Chế Lan Viên đã đưa ra một quan niệm khác lạ về thơ, ông đã tìm cái đẹp “mĩ” không phải trong cái “chân”, cái “thiện” mà là trong hình ảnh hư ảo của thế giới Điêu tàn.. + Phương pháp khả
Trang 1KHOA NGỮ VĂN
HỌC PHẦN
VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM I
ĐÓNG GÓP CỦA CHẾ LAN VIÊN TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI
GIAI ĐOẠN 1930 – 1945
NHÓM 2
TP HCM, ngày 05 tháng 03 năm 2019
Trang 2ĐÓNG GÓP CỦA CHẾ LAN VIÊN TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI
Trang 44
MỤC LỤC
Lí do chọn đề tài 6
1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
2 2.1 Đối tượng nghiên cứu - 6
2.2 Phạm vi nghiên cứu - 7
Phương pháp nghiên cứu 7
3 Tác giả 8
1 1.1 Cuộc đời - 8
1.2 Sự nghiệp văn học - 8
Tập thơ Điêu tàn 10
2 2.1 Hoàn cảnh ra đời - 10
2.2 Điêu tàn – quan niệm sáng tác của Chế Lan Viên trước Cách mạng Tháng Tám - 10
Giá trị nội dung – Cái tôi trữ tình 12
1 1.1 Cái tôi cô đơn - 13
1.2 Cái tôi đau khổ ưu phiền - 16
1.3 Cái tôi ngập trong “điên loạn” - 18
1.4 Cái tôi bế tắc tuyệt vọng - 22
1.5 Cái tôi chối bỏ thực tại - 24
Giá trị nghệ thuật 27
2 2.1 Chất trí tuệ - 27
2.2 Không gian nghệ thuật - 29
Trang 55
2.3 Màu sắc – phương diện thẩm mĩ - 32
2.4 Hình ảnh kinh dị - 35
2.5 Thủ pháp nghệ thuật tương phản đối lập - 39
2.6 Thể loại, ngôn từ - 41
2.6.1 Thể thơ 41
2.6.2 Ngôn từ 42
So sánh phong cách thơ Chế Lan Viên với phong cách thơ Hàn Mặc 3 Tử, Bích Khê 44
3.1 Khái quát “Trường thơ Loạn” - 44
3.2 So sánh với Hàn Mặc Tử - 44
3.3 So sánh với Bích Khê - 48
Trang 66
DẪN NHẬP
Lí do chọn đề tài
1
Giữa lúc Thơ mới trên thi đàn Việt Nam (giai đoạn 1930 – 1945) nở rộ những
bông hoa màu hồng của tình yêu, mộng tưởng lãng mạn thì tập thơ Điêu tàn (1937)
mang một thế giới siêu hình u uất xuất hiện như một điểm nhấn “kinh dị” Chế Lan Viên – tác giả tập thơ nhanh chóng được biết đến như một tài năng trẻ, lúc ấy ông mới 17 tuổi (có tài liệu cho rằng 18 tuổi)
Chế Lan Viên đã đưa ra một quan niệm khác lạ về thơ, ông đã tìm cái đẹp (“mĩ”) không phải trong cái “chân”, cái “thiện” mà là trong hình ảnh hư ảo của thế
giới Điêu tàn “Mĩ học của nhà thơ là nền tảng sâu xa cho hồn thơ đầy sáng tạo.” (Trần Đình Sử) Tiếng vang của tập thơ Điêu tàn không chỉ vì nó khác lạ về nội
dung mà còn mới mẻ về mặt nghệ thuật Cả hai phương diện này không chỉ mang đến cái nhìn mới cho giới văn nghệ sĩ bấy giờ mà hơn thế nữa là đóng góp một phần không nhỏ vào sự vận động và phát triển của thi đàn Thơ mới Việt Nam trong giai đoạn này
Nghiên cứu về những đóng góp của Chế Lan Viên trong phong trào Thơ mới giai đoạn 1930 – 1945 là một vấn đề không mới Trước đó các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về nghệ thuật, quan điểm sáng tác, trong tập thơ ông Nhưng những vấn
đề này thường được trình bày riêng lẻ Ở bài tiểu luận này, chúng tôi muốn đem một cái nhìn mới hơn, cụ thể hơn về vấn đề này Đồng thời góp phần hữu ích vào công việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu sau này Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu về: Đóng góp của Chế Lan Viên trong phong trào Thơ mới giai đoạn
1930 – 1945
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà tiểu luận đề cập tới là những đóng góp của Chế Lan Viên trong phong trào Thơ mới giai đoạn 1930 – 1945
Trang 7của Chế Lan Viên để nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
3
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp để phân tích một số tác phẩm thơ của nhà thơ Chế Lan Viên về nội dung và nghệ thuật rồi sau đó tổng hợp lại đề thấy được những đóng góp của nhà thơ trong giai đoạn này
+ Phương pháp so sánh và đối chiếu đề so sánh về phong cách thơ của Chế Lan Viên với một số tác giả khác trong phong trào Thơ mới và đặc biệt là trong trường thơ Loạn đề thấy rõ hơn phong cách thơ Chế Lan Viên
+ Phương pháp khảo sát và thống kê, ở phương pháp này chúng tôi chỉ khảo
sát để lọc ra một số bài thơ tiêu biểu trong tập thơ Điêu tàn để thống kê lại một số
hình ảnh thơ cũng như những yếu tố về ngôn ngữ để tạo nên đặc điểm nghệ thuật trong phong cách cũng như đóng góp của nhà thơ trong giai đoạn này
Trang 8Năm 1937 tại trường học ở Quy Nhơn, Chế Lan Viên đã có những bước khởi đầu cho việc tiếp cận văn học của riêng bản thân mình Có thể nói năm 1939 là cột mốc đánh dấu khá nhiều sự kiện trong cuộc đời Chế Lan Viên Ông ra Hà Nội và trở vào Sài Gòn để viết báo Sau đó lại quay trở về Thanh Hóa, Huế để mà lớp dạy học
Cuộc đời nhà thơ trải qua cuộc đấu tranh trường kì của dân tộc Việt Nam, bước ngoặc của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra cho nước nhà một kỉ nguyên mới và đã ít nhiều cũng ảnh hưởng đến cuộc đời riêng của Chế Lan Viên Khi cách mạng Tháng Tám bùng nổ với tấm lòng của một nhà yêu nước Chế Lan Viên hăng say tham gia cách mạng ở Quy Nhơn Sau đó ông trở về Huế tiếp tục sự
nghiệp văn học của mình nhưng trên lĩnh vực mới là viết bài cho báo Quyết Thắng
của Việt Minh Trung Bộ
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 hòa bình lập lại, Chế Lan Viên về sống
và hoạt động lại ở Hà Nội Ông đảm nhận nhiều chức vụ, nhiều công việc khác nhau, là ủy viên thường vụ Hội nhà văn Việt Nam, Đại biểu Quốc Hội các khóa 4,
5, 6 và 7, Ủy viên ban thống nhất của Quốc Hội khóa 4 và 5, Ủy viên ban văn hóa Giáo dục của Quốc Hội các khóa 6 và 7, Ủy viên ban thư kí Hội nhà văn Việt Nam
1.2 Sự nghiệp văn học
Có thể nói cuộc đời Chế Lan Viên gắn bó một cách trực tiếp với văn học dân tộc Đến với văn học từ rất sớm, cũng như văn học đã trở thành một dòng máu chảy
Trang 99
xuyên suốt trong cuộc đời Chế Lan Viên Cũng chính vì thế, gắn với từng thời đại, từng biến động của cuộc đời, của đất nước, thơ văn Chế Lan Viên ra đời càng giàu
ý nghĩa và đa dạng, phong phú hơn về thể loại hơn nữa
Chế Lan Viên bắt đầu sự nghiệp văn học bằng tập thơ Điêu tàn được sáng tác
năm 1937, tập thơ chính là bước dạo đầu cho sự ra đời tên tuổi Chế Lan Viên
Ngoài tập thơ Điêu tàn, tên tuổi của Chế Lan Viên còn gắn bó với những tập thơ tiếp đó như: Gửi các anh (xuất bản năm 1955), Ánh sáng và phù sa (xuất bản năm 1960), Hoa trên đá (xuất bản năm 1984), Ta gửi cho mình (xuất bản năm 1986) và cuối cùng là tập Di cảo thơ (xuất bản năm 1992),…
Trên lĩnh vực văn xuôi Chế Lan Viên cũng có khá là nhiều đóng góp từ rất
sớm với những tác phẩm nổi tiếng như là: Vàng sao (xuất bản năm 1942), Thăm
Trung Quốc (xuất bản năm 1963), Bay theo đường dân tộc đang bay (xuất bản năm
1976),… Ngoài ra Chế Lan Viên còn có khá nhiều đóng góp cho nền phê bình và
tiểu luận của văn học dân tộc Năm 1952 ông cho ra đời tác phẩm Kinh nghiệm tổ
chức sáng tác, mười năm sau tác giả cho ra đời tác phẩm Phê bình văn học và đến
năm 1981 Từ gác Khuê Văn đến Quán Trung Tân ra đời đánh dấu bước phát triển
mới trên con đường văn chương của Chế Lan Viên
Có thể nói sự nghiệp văn chương của Chế Lan Viên phát triển khá toàn diện trên nhiều thể loại văn học khác nhau Từ thơ đến văn xuôi rồi đến tiểu luận, phê bình văn học, mỗi thể loại lại mang một sắc vị riêng, một ý nghĩa riêng hướng độc giả đến những mảng văn học dân tộc với bề dày của lịch sử khá dài Chính sự đa dạng trong thể loại và tác phẩm đã mang đến cho độc giả những cảm nhận mới, những cái nhìn mới mẻ hơn về quan niệm làm nghệ thuật giữa cuộc đời Có thể nói thể loại mang đến thành công lớn nhất cũng như là nền tảng cho phong cách Chế Lan Viên một phong cách khó bắt gặp ở những nhà thơ đương thời khác đó chính là thơ Ở từng câu từng chữ thơ đến với độc giả theo một hướng riêng biệt một hướng rất Chế Lan Viên
Trang 1010
Tập thơ Điêu tàn
2
2.1 Hoàn cảnh ra đời
Tập thơ Điêu tàn ra đời năm 1937 khi Chế Lan Viên mới 17 tuổi và đang là
học sinh năm thứ ba của trường Trung học Quy Nhơn So với những sáng tác cùng
thời Điêu tàn xuất hiện trên thi đàn văn học Việt Nam như một “hiện tượng lạ” giữa
sự ngỡ ngàng của độc giả đương thời như Hoài Thanh đã từng nhận xét bài thơ:
“đột ngột xuất hiện như một niềm kinh dị”, “một tháp Chàm lẻ loi và bí mật” Cũng
chính từ đây cây bút tên Chế Lan Viên bắt đầu có tên trên thi đàn văn học Việt Nam Tác phẩm là bước chân đầu tiên và cũng là bước chân chắc chắn nhất cho cuộc đời thơ Chế Lan Viên bởi sức ảnh hưởng của nó khá lớn và rộng dài trong thơ Việt Nam suốt những thế kỉ qua
Trong khi các nhà thơ giai đoạn lúc bấy giờ đang đắm chìm trong thế giới màu sắc của mạch Thơ mới lãng mạn, thơ Chế Lan Viên cũng là Thơ mới nhưng cái
mới trong thơ ông lại đi theo một hướng khác Điêu tàn ra đời là sự thăng hoa và
kết hợp của rất nhiều yếu tố khác nhau Là sự ám ảnh về một tuổi thơ với những tháp Chàm cô đơn, sừng sững trong hoàng hôn quê nhà Nỗi cô đơn trong tâm hồn một chàng thanh niên mới lớn đã thấm vào nỗi buồn của thời đại và sau nữa là một tâm hồn thi sĩ thiên phú
Chính vì thế mà Điêu tàn trở thành một hiện tượng lạ trong Thơ mới lúc bấy
giờ Đó là cả một thế giới đầy bóng tối, siêu hình và khép kín có lúc làm hoang mang, rợn ngợp người đọc với những hình ảnh của ánh sáng Thứ ánh sáng của ma quái và hấp dẫn chỉ lóe một lần trong cuộc đời thơ ông
2.2 Điêu tàn – quan niệm sáng tác của Chế Lan Viên trước Cách mạng Tháng Tám
Điêu tàn mở đầu cho tên tuổi của nhà thơ Chế Lan Viên cũng như quan niệm
mới mẻ về thơ ca của ông trước cách mạng tháng Tám năm 1945 Đây là sự khởi đầu quan niệm thẩm mĩ khác lạ cho dòng chảy Thơ mới lãng mạn lúc bấy giờ
Trong lời tựa Điêu tàn Chế Lan Viên có viết: “Làm thơ là làm sự phi thường Thi sĩ
Trang 1111
không phải là người Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên Nó thoát Hiện tại
Nó xối trộn Dĩ vãng Nó ôm trùm Tương lai Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lí Nhưng thường thường nó không nói: Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cười Cái gì của nó cũng tột cùng Nó gào
vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn cả tủy là tủy…” Chính
lời tựa Điêu tàn là một lời khẳng định cái quan niệm mới mẻ trong sáng tác thơ ca
của Chế Lan Viên Không còn thấy một nhà Thơ mới lãng mạn, bay bổng với bức tranh ngập đầy màu sắc của cuộc đời mà hiện lên trước mắt độc giả lúc này là một bức tranh thấm đẫm máu và nước mắt cùng sự rợn ngợp khi vừa “chạm tay” vào trong tác phẩm của Chế Lan Viên Người ta nhận ra ngay trong lời mở đầu Chế Lan Viên đã mang đến một “hiện tượng lạ”, một sự phóng thoát tuyệt đối khỏi quan niệm quen thuộc của thơ trữ tình Nó vạch ra một con đường mới, một hướng đi mới đến một chân trời mới của thơ ca lãng mạn mà ở đó thơ luôn là một điều bí ẩn
Khi viết Điêu tàn, Chế Lan Viên đã xác lập được một quan niệm thơ căn cứ
vào sáng tác của ông thời kì này Chế Lan Viên đã chọn cho mình một khách thể lạ mang tính hư cấu, tưởng tượng, siêu hình, khác xa với quan niệm đi tìm cái đẹp thuần tuý của các nhà thơ đương thời Thời gian này, ông rất thích các nhà thơ siêu thực Pháp và từ đó, ông dần dần tiến sâu vào khuynh hướng tượng trưng siêu thực
mà ông chịu ảnh hưởng từ Pháp A Breton, chủ soái của phái Siêu Thực thừa nhận:
“Chất thơ được hình thành qua những hình ảnh thoạt nhìn dường như có tính phi lí
cao độ, nhưng sau khi khảo sát kĩ càng, tính cách phi lí lui dần, nhường chỗ những
gì có thể chấp nhận được” Cho nên thế giới siêu thực trong Điêu tàn suy cho cùng
cũng chính là một hiện thực Đó là hiện thực sắp suy vong của một đất nước, đó là nỗi đau đớn và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình
Trang 1212
PHẦN II NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA TẬP THƠ ĐIÊU TÀN TRONG PHONG
TRÀO THƠ MỚI
Giá trị nội dung – Cái tôi trữ tình
1
Khái niệm “cái tôi trữ tình”
Theo Bielinxki, thể loại trữ tình chính là “vương quốc chủ quan”, là “sự biểu
hiện và cảm thụ của chủ thể”, trong đó tính chủ quan vừa là nguyên tắc tiếp cận đời
sống vừa là nguyên tắc xây dựng thế giới nghệ thuật Vì vậy, việc tìm hiểu về “cái tôi trữ tình” được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm như tác giả Lê Lưu Oanh
đã từng nói: “Chủ quan là một khái niệm triết học rất rộng có thể vận dụng vào rất
nhiều lĩnh vực không chỉ ở thể loại trữ tình Do đó phải tìm đến một khái niệm mang nội dung xác định bản chất thể loại hơn Khái niệm đó là cái tôi trữ tình”
Khái niệm “cái tôi trữ tình” gắn với bài thơ trữ tình Bài thơ trữ tình “là một bài thơ, trong đó nhà thơ viết về những suy nghĩ và cảm xúc của mình, trong đó nhà thơ cố gắng điều khiển và tổ chức các cảm xúc và ấn tượng của mình.” Từ những năm cuối thế kỉ XX, khi mà vấn đề “cái tôi trữ tình” được xem như một đối tượng nghiên cứu, đã có rất nhiều người nói đến mối quan hệ giữa nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ Chẳng hạn trong công trình Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam
hiện đại, tác giả Hà Minh Đức có viết: “Trong thơ vấn đề chủ thể cái tôi trữ tình có
một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.” Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh có
nêu lên quan niệm: “Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc
đối với thế giới và con người thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt độc đáo mang tính thẩm mĩ nhằm truyền đạt tinh thần ấy đến người đọc.” Ý
kiến trên đây của Vũ Tuấn Anh là sự tổng hợp các quan niệm về cái tôi trữ tình của nhiều học giả quan tâm nghiên cứu về vấn đề này Như vậy có thể hiểu, khi nhắc đến khái niệm “cái tôi trữ tình”, ta cần quan tâm đến hai yếu tố: Một là cách nhìn và cách cảm thụ của tác giả Hai là tổ chức các yếu tố để tạo nên một văn bản trữ tình
Trang 1313
Với hai yếu tố cốt lõi như trên, người ta thường sử dụng “cái tôi trữ tình” để nghiên cứu thể loại thơ trữ tình, để phát hiện ra những vấn đề cá tính sáng tạo, phong cách nhà thơ cũng như tiến trình phát triển của văn học
Người làm thơ bao giờ cũng có nhu cầu tự biểu hiện, giãi bày tâm tư, tình cảm của chính mình Hiện thực cuộc sống thì bao la rộng lớn, nhưng việc quan tâm đến vấn đề gì, nhìn nhận nó ra sao và chọn lọc chúng như thế nào để đưa vào trong tác phẩm theo phương thức biểu hiện riêng nào là do nhà thơ thể hiện dựa trên sự kết hợp giữa trải nghiệm cuộc sống, cảm hứng sáng tạo nghệ thuật và tài năng đặc biệt của thi nhân
Thơ trữ tình in đậm dấu ấn cá nhân như thế cho nên những vấn đề liên quan đến xuất thân, quê quán, tiểu sử cuộc đời, tính cách riêng đều chi phối và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác của nhà thơ Bởi như nhà thơ Hàn Mặc Tử
cũng đã từng cho rằng: “Người thơ phong vận như thơ ấy” Từ đó, nghiệm vào mối
quan hệ giữa đời và thơ của Chế Lan Viên, ta thấy cả hai yếu tố đã kết hợp hòa quyện tạo nên một cá tính độc đáo
Hơn nữa, ta cũng có thể thấy rõ toàn bộ sáng tác của ông vừa là tấm gương phản chiếu thời đại vừa là bức chân dung tự họa sinh động về con người Từ bản chất chủ quan của cái tôi trữ tình, ta thấy cái tôi tác giả và cái tôi trữ tình có mối quan hệ mật thiết với nhau Cuộc đời và những trải nghiệm chính là một trong những bộ phận cấu thành nhân cách trữ tình “Cái tôi trữ tình” của một Chế Lan Viên sắc sảo, nặng về suy tư triết lý đã được thể hiện qua những khía cạnh đa dạng bao gồm: Cái tôi cô đơn; cái tôi đau khổ, ưu phiền; cái tôi ngập trong “điên loạn”; cái tôi bế tắc tuyệt vọng và cái tôi chối bỏ thực tại
1.1 Cái tôi cô đơn
Vượt ra khỏi giới hạn thơ cổ, Thơ mới bắt đầu dung nạp và nuôi dưỡng lớn dần cái Tôi cá nhân Cái Tôi trong Thơ mới bắt nguồn từ thực tại Khi bất mãn với cái thực tại đang diễn ra, đang hiện hữu, con người quay vào hướng nội, trở nên thu
Trang 1414
mình lại và tự gặm nhắm lấy nỗi cô đơn của chính mình Sự phát hiện nỗi buồn như một phạm trù thẩm mĩ của Chế Lan Viên và cũng là của các nhà Thơ mới lãng mạn
Trong tập thơ Điêu tàn, tâm trạng đau buồn, cô đơn ấy có thể tìm thấy ở cơ
sở hiện thực khách quan mang tính thời đại: Đó là nỗi đau vong quốc cộng với cái u uất của cảnh quần chúng cách mạng bị đàn áp, bóc lột Trước đó, Chế Lan Viên từng đi ngược lại thời gian và bằng trí tưởng tượng của mình, đã phục hiện một thế giới chỉ còn trong kí ức với những điềm báo chẳng lành Ở đó, ông tìm thấy lại được thời hoàng kim của dân tộc Chăm-pa mạnh mẽ nhưng nay chỉ còn trong huyền
thoại Vẻ đẹp rực rỡ ấy được nhắc đến trong bài thơ Trên đường về:
“Đây, điện các huy hoàng trong ánh nắng, Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh
Đây, chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng, Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành.”
Bằng việc sử dụng các tính từ như “huy hoàng”, “tuyệt mỹ”, “thiêng”, “trầm
mặc” đã tôn lên vẻ đẹp rực rỡ và đáng ngưỡng mộ của dân tộc Chăm-pa thời hoàng
kim lẫy lừng Vẻ đẹp của một dân tộc mà giờ đây chỉ còn trong cổ sử
Từ đó, Chế Lan Viên bị chìm đắm trong cơn ác mộng về quá vãng của nước non Chiêm nay đã điêu tàn:
“Những cảnh ấy trên đường về ta đã gặp, Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi.”
(Trên đường về)
“Ta cùng Nàng nhìn nhau không tiếng nói,
Sợ lời than lay đổ cả đêm sâu
Đôi hơi thở tìm nhau trong bóng tối, Đôi linh hồn chìm đắm bể U Sầu.”
(Đêm tàn)
Trang 15“Trời ơi! Chán nản đương vây phủ
Ý tưởng hồn tôi giữa cõi Tang!”
Thật vậy, với nỗi đau buồn chất chứa, với thế giới nội tâm đầy chán nản đang bao phủ lấy chính mình, nhà thơ như cảm nhận được sâu sắc sự cô đơn của bản thân
Nhà thơ họ Chế dường như chỉ thấy ở những vang vọng lịch sử kia một thế giới Điêu tàn:
“Cả dĩ vãng là chuỗi mồ vô tận,
Cả tương lai là chuỗi huyệt chưa thành.”
(Những nấm mồ) Những danh từ “chuỗi mồ”, “chuỗi huyệt” thuộc cùng trường từ vựng về “cái
chết” đã cho thấy đó là một cõi âm giới với xương sọ đầu lâu, với mồ không huyệt
lạnh và với tha ma pháp trường Tất cả đã tạo nên cảnh tượng thật lạnh lẽo
Điêu tàn của Chế Lan Viên là một thế giới ma quái chìm đắm trong bóng tối
cô đơn lạnh lẽo với những cơn mê sảng của một tâm hồn vong nô bị giá lạnh:
“Đây những Tháp gầy mòn vì mong đợi, Những đền xưa đổ nát dưới Thời Gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối, Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than
Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn, Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.”
(Trên đường về)
Trang 1616
Bằng lòng tin đau đớn, thi sĩ tự dựng nên một thế giới hoang tưởng nhưng luôn nghĩ rằng nó có thật và cứ thế bị hút theo những xác tín siêu hình ấy Nhưng rồi sau đó, khi những xác tín ấy bị đánh vỡ, ông lại trở nên cô đơn và câm lặng Vì thế, nhà thơ đã nhiều lần phải thét lên tiếng kêu thảng thốt mà sâu thẳm, khắc khoải
về nỗi cô đơn của con người:
“Ai kêu ta trong cùng thẳm Hư Vô?
Ai réo gọi giữa muôn sao, chới với?”
(Ngủ trong sao) Đại từ “ai” cùng với những động từ “réo”, “gọi” đã cho thấy ông như tự
ngụy tạo cho mình những âm vọng từ một thế giới khác để trò chuyện trong nỗi cô đơn Với Chế Lan Viên, ngay chỉ việc tìm cảm hứng trong hoài niệm cũng đã bộc lộ
rõ sự cô đơn của ông đối với thực tại Nhà thơ tìm về quá khứ nhưng không phải là quá khứ tàn tạ mà là quá khứ đau thương của dân tộc Chăm-pa Như một nỗi niềm
dễ lây lan, cái tôi cô đơn, nội cảm tràn ngập, triền miên ấy trong Điêu tàn đã nhanh
chóng trở thành cảm hứng chủ đạo của tập thơ
1.2 Cái tôi đau khổ ưu phiền
Khác với cái sầu trong thơ các nhà Thơ mới lớp đầu như Thế Lữ, Lưu Trọng
Lư, cũng khác với nỗi buồn ảo não trong thơ Huy Cận, ở Điêu tàn là cái chán nản gay gắt “Với tôi tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau” (Xuân) Ngay từ nhan đề Điêu tàn ta đã cảm thấy như có cái gì đó mất mát, lụi dần Nhan đề
thể hiện cảm thức của tác giả đối với toàn bộ tập thơ, là cảm thức về sự lụi tàn, là những mất mát khó vực dậy nổi, là lời khóc thương chân chính của một người nghệ
sĩ chân chính trong thế giới Điêu tàn Những ưu phiền, đau khổ phát sinh từ sự tàn
phá của thời gian, và sự chuyển dời vô cùng của vũ trụ
“Ngày mai đây muôn loài rồi tan rã,
Vũ trụ kia rồi biến ra hư không.”
(Bóng tối)
Trang 17“Vì u buồn là những đoá hoa tươi,
Và đau khổ là chiến công rực rỡ.”
(Đừng quên lãng)
Với một quan niệm về thơ như vậy, khi gặp điều kiện mảnh đất Bình Định cùng những ngọn tháp Chàm chứng tích của một dĩ vãng đau thương, uất hận đã hướng thơ Chế Lan Viên lạc vào cõi siêu hình, mờ ảo
“Cả dĩ vãng là chuỗi mồ vô tận,
Và tương lai là chuỗi huyệt chưa thành
Và hiện tại, biết cùng chăng bạn hỡi, Cũng đương chôn lặng lẽ chuỗi ngày xanh.”
(Những nấm mồ)
Những cổ tháp sừng sững nhưng trơ vơ, lạc lõng giữa núi non khô khốc của miền Trung nắng cháy, những huyền sử xa xôi về thành Đồ Bàn đã khiến nhà thơ lịm đi trong niềm u uất, trầm cảm tuyệt vọng Nhìn cảnh rực rỡ của mùa xuân, trí não nhà thơ chỉ thấy đó là những hình ảnh gợi về những đau thương của nước Chàm xưa:
Trang 181.3 Cái tôi ngập trong “điên loạn”
Vùng Bình Định – Quy Nhơn đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm trong tâm trí của người thiếu niên giàu trí tưởng tượng Chế Lan Viên Quá khứ nước Chiêm và hình ảnh những ngọn tháp Chàm ám ảnh hồn thơ Chế Lan Viên từ thời niên thiếu
“Sinh sống trên đất của nước non Chiêm, mắt luôn nhìn thấy những cảnh tượng
điêu tàn của một dân tộc, tai thường nghe những âm thanh lạ lùng ghê rợn xuất phát từ một cõi đêm nào đầy bóng ma quái ở nội thành , bấy nhiêu cơ hội và cảnh trí trên đã trở thành bối cảnh đặc biệt cho sự phát sinh con người Lan Viên.”
Những quang cảnh đó đã thấm nhiễm vào hồn nhà thơ, khơi gợi tâm hồn nhạy cảm về sự biến thiên tàn lụi vốn cũng là hiện trạng của đất nước trong vòng nô
lệ tăm tối Đó là những khởi phát đầu tiên cho cảm xúc nhà thơ để rồi cùng với sự mẫn cảm và trí tưởng tượng phi thường, tất cả những điều đó giúp nhà thơ tạo lập một cõi khác - một thế giới kinh dị, ma quái
Trang 1919
Khi đọc tên nhan đề của từng bài thơ trong tập thơ Điêu tàn, ai trong chúng ta cũng cảm nhận được “hơi lạnh” toát ra từ những tên gọi đó Nào là “Cái sọ người”, rồi “Những nấm mồ, “Hồn trôi”… đều khiến chúng ta liên tưởng đến một thế giới
đầy bóng tối, siêu hình, khép kín, làm chúng ta rợn ngợp và hoang mang Nếu chất liệu của Thơ mới là hoa bướm mộng mơ, là các cảm xúc nhân sinh, những rung
động tình ái quen thuộc thì chất liệu trong Điêu tàn là bóng tối, mồ hoang, sọ
người, xương khô, máu tủy và những hồn ma vất vưởng
Trong Điêu tàn, Chế Lan Viên đã tạo nên một thế giới của cõi âm và bóng tối
với thịt rữa, xương tan, sọ dừa, đầu lâu, máu chảy:
“Ta sẽ nhịp khớp xương lên đỉnh sọ,
Ta sẽ ca những giọng của Hồn Điên
Ðể máu cạn, hồn tàn, tim tan vỡ,
Ðể trôi đi ngày tháng nặng ưu phiền!”
(Điệu nhạc điên cuồng)
“Ta sẽ uống máu lan cùng tủy chảy / Ta sẽ nhai thịt nát với xương khô / Lấy hơi ma
Trang 2020
nuôi sống tấm hồn mơ” (Máu xương) Những hồn ma, bóng quế nhập đồng vào cậu
bé Chế Lan Viên, hay Chế Lan Viên hóa vào những bóng ma, những đầu lâu, và hộp sọ cùng những nắm xương khô dắt nhau tìm lại chính mình và dân tộc mình:
“Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn, Muôn Ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.”
(Trên đường về) Trong Điêu tàn, nhà thơ điên cuồng rồ dại đi tìm về thế giới của những sọ
người, yêu ma, và nhiều khi còn không hiểu chính mình, thấy mình sống vô nghĩa:
“Ta lặng lẽ nhìn muôn sao tự hỏi:
- Mảnh hồn ta tiêu diệt tự bao giờ?”
(Đám ma)
Nhà thơ có thể “ngủ trong sao”:
“Ta để xiêm lên mây, rồi nhẹ bước Xuống dòng Ngân lòa chói ánh hào quang Sao tán loạn đua bơi trên mặt nước,
Tiếng lao xao dội thấu đến cung Hằng
Rồi trần truồng, ta nằm trên điện ngọc Hai tay cuồng vơ níu áo muôn tiên Đầu gối lên hàng Thất tinh vừa mọc Hồn dạt trôi về đến nước non Chiêm.”
(Ngủ trong sao)
Trang 2121
Ông thẳng bước lên mấy tầng mây để đến tắm bên dòng sông Ngân Hà Ông say sưa với ánh hào quang dịu vợi của sông Ngân, không giữ gìn gì cả làm cho mấy Tiên sao hoảng hốt Ông ở trên điện ngọc, níu giữ các Tiên để hồn mình được về nước Chiêm Thành ngày xưa
Chế Lan Viên mong tìm thấy một sự hòa nhập tuyệt đối với vũ trụ:
“Ta cởi truồng ra! Ta cởi truồng ra!
Ngoài kia trăng sáng chảy bao la
Ta nhảy vào quay cuồng thôi lăn lộn Thôi ngụp lặn trong ánh vàng hỗn độn Cho trăng ghì, trăng riết cả làn da
Ai cởi dùm ta? Ai lột dùm ta?
Chưa lõa lồ thịt còn nằm trong da!
Chưa trần truồng óc còn say trong ý!
Trăng chưa lấp đầy xương, chưa ngấm tủy Hồn vẫn còn chưa uống hết hương hoa.”
(Tắm trăng)
Thi sĩ có thể nhận ra mình tắm trăng với những cảm giác say sưa, điên cuồng
nhất, ngụp lặn trong ánh vàng hỗn độn: “Cho trăng ghì, trăng riết cả làn da” Ông
được sống những phút diên cuồng, được hét, được gào, được nếm trải mọi cảm giác rùng rợn Những đau đớn ở đây đã lên đến tột cùng để trở thành thú vui hưởng thụ,
được bộc lộ như một thứ khoái cảm vật chất Nhà thơ kêu gọi những hồn ma “Hãy
về đây! Về bên ta mi hỡi! Đem cho ta những phút rởn kinh hồn”
Qua đó, chúng ta thấy cái tôi “điên loạn” của Chế Lan Viên trong tập thơ
Điêu tàn là một thế giới hư linh, ma quái chìm đắm trong bóng tối lạnh lẽo với
những cơn mê sảng của một tâm hồn vong nô bị giá lạnh Chính cái tôi điên loạn
này đã chứng minh quan niệm cho “Trường thơ Loạn” của Chế Lan Viên: “Hàn
Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên Tôi thêm: Làm thơ là làm sự phi thường Thi sĩ
Trang 2222
không phải người Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cười Cái gì của nó cũng tột cùng Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn ra cả tủy là tủy Thế mà có người tự cho là hiểu được nó rồi đem nó so sánh với Người ”
1.4 Cái tôi bế tắc tuyệt vọng
Điều tác động đến tâm hồn cậu bé thư sinh mới 17 tuổi gây nên “Tâm trạng
buồn thương tiếc nhớ ám ảnh anh” (Nguyễn Minh Vỹ) không chỉ là những di tích
Chàm, những kí ức về một nền văn minh đã bị mai một mà hơn thế là cuộc sống của dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ mà Chế Lan Viên là một phần tử trong đó Vậy nên, cái buồn của Chế Lan Viên không phải là cái buồn đơn thuần mà là buồn đến tuyệt vọng Trước nỗi buồn đó, Chế Lan Viên đã vẽ nên một thế giới siêu hình với nhiều hình ảnh về sự chết chóc, xương máu, sọ người, não tủy,… để đắm chìm trong đó
Sự bế tắc tuyệt vọng trong hồn thơ Chế Lan Viên chính là cái bóng của nhà thơ bị mất hút trong cõi siêu hình
Từng hàng chữ, từng bài thơ trong Điêu tàn hầu như đều là những lời than,
điệu khóc hoặc những dấu vết trên bờ nghĩa địa, dưới chân ngôi tháp vắng:
“Nền giấy trắng như xương trong bãi chém, Bỗng run lên kinh hãi, dưới tay điên
Tiếng búa đưa rợn mình như tiếng kiếm, Nạo những thành sọ trắng của ma thiêng
Và hồn, máu, óc tim, trong suối mực, Đua nhau trào lên giấy khúc buồn thương
Như không gian lùa vào ta chẳng dứt, Những hương mơ say đắm mộng ngồn cuồng.”
(Tiết trinh)
Trang 2323
Có lắm khi những Di tích xưa, những kỉ niệm cũ của giống “dân Hời” lại
nằm ngay giữa dòng chữ của Chế Lan Viên, phơi mình trần như nhộng trên mảnh
giấy trắng đến “rợn mình” của thi sĩ Cũng như con người của Lan Viên đã trở nên
bị động trước áp lực tàn bạo của muôn “ma Hời”, cây bút của chàng, mảnh giấy của
chàng, vì gặp phải trường hợp bất khả kháng ấy nên màu trắng của giấy đã hóa
thành màu trắng của “xương trong bãi chém” và “run” lên một cách “kinh hãi” trước gió chiều Còn bút thì múa may điên cuồng như mũi kiếm nhọn “nạo” đi nạo lại “sọ” của bao xác chết đã ngàn đời Thêm vào lọ mực ở bên cạnh bỗng trào lên nào là “máu”, nào là “óc” là “tim” Chế Lan Viên là một thi sĩ, ông sáng tác với
giấy trắng, bút lông, lọ mực Thế nhưng cả một thế giới siêu thực tràn ngập trong thơ Chế Lan Viên và như nó đang bao trùm cả Chế Lan Viên nữa
Không phải Chế Lan Viên chỉ lạc vào cõi siêu hình một thoáng, một chốc mà ông như bị chìm đắm và mất hút trong cõi siêu hình khi chính ông không còn làm chủ được nét bút của mình nữa:
“Có ai không, nắm giùm tay ta lại!
Hay bẻ giùm cán bút của ta đi.”
(Tiết trinh)
Đọc câu thơ người đọc cảm nhận được Chế Lan Viên dường như lạc sâu vào cõi siêu hình đến nỗi không tự mình thoát ra được, và ông bế tắc tuyệt vọng vì điều
đó Chính vì thế mà Chế Lan Viên phải thét lên “nắm giùm tay ta lại”, “bẻ giùm
cán bút của ta đi” Thật ra nhà thơ không phải đắm chìm trong cõi siêu hình một
cách vô thức Bởi ông ý thức được “Lời thơ ta là những điệu sầu bi/ Đầy hơi thịt, ý
ma cùng sắc chết” Thế nhưng ông lại để cái bóng của mình tiếp tục chìm đắm và
mất hút trong cõi siêu hình bởi ông bế tắt và tuyệt vọng trước chính cái hiện thực của xã hội lúc bấy giờ và ông không thể thoát ra thế giới siêu thực kia để đối diện với nó
Trang 2424
1.5 Cái tôi chối bỏ thực tại
Sự sụp đổ của nhà nước Chàm khiến tác giả rất đau đớn, tiếc nuối Tác giả đã miêu tả quá khứ và hiện tại của nước non Chàm như hai bức tranh tương phản Năm xưa là một khung cảnh của một đất nước rạng rỡ thanh bình:
“Đây điện các huy hoàng trong ánh nắng, Những đền đài tuyệt mĩ dưới trời xanh
Đây chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng, Bầy voi thiên trầm mặc dạo bên thành.”
(Trên đường về) Bên cạnh bức tranh “huy hoàng”, “tuyệt mĩ” ấy là bức tranh về sự đổ nát,
chán chường của thực tại:
“Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi, Những đền xưa đổ nát dưới thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối, Những tượng Chàm lỡ lói rỉ rên than.”
(Trên đường về)
Thật không dễ lòng khi chấp nhận một nước Chiêm Thành rực rỡ thanh bình của ngày nào bấy giờ lại trở nên đổ nát, hoang tàn như vậy Chế Lan Viên cũng thế, qua hai câu thơ người đọc cũng cảm nhận được thi sĩ luyến tiếc về quá khứ và đau buồn với thực tại như thế nào
Nhà thơ muốn thông qua quá khứ và hiện tại nước Chiêm Thành để nói về chính đất nước Việt Nam – một đất nước đang tồn tại nhưng thật sự đang điêu tàn Bởi ở đó biết bao người đang bị xéo giày, bóc lột mà lầm tưởng là mình đã được tự
do, giải phóng; biết bao người sa đọa vào rượu chè, thuốc phiện mà mê muội đến
Trang 2525
mất cả lí trí, tư duy… Do vậy, theo tác giả, quá khứ, hiện tại và cả tương lai đều là biểu tượng của mọi sự chết chóc, điêu tàn:
“Cả dĩ vãng là chuỗi mồ vô tận,
Cả tương lai là chuỗi huyệt chưa thành
Và hiện tại biết cùng chăng hỡi bạn, Cũng đương chôn lặng lẽ chuỗi ngày xanh.”
(Những nấm mồ)
Dưới cái nhìn của tác giả thì quá khứ, hiện tại và tương lai lần lượt là những
“chuỗi mồ”, “chuỗi huyệt” và “chuỗi ngày xanh” Nhưng nếu không hiểu rõ, người
đọc có thể khó lòng chấp nhận vì tương lai là điều không biết trước được nên làm
sao Chế Lan Viên có thể nói nó là “chuỗi huyệt chưa thành” Thật ra điều mà Chế
Lan Viên nói ra là có căn cứ Bởi trước hiện thực cuộc sống đang điêu tàn như đã
nói ở trên mà mọi người còn “đương chôn lặng lẽ chuỗi ngày xanh” Xanh ở đây
không phải là tươi đẹp mà nó là giai đoạn con người còn sức lực để có thể thay đổi, phát triển đất nước Nghĩa là, con dân Việt Nam đang lầm tưởng và mơ hồ nên đã quên đi trách nhiệm phải giành lại độc lập tự do cho dân tộc Như vậy, thử hỏi tương lai của đất nước sẽ đi về đâu?
Thật không sai khi nói cuộc đời này toàn là sự chết chóc, điêu tàn trong suy nghĩ của Chế Lan Viên Và với suy nghĩ đó nên Chế Lan Viên muốn thoát li khỏi mọi sự ràng buộc với cuộc sống thực tại:
“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh, Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh, Những ưu phiền đau khổ với buồn lo.”
(Những sợi tơ lòng)
Trang 2626
“Tinh cầu” ấy, “vì sao” ấy, với Chế Lan Viên chính là chiếc sọ người Chiếc
sọ người - biểu tượng hóa niềm siêu hình thăm thẳm, bao hàm ba trạng thái: cô đơn
- cái chết - hư vô Chế Lan Viên đã xây dựng cho mình một thế giới siêu hình để
“lẩn tránh”, để chối bỏ hiện tại đau thương Hơn thế nữa anh còn chủ động đắm
mình trong thế giới ấy:
“Nhắm mắt lại cho cả bầu bóng tối, Mênh mang lên, bát ngát tựa đêm sâu
Cho hồn phách say sưa trong giả dối,
Về cõi âm chờ đợi đã bao lâu.”
(Tạo lập) Chế Lan Viên thả hồn về “cõi âm” để tận hưởng sự “mênh mang, bát ngát” của “đêm sâu”; để “say sưa trong giả dối” mà gạt bỏ thực tại Đến đây, ta chợt suy
nghĩ rằng: Liệu có phải Chế Lan Viên cũng là một người vô trách nhiệm với đất nước, với tổ quốc; cũng quên đi trách nhiệm phải đấu tranh
Thật ra không phải như vậy Chế Lan Viên là một thi sĩ yêu nước Và ông thoát li khỏi thực tại không phải để trốn tránh trách nhiệm là để tìm về chính cái tôi của bản thân mình
Chế Lan Viên không thể tố giác vạch trần bản chất của Pháp cũng như sự mê muội của người dân Làm sao để con người đang bị cuốn vào cái bẫy của Pháp lại đang trên bờ vực tha hóa có thể dừng lại để nhận ra được bản chất của vấn đề? Đó không phải là một việc dễ dàng Nếu chỉ nói một cách nôm na đơn giản hoặc bằng một số bài luân lí, người ta rất dễ gán cho là lạc hậu, hẹp hòi; hoặc là bằng một số bài lí luận, người ta sẽ gán cho là khô khan, cứng nhắc Như vậy rất khó mà thuyết phục được Chế Lan Viên chỉ có thể thoát li và chối bỏ thực tại bị gò bó, o ép trong chế độ phong kiến để không bị đầu độc đầu óc và tha hóa trong suy nghĩ Như vậy mới có thể vứt bỏ những thứ xa hoa, đồi trụy mà kẻ địch mê hoặc để có thể đi tìm một con đường giải phóng thật sự
Trang 2727
Mặc dù Chế Lan Viên chối bỏ thực tại, đắm mình trong thế giới khác nhưng
ý thức bẩm sinh của nòi giống Việt luôn thấm trong tâm hồn và trí óc của anh lúc bấy giờ Do đó anh mới có những dòng thơ da diết sau đây:
“Tạo hóa ơi hãy trả ta về Chiêm quốc!
Hãy đem ta xa lánh cõi trần gian Muôn cảnh đời chỉ làm ta rối mắt, Muôn vui tươi nhắc mãi cảnh điêu tàn.”
(Những sợi tơ lòng) Lời kêu gọi “trả về” ở đây thực ra không phải là khao khát muốn trã về
“Chiêm quốc” mà trở về thực tại cuộc sống của Tổ quốc, của đất nước Việt Nam khi không bị kẻ thù ngoài và trong nước giày xéo, chà đạp Nói “xa lánh cõi trần
gian” ở đây không phải là cõi trần gian theo nghĩa đen của nó mà là cõi trần gian
mà bọn thực dân đang tô vẽ giả tạo, hòng lừa mị dân ta Và cảnh đời làm thi sĩ “rối
mắt” ấy chính là cảnh xa hoa, trụy lạc, lố lăng mà kẻ địch đang dìm đắm nhân dân
mình Như vậy, Chế Lan Viên chối bỏ thực tại không những để giữ tâm hồn cao khiết mà còn để tìm về thực tại của chính bản thân mình để thấu hiểu đời, thấu hiểu mình và cảnh tỉnh cho bao người đang còn mê muội giữa cõi ta kia
Giá trị nghệ thuật
2
2.1 Chất trí tuệ
Thơ Chế Lan Viên có sự vận động và biến đổi qua từng giai đoạn về chủ đề
và quan niệm sáng tác nhưng dù sao ông vẫn định hình cho mình những nét rất
riêng, thể hiện rõ cá tính sáng tạo Chất trí tuệ - vẻ đẹp triết lí trong tập thơ Điêu tàn
cũng là một nét đặc sắc mà ông đã đóng góp vào nền thơ hiện đại Nói như Giáo sư
Nguyễn Lộc: “Suy nghĩ không có cảm xúc làm nền tảng, thơ sẽ khô khan, không đủ
sức gây mê, và cảm xúc không có chiều sâu của suy nghĩ làm chỗ dựa thì thơ nhiều lắm là vẻ ngọt ngào, nhưng đọc xong dễ quên, không đọng lâu trong tâm hồn người
Trang 2828
đọc.” Thơ Chế Lan Viên sở dĩ ở lâu trong lòng người đọc và bền bỉ với thời gian vì
nó đậm đặc chất trí tuệ, liên tưởng, suy tưởng là một trong những lí do
Có lẽ khi viết thơ, Chế Lan Viên không câu nệ vào cái cụ thể của hiện thực
mà dường như có xu hướng đưa vào thơ cái thế giới hình ảnh trong tưởng tượng, trong giấc mơ mà ông luôn xây dựng cho cái Tôi của ông nương tựa Chính vì vậy
mà trong thơ ông thường ít hình ảnh thực tế trong nguyên dạng sống động của nó
“Ta hãy nghe, trong mồ sâu lạnh lẽo Tiếng thịt người nảy nở tiếng xương rên
Ta hãy nghe, mơ màng trong cỏ héo Tiếng cô hồn lặng thở khí trời đêm!”
(Bóng tối)
Tuy nhiên không thể nói những dòng thơ này hoàn toàn xa rời thực tế nếu đặt
nó trở về đúng vị trí ban đầu của nó – tức là tập thơ Điêu tàn Ta nói được bởi vì
thực chất đằng sau chúng là một triết lí im lặng đứng Chất triết lí trong thơ ông không phải trang điểm bề ngoài mà là một phẩm chất nội tại của tư duy thơ Chế Lan Viên là một triết gia, mà cũng là một tư tưởng gia Thơ ông dùng trí tuệ để bộc
lộ tư tưởng Ý nghĩa của trí tuệ, của tư tưởng được tạo lập bằng thế giới ngôn từ, hình ảnh trong bài thơ Và nó là sự trừu xuất những vật chất hiện hữu của bài thơ
“Vì U Buồn là những đoá hoa tươi,
Và Đau Khổ là chiến công rực rỡ.”
(Đừng quên lãng)
Hay:
“Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta?
Ý của ai trào lên trong đáy óc
…Ai bảo giùm: Ta có có Ta không?”
(Ta)