1. Trang chủ
  2. » Tất cả

báo cáo lịch sử văn minh thế giới

18 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 370,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài : Trình bày những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời , giáo lý cơ bản, quá trình truyền bá và những ảnh hưởng của đạo Phật đến đời sống xã hội.. I TÌM HIỂU CHUNG VỀ ĐẠO PHẬT: Đạo Phật

Trang 2

Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Môn học: Lịch sử văn minh thế giới

NHÓM 10: - Nguyễn Phương Thảo ( 9/5)

- Nguyễn Thị Hằng

- Nguyễn Thị Giang

Trang 3

Đề bài : Trình bày những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời , giáo lý cơ bản, quá trình truyền bá và những ảnh hưởng của đạo Phật đến đời sống xã hội.

I TÌM HIỂU CHUNG VỀ ĐẠO PHẬT:

Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất trên thếgiới, tồn tại rất lâu đời với hệ thống giáo lý đồ

sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau

côngnguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sốngtinh thần của người Việt, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão và đạo Thiên chúa.Tuy nhiên, tùy ở từng giai đoạn lịch sử của dân tộc mà học thuyết tư tưởng, tôngiáo này hay học thuyết tư tưởng, tôn giáo khác nắm vai trò chủ đạo, có tác độngmạnh đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của người Việt, như Phật giáo ở thế kỷ thứ X- XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV - XIX, học thuyết Mác - Lênin từ giữa thập kỷ 40 củathế kỷ XX Cho đến nay, những học thuyết này không giữ địa vị độc tôn mà song songcùng tồn tại với các học thuyết, tôn giáo khác, tác động vào đời sống xã hội

Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩaMác - Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận soi đường cho chúng ta Nhưng bêncạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trongđó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng, tình cảm của một số bộ phận lớndân cư Việt Nam Việc xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể, nên chúng tacần vận dụng một cách

Trang 4

phù hợp để góp phần đạt được mục tiêu của thời kỳ quá độcũng như sau này Do đó, việc tìm hiểu nghiên cứu Phật giáo đối với thế giới quan,nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giánhững mặt tiến bộ cũng như hạn chế, Phật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơnvà qua

đó tìm ra được một phương cách để hướng đạo cho con người một cách chânchính, đúng đắn Theo đạo để làm điều thiện, tránh cái ác.Hơn nữa quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền với quátrình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người Vì vậy, khi nghiên cứulịch sử, tư tưởng, đạo đức Việt Nam không thể không đề cập đến Phật giáo và nhữngmối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng

Ở Đồng bằng sông Cửu Long mà bắt nguồn từ Tiền Giang, từ thế kỷ XVII, cáccư dân nhiều nơi đã hội tụ về đây sinh sống Cũng từ đây Phật giáo hình thành, phát triển và có vai trò quan trọng đến đời sống tinh thần của một bộ phận quần chúngnhân dân nơi đây.Việc nghiên cứu một trường phái triết học, tôn giáo lớn đã có bề dày lịch sửhàng ngàn năm giúp cho ta hiểu được một hệ thống lý luận triết học cổ, đồng thờinhận thức rõ ràng hơn về một tôn giáo đã ảnh hưởng đến văn hoá của Việt Nam nóichung và văn hoá của một cộng đồng người dân Tiền Giang nói riêng.Tóm lại, nghiên cứu Phật giáo và nhìn nhận, đánh giá

nó là một nội dung quantrọng nhằm tìm hiểu lịch sử cũng như định hướng cho sự phát triển nhân cách, tư duycon người Việt Nam trong tương lai

Trang 5

II.SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH NHỮNG GIÁO LÝ CƠ BẢN CỦA ĐẠO PHẬT:

1.Sự ra đời của Phật giáo:

Ấn Độ là quê hương của Phật giáo, theo các tài liệu lịch sử thì

xã hội Ấn Độ cổđại chia thành nhiểu đẳng cấp khác nhau Bốn đẳng cấp lớn là tăng lữ, quí tộc, bìnhdân tự do và tiện nô Mỗi giai cấp giữ một thế sinh hoạt riêng và phân biệt sâu sắcgiữa các giai cấp Trong khi những người Bà La Môn có uy tín tuyệt đối trong quầnchúng và hưởng rất nhiều đặc quyền thì giai cấp tiện

nô lại sống cuộc sống cơ cực lầmthan, không có quyền ăn nói cũng như đóng góp ngang hàng với mọi người Xã hộiẤn Độ cổ đại đầy rẫy những bất công như vậy Nhìn rõ được cảnh khổ của chúng sinh, Đức Phật Thích Ca vốn là thái tử củanước này đã quyết xuất gia tầm đạo để giải thoát khổ đau cho con người

trong xã hội Ngài để lại vương triều và gia đình vì theo Ngài có cách khác để làm cuộc sống nhândân thoát khỏi lầm than chứ không phải cách cai trị cứng nhắc Ròng rã sáu năm tuhành khổ hạnh trong rừng sâu và 49 ngày nhập định dưới gốc cây Bồ Đề, Đức phật đãgiác ngộ được đạo quả vô – thượng, chính – đẳng, chính – giác Bánh xe Phật giáo bắtđầu lăn chuyển lần đầu tiên tại vườn lộc uyển để độ cho năm người bạn đồng tu với Ngài lúc trước và họ đều chứng quả A La Hán Sau khi Phật nhập diệt, giáo pháp của Ngài được các chúng đệ tử kết tập lại thành giáo điển qua bốn lần diễn ra tại nhữngđịa điểm và thời gian khác nhau.Phật giáo từ Ấn Độ du nhập vào Việt Nam đã trên hai ngàn

Trang 6

năm Ngay từ rấtsớm, Phật giáo đã được tiếp nhận và trở thành một tư tưởng chủ đạo trong nền văn hóadân tộc, dĩ nhiên là sau khi đã bản địa hóa Phật giáo Suốt hơn hai ngàn năm lịch

sử,Phật giáo đã luôn đồng cam cộng khổ với vận mệnh thăng trầm của xứ sở, trong côngcuộc chống ngoại xâm cũng như sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi, đánh bật âmmưu xâm lăng

và nô dịch nền văn hóa của thế lực phương Bắc trong nhiều giai đoạn

1.1 Nền tảng của Phật giáo:

Tứ Diệu Đế mà chính Đức Phật đã khám phá và truyền dạy cho thế gian là đặcđiểm chánh yếu mà cũng là nền tảng vững chắc của Phật giáo.Bốn Chân Lý Thâm Diệu là “khổ” (lý do tồn tại của Phật giáo), nguồn gốc củasự khổ (ái dục), chấm dứt sự khổ (Niết Bàn, mục tiêu cứu cánh của Phật giáo), và conđường

“Trung Đạo”.Ba chân lý đầu tiên là phần triết lý của Phật giáo Chân lý thứ tư là phần luận lýcăn cứ trên lý thuyết ấy Tất cả bốn, gồm trọn vẹn giáo lý của Đức Phật, đều tùy thuộcnơi cơ thể vật chất này Đây là những sự kiện hoàn toàn dính liền với con người vànhững chúng sanh khác, những sự kiện hiển nhiên, không còn tranh luận gì nữa.Phật giáo nằm vững trên nền tảng đau khổ, mặc dù nhấn mạnh vào sự hiện hữucủa đau khổ Phật giáo không phải là một giáo lý bi quan, Phật giáo không hoàn toàn bi quan cũng không hoàn toàn lạc quan mà chỉ là thực tiễn Người ta sẽ có lý do đểchủ trương rằng Phật giáo là bi quan nếu giáo lý này chỉ đề cập đến trạng thái đau khổmà không vạch ra con đường để thoát khổ và tiến đến hạnh phúc trường cửu

Trang 7

ĐứcPhật đã nhận ra tính cách phổ thông của sự khổ và liệt kê ra một phương thuốc trị liệucho chứng bệnh chung của nhân loại Đức Phật Niết Bàn, sự chấm dứt đau khổ, làhạnh phúc cao

thượng nhất mà con người có thể quan niệm

1.2 Giáo lý chung của Phật giáo:

Phật giáo gồm một hệ thống giáo lý đa diện, cống hiến cho xã hội loài người vềmặt an sinh và tu chứng Mặt an sinh xã hội, Phật giáo chủ trương thế giới đại đồnghuynh đệ trong tình tương thân tương ái Còn về mặt tu chứng, với phương pháp tu hành đạt đến giải thoát khỏi luân hồi, sinh tử để chứng nhập vào cảnh niết bàn tịchdiệt an vui.Phật giáo vì thế được quan niệm như một tôn giáo, một triết lý sống thực, mộtsiêu hình học hay một mớ giáo điều mê tín dị đoan như người duy vật nhận xét thìPhật giáo vẫn giữ được cương vị của nó trên bình diện khách quan

Vì chân lý không bao giờ thay đổi trước bất kỳ thế lực hay

khuynh hướng chính trị nào Điều này chứngtỏ giáo pháp của đạo Phật suốt 2500 năm lịch sử vẫn giữ được địa vị độc tôn

màkhông bị chi phối bởi không gian và thời gian Phật giáo đem lại cho con người sựthoải mái trong đời sống nội tâm mà không

bị quay cuồng tròn đời sống văn minh vậtchất

1.3 Tiền đề tư tưởng:

Đến giữa thiên niên kỉ I TCN,tại Ấn Độ đã xuất hiện một số tư tưởng chống đạo Bà La Môn (dòng tư tưởng Sa Môn)và Phật Giáo là một trong số đó

1.4 Người sáng lập:

Trang 8

Theo Truyền Thuyết người sáng lập ra đạo Phật là Siddhartha gautama sau khi trải qua quá trình tu hành,giác ngộ chân lý và lẽ sống sinh tử,người bắt đầu đi truyền bá,giảng dạy giáo lý và xưng páp hiệu là Sakya Muni

Trong suốt 45 năm sau đó,Đức Phật bắt đầu con đường thuyết phát để giáo hóa chúng sinh

2 Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của giáo lý cơ bản Đạo Phật:

- Về xã hội:

Vào khoảng giữa thiên niên kỉ I TCN, ở Ấn Độ từ những công

xã cổ xưa đã hình thành hàng loạt các tiểu quốc hai bên bờ sông Hằng (miền Bắc Ấn Độ có khoảng 23 tiểu quốc) Các vương quốc thường có điều kiện tự nhiên khác nhau (do vùng đất đai rộng lớn.kinh tế, chính trị, xã hội phát triển không đều nhau.do vậy,các vương quốc này luôn tồn tại những mâu thuẫn,cạnh tranh và thôn tính lẫn nhau Các cuộc chiến tranh xảy ra liên miên và đến thế kỷ V TCN,chỉ còn lại 4 quốc gia: Kashi,

Koshala, Magadha,Virigis

+ Các cuộc chiến tranh đã lôi kéo người dân phải tham chiến, tình hình chính trị bất an, tâm lý dân chúng bất an

+ Mâu thuẫn giữa đẳng cấp Brahma với Casatria: sự phân hóa giai cấp mạnh mẽ

Trang 9

+ Brahma: thao túng toàn bộ đời sống chính trị, tinh thần, vơ vét tài sản, bắt dân chúng nộp thuế cao vào các nghĩa vụ khác ( của cải không người thừa kế sẽ thuộc về Brahma- Bà la môn)

+ Ksatria: vua quan,quý tộc- bảo vệ và trực tiếp cai trị đất

nước,là người giữ vai trò quyết định trong chiến tranh nhưng địa

vị lãnh đạo lại không rõ ràng do ở dưới đẳng cấp Brahma và bị brahma chi phối

+ Vaisya: cuộc sống không ổn định do chiến tranh, mất mùa và thất thu nhưng thuế không giảm và áp lực tôn giáo đè nặng

+ Soudra: có thêm một số vaisya bị phá sản trở thành nô lệ,số khác thì phải đi ăn xin Họ chịu cuộc sống cực khổ dẫn đến tâm

lý chán nản, tuyệt vọng trông chờ vào một con đường giải thoát khỏi thực tại khổ đau

Chế độ đẳng cấp trở thành sự bức xúc lớn trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ

- Về kinh tế :

+ Công cụ kim loại bằng đồng thau sau đó là đồ sắt đã làm thay

đổ bản chất của sản xuất Vua Magadha quan tâm phát triển nông nghiệp Song song đó nhiều ngành kinh tế đã ra đời và ngày càng mở rộng làm xuất hiện tầng lớp thương nhân Tangfa lớp này lúc đầu không được xếp vào đẳng cấp nào và cuối cùng

bị đẩy xuống đẳng cấp Soudra Nhưng họ là tầng lớp có tiềm lực kinh tế, nên muốn thay đổi địa vị trong hệ thống đẳng cấp

- Về tôn giáo:

Trang 10

+ Sau một thời gian hình thành vào phát triển đã được củng cố : giáo lý và luật lệ rất chặt chẽ, nghi thức cúng bái rất phức tạp chế độ đẳng cấp càng trở nên vững chắc

Cuộc sống cực khổ càng làm cho người dân lao động thêm căm ghét những kẻ bóc lột mình, oán ghét chế độ đẳng cấp( Varna), không tin vào các vị thần Bà La Môn Những điều thuyết giảng của tăng lữ Bà La Môn không còn thuyết phục, an ủi và xoa dịu cuộc sống dân chúng nữa Những lễ nghi phức tạp, những nghĩa

vụ phiền toái, giáo lý ngày càng khó hiểu làm cho người dân ngày càng xa rời giáo lý này

Trong bối cảnh đó, vào thế kỷ VI TCN, ở Ấn Độ đã xuất hiện nhiều trường phái tôn giáo , triết học mới chủ trương xa lánh thực tại (khổ hạnh- ép xác- jain), nhưng có một quan điểm

chung là: trực tiếp vào gián tiếp chống lại Bà La Môn và chế độ đẳng cấp.Từ đó Phật giáo xuất hiện cùng với các giáo lý Phật giáo được xem làm một phản đề của đạo Bà La Môn

III GIÁO LÝ CƠ BẢN ĐẠO PHẬT:

1 Học thuyết của Đạo Phật:

- Dưới góc độ triết học, giáo lý đạo Phật mang tính chất nhị nguyên luận (vừa có tính duy tâm, vừa có tính duy vật)

+ Duy tâm: kế thừa một số tư tưởng của đạo Bàlamôn về thuyết luân hồi - nhân quả - khái niệm Niết bàn - nghiệp báo

+ Duy vật: Đức Phật không tôn thờ thần và không tự coi mình là thần, thừa nhận sự biến đổi, phủ nhận sự tồn tại bất diệt và vĩnh

Trang 11

viễn của tất cả sự vật Vật chất và tinh thần đều biến hóa, có sinh

có diệt (vô thường: chuyển biến, thay đổi, không có gì là bất biến diễn ra trong từng đơn vị - sátna vô thường; vô ngã: không thể có cái ta tồn tại vĩnh viễn)

- Hòn đá tảng căn bản trong tư tưởng của Phật là thuyết Tứ diệu

đế (bốn chân lý kỳ diệu), bao gồm:

+ Khổ đế: đời là bể khổ, bất trắc, không toại nguyện trong cuộc sống (sinh, lão, bệnh, tử)

+ Tập đế: chân lý về nguyên nhân nỗi khổ, do người ràng buộc nhiều ham muốn

+ Diệt đế: chân lý chấm dứt nỗi khổ, diệt ham muốn

+ Đạo đế: con đường diệt khổ dẫn đến giác ngộ, giải thoát tiến đến Niết bàn Đạo đế gồm tám con đường diệt khổ, gọi là Bát chánh đạo:

Chánh Kiến: tín ngưỡng đúng đắn

Chánh Tư duy: suy nghĩ đúng đắn

Chánh Ngữ: nói năng đúng đắn

Chánh Nghiệp: hành động đúng đắn

Chánh Mệnh: sống đúng đắn

Chánh Tịnh tiến: mơ tưởng ước mơ đúng đắn

Chánh Niệm: tưởng nhớ đúng đắn

Trang 12

Chánh Định: tập trung tư tưởng, ngẫm nghĩ đúng đắn.

- Phật khuyên con người không sát sinh: cấm giết người, còn động vật không khắt khe Việc ăn chay do vua Lương Vũ Đế ( Trung Quốc - VI SCN) đặt

* Thuyết Thập nhị nhân duyên (duyên khởi)…

Có thể nói, ban đầu những tư tưởng của Phật là một học thuyết khuyên người phải từ bỏ ham muốn, tránh điều ác, làm điều thiện, tu thân tích đức để được giải thoát chứ không thừa nhận thượng đế và thần thánh Do vậy, Phật chủ trương không cần cúng lễ, nghi thức và không có tầng lớp tăng lữ, thầy cúng

III QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ ĐẠO PHẬT

1 Quá trình truyền bá và phát triển đạo phật ở Ấn Độ :

- Sau khi Đức Phật nhập diệt,giáo lý đạo Phật nhanh chóng được truyền bá ra khắp Bắc Ấn Độ Để soạn thảo giáo lý, quy chế và chuẩn chỉnh về tổ chức Đạo Phật đã trải qua 3 Đại hội kế tập kinh điển

- Thế kỷ III đến thế kỷ II TCN, Phật Giáo trở thành Quốc giáo của Ấn Độ, đặc biệt phát triển rực rỡ dưới thời vua Asoka

- Đến Đại hội kết tập kinh điển lần thứ IV tức là khoảng 100 năm sau CN, Phật giáo có sự bắt đầu phân hóa thành hai phái Tiểu thừa và Đại thừa với nhiều quan điểm khác hau

về cảnh giới Niết Bàn, về sự “ tự giác giác tha” một số nghi thức,

Trang 13

- Đến khoảng thế kỷ VI, Phật giáo suy tàn và biến mất ở Ấn

Độ Có nhiều nguyên nhân lý giải cho việc Phật giáo bị tiêu diệt ở chính mảnh đất mà tôn giáo này sinh ra và phát triển cực thịnh:

+ Sự đấu tranh về mặt tư tưởng gay gắt giữa Phật giáo và Hindu giáo đặc biệt xoay quanh vấn đề chế độ đẳng cấp Đạo Hindu đã có sự thay đổi về giáo lý để dành chiến thắng trong cuộc đấu tranh ấy Họ tuyên truyền Đức Phật là một kiếp hóa của vụ thần Vishnu, lôi kéo các tín đồ Phật giáo quay về với Hindu giáo Bên cạnh đó đẳng cấp Bà La Môn cũng có sự thỏa hiệp, nhựng bộ với giai cấp thống trị Sát Đế Lị để ngược đãi các tín đồ Phật giáo, bô nhọ, hạ nhục các giáo lý ,tu viện Phật giáo

+ Sự truyền bá mang tính bạo lực của Hồi giáo đã phá hủy nhiều chùa chiền, tu viện, thanhg tích của Phật giáo

+ Đến thế kỉ thứ VI, Phật giáo ở Ấn Độ bắt đầu có sự chia rẽ, hình thành nhiều tôn giáo mới, tư tưởng Phật Giáo nguyên thủy ít nhiều bị biến đổi, phức tạp trộn lẫn với tư tưởng của một số tôn giáo khác Một số ý kiến cũng cho rằng, sự suy tàn của đạo phật cũng bắt nguồn từ sự suy đồi của một số bộ hận

tu sĩ Phật giáo, xa là những giới luật của Đức Phật

2 Sự truyền bá của Phật giáo ra bên ngoài:

- Từ nửa thế kỷ III TCN, tức là sau Đại hội lần thứ III, đạo Phật được truyền đến Sri Lanka sau đó truyền vào Miến Điện, Thái Lan, Indonexia,

Trang 14

- Cũng sau Đại hội kết tập kinh điển lần thứ IV, quá trình truyền bá Phật giáo ra nước ngoài ngày càng phát triển Đạo Phật được truyền bá mạnh mẽ sang Trung Á, Trung Quốc, Đông Nam Á,

Phật giáo có sự truyền bá và phát triển mạnh mẽ ra bên ngoài Ấn Độ Hiện nay Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn nhất thế giới với số lượng tín đồ đông đảo, nhiều quốc gia chọn Phật giáo làm Quốc giáo như: Thái Lan, Mianma, Sri lanka, Ngày Tam hợp của Đức Phật ( Phật Đản sinh, thành đạo, nhập diệt) đã được Liên Hợp Quốc công nhận là ngày lễ tôn giáo mang tính quốc tế

3 Ảnh hưởng của phật giáo đến xã hội Việt Nam

1.Phật giáo là một tôn giáo gần gũi và dễ hoà hợp với tín

ngưỡng dân gian người Việt:

- Ở miền bắc đặc điểm đó càng nổi bật Nếu đặc điểm tôn giáo Việt Nam là sự thờ cúng tổ tiên (linh hồn người thân đã khuất) thì Phật hay quan âm cũng được coi là một thứ tổ tiên (trong tâm thức dân gian Việt cổ, Phật hay quan âm không phải là người

“ngoại quốc, người khác tộc) Nếu đặc điểm của tôn giáo Việt Nam là sự thờ thần (thế lực siêu nhiên) mà con người cũng cần

để nhờ sự “phù hộ độ trì” thì Phật hay quan âm cũng trở thành một vị thần, phật điện cũng trở thành thần điện, tính tâm linh Ấn

Độ nhường bước cho tính tình Việt Nam Hơn đâu hết, tôn giáo Việt Nam nặng về tính tình cảm hơn là giáo lý

Ngày đăng: 27/10/2019, 21:01

w