngoài của thân chủ là người cao tuổi như: Hành vi, cử chỉ, thái độ của thân chủ đối với môi trường xã hội xung quanh.
Trang 9Nghiên cứu có ý nghĩa về mặt lý luận sâu sắc, với mục đích tìm hiểu về lĩnh vực công tác xã hội với người cao tuổi Những thông tin thu được từ thực tế sẽ đóng góp thêm vào nguồn tham khảo cho việc phân tích và nghiên cứu lý luận của công tác xã hội cho người cao tuổi
Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho nghiên cứu sau về lĩnh vực này.
1.1.1 Khái niệm:
Người cao tuổi
Hiện nay Có nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi
Ở việt Nam các nhà dân số học cho rằng “Người trên 60 tuổi không phân biệt nam hay nữ được gọi là người cao tuổi”
Theo bộ luật lao động: Người cao tuổi là người hết độ tuổi lao động nữ
từ 55 tuổi, nam từ 60 tuổi.
Trong hiến pháp 1992 có quy định “Người cao tuổi Việt Nam là công dân của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên Người cao tuổi Việt Nam bao gồm các thành phần, các dân tộc, các tôn giáo”
Theo pháp lệnh về người cao tuổi Việt Nam năm 2000 “ Người cao tuổi Việt Nam có công sinh thành , nuôi dưỡng và phát triển giống nòi, giáo dục các thế hệ về nhân cách và giữ vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và phát huy vai trò của người cao tuổi là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội, là thể hiện bản chất tốt đẹp , đạo lý và truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta”.
Khái niệm người cao tuổi được thống nhất sử dụng theo Luật người cao tuổi được ban hành tại kỳ họp thứ VI Quốc hội khóa XII ngày 23 tháng 11 năm 2009 là: “ Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” Trong bài thực hành về công tác xã hội với cá nhân của em thì người cao tuổi được hiểu là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”
Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa
Trang 10Theo nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09/03/2000 của thủ tướng chính
phủ quy định “Người già cô đơn không nơi nương tựa là người từ đủ 60 tuổi
trở lên sống độc thân, người già còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, không có nguồn thu nhập” được đưa vào diện cứu trợ xã hội thường xuyên tại xã phường quản lý.
Theo em hiểu khái niệm người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa là: người già cô đơn không nơi nương tựa là người cao tuổi, mất một phần hoặc toàn bộ khả năng lao động, không có nguồn thu nhập ổn định, không còn người thân như vợ, chồng, con cháu, chắt… hoặc còn người thân nhưng vì các
lý do khác nhau người thân không có khả năng chăm sóc nuôi dưỡng, phải sống một mình hoặc dựa vào cộng đồng hoặc các tổ chức xã hội từ thiện
Công tác xã hội
Theo từ điển Bách khoa chuyên ngành về CTXH(1955), ngành CTXH là một ngành khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hoạt động hiệu quả của con người,tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho những người dân trong xã hội.
Theo Hiệp hội quốc gia nhân viên CTXH (NASW) đưa ra năm 1970 thì
“CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ các cá nhân,các nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện các chức năng xã hội của họ tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu đó”
Năm 2004, Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế thảo luận bổ sung đưa ra dịnh nghĩa như sau: CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội bằng sự tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội, tham gia vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình hay cộng đồng CTXH giúp cho con người phát triển đầy đủ và hài hòa đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.
Ở Việt Nam, CTXH được định nghĩa như sau:
Trang 11CTXH là một ngành khoa học, một nghề chuyên môn vận dụng những kiến thức, kĩ năng, tay nghề để hỗ trợ cho thân chủ (cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng yếu thế nhằm khôi phục, tăng cường , phát triển các chức năng xã hội cho thân chủ thông qua các hoạt động xã hội đặc thù tác động vào các mối quan hệ xã hội của đối tượng tạo nên sự tương tác giữa con người và môi trường xung quanh.
Dù được hiểu theo nghĩa nào thì CTXH cũng được hiểu là một hoạt động mang tính chất tổng hợp cao, là ngành khoa học có tính chất liên ngành với nhiều chức năng, CTXH có phương pháp linh hoạt và tuân thủ theo những
quy.
công tác xã hội với cá nhân
Theo Virgina P Robinson(1930) “Công tác xã hội với cá nhân là một phương pháp thực hành, có hệ thống giá trị được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng, trong đó những khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành những kỹ năng để giúp các cá nhân và gia đình giải quyết những vấn đề nội tâm, mối quan hệ giữa người với người, vấn đề kinh tế xã hội
và vấn đề môi trường thông qua những mối quan hệ trực tiếp mặt đối mặt”[ trích trong “công tác xã hội cá nhân” Lê Chí An, 2006]
Như vậy, có thể khái quát CTXH cá nhân là phương pháp của CTXH thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình Trong tiến trình này NVXH cần biết vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý học, xã hội học
và các khoa học xã hội liên quan khác, đồng thời sử dụng kỹ năng, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, sát cánh cũng đối tượng, hỗ trợ tự giải quyết vấn đề của bản thân và có khả năng vượt qua những vấn đề khác có thể xảy ra trong
tương lai.
Công tác xã hội với người cao tuổi.
Trang 12Công tác xã hội với người cao tuổi là một phương pháp giúp cho từng đối tượng người cao tuổi cụ thể thông qua quan hệ tương tác giữa nhân viên
xã hội và người cao tuổi Từ đó trợ giúp cho đối tượng trong quá trình trị liệu
Công tác xã hội với người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa.
Là phương pháp trợ giúp cho người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa thông qua mối quan hệ tương tác giữa nhân viên xã hội và người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa để nhằm giải quyết những khó khăn mà họ đang gặp phải và góp phần phát triển toàn diện con người.
1.1.2 Lý Thuyết ứng dụng trong can thiệp:
Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Lý Thuyết nhu cầu được hình thành do sự sáng lập của nhà nghiên cứu
xã hội học Moslow Trong nghiên cứu lý luận, Maslow đã chỉ ra con người luôn có những nhu cầu nhất định để tồn tại và phát triển trong xã hội Theo lý thuyết nhu cầu của Moslow, các nhu cầu cơ bản của con người được chia theo
5 thứ bậc:
- Nhu cầu vật chất (basic need)
- Nhu cầu về an toàn (safety needs )
- Nhu cầu về xã hội hay nhu cầu được yêu thương ( social needs/ love,belonging needs)
- Nhu cầu được quý trọng ( esteem needs)
- Nhu cầu được phát triển ( self- actualizing needs)
Nhu cầu được phát triển Nhu cầu được quý trọng Nhu cầu được yêu thương Nhu cầu an toàn
Trang 13Nhu cầu vật chất ( nhu cầu cơ bản)
Thang nhu cầu của Moslow
Tùy theo hoàn cảnh xã hội của từng cá nhân mà họ đặt ra nhu cầu nào là cần thiết nhất, cần được ưu tiên đáp ứng.
Theo ông, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ Nhu cầu
tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau theo thứ tự
từ thấp đến cao về tầm quan trọng Thang nhu cầu của ông chia làm hai cấp: cấp thấp và cấp cao.
Nhu cầu cấp thấp bao gồm: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về an toàn Nhu cầu về vật chất là nhu cầu tối thiểu nhưng cần thiết nhất đảm bảo cho con người tồn tại bao gồm các hành vi: ăn, uống, mặc, ở, ngủ nghỉ, đi lại
Nhu cầu về an toàn là không bị đe dọa về sức khỏe, tính mạng, công việc, gia đình Nhu cầu này thể hiện trong cả thể chất và tinh thần.
Nhu cầu cấp cao bao gồm: nhu cầu về xã hội, nhu cầu về tôn trọng và nhu cầu về phát triển.
Nhu cầu về xã hội là các nhu cầu về tình yêu thương, được chấp nhận và được tham gia vào tổ chức, đoàn thể nào đó trong xã hội Khi thỏa mãn được nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì con người có xu hướng được tôn trọng và ghi nhận những giá trị cá nhân như quyền lực, địa vị, uy tín Cao nhất trong thang nhu cầu của con người là nhu cầu được phát triển toàn diện.
Theo ông, khi con người thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp đến một mức độ nhất định sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn.
Em sử dụng lý thuyết nhu cầu để đánh giá và xác định nhu cầu ưu tiên của người cao tuổi trong việc lựa chọn vấn đề khó khăn nhất cần được hỗ trợ khi họ tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Trang 14Vận dụng khi làm việc với NCT: Người cao tuổi thuộc nhóm này gặp rất nhiều vấn đề, để giải quyết các vấn đề đó triệt để cần phải chuyển sang các nhu cầu cụ thể Trong mỗi độ tuổi khác nhau, với từng hoàn cảnh khác nhau thì nhu cầu cũng khác biệt chính vì vậy việc tiếp cận theo nhu cầu khi làm việc trực tiếp với Người cao tuổi sẽ giúp nhân viên CTXH hỗ trợ họ tốt hơn Giải quyết vấn đề theo từng tầng bậc trong từng trường hợp.
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu em tìm hiểu các nhu cầu của Người cao tuổi và xem xét sự bảo đảm các nhu cầu từ các nguồn lực, sự ưu tiên về nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay các nhu cầu được đáp ứng theo trình tự của thang nhu cầu A.Maslow Nhu cầu nào chưa đáp ứng được và nguyên nhân vì sao.
Lý thuyết hệ thống sinh thái
Thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật học Ludwig Von Bertalanffy (tên gọi: lý thuyết hệ thống chung – General systems theory, 1968) Ông đã nhấn mạnh những hệ thống thực tế là mở và có sự tương tác lẫn nhau với môi trường và chúng có thể thêm những thuộc tính, định tính mới thông qua biểu hiện mới và kết quả của sự tiến hoá liên tục Lý thuyết hệ thống theo Von Bertalaffy cung cấp phương tiện để tổ chức những tư tưởng, ý nghĩ về các vấn đề, sự kiện phức tạp mà đó là khối lượng thông tin lớn và tương quan phức tạp giữa các thông tin Theo Baker: Hệ thống là sự kết hợp các yếu tố có tính trao đổi, tương tác lẫn nhau và những ranh giới dễ nhận biết Hệ thống có thể mang tính vật chất, cơ học, sinh động và xã hội hoặc kết hợp những yếu tố này Hiểu theo cách khác, hệ thống chính là mô hình hay cấu trúc của sự tác động và mỗi quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Tất cả xã hội loài người là hệ thống lớn nhất đồng thời cũng bao gồm trong đó những hệ thống nhỏ hơn như cộng đồng, gia đình và những cá nhân trong xã hội.
Hai nhân tố quan trọng của hệ thống là cấu trúc của hệ thống và sự tác động qua lại của hệ thống Cấu trúc của hệ thống chính là cách thức tổ chức
Trang 15của hệ thống Hệ thống nhấn mạnh đến ranh giới giữa các yếu tố trong đó điều này có nghĩa là chỉ ra mối quan hệ giữa các thành viên trong hệ thống gần gũi hay xa cách Đồng thời, ranh giới cũng chỉ ra mối quan hệ giữa các thành viên trong hệ thống với môi trường bên ngoài của hệ thống đó
Chung quy lại, lý thuyết hệ thống chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các chính sách, cộng đồng và các nhóm ảnh hưởng lên cá nhân Cá nhân được xem như là bị lôi cuốn vào sự tương tác không dứt với nhiều hệ thống khác trong môi trường.
Lý thuyết sinh thái là lý thuyết quan trọng trong nền tảng triết lý của ngành công tác xã hội Lý thuyết sinh thái là tập hợp con của lý thuyết hệ thống, mô tả con người sống và làm việc chịu sự tương tác với gia đình, bạn
bè, hàng xóm, các tổ chức xã hội, tôn giáo, giáo dục, y tế Lý thuyết sinh thái
có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác xã hội, một trong những đóng góp là định nghĩa ba cấp độ của hệ thống.
Cấp vi mô: Con người là tiểu hệ thống tạo thành bởi tiểu hệ thống tâm, sinh lý, xã hội Các tiểu hệ thống này tác động lẫn nhau Công tác xã hội can thiệp ở cấp độ hệ thống này hướng vào nhu cầu của con người, những vấn đề
và điểm mạnh của họ Đồng thời, nhấn mạnh tính chất cá nhân giải quyết vấn
đề, tích hợp các giải pháp và chọn phương án tốt nhất Tập trung vào làm việc với cá nhân và giúp họ thực hiện chức năng của mình.
Cấp trung mô: Hệ thống này đề cập đến nhóm nhỏ ảnh hưởng lên cá nhân như gia đình, nhóm làm việc, nhóm xã hội khác.
Cấp vĩ mô: Hệ thống này nói đến các nhóm và hệ thống lớn hơn gia đình Bốn hệ thống vĩ mô tác động đến cá nhân là các tổ chức, các thiết chế, cộng đồng và nền văn hoá.
Lý thuyết hệ thống sinh thái trong công tác xã hội phỏng theo những khái niệm của lý thuyết hệ thống và sinh thái Hai khái niệm của lý thuyết sinh thái
có liên quan đặc biệt tới nhân viên xã hội đó là môi trường sống và vị trí trong
Trang 16xã hội Trong xã hội, mỗi cá nhân đều có một môi trường và hoàn cảnh sống,
họ luôn chịu tác động của các yếu tố môi trường và bản thân tác động lại với môi trường xung quanh
Như vậy, cá nhân trong môi trường và các yếu tố có liên hệ trực thuộc lẫn nhau Do vậy, để hiểu cá nhân trong môi trường, chúng ta phải nghiên cứu
để hiểu môi trường xung quanh.
Công tác xã hội như là một khoa học phần mềm, có thể linh động vì làm việc với con người Vì vậy, để hiểu về thân chủ, chúng ta cần nghiên cứu thân chủ trong môi trường sống của họ cũng như mối tương quan của thân chủ với cấu trúc khác.
Vận dụng lý thuyết hệ thống - sinh thái để xem xét mối quan hệ giữa người cao tuổi với môi trường xung quanh họ như anh em, bạn bè, hàng xóm Đồng thời, xem xét môi trường xung quanh có tác động như thế nào đến việc giải quyết vấn đề của họ
Qua lý thuyết này em sẽ vận dụng để xem xét xem hệ thống nào là nguồn lực có thể giúp đỡ cho thân chủ của mình, đâu là hệ thống có thể tác động hợp tác để giúp đỡ thận chủ giải quyết vấn đề
Lý thuyết thân chủ trọng tâm
Lý thuyết thân chủ trọng tâm do Carl Rogers nhà tâm lý học người Mỹ Sáng lập Lý thuyết này cho rằng cá nhân có sự khó khăn về tâm lý xã hội là do tập nhiễm những cách ứng xử không phù hợp và họ cần giúp đỡ để phát triển tiềm năng tâm lý một cách phù hợp Nhiệm vụ của NVCTXH trong quá trình giúp đỡ là hỗ trợ cá nhân xóa bỏ những rào cản trong môi trường xã hội, giúp họ hiểu được chính mình, chấp nhận hoàn cảnh và điều chỉnh bản thân để đạt được trạng thái cân bằng Trị liệu tâm lý trọng tâm dựa trên quan điểm tích cực của con người Rằng mỗi con người luôn luôn vận động để tự hoàn thiện bản thân mình Do vậy trong quá trình trị liệu phải chú ý vào đối tượng Trong quá trình tương tác với mối quan hệ tích cực, đối tượng sẽ trải
Trang 17nghiệm những điều xảy ra đối với họ rồi loại bỏ những cảm xúc tiêu cực và khả năng nhận thức, giải quyết vấn đề của bản thân.
Như vậy đối tượng được trao quyền chủ động trong việc giải quyết vấn
đề của mình.
Tóm lại, lý thuyết hệ thống, lý thuyết nhu cầu là nền tảng lý luận cho phép nghiên cứu, phân tích, lý giải mối quan hệ tương hỗ giữa các thành phần, bộ phận, chức năng liên quan đến hoạt động CTXH đối với người cao tuổi ; các chức năng của mỗi thành phần, bộ phận ấy tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong sự hài hòa của cấu trúc tổng thể Mỗi thành phần, bộ phận đều có những vai trò cụ thể khi tham gia vào các mối quan hệ trong cùng hệ thống hoặc với hệ thống khác xung quanh Mặt khác, việc thể hiện nhu cầu và đáp ứng các nhu cầu của người cao tuổi cần được đặc biệt quan tâm bởi hơn ai hết các cụ đã và đang chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống so với những cụ có cuộc sống bình thường khác.
đó chính sách chăm sóc sức khoẻ được quan tâm khá toàn diện Điều này đựơc minh chứng ở (khoản 2 Điều 10); (khoản 2 Điều 12); (Điều 13); (khoản
1, 2 Điều 14); (Điều 15); (Điều 16).
Luật người cao tuổi số 39/2009/QH12 của Quốc hội thông qua ngày 23/ 11/ 2009; Nghị định 06/2011/NĐ-CP ngày 14/ 01/2011 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người cao tuổi.
Trang 18Thông tư 09/2007/TT-BLĐTBXH ngày 13/4/2007của Bộ Lao động TB&XH hướng dẫn một số điều Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “…Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ…
” Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”.
Luật Lao động quy định tại Điều 124: “Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ người lao động cao tuổi, không được sử dụng người lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm… ảnh hưởng sức khoẻ”.
Điều 151 của Bộ luật hình sự quy định: “ Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” Bên cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội là người già”.
Những văn bản pháp luật này giúp em hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ
mà người cao tuổi nhận được, qua đó thấy được sự quan tâm của Đảng, nhà nước đối với người cao tuổi Qua những văn bản pháp luật này người cao tuổi cũng sẽ biết được quyền hạn và nghĩa vụ của mình, những hành vi nào là vi phạm pháp luật để họ tránh và thực hiện tốt nghĩa vụ của mình
Trang 19- Phía Nam giáp xã Thái Học.
- Phía Đông giáp xã Mông Ân.
- Phía Tây giáp xã Nam Quang, Tân Việt, Quảng Lâm.
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ sở.
* Đặc điểm tự nhiên
Thị trấn Pác Miầu được là một địa bàn nằm trong trung tâm huyện lỵ tập trung dân các tỉnh, thành khác đến đây làm ăn, trên địa bàn có 7 dân tộc cùng chung sống: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông, Lô lô, Sán chay Có 945 hộ với tổng dân số là 4011 nhân khẩu Có trụ sở UBND, Trạm Y tế, trường Mần non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông… Ngoài ra còn có các trụ sở của các cơ quan nhà nước của huyện, các cơ quan, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng trên địa bàn.
Hệ thống giao thông trong thị trấn có đường quốc lộ 34 chạy qua, thuận lợi cho việc đi lại thông thương phát triển kinh tế.
Hệ thống thủy hệ có sông Gâm và suối Pác Miầu chảy qua Đây là một lợi thế rất lớn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cây trồng.
Hệ thống thủy lợi: Tập trung chủ yếu khu vực trung tâm thị trấn về cơ bản
đã được kiên cố hóa mương dẫn nước nội đồng và các công trình nước sạch phục vụ sinh hoạt.
Ngoài ra còn một số con suối nhỏ dự trữ lượng nước không nhiều hầu như cạn vào mùa khô.
Hệ thống điện lưới quốc gia cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất đã đến từng hộ gia đình và cá nhân trong thị trấn tuy nhiên do địa hình phức tạp nên
hệ thống điện đi các xóm trong thị trấn chưa được tốt.
* Về địa hình: Thị trấn Pác Miầu có địa hình đặc trưng của vùng đồi núi,
độ cao trung bình 300 - 500m so với mặt nước biển.
Trang 20- Khu vực trung tâm thị trấn tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ được bao bọc bởi dãy núi đá vôi ở phía tây và dãy núi đất ở phía đông.
* Về địa hình: Khí hậu mang nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió
mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa nóng, ẩm mưa nhiều (từ tháng 5 đến tháng 10), mùa khô lạnh và hanh Từ tháng 11 đến 4 năm sau) Tuy nhiên do sự chi phối của địa hình và do ảnh hưởng độ cao, nên khí hậu mang tính chất đặc thù của dạng khí hậu lục địa miền núi cao, mùa hè mát mẻ, mùa đông khô lạnh.
* Nông nghiệp: Là trung tâm huyện lỵ, song bà con vẫn coi trồng trọt
là ngành sản xuất chính theo phương thức hộ gia đình với sản phẩm chủ yếu
là cây ngô, lúa, và đậu đỗ các loại Ngoài ra thị trấn còn phát triển thêm về chăn nuôi gia cầm, gia súc (để phục vụ cày kéo) tăng them thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân
* Lâm nghiệp: Trong những năm gần đây công tác giao đất giao
rừng, khoanh nuôi bảo vệ tái sinh rừng đã được trú trọng và phát triển tương đối ổn định.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện trong thời
kỳ đổi mới, những năm qua nền kinh tế của thị trấn đã có sự phát triển đáng
kể, đặc biệt trong nông nghiệp Công tác giao đất giao rừng và công tác khuyến nông - khuyến lâm được đẩy mạnh gắn với sự dịch chuyển cơ cấu cây trồng, vật nuôi, việc áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất ngày càng phổ biến đã góp phần nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi, nâng cao chất lượng rừng và tăng hiệu quả sử dụng đất.
* Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ: Hiện trạng hệ thống các
ngành tiểu thủ công nghiệp của thị trấn chưa được phát triển, quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu là các ngành khai thác cát, đá đáp ứng nhu cầu của người dân.
* Các dịch vụ: thương nghiệp, thương mại các cửa hàng bán xe máy,
Trang 21Tuy nhiên trình độ áp dụng kỹ thuật còn thấp, nên các hình thức dịch
vụ mới chỉ là bước đầu, quy mô nhỏ chủ yếu phục vụ các mặt hàng tiêu dung Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thị trấn, chính quyền nơi đây đã trải qua 3 lần bầu cử HĐND Chính quyền địa phương đã không ngừng bổ xung hoàn thiện các ban ngành chuyên môn, đoàn thể, ban cán sự ở các đơn vị dân cư Hiện nay thị trấn có 19 cán bộ, 14 công chức, 5 ban, ngành, và 10 đơn vị tổ dân cư cùng ban cán sự điều hành.
* Thuận lợi, khó khăn của cơ sở
Thuận lợi
Nhìn chung điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển cây trồng, vật nuôi ở trên địa bàn thị trấn Mới chú ý đến sản xuất lương thực, chăn nuôi và trồng trọt, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, các ngành nghề chưa phát triển, buôn bán nhỏ chủ yếu phục vụ tại chỗ.
Nguồn lao động dồi dào là nguồn nhân lực lớn cho quá trình phát triển sản xuất.
Cán bộ thị trấn, khu, xóm được tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, chuyên môn, lý luận Nhân dân được giáo dục, học tập đường lối chính sách của Đảng, pháp Luật của Nhà nước Quy chế dân chủ ở cơ sở được triển khai thường xuyên có hiệu quả.
Khó khăn
Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm năng suất thấp Một số hộ dân chưa biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp
Điểm xuất phát thấp, nền kinh tế còn mang nặng tính chất thuần nông, tự cung tự cấp, tỷ lệ đói nghèo còn cao, trình độ dân trí còn thấp.
Trình độ canh tác của người dân còn lạc hậu, khả năng thâm canh hạn chế,
Trang 22ý thức cải tạo đất và môi trường kém đã làm ảnh hưởng xấu đến quỹ đất của thị trấn
Cơ sở trường học, trạm xá đã được đầu tư, tuy nhiên trang thiết bị phục
vụ nhu cầu học tập và khám chữa bệnh còn thiếu về số lượng và kém về chất lượng Chất lượng dạy và học chưa đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục Tuy phổ cập THCS nhưng tỷ lệ phổ cập đạt thấp, trường mầm non và trường tiểu học thị trấn đạt chuẩn quốc gia, còn THCS và THPT chưa đạt chuẩn Quốc gia Cơ sở y tế chưa đáp ứng công tác y tế dự phòng tại địa bàn, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng còn cao, xã có bác sĩ đa khoa nhưng năng lực kém
Chương 2: HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP
2.1 Kế hoạch hoạt động
Để Thực hiện tốt trong đợt thực tế này em lên kế hoạch cụ thể như sau Hai ngày đầu tiên ngày 4-6 tháng 4 em sẽ tiến hành khảo sát địa bàn thực tập gặp gỡ lãnh đạo UBND thị trấn để xin phép đựoc thực tập, sau đó sẽ xuống xóm Chè Pẻn để gặp chủ tịch Hội NCT ở đó, nhờ sự giúp đỡ của bác
đó sẽ chọn ra đối tuợng mà mình tiếp cận.
Sau khi đã gặp gỡ và tìm hiểu địa bàn thực tập em sẽ chọn ra thân chủ của mình người mà mình sẽ gắn bó trong quá trình thực tế ( Một buổi)
Buổi tiếp theo đến các buổi sau nữa em sẽ tìm hiểu và tiếp cận thân chủ khai thác thông tin từ thân chủ của mình ( Dự kiến là 8 buổi)
Trang 23Sau khi khai thác đựợc thông tin tìm hiểu được những khó khăn và
những nguyện vọng của thân chủ em sẽ tiến hành can thiệp trợ giúp thân chủ ( trong vòng một tuần)
Bố trí một buổi để xin số liệu và thông tin của thân chủ từ UBND thị trấn, xóm và bạn bè, người thân để bổ sung cho bài viết của mình
Sau khi đã tiến hành can thịêp xong em thực hiện quá trình rút lui hạn chế gặp thân chủ để thân chủ bớt đi cảm giác hụt hẫng
Cám ơn thân chủ và những người đã giúp đỡ em trong quá trình làm bài của mình
Thâu tóm lại những thông tin đã thu được trong quá trình thực tế để viết thành bàì báo cáo hoàn chỉnh.
2.2 Đặc điểm của đối tuợng can thiệp
Vài nét về thân chủ và gia đình của thân chủ
Thân chủ tên Nông Thị Ban, 80 tuổi bà sinh ra trong một gia đình bố mẹ
làm nghề nông Bố tên là Nông Văn Chiến, mẹ là Hoàng Thị Luyến đều làm ruộng Bà có một nguời anh trai, một nguời em trai và một nguời em gái Một nguời anh trai đã mất ,còn một em trai thì đã vào miền nam sinh sống Em gái thì lấy chồng ở khác làng Bà kết hôn và có thai nhưng do bị ngã từ trên rẫy xuống khi đi làm nuơng nên bị sảy thai, từ lần đó về bà cũng tiếp tục mang thai nhưng lại bị sảy thai nên từ đó bà không có con Vì vậy nên nhà chồng và
cả chồng bà ruồng bỏ bà, nói rằng bà không biết đẻ, nên đuổi bà đi và lấy nguời khác Tủi hờn với số phận của mình và mặc cảm với thân phận nguời phụ nữ đau khổ khi không có con đựơc nữa có lần bà đã tự tử bằng cách ăn lá ngón, nhưng may mắn có ngưòi bắt gặp và ngăn được Mọi nguời động viên
và khuyên nhủ nên bà không còn đi tự tử nữa mà cố gắng sống tốt đến bây giờ Ngày đó vì hoàn cảnh đói nghèo nên bà không đi khám và cũng không chữa trị gì Dù nguời khác có đến tìm hiểu và mai mối nơi này, nơi nọ nhưng
bà đều lắc đầu từ chối Thưong tình, hàng xóm và anh em thân thiết cùng
Trang 24chính quyền địa phuơng đã chung tay xây dựng một căn nhà tình nghĩa cho bà
để bà sống một mình ở đó Hằng ngày bà vẫn chăm chỉ lao động, vì chăm chỉ lao động nên bà cũng tích góp mua được thửa ruộng, để sinh sống, ngoài ra bà cũng chăn nuôi lợn gà để bán
Bây giờ tuổi đã cao bà cũng lao động làm những công việc nhẹ nhàng.
Bà tâm sự : Bà làm việc quen rồi, ở một mình quen rồi, bây giờ mà không đi
ra đồng, ra chợ bà buồn lắm.
Đôi lúc nghĩ buồn lắm vì thui thủi một mình mà thấy chạnh lòng nhưng
số phận mình như vậy thì biết chấp nhận thôi.
Sau khi biết đuợc hoàn cảnh của đối tưọng thì em có thể rút ra được những đặc điểm về thân chủ của mình như sau:
Về tâm lý: Thân chủ là một nguời phụ nữ không may mắn, bất hạnh nên
thuờng tự ti về bản thân, hay đau khổ, tâm lý không ổn định có lúc đã muốn tìm đến cái chết để quên đi sự khổ đau Uất hận nguời chồng và gia đình nhà chồng vì đã hắt huỉ mình
Về sinh lý: sức khoẻ của thân chủ không đuợc tốt, hay ốm yếu do vết
thuơng ngày xưa để lại
Hay mắc các bệnh của tuổi già như: Đau khớp, đau đầu, cao huyết áp.
Về xã hội: Sống khép kín, ít tiếp xúc với mọi nguời xung quanh Rút lui
về mặt xã hội
Như vậy, ban đầu tiếp xúc và biết được hoàn cảnh của gia đình thân chủ, nhân viên CTXH trong quá trình giải quyết vấn đề thân chủ có thể căn cứ vào một số thông tin để tránh can thiệp hoặc can thiệp trợ giúp thân chủ có hiệu quả hơn.
2.3 Tiến trình can thiệp
Em đã thực hiện theo 7 buớc sau:
Buớc 1: Tiếp cận và bước đầu xác định vấn đề của thân chủ
Trang 25Bước tiếp cận thân chủ là bước vô cùng quan trọng và là bước can thiệp đầu tiên trong 7 bước của tiến trình can thiệp Tiếp cận tốt, nhân viên CTXH
sẽ dễ dàng thực hiện trong các bước tiếp theo Nhân viên CTXH tiếp xúc thân chủ trong vai trò là người bạn, với mục đích là tạo mối quan hệ với thân chủ, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trợ giúp thân chủ.
Mục tiêu trước mắt của nhân viên CTXH khi tiếp xúc thân chủ là: Nói chuyện được với bà Để nói chuyện được với bà nhân viên CTXH không những sử dụng nhiều kỹ năng mà phải vận dụng các kỹ năng đó phù hợp và khéo léo Điều này rất quan trọng vì: ban đầu tiếp xúc với người cao tuổi rất khó khăn, vì vậy trong buổi đầu tiếp xúc, nhân viên CTXH đã sử dụng một số
kỹ năng nghề nghiệp để thân chủ tin tưởng và đồng ý nói chuyện như: kỹ năng giao tiếp không lời (ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, giọng nói…), kỹ năng hỏi
và đặt câu hỏi, kỹ năng thấu cảm ngoài ra nhân viên CTXH còn tạo ra bầu không khí thân mật cởi mở, thoải mái để lấy được sự tin tưởng của thân chủ Trong quá trình tiếp cận thân chủ em cũng đã sử dụng kỹ năng như: kỹ năng quan sát, kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng khuyết khích làm rõ ý…để một mặt thân chủ bộc lộ ý kiến, trao đổi thông tin, mặt khác đưa
ra những tổng quan sơ lược và những đánh giá về tâm lý thái độ hành vi suy nghĩ cảm xúc của thân chủ
Xác định vấn đề của thân chủ
Sau khi tiếp cận thân chủ em cũng đã bước đầu xác định được những vấn
đề mà thân chủ đang gặp phải
Về vấn đề sức khỏe:
Bà hay bị khó ngủ, mỗi đêm bà chỉ chợp mắt được một lúc
Bà bị huyết áp cao mỗi lần mệt mỏi hay thời tiết thay đổi thì huyết áp cụ lại tăng lên.
Bà hay hồi nhớ về quá khứ của mình, hay cảm thấy cô đơn, tủi thân có những lúc bà thích ngồi một mình, không nói chuyện với ai Bà chia sẻ rằng
Trang 26Bà muốn tâm sự với một ai đó mỗi khi buồn nhưng chẳng có ai lắng nghe bà Mỗi lần tâm sự về chuyện gia đình của bà thì bà hay bị xúc động, mỗi lần như thế bà lại khóc nấc lên, và khó thở Bà hay bị ám ảnh người chồng hay hắt hủi
và đối xử không tốt với mình lúc còn chung sống.
Do sức đề kháng kém lại hay ốm yếu nên cứ chuyển mùa là bà lại mắc bệnh Đặc biệt là bệnh về mắt và về tai mũi họng như: đau mắt đỏ, viêm xoang, viêm họng,
Như vậy, việc xác định vấn đề thân chủ chính xác hay không tùy thuộc vào sự nắm bắt vấn đề nhanh nhạy của nhân viên CTXH: Bởi thông qua thời gian tiếp cận, nhân viên CTXH có khả năng tóm lược những nội dung chính
mà thân chủ cung cấp và đưa ra những vấn đề tổng quát để xác định các vấn
đề thân chủ chính xác hơn
Bước 2: Tìm hiểu, phân tích thông tin về thân chủ
Nhân viên CTXH khi xác định vấn đề và tạo được sự tin cậy của thân chủ thì tiến hành bước thu thập thông tin Để có thể khai thác được những vấn
đề cụ thể của thân chủ, nhân viên CTXH tiến hành thu thập thông tin trong 5 buổi.
Trước khi thu thập thông tin, nhân viên CTXH đã vạch ra những nội dung cần phỏng vấn, khai thác và thu thập như:
Hoàn cảnh, điều kiện sống của thân chủ cũng như những thông tin về tình hình học tập, tâm lý.
Mối quan hệ giữa thân chủ và gia đình, về nhận thức của thân chủ.
Mong muốn nguyện vọng của thân chủ.
Hoàn cảnh gia đình của thân chủ
Để hiểu và thu thập thông tin về hoàn cảnh gia đình thân chủ việc tiếp cận thân chủ và đưa ra những câu hỏi phải phù hợp với tâm trạng thân chủ là yếu tố cần thiết Hiểu được điều đó không chỉ nhân viên CTXH hiểu được hoàn cảnh hiện tại của gia đình thân chủ mà còn giúp thân chủ có sự tự tin