MỤC LỤCPHẦN I: LÝ THUYẾT THỐNG KÊ DÂN SỐ Y TẾ 1 Nhập môn Thống kê Dân số y tế 2 Nguồn số liệu trong nghiên cứu dân số y tế 3 Thống kê số lượng và cơ cấu dân số 4 Thống kê biến động dân s
Trang 1Trường cao đẳng y tế hà đông
Giáo trình ThốNG KÊ dân số- y tế Tài liệu đào tạo trung cấp dân số y tế
Hà Nội - Năm 2011
Trang 2Danh môc ch÷ viÕt t¾t
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Thống kê dân số - y tế nghiên cứu mặt lượng trong sự liên hệ mật thiếtvới mặt chất của hiện tượng và quá trình dân số Nó nghiên cứu biểu hiện bằng
số lượng của các mặt thuộc về bản chất và quy luật của hiện tượng dân số như:quy mô dân số, cơ cấu dân số; các vấn đề về sinh, chết, kết hôn, ly hôn, chuyển
đi, chuyển đến; dự đoán dân số; các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triểndân số… của từng vùng, từng địa phương trong nh ững thời gian cụ thể Ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay thống kê dân số còn nghiên cứu tình hình thực hiệncác biện pháp tránh thai, các hoạt động can thiệp nâng cao chất lượng dân số vàcác vấn đề liên quan khác
Nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu đào tạo đối tượng trung học Dân số - Y tế,một mã ngành mới có ở Việt Nam Đồ ng thời phù hợp với điều kiện hiện nay vànhững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác D S - KHHGĐ.Chúng tôi đã tiến hành biên soạn cuốn sách này làm tài liệu học tập cho các lớp đàotạo trung học Dân số - Y tế
Giáo trình được biên soạn theo chương trình môn học Thống kê dân số- y tế
đã được phê duyệt Cuốn sách gồm 15 bài:
Phần I: LÝ THUYẾT THỐNG KÊ DÂN SỐ Y TẾ
Bài 1 Nhập môn Thống kê Dân số y tế
Bài 2 Nguồn số liệu trong nghiên cứu dân số y tế
Bài 3 Thống kê số lượng và cơ cấu dâ n số
Bài 4 Thống kê biến động dân số
Bài 5 Dự báo dân số
Bài 6 Thống kê y tế
Phần II: HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ DÂN SỐ- Y TẾ
Bài 7 Lý thuyết hệ thống thông tin quản lý
Bài 8 Hệ thống thông tin quản lý ngành y tế
Bài 9 Hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành dân số
Phần III: HỆ THỐNG BÁO CÁO THỐNG KÊ DÂN SỐ - Y TẾ CƠ SỞ
Bài 10 Một số khái niệm và quy định chung
Trang 4Bài 11 Sổ A0, phiếu thu tin và ghi chép ban đầu
Bài 12 Báo cáo thống kê dân số cơ sở
Bài 13 Thẩm định số liệu, đánh giá chất lượng số liệu
Bài 14 Báo cáo thống kê dân số tổng hợp
Bài 15 Báo cáo thống kê y tế
Xin chân thành cám ơn các cán bộ và chuyên gia của Tổng cục Dân số- Kếhoạch hóa gia đình, Quỹ dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam đã có những ý kiến quýbáu giúp chúng tôi hoàn thiện giáo trình này
Đây là giáo trình biên soạn lần đầu dành riêng cho đối tượng trung học Dân số
- Y tế, vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được những ýkiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học, nhà quả n lý và đông đảo bạn đọc
Các tác giả
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I:
LÝ THUYẾT THỐNG KÊ DÂN SỐ Y TẾ
1 Nhập môn Thống kê Dân số y tế
2 Nguồn số liệu trong nghiên cứu dân số y tế
3 Thống kê số lượng và cơ cấu dân số
4 Thống kê biến động dân số
5 Dự báo dân số
6 Thống kê y tế
PHẦN II:
HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ DÂN SỐ- Y TẾ
7 Lý thuyết hệ thống thông tin quản lý
8 Hệ thống thông tin quản lý ngành y tế
9 Hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành dân số
PHẦN III:
HỆ THỐNG BÁO CÁO THỐNG KÊ DÂN SỐ- Y TẾ CƠ SỞ
10 Một số khái niệm và quy định chung
11 Sổ A0, phiếu thu tin và ghi chép ban đầu
12 Báo cáo thống kê dân số cơ sở
13 Thẩm định số liệu, đánh giá chất lượng số liệu
14 Báo cáo thống kê dân số tổng hợp
15 Báo cáo thống kê y tế
Trang 6PHẦN I.
LÝ THUYẾT THỐNG KÊ DÂN SỐ - Y TẾ
Bài 1 NHẬP MÔN THỐNG KÊ DÂN SỐ - Y TẾ
Mục tiêu:
1 Nêu được sơ lược sự phát triển của khoa học thống kê dân số.
2 Nêu được đối tượng nghiên cứu của thống kê dân số.
3 Nêu được nhiệm vụ của thống kê dân số.
1 Sơ lược sự phát triển của khoa học thống kê dân số
Thống kê dân số, một bộ phận của thống kê học, là một trong môn khoahọc có lịch sử lâu dài nhất, ra đời và phát triển từ nhu cầu thực tiễn của xã hội
Đó là quá trình tổng hợp và phát triển không ngừng từ đơn giản đến phức tạp vàngày nay trở thành một môn khoa học độc lập
Thời cổ đại, con người có nhu cầu tính toán số người trong bộ tộc, sốngười có thể huy động phục vụ chiến đấu, số người được tham gia phân phối củacải thu được đó là cơ sở thực tiễn ban đầu của thống kê dân số Xã hội càngphát triển, việc kiểm kê dân số ngày càng được hoàn thiện hơn Nghiên cứu lịch
sử cho thấy công tác có tính chất thống kê dân s ố đã xuất hiện từ khoảng haingàn năm trước công nguyên ở Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, Trung Quốc và nhiềuvùng trên thế giới
Aristotle (384-322 trước công nguyên), bằng các nghiên cứu thực tế đãđưa ra kết luận về hậu quả của việc gia tăng dân số và sự cần thi ết phải hạn chếsinh đẻ Cho đến đầu công nguyên, người ta mới thấy các cuộc điều tra dân sốchính thức ở một số nơi trên thế giới Ví dụ : Trung Quốc đời nhà Hán; ở Ấn độdưới triều đại Asoka, Tuy nhiên các cuộc điều tra này còn rất đơn giản vàkhông có phương pháp thu thập số liệu một cách khoa học, chưa có sự tiến bộ sovới thời kỳ trước
Trang 7Đến cuối thế kỷ thứ XVII, nhà kinh tế học người Anh John Graunt (1620 1674) công bố tác phẩm “Các cuộc điều tra tự nhiên và chính trị về mức độ chết
-ở Luân đôn” (1662), đánh dấu sự ra đời và phát triển của một môn khoa học thực
sự Thống kê dân số đã phát triển rất nhanh với sự đóng góp của các nhà thốngkê- toán nổi tiếng như: W.Petty (Anh, 1623-1687), M.V Lomonoxop (Nga,1711-1765), Laplace (Pháp, 1749-1827)
Ở Việt nam, công tác thống kê dân số của Nhà nước cũng đã xuất hiện từrất lâu Theo các chứng cứ lịch sử cho thấy, vào năm thứ 3 trước công nguyên, ở
3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam (vùng đất thuộc Việt nam ngày nay)người ta đã đếm được 143.643 hộ với 981.735 nhân khẩu Thế kỷ thứ X, KhúcHạo, Ngô Quyền coi việc quản lý con người là nắm cái gốc của đất nước, nên đãtiến hành l ập sổ kê khai hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán và giao cho Giáp trưởngtrong coi Đến Triều Lý, việc đăng ký thường xuyên dân số được thực hiện rấtnghiên ngặt và tường tận Năm 1434, vua Lê Thái Tông xuống chiếu cho cảnước làm sổ hộ tịch và ban dụ: cứ 3 năm làm hộ tịch một lần gọi là tiểu điển, 6năm làm lại là đại điển Việc kê khai nhân khẩu làm đến từng xã, phân ra thườngtrú và tạm trú, những người già lão và tàn tật được phân tổ riêng Tuy nhiên thời
kỳ này chủ yếu là nghiên cứu về số lượng, phương pháp điều tra dựa vào đăng
ký theo nhóm
Sau ngày hoà bình được lặp lại (1954), Nhà nước ta tiếp tục thực hiện chế
độ đăng ký hộ tịch - hộ khẩu, tiến hành các cuộc T ổng điều tra dân số nhằmnghiên cứu một cách đầy đủ nhất hiện trạng dân số của cả nước, phục vụ côngtác xây dựng và phát triển đất nước Tổng cục Thống kê đảm nhiệm việc quản lýnhà nước đối với công tác thống kê, cơ quan thống kê nhà nước trung ương Theo hệ thống thống kê nhà nước, các số liệu thống kê dân số được thu thập vàbáo cáo từ dưới lên theo chế độ báo cáo thống kê định kỳ (được gọi là thống kêthường xuyên ) Tại các xã, phường, thị trấn cán bộ thống kê xã tập hợp các sốliệu về dân số của địa phương dựa trên các quy định đăng ký hộ tịch, hộ khẩu,định kỳ báo cáo lên Chi cục thống kê cấp huyện Ở cấp huyện, Chi cục thống kêtập hợp số liệu, báo cáo theo định kỳ lên Cục thống kê cấp tỉnh (Phòng thống kêDân số - Lao động) Cục thống kê cấp tỉnh định kỳ báo cáo số liệu thống kê dân
số của tỉnh lên Vụ thống kê D ân số - Lao động của Tổng cục Thống kê Tại đây,
Vụ thống kê Dân số - Lao động (Tổng cục Thống kê) tổng hợp số liệu dân số cảnước Để bổ sung những số liệu còn thiếu, kiểm tra và chỉnh lý các số liệu thống
kê thường xuyên, các cuộc tổng điều tra dân số còn được Nhà nước giao choTổng cục Thống kê thực hiện theo chu kỳ 10 năm Kể từ sau ngày thống nhất đ ấtnước (1975), nước ta đã thực hiện 4 cuộc Tổng điều tra dân số trên phạm vi cả
Trang 8nước vào 1/10/1979; 1/4/1989, 1/4/1999 và 1/4/2009 Đây là những cuộc điều tratoàn bộ có quy mô lớn nhất cả nước, số liệu Tổng điều tra đáp ứng nhiều nhu cầukhác nhau của các cấp, các ngành và toàn bộ nền ki nh tế quốc dân Ngoài ra, donhu cầu riêng hoặc đột xuất, các cấp, các ngành còn tổ chức các cuộc điều trachọn mẫu về dân số để phục vụ cho các nhu cầu riêng này.
Mặt khác, do yêu cầu của quản lý Chương trình DS-KHHGĐ, Uỷ banQuốc gia DS-KHHGĐ (1994-2001), sau là Uỷ ban DS-KHHGĐ (2002-2008),hiện nay là Bộ Y tế (Tổng cục DS-KHHGĐ) đã xây dựng hệ thống thông tinthống kê chuyên ngành từ các xã/phường đến trung ương xuống, nên số liệuthống kê dân số đang ngày càng được hoàn thiện, nâng dần độ chính xác để phục
vụ tốt công tác quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội
2 Đối tượng nghiên cứu của thống kê dân số
Theo nghĩa hẹp, Thống kê dân số nghiên cứu các phương pháp điều tra,
xử lý số liệu về dân số, phương pháp tính toán, phân tích các hiện tượng, quátrình dân số trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể
Theo nghĩa rộng, Thống kê dân số đồng nghĩa với Dân số học dựa trên hai
lý do chính:
Thứ nhất: sự phân chia khoa học về dân số thành nhiều nhánh, trong đó cóDân số học và Thống kê dân số, chỉ mới xuất hiện gần đâ y và hoàn toàn mangtính tương đối Giữa chúng không có ranh giới rõ ràng, rất nhiều nội dung vừa cómặt trong dân số học cơ bản, nhưng cũng được coi là một phần không thể thiếucủa thống kê dân số Dân số học muốn tìm ra quy luật của quá trình sinh đẻ phả ixuất phát từ thống kê về số trẻ em sinh ra trong kỳ nghiên cứu, số dân, số phụ nữtrong độ tuổi sinh đẻ của thời kỳ đó, tức là phải xuất phát từ các chỉ tiêu, cácthước đo phản ánh mức sinh, dân số trong kỳ nghiên cứu Ngược lai, thống kêdân số muốn làm rõ ý nghĩa của các con số, các chỉ tiêu thống kê mức sinh cũngphải so sánh, đối chiếu, liên kết chúng với nhau và với các điều kiện kinh tế - xãhội có liên quan, phải dựa trên cơ sở những phân tí ch lý luận của dân số học
Thứ hai: theo định nghĩa của Liên hợp quốc “Dân số học là khoa họcnghiên cứu về dân số, nó nghiên cứu quy mô, cơ cấu, sự vận động và những đặcđiểm chung của dân số được xem xét chủ yếu trên quan điểm số lượng” Tức làdân số học dựa trên cơ sở định nghĩa về thống kê hay “không có co n số, không
có thống kê thì không có dân số học” (L.Henry)
Trên quan điểm của dân số học, thống kê dân số phải nghiên cứu toàn bộ
Trang 9quá trình thay thế không ngừng thế hệ này bằ ng thế hệ khác thông qua các sựkiện sinh và chết Tuy nhiên, sự biến động thuần túy mang tính tự nhiên này chỉxảy ra trên quy mô toàn thê giới, hoặc trên quy mô mỗi quốc gia, nếu coi dân sốcủa mỗi nước là một dân số đóng Trong quan niệm này, di dân (bi ến động cơhọc của dân số) không làm thay đổi số lượng và cơ cấu dân cư của cả tổng thểđược nghiên cứu Do đó, nó không trực tiếp tham gia vào quá trình thay thế cácthế hệ dân cư Tuy nhiên, di dân lại làm thay đổi số lượng và cơ cấu dân cư củatừng vùng, từng địa phương Di dân có thể trực tiếp hoặc gián tiếp (qua việc pháttriển kinh tế, văn hoá, làm thay đổi tập quán, quan niệm, các hành vi dân số củadân cư các địa phương) ảnh hưởng đến quá trình sinh, chết và hôn nhân của cácvùng này Vì vậy, theo nghĩa rộng, di dân cũng là một yếu tố tạo nên quá trìnhthay thế các thế hệ dân cư, là một yếu tố của quá trình tái sản xuất dân số Theokhái niệm tái sản xuất dân số theo nghĩa rộng, người ta đã xây dựng đượcphương trình cân bằng dân số biểu thị sự biến động số dân theo thời gian với tácđộng của yếu tố sinh, chết và di dân.
P1= P0+ (B – D) + (I – O)
P0, P1: Số dân có vào đầu kỳ và cuối kỳ
B: Số trẻ em được sinh ra, còn sống rong kỳ (số sinh)
D: Số người chết trong kỳ (số chết)
I: Số người chuyển đế n trong kỳ (số nhập cư)
O: Số người chuyển đi trong kỳ (số xuất cư)
Như vậy, trên quan điểm của dân số học cơ bản, thống kê dân số phảinghiên cứu tất cả các yếu tố sinh, chết, kết hôn, ly hôn và sự di chuyển của dân
cư Các số liệu thống kê dân số phải biểu thị được biến động dân số theo phươngtrình cân bằng trên
Là một bộ phận của khoa học thống kê, thống kê dân số nghiên cứu mặtlượng trong sự liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng và quá trình dân số
Nó nghiên cứu biểu hiện bằng số lượng của các mặt thuộc về bản chất và quyluật của hiện tượng dân số như: quy mô dân số, cơ cấu dân số; các vấn đề vềsinh, chết, di dân; dự đoán dân số; các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triểndân số… của từng vùng, từng địa phương trong nh ững thời gian cụ thể Ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay thống kê dân số còn nghiên cứu tình hình thực hiệncác biện pháp tránh thai, các vấn đề liên quan khác
Như vậy thống kê dân số cần nêu lên bằng con số về quy mô, cơ cấu, quan
Trang 10hệ so sánh, trình độ phát triển, trình đ ộ phổ biến của các hiện tượng và quátrình dân số Thông qua các con số này mà phản ánh được mặt chất của chúng, vìchất và lượng là hai mặt không thể tách rời nhau của mọi sự vật và hiện tượng,chúng có quan hệ biện chứng với nhau Mỗi lượng cụ thể đều phản ánh một chấtnhất định, sự biến đổi về lượng sẽ dẫn tới biến đổi về chất Vì vậy nghiên cứumặt lượng có ý nghĩa quan trọng đối với việc nhận thức bản chất của hiện tượngnghiên cứu.
Cũng như các hiện tượng kinh tế - xã hội khác, các hiện tượng mà th ống
kê dân số nghiên cứu là các hiện tượng số lớn, tức là một tổng thể bao gồm nhiềuđơn vị cá biệt Bởi vì thống kê học coi tổng thể các hiện tượng cá biệt như mộtthể hoàn chỉnh Thông qua việc nghiên cứu số lớn các đơn vị, các yếu tố ngẫunhiên, không bản chất của các hiện tượng cá biệt được bù trừ, triệt tiêu lẫn nhau
Từ đó, bộc lộ bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng nghiên cứu
Tuy vậy không có nghĩa thống kê dân số không nghiên cứu những hiệntượng cá biệt Bởi vì quá trình phát triển của hi ện tượng sẽ nảy sinh những biểuhiện mới, tiên tiến Chẳng hạn khi nghiên cứu tỷ suất sinh của cả nước cần xemxét những tỉnh có mức sinh thấp, đặc biệt ở các vùng nông thôn - nơi được đặttrọng tâm cho các mục tiêu giảm sinh để rút kinh nghiệm cho công tác chỉ đạo vàquản lý Cho nên nghiên cứu hiện tượng số lớn kết hợp với nghiên cứu hiệntượng cá biệt là cần thiết giúp cho việc nhận thức hiện tượng dân số được toàndiện, phong phú và sâu sắc hơn
Hiện tượng và quá trình dân số bao giờ cũng tồn tại trong những điều kiệnthời gian và địa điểm cụ thể Trong những điều kiện lịch sử khác nhau thì đặcđiểm về chất và biểu hiện về lượng của chúng cũng khác nhau Như vậy, đốitượng nghiên cứu của Thống kê dân số là mặt lượng trong sự liên kết mật thiếtvới mặt chất của số lớn các hiện tượng và quá trình dân số, trong điều kiện thờigian và địa điểm cụ thể
3 Nhiệm vụ của thống kê dân số.
Xuất phát từ đối tượng n ghiên cứu trên, T hống kê dân số có những nhiệm
Trang 11mức sinh, mức chết, hôn nhân thông qua các chỉ tiêu phản ánh số lượng và cácchỉ tiêu phản ánh cơ cấu như tỷ suất sinh đặc trưng theo nhóm tuối, tổng tỷ suấtsinh, tỷ lệ chết, tỷ lệ tăng tự nhiên, tỷ lệ kết hôn, tỷ lệ ly hôn
- Nghiên cứu về biến động cơ học như tỷ suất xuất cư, tỷ suất nhập cư
- Nghiên cứu xu thế của các hiện tượng dân số và quá trình dân số trongtương lai, dự báo dân số
Ngoài ra ở nước ta, công tác Thống kê dân số còn thêm nhiệm vụ sau:
- Đưa ra các số liệu phản ánh chất lượng dân số về thể chất, thông quaviệc thực hiện sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh Dự đoán nhu cầu và xuhướng của chất lượng dân số về thể chất
- Đưa ra các số liệu phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch hóa gia đình(KHHGĐ), sử dụng và không sử dụng các biện pháp tránh thai, cơ cấu các biệnpháp tránh thai đang sử dụng Các vấn đề về dịch vụ KHHGĐ, chăm sóc sứckhỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em Dự đoán nhu cầu và xu hướng
Như vậy, lĩnh vực nghiên cứu của thống kê dân số rất rộng, bao trùm tất
cả các khâu của quá trình tái sản xuất dân số, từ việc phản ánh trạng thái dân cưtrong những điều kiện lịch sử cụ thể đến nhận thức được các tính quy luật củaquá trình phát triển dân số và lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình
Câu hỏi lượng giá
1 Thống kê dân số nhà nước ở Việt Nam phát triển như thế nào?
2 Thống kê dân số ở Việt Nam được tổ chức như thế nào?
3 Hãy so sánh Thống kê dân số và dân số học?
4 Hãy nêu các nhiệm vụ của thống kê dân số
Trang 12Bài 2 THU THẬP DỮ LIỆU THỐNG KÊ DÂN SỐ- Y TẾ
Mục tiêu:
1 Nêu được khái niệm và phân loại thu thập d ữ liệu thống kê dân số
2 Nêu được cách thức thu thập thông tin trong thống kê thường xuyên
trong dân số và y tế
3 Nêu được khái quát các điều tra thống kê trong y tế- dân số
1 Khái niệm và phân loại
Hoạt động thống kê là điều tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bốthông tin phản ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế - xã hộitrong điều kiện không gian và thời gian cụ thể do tổ chức thống kê nhà nước tiếnhành Các hình thức thu thập thông tin thống kê bao gồm Báo cáo thống kê vàđiều tra thống kê
Các hình thức thu thập thông tin thống kê có thể khái quát sau:
Sơ đồ 2.1 Các hình thức và phương pháp thu thập thông tin thống kê
Báo cáo thống kê là hình thức thu thập thông tin thống kê theo chế độ báocáo thống kê do cơ quan nhà nước ban hành Báo cáo thống kê được tiến hànhthường xuyên, định kỳ theo nội dung, phương pháp cũng như hệ thống biểu mẫuthống nhất và áp dụng cho nhiều năm Báo cáo thống kê bao gồm báo cáo thống
Thu thập thông tin thống kê
Điều tra thống kê Tổng điều tra
Trang 13kê cơ sở và báo cáo thống kê tổng hợp.
Điều tra thống kê là hình thức thu thập thông tin thống kê theo phương ánđiều tra Phương án điều tra thống kê quy định rõ mục đích, nội dung, đối tượng,phạm vi, phương pháp và kế hoạch tiến hành điều tra Điều tra thống kê đượcphân thành Tổng điều tra (điều tra toàn bộ) và điều tra thống kê (điều tra khôngtoàn bộ)
2 Thống kê thường xuyên
2.1 Thống kê biế n động thường xuyên
2.1.1 Thống kê biến động tự nhiên dân số
Như trên đã phân tích, sự biến động thuần túy mang tính tự nhiên của quátrình tái sản xuất dân số gồm sinh, chết và hôn nhân chỉ xảy ra trên quy mô toànthê giới, hoặc trên quy mô mỗi quốc gia, nếu coi dân số của mỗi nước là một dân
số đóng, không có di dân
Thống kê biến động tự nhiên dân số giúp cho người quản lý biết đượcmức sinh, mức chết và hôn nhân của một tập hợp dân số của một địa bàn trongmột thời điểm nhất định để đề ra các chính sách phù hợp Đây là số liệu cơ bản
để thực thi các chính sách về dân số, kế hoạch hóa gia đình và chính sách chămsóc sức khỏe nhân dân tại địa phương Các quốc gia trên thế giới đều các tổ chức
hệ thống thu thập thông tin về biến động tự nhiên dân số
Thống kê biến động tự nhiên dân số có nhiệm vụ xác định các chỉ tiêuphản ánh toàn bộ quá trình tái sản xuất dân số như mức sinh, mức chết, mức kếthôn, mức ly hôn thông qua các chỉ tiêu phản ánh số lượng và các chỉ tiêu phảnánh cơ cấu như tỷ suất sinh đặc trưng theo nhóm tuối, tổng tỷ suất sinh, tỷ lệchết, tỷ lệ tăng tự nhiên, tỷ lệ kết hôn, tỷ lệ ly hôn
Việc thu thập thông tin về biến động tự nhiên dân số có thể tổ chức thuthập thông qua hệ thống đăng ký hộ tịch
Đăng ký hộ tịch là nguồn tài liệu ghi chép ban đầu làm cơ sở thực hiệnthống kê biến động tự nhiên dân số Đăng ký hộ tịch thực hiện từ cơ sở (cấp xã)
để nắm được các th ông tin về khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn và ly hôn tạithời điểm đầu kỳ, cuối kỳ Thu thập số liệu dân số từ tài liệu đăng ký hộ tịch có
ưu nhược điểm sau:
Ưu điểm: Nếu các sự kiện hộ tịch được đăng ký ngay sau khi xảy ra thìmức độ đầy đủ và chính xác của thông tin thu được sẽ rất cao, đồng thời chophép cập nhật thường xuyên số liệu dân số, cho phép đánh giá chính xác về biến
Trang 14động dân số ở trong vùng.
Nhược điểm:
- Quy định sổ sách hộ tịch thuộc loại tài liệu pháp lý nên số lượng thôngtin thường hạn chế Ở các nước đang phát triển hệ thống đăng ký khai sinhkhông được cập nhật thường xuyên do sự tự giác của người dân
- Trong các nước phát triển, hệ thống đăng ký hộ tịch cung cấp thông tinchính xác về các hiện tượng hộ tịch (sinh, chết và hôn nhân) Song ở các nướcđang phát triển hệ thống đăng ký hộ tịch chưa được hoàn chỉnh
- Hiện nay ở nước ta đăng ký khai sinh, khai tử và đăng ký kết hôn thuộc
về ngành Tư pháp, ly hôn theo phán quyết của Tòa án
Đặc điểm của hệ thống đăng ký hộ tịch:
10 Đăng ký bắt buộc: Quy định nghĩa vụ pháp lý phải đăng ký hộ tịchđược coi là điều kiện cơ bản của hệ thống thống kê hộ tịch đầy đủ
20 Tổ chức thuộc Chính phủ: Hệ thống đăng ký có thể phân thành hailoại: Quản lý tập trung (quản lý tập trung theo ngành dọc) và quản lý phân tán.Mặc dù quản lý theo hình thức nào, mỗi nước đều có một cơ quan chịu tráchnhiệm đăng ký và báo cáo thống kê hộ tịch cho cả nước
30 Người khai báo: Người được pháp luật quy định trách nhiệm khai báomột sự kiện hộ tịch xảy ra có thể hoặc không phải là bản thân trực tiếp ngườimang các đặc điểm của sự kiện
- Khai sinh: Ở hầu hết các nước, trách nhiệm khai sinh thuộc về cha mẹ,nhưng ở một số nước trá ch nhiệm này thuộc cán bộ y tế
- Khai tử: hầu hết các nước châu Âu và Mỹ la tinh đã quy định tráchnhiệm cho thân nhân người chết, một số nước quy định cho bác sĩ Tu y nhiên, xuthế chung vẫn cho rằng, thân nhân của người chết không chỉ biết rõ các biến c ốnày mà họ còn quan tâm để làm các thủ tục khác
- Kết hôn: một số nước cho rằng thuộc trách nhiệm của tòa án, nhưng một
số nước lại quy định cho 1 trong 2 người xin ly hôn
40Nội dung thông tin
Việc đăng ký hộ tịch được đăng ký ở đơn vị cơ sở, sự kiệ n hộ tịch có thểđược đăng ký ở nơi có sự kiện xảy ra hoặc theo nơi thường trú Trừ một sốtrường hợp ngoại lệ, còn hầu hết các nước trên thế giới đề quy định tại nơi xảy ra
Trang 15nơi thường trú khác nhau thì nhân viên hộ tịch ở nơi có sự kiện xảy ra sẽ tìmcách thông báo với nhân viên hộ tịch nơi ở thường trú Nội dung đăng ký phụthuộc vào quy định pháp lý, yêu cầu về tài liệu cần thiết cũng như các đặc điểmcủa từng loại biến cố Nội dung đăng ký có thể tạm thời chia làm hai loại:(1) Câu hỏi về đặc tính của sự kiện (biến cố) (2) Câu hỏi đặc trưng cho nhữngngười có liên quan trực tiếp đến sự kiện (biến cố) xảy ra.
2.1.2 Thống kê biến động cơ học dân số
Như trên đã phân tích, sự biến động tự nhiên dân số này chỉ xảy ra trênquy mô toàn thê giới, hoặc trên quy mô mỗi quốc gia, nếu coi dân số của mỗinước là một dân số đóng, không có di dân Tuy nhiên, di dân (biến động cơ họcdân số) lại làm thay đổi số lượng và cơ cấu dân cư của từng v ùng, từng địaphương Di dân có thể trực tiếp hoặc gián tiếp (qua việc phát triển kinh tế, vănhoá, làm thay đổi tập quán, quan niệm, các hành vi dân số của dân cư địaphương) ảnh hưởng đến quá trình sinh, chết và hôn nhân của các vùng này
Thống kê biế n động cơ học dân số giúp cho người quản lý nắm được biếnđộng về chuyển đi, chuyển đến và ảnh hướng của nó tới mức sinh, mức chết,hôn nhân và cơ cấu dân số của một tập hợp dân số của một địa bàn trong mộtthời điểm nhất định để đề ra các chính sách kinh tế- xã hội phù hợp
Thống kê biến độ ng cơ học dân số có nhiệm vụ xác định các chỉ tiêu phảnánh quá trình biến động cơ học của tập hợp dân số như tỷ suất xuất cư, tỷ suấtnhập cư…
Việc thu thập thông tin về biến động cơ học dân số có thể tổ chức thu thậpthông qua hệ thống đăng ký hộ khẩu, hoặc hệ thống thu thập khác
2.1.3 Tổ chức thống kê biến động thường xuyên của cơ quan quản lý DS
Phương thức thực hiện: cộng tác viên dân số quản lý một địa bàn thường
là thôn hoặc một phần của thôn có từ 30 hộ đến 150 hộ Cộng tác viên đền thăm
Trang 16các hộ trên địa bàn và tiến hành thu thập thông tin các sự kiện biến động tự nhiêncủa cá nhân theo hộ gia đình để ghi chép vào Sổ A0.
Ưu điểm: Các sự kiện được ghi chép ngay sau khi xảy ra; đồng thời chophép cập nhật thường xuyên số liệu thống dâ n số, cho phép đánh giá chính xác
về biến động dấn số tại địa phương
Nhược điểm: Trình độ và tính thường xuyên thu thập thông tin của cộngtác viên còn yếu; tính pháp lý của số liệu thấp;
Đặc điểm
- Không bắt buộc đối tượng khai báo, bắt buộc người thu tin ghi chép cácbiến cố xảy ra trên địa bàn, tính pháp lý yếu
- Do cơ quan của Chính phủ thực hiện
- Nội dung thông tin gồm cả dân số và kế hoạch hóa gia đình , chất lượngdân số, sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em
2.2 Thống kê thườ ng xuyên trong y tế
2.2.1 Hồ sơ bệnh án (y vụ)
Tại bệnh viện, cơ sở y tế được lập các bệnh á n cho từng bệnh nhân, theocác Phân loại bệnh tật quốc tế của Tổ chức y tế thế giới (ICD-10) ICD-10cungcấp mã hóa các bệnh thành những mã ngắn gọn, làm chuẩn c ho công tácnghiên cứu và thực hành y học Các hồ sơ này cung cấp thông tin y học nhưtình trạng bệnh, mô hình bệnh tật và cung cấp thông tin cho cơ quan quản lýnhà nước
Ưu điểm: Các sự kiện được ghi chép ngay sau khi xảy ra; đồng thời chophép cập nhật thường xuyên, cho phép đánh giá về tình trạng bệnh tật Khôngnhững giúp ích khi bệnh nhân được chuyển từ nước này sang nước khác(tránh lỗi dịch), ở trong cùng một nước ICD -10 cũng giúp tránh sự hiểu sai docách dùng từ khác nhau giữa nhân viên y tế do đào tạo bởi các trường khácnhau, hoặc được đào tạo trong các thời kỳ khác nhau
Nhược điểm: Trình độ và tính thường xuyên thu t hập thông tin của cán bộ
y tế còn yếu; tính đầy đủ, và đồng nhất yếu
Đặc điểm
- Không bắt buộc đối tượng khai báo;
Trang 17- Do cơ quan thực hiện cung cấp
- Nội dung thông tin về bệnh tật
2.2.2 Các sổ sách ghi chép ban đầu và báo cáo thống kê y tế
Hiện nay, Bộ Y tế đang thu thập khoảng 127 chỉ tiêu, bao gồm: Chỉ tiêuphản ảnh tình hình sức khỏe nhân dân và chỉ tiêu hoạt động của các lĩnh vực y tế.Hầu hết các chỉ tiêu trên được thu thập theo chế độ báo cáo định kỳ thông quahàng loạt sổ sách, biểu mẫu báo cáo từ xã, huyện tỉnh và trung ương Đây là mộtphương pháp thu thập số liệu đơn giản và kinh tế nhất Nếu như hệ thống biểumẫu được thiết kế một cách khoa học, các thông tin được cập nhật thường xuyênthì sẽ cung cấp được những thông tin có giá trị Hệ thống biểu mẫu ghi chép banđầu và báo cáo có thể nói là một b ộ công cụ quan trọng trong hệ thống thông tinthống kê Y tế Xuất phát từ tầm quan trọng của Hệ thống biểu mẫu, ng ay từ khimới được thành lập Bộ y tế đã rất quan tâm đến việc xây dựng và ban hành hệthống biểu mẫu cho các đơn vị cung cấp dịch vụ y tế và c ác cơ quan quản lý y tếcác tuyến Do đặc thù hoạt động cung cấp dịch vụ y tế, ngành Y tế bao gồmnhiều lĩnh vực khác nhau, như: Điều trị, dự phòng, đào tạo nhân lực; dược; chămsóc sức khỏe sinh Sản; chăm sóc sức khỏe trẻ em; phòng chống các bệnh xã hội(Phong, Lao, Sốt Rét; HIV, Tâm thần )… Mỗi lĩnh vực đều có một hệ thốngbiểu mẫu sổ sách, báo cáo riêng để thu thập thông tin phục vụ quản lý, điều hànhhoạt động chuyên môn của mình và báo cáo các cơ quan có thẩm quyền
Việc tổng hợp số liệu phản ánh hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏenhân dân của toàn ngành y tế do hệ thống thông tin thống kê tổng hợp, Vụ Kếhoạch- Tài chính, Bộ Y tế làm đầu mối chỉ đạo và thực hiện
Biểu mẫu báo cáo và sổ sách của hệ thống thông tin thống kê tổng hợpđược ban hành từ những năm 50 và được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp vớitừng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, cụ thể: Năm 1977 saukhi thống nhất đất nước (năm 1975); năm 1992 theo yêu cầu thông tin trong thời
kỳ đổi mới; năm1999 theo yêu cầu hội nhập với các nước trong khu vực và thếgiới và nhu cầu thông tin phục vụ thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá vàgần đây, năm 2008 sau khi Thủ tướng chính phủ ban hành hệ thống chỉ tiêuThống kê Quốc gia và Bộ Y tế ban hành hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Ng ành y tế,
Hệ thống biểu mẫu này đã được Bộ trưởng Bộ Y tế ký Quyết định ban hành số:3440/QĐ- BYT ngày 17/9/2009 Hệ thống biểu mẫu bao gồm số sách biểu mẫughi chép ban đầu và báo cáo của các cơ sở y tế
Trang 18Hệ thống biểu mẫu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bao gồm:
10Hệ thống ghi chép ban đầu của tuyến xã/phường
+ Sổ sách biểu mẫu ghi chép ban đầu của trạm y tế xã/phường
Sổ tiêm chủng cho trẻ em và phụ nữ:
Sổ tiêm chủng phòng 7 bệnh cho TE < 1 tuổi: A2.1/YTCS
Sổ tiêm phòng viê m não, tả, thương hàn: A2.2/YTCS
Sổ tiêm phòng uốn ván phụ nữ: A2.3/YTCS
+ Hệ thống biểu mẫu báo cáo:
Biểu 1/BCX: Dân số và sinh tử
Biểu 2/BCX: Ngân sách trạm y tế
Biểu 3/BCX: Tình hìn h nhân lực y tế
Biểu 4/BCX: Hoạt động CSBM/TE và KHHGĐ
Biểu 4/BCX: Hoạt động khám chữa bệnh
Biểu 6/BCX: Hoạt động tiêm chủng
Biểu 7/BCX: Các bệnh gây dịch và bệnh quan trọng
Biểu 8/BCX: Hoạt động phòng chống các bệnh xã hội
20Hệ thống biểu mẫu báo cáo của Trung tâm y tế/Phòng y tế quận
30Hệ thống biểu mẫu báo cáo của Sở Y tế
Trang 193 Tổng điều tra dân số
3.1 K hái niệm và các đặc trưng cơ bản
Tổng điều tra dân số là một cuộc điều tra dân số toàn diện, nhằm đăng kýthu thập số liệu trên từng người dân tại một thời điểm thống nhất trong cả nước.Nói một cách khác, tổng điều tra dân số là quá trình thu thập, đánh giá, phân tích
và xuất bản các số liệu về dân số và các vấn đề kinh tế, xã hội có liên quan đốivới toàn bộ dân số một nước tại một thời đi ểm xác định
Các đặc trưng (đồng thời cũng là các nguyên tắc) của tổng điều tra dân số:
- Điều tra theo từng người: Để có tài liệu dân số cả nước phải có thông tin
về mỗi người Vì vậy, trong điều tra phải liệt kê từng người một với các đặcđiểm xác định của họ
- Tính toàn thể: Các cuộc tổng điều tra dân số phải điều tra toàn bộ dân sốcủa cả nước (hoặc một vùng lãnh thổ của đất nước)
- Tính đồng thời: Việc đếm số dân và những đặc điểm của từng ngườinhất thiết phải được lấy theo một mốc thời gian nhất đị nh được gọi là thời điểmđiều tra và thường được chọn vào nửa đêm (0 giờ) của ngày điều tra
- Tính chu kỳ xác định: Để thông tin thu được dễ so sánh, các cuộc điềutra dân số cần được tổ chức cách đều nhau (5 năm, 10 năm) và nếu có thể đượcthì nên tiến hành vào cùng một ngày
3.2 Những vấn đề cơ bản của tổng điều tra dân số
3.2.1 Mục đích điều tra
Trên cơ sở văn bản chỉ thị của Thủ tướng C hính phủ về việc tổ chức Tổngđiều tra, có thể xác định được mục đích của các cuộc tổng điều tra dân số Tổngđiều tra thường nhằm phục vụ cho định hướng phát triển kinh tế, xã hội của đấtnước ở từng thời kỳ Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng kế hoạch, nội dungđiều tra
Ví dụ, cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4 2009 nhằm phục vụ hai yêucầu cơ bản là:
- Làm căn cứ chính xác phục vụ công tác nghiên cứu, phân tích quá trìnhphát triển kinh tế-xã hội và dân số nước ta
- Kiểm điểm tình hình thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến dân số, laođộng Trên cơ sở đó đáp ứng nhu cầu xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xãhội thời kỳ 2011-2020
Trang 203.2.2 Phạm vi, đối tượng, đơn vị điều tra
Phạm vi điều tra: Tổng điều tra dân số thường tiến hành đăng ký toàn bộnhân khẩu trên phạm vi lãnh thổ của đất nước C uộc tổng điều tra dân số năm
2009 ở nước ta: “Tiến hành điều tra tất c ả mọi người Việt Nam và nước ngoàivẫn thường xuyên cư trú trên toàn thể lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam, cũng như những người Việt Nam được cử đi công tác, học tập và laođộng hợp tác nước ngoài”
Đối tượng điều tra: trong các cuộc tổng đ iều tra dân số được xác định làtừng nhân khẩu Tuy nhiên, để xác định chính xác số dân của cả nước, người tachia nhân khẩu thành 2 loại: nhân khẩu có mặt và nhân khẩu thường trú
Nhân khẩu có mặt của một địa phương tại thời điểm điều tra là nhữngngười đang thực tế có mặt tại địa phương đó, không phụ thuộc vào địa điểm cưtrú, sinh sống của họ Theo định nghĩa trên, có thể dễ dàng xác định được ai lànhân khẩu có mặt của một địa phương, nhưng lại khó có thể đếm chính xác sốnhân khẩu này do sự di chuyển t hường xuyên của dân cư
Nhân khẩu thường trú của một địa phương là những người cư trú, sinhsống thường xuyên trên lãnh thổ của địa phương đó, không phụ thuộc vào địađiểm có mặt của họ lúc điều tra Thống kê theo nhân khẩu thường trú dễ thựchiện, ít bị bỏ sót hay trùng lặp vì có sổ hộ khẩu làm căn cứ, lại không thay đổithường xuyên Nhưng việc xác định loại nhân khẩu này lại gặp khó khăn dốcnhiều trường hợp ngoại lệ mà định nghĩa trên không bao quát được, như nhữngngười sống du mục, những người làm ngh ề chài lưới không có nơi ở cố định Muốn thống kê chính xác, cần có qui định cụ thể về các trường hợp ngoại lệ.Trên thực tế, phần lớn cá nước chọn nhân khẩu thường trú làm đối tượng điềutra Ở một vài nước, người ta diều tra đồng thời theo cả hai loại để kiểm tra độchính xác của số liệu thu được Ở nước ta, trong các cuộc tổng điều tra dân số đãqua, ta đều điều tra theo nhân khẩu thường trú
Ngoài ra, hai loại nhân khẩu khác là nhân khẩu tạm trú và tạm vắng, cũngđược sử dụng để giúp cho việc thống kê chính xác số dân Nhân khẩu tạm trúcủa một địa phương là những người không thuộc nhân khẩu thường trú của địaphương, nhưng tại thời điểm điều tra lại đang thực tế có mặt tại đó Ngược lại,nhân khẩu tạm vắng thuộc nhân khẩu thường trú tại địa phương, nh ưng tại thờiđiểm điều tra lại không có mặt tại nơi cứ trú
Giữa các loại nhân khẩu có mối liên hệ:
Nhân khẩu
thường trú =
Nhân khẩuhiện có -
Nhân khẩu
Nhân khẩutạm vắng
Trang 21Đơn vị điều tra:
Trong điều tra dân số, các thông tin thu thập theo từng người riêng biệt.Tuy nhiên, khi tới điều tra, cán bộ điều tra không thể gặp được tất cả mọi ngườicần điều tra và thậm chí, ngay cả khi cán bộ điều tra gặp được tất cả các thànhviênk, họ cũng không thể phỏng vấn trực tiếp tất cả mọi người được, vì vậy c ácthông tin thường được thu thập từ một thành viên trong gia đình, phổ biến là mộtngười lớn có hiểu biết hơn cả
Như vậy, đơn vị điều tra được xác định là hộ, bao gồm hộ gia đình và hộtập thể Hộ gia đình là hộ mà các thành viên phải thoả mãn đồng thời 3 đặc điểm:
- Cùng sống chung trong một ngôi nhà
- Có quan hệ huyết thống, quan hệ vợ chồng hay nuôi dưỡng
- Có quỹ thu chi chung
Hộ tập thể thường do các cơ quan, xí nghiệp, trường học, đơn vị quânđội tổ chức ra, nó bao gồm những người sống xa gia đì nh, cùng sống chungtrong một khu nhà, đăng ký chung một sổ hộ khẩu, nhưng mỗi người lại có quĩthu chi riêng
3.2.3 Thời điểm và thời hạn điều tra
Thời điểm điều tra là mốc thời gian thống nhất ta cần thu thập tài liệu vềhiện tượng nghiên cứu Xác định thời điểm điều tra nhằm giứp cho việc đăng kýnhân khẩu không bị trùng lặp hay bị bỏ sót Thời điểm điều tra thường đượcchọn vào thời kỳ dân cư ít biến động nhất, đồng thờicũng phải thuận tiện choviệc chuyển số liệu dân số về ngày đầu năm Nhiều nước ch ọn ngày điều tra sátgần đầu năm dương lịch Trong các cuộc Tổng điều tra dân số trước đây, nước tathường chọn thời điểm điều tra vào 0 giờ ngày 1 tháng 4
Thời hạn điều tra là khoảng thời gian hoàn thành việc đăng ký nhân khẩu.Thời hạn điều tra dài hay ngắn phụ thuộc vào qui mô dân số, địa bàn, nội dungđiều tra, số lượng, chất lượng điều tra viên và phương pháp điều tra phỏng vấnhay tự ghi Thông thường, thời hạn này không nên quá dài, cũng không nên quángắn Thời hạn quá ngắn sẽ làm ảnh hưởng đến côn g việc thường nhật của nhândân, lại đòi hỏi một đội ngũ điều tra viên rất lớn Thời hạn quá dài có thể làmnhiều người quên đi những gì đã xảy ra tại thời điểm điều tra Thời hạn tốt nhất
là từ khoảng 1 đến 2 tuần
Trang 223.2.4 Phương pháp điều tra
Trong điều tra dân số người ta thường dùng hai phương pháp:
Phương pháp phỏng vấn (trực tiếp): cán bộ điều tra cầm phiếu điều tra đếntừng hộ để hỏi và ghi phiếu cho từng người theo đúng hướng dẫn ghi phiếu điềutra Phương pháp này có thể đạt độ tin cậy cao, nhưng lại tốn kém và đòi hỏi mộtđội ngũ điều tra viên đông đảo, có kinh nghiệm
Phương pháp tự khai báo (gián tiếp): đối tượng điều tra nhận phiếu đăng
ký nhaan khẩu, tự ghi chép, khai báo vào phiếu rồi gửi cho cơ quan điều tra.Phương pháp này đỡ tốn kém hơn, cần ít điều tra viên hơn, nhưng đòi hỏi trình
độ dân trí phải khá cao, các câu hỏi đặt ra trong phiếu phải dễ trả lời
3.2.5 Nội dung điều tra và phiếu điều tra
Nội dung điều tra
Nội dung điều tra là các đặc điểm cần được thu thập tài liệu trên các đốitượng điều tra Trong tổng điều tra dân số, nó được thể hiện bằng danh sách cáccâu hỏi mà người được điều tra phải trả lời hoặc tự ghi vào phiếu đăng ký nhânkhẩu Có thể chia các câu hỏi này thành 3 phần: phần địa chỉ, phần nội dungchính và phần những câu hỏi phụ thêm, có liên quan đến các cuộc điều tra khác
Phần địa chỉ bao gồm các câu hỏi như: Họ và tên, địa chỉ cụ thể, quan hệvới chủ hộ Những câu hỏi này nhằm nâng cao trách nhiệm của nhân dân trongviệc khai báo, thuận lợi cho việc phúc tra, giúp cho việc tổng hợp tài liệu dân sốtheo vùng lãnh thổ, vùng địa lý , giúp cho việc phân loại gia đình được chínhxác hơn
Phần nội dung chính là quan trọng nhất, bao gồm các câu hỏi mà theo đó
có thể cung cấp được số liệu cho các chỉ tiêu tổng hợp đã đặt ra Đó là các câuhỏi liên quan đến giới tính, tuổi hay ngày tháng năm sinh, dân tộc, tôn giáo, tìnhtrạng hôn nhân, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tình hinh dichuyển, tình trạng việc làm …
Phần những câu hỏi phụ thêm được xây dựng cho các cuộc điều tra khácphục vụ cho các mục đích có liên quan như: điều tra chọn mẫu nghiên cứu vềsinh, chết, nhà ở của dân cư Ví dụ, trong c uộc tổng điều tra dân số năm 2009 ởnước ta, khoảng 15% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) được phỏng vấn cáccâu hỏi thêm về tổng số con đã sinh, số con hiện còn sống và số con sinh ratrong 12 tháng qua Thông tin nhận được từ các câu hỏi này để ước lượng mứcsinh Ngoài các câu hỏi về mức sinh, người ta còn hỏi thêm các câu hỏi về loại
Trang 23nhà ở, diện tích nhà ở, quyền sở hữu, thời gian xây dựng, nguồn thắp sáng, côngtrình vệ sinh để đánh giá tình trạng nhà ở của nhân dân.
Phiếu điều tra
Phiếu điều tra được coi là công cụ để thực hiện cuộc điều tra, là sự thểhiện cụ thể nội dung điều tra bằng các câu hỏi được ghi tr ong phiếu Phiếu điềutra dân số thường được thiết kế cho cả hộ và được chia thành hai phần: phầnphiếu hộ và phần cho từng cá nhân Phần phiếu hộ gồm các câu hỏi danh ghichung cho cả hộ như: tên địa bàn điều tra, số thứ tự hộ, họ tên chủ hộ, địa chỉ của
hộ, tổng số người trong hộ Phần cho từng cá nhân (phiếu cá nhân) được thiết
kế để thu thập những thông tin liên quan đến từng người trong hộ Ngày nay, tinhọc được sử dụng rộng rãi trong thống kê, phiếu điều tra cũng phải được thiết kếcho phù hợp với yêu cầu của kỹ thuật này
Bên cạnh phiếu điều tra, các cuộc tổng điều tra dân số còn sử dụng nhiềutài liệu nghiệp vụ khác như: sổ tay cán bộ điều tra, sổ tay tổ trưởng điều tra, bảnhướng dẫn ghi phiếu đăng ký nhânkhẩu, phiếu kiểm tra lại, giấy chứng nhận đãđăng ký
3.2.6 Kế hoạch và tổ chức điều tra
Tổng điều tra dân số là một công việc phức tạp, tốn kém, liên quan đếnmọi cấp, mọi ngành và toàn thể nhân dân Vì vậy, muốn điều tra mang lại kếtquả tốt đẹp, có chất lượng cao cần phải xây dựng được một kế hoạch toàn diện, tỉ
mỉ và rất chi tiết Kế hoạch tổ chức điều tra thường có những vấn đề sau:
- Xác định rõ mục đích điều tra
- Lập bảng kê số nhà, số hộ, số khẩu và danh sách đối tượng điều tra, vẽ
sơ đồ các điểm dân cư Đây là căn cứ quan trọng để ph ân chia và giao nhiệm vụcho từng điều tra viên
- Xác định số lượng điều tra viên cần thiết Tuyển chọn và huấn luyệnnghiệp vụ cho điều tra viên nhằm cho họ nắm vững phương án điều tra và hiểucác bản hướng dẫn một cách thống nhất Giao nhiệm vụ cụ thể cho từng người
Tổ chức các cuộc hội nghị cán bộ để chuẩn bị cho công tác điều tra
- Chuẩn bị, phân chia và giao đầy đủ cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuậtcũng như những tài liệu cần thiết cho từng địa bàn điều tra
- Làm tốt công tác tuyên truyền về cuộ c điều tra cho nhân dân giúp chomọi người dân hiểu được mục đích, ý nghĩa, nội dung và cách trả lời các câu hỏitrong phiếu điều tra Muốn làm tốt công tác tuyên truyền cần sử dụng rộng rãi vànâng cao hiệu quả các phương tiện ấn loát, đài phát thanh, tru yền hình, phimảnh, quảng cáo, khẩu hiệu
Trang 24Ngoài ra, để tránh những rủi ro có thể gặp phải, cần có phương án đềphòng hoả hoạn, mưa bão, lũ lụt, mối mọt làm hỏng giấy tờ, tài liệu cũng nhưcác thông tin đã thu được.
3.3 Lịch sử các cuộc tổng điều tra dân số.
Kể từ sau ngày thống nhất đất nước, chúng ta đã thực hiện 4 cuộc tổngđiều tra dân số trên phạm vi cả nước được thực hiện vào 1/10/1979; 1/4/1989;1/4/1999; 1/4/2009
4 Điều tra chọn mẫu.
Khái niệm
Điều tra chọn mẫu là một loại điều tra không toàn bộ trong đó người ta chỉchọn ra một số cá nhân trong toàn bộ dân số nghiên cứu để điều tra thực tế Các
cá nhân này được chọn theo những qui tắc nhất định để đảm bảo tính đại biểu
Ví dụ: Trong cuộc tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009, nước ta đã sử dụ ngphương pháp chọn mẫu để thu thập số liệu về biến động tự nhiên của dân số(sinh, chết), kích thước mẫu là 15% Cuộc nghiên cứu dân số và sức khoẻ năm
2002 (DHS 2002) nghiên cứu hiểu biết, thái độ - hành động của dân cư trongchương trình kế hoạch hóa gia đình (KAP)
4.1 Những vấn đề chung về điều tra chọn mẫu.
4.1.1 Ưu điểm của phương pháp điều tra chọn mẫu
- Điều tra chọn mẫu thường nhanh hơn rất nhiều so với điều tra toàn bộ, vìđiều tra ít đơn vị nên công tác chuẩn bị sẽ gọn, số lượng ghi chép giả m đi, thờigian điều tra ghi chép, thời gian tổng hợp, phân tích sẽ được rút ngắn Điều nàylàm cho điều tra chọn mẫu có tính kịp thời cao
- Do đơn vị điều tra ít, có thể mở rộng nội dung điều tra, đi sâu nghiên cứunhiều mặt của hiện tượng
- Tài liệu thu thập được trong điều tra chọn mẫu sẽ có độ chính xác cao,bởi vì số nhân viên điều tra cần ít nên có thể chọn những người có kinh nghiệm,
có trình độ nghiệp vụ cao, đồng thời việc kiểm tra có thể tiến hành tỉ mỉ và tậptrung, khiến cho sai số do ghi chép giảm đi nhiều
- Điều tra chọn mẫu không đòi hỏi một tổ chức như điều tra toàn bộ Một
cơ quan nhỏ cũng có thể tiến hành điều tra chọn mẫu
Tóm lại điều tra chọn mẫu có nhiều ưu điểm, sử dụng nó sẽ mang lại hiệuquả kinh tế cao Song không vì thế mà cho r ằng có thể dùng điều tra chọn mẫu
Trang 25để thay thế hoàn toàn điều tra toàn bộ và cũng không nên cho rằng kết quả suyrộng của điều tra chọn mẫu sẽ chính xác như kết quả của điều tra toàn bộ Điềutra chọn mẫu chỉ dùng trong những trường hợp nhất định và kết quả suy rộng của
nó bao giờ cũng có một sai số nhất định so với kết quả điều tra toàn bộ
4.1.2 Hạn chế của điều tra chọn mẫu
- Do điều tra chọn mẫu chỉ tiến hành thu thập số liệu trên một số đơn vị, sau
đó dùng kết quả để suy rộng cho toàn bộ tổng thể chung nên kết quả điều tra chọnmẫu luôn tồn tại "Sai số chọn mẫu" - Sai số do tính đại diện Sai số chọn mẫu phụthuộc vào độ đồng đều của chỉ tiêu nghiên cứu, vào cỡ mẫu và phương pháp tổchức chọn mẫu Có thể làm giảm sai số chọn mẫu bằng cách tăng cỡ mẫu ở phạm
vi cho phép và lựa chọn phương pháp tổ chức chọn mẫu thích hợp nhất
- Kết quả điều tra chọn mẫu không thể tiến hành phân nhỏ theo mọi phạm
vi và tiêu thức nghiên cứu như điều tra toàn bộ, mà chỉ thực hiện được ở mức độnhất định tuỳ thuộc vào cỡ mẫu, phương pháp tổ chức chọn mẫu và độ đồng đềugiữa các đơn vị theo các chỉ tiêu được điều tra
4.1.3 Phạm vi áp dụng
- Dùng để thay thế điều tra toàn bộ (tổng điều tra dân số) khi đối tượngnghiên cứu cho phép vừa có thể điều tra toàn bộ vừa có thể điều tra chọn mẫu thìngười ta tiến hành điều tra chọn mẫu để có kết quả nhanh và tiết kiệm hơn
- Kết hợp với điều tra toàn bộ để mở rộng nội dung điều tra
Ví dụ: Trong cuộc tổng điều tra dân số cả nước 1/4/ 2009 đã sử dụngphương pháp chọn mẫu để thu thập số liệu về biến động tự nhiên của dân số(sinh, chết) cảu 15% dân số
- Ngoài ra, phương pháp điều tra chọn mẫu còn được áp dụng để tổng hợpnhanh kết quả điều tra theo một số chỉ tiêu nhất định nhằm đáp ứng kịp thời yêucầu cấp thiết và số liệu điều tra dân s ố
Ví dụ: Trên cơ sở mẫu 15% của tổng điều tra dân số 2009 đã tập hợp vàxuất bản cuốn “Kết quả điều tra mẫu” kịp thời phục vụ nhu cầu của kế hoạch vànghiên cứu dân số
- Phương pháp chọn mẫu còn được sử dụng cho mục đích kiểm tra mức
độ chính xác của các tài liệu điều tra dân số
Ví dụ: Trong cuộc tổng điều tra dân số 2009 đã tiến hành chọn máy mócdựa vào bảng kê số nhà, số hộ để đánh giá mức độ trùng sót cũng như mức độchính xác của các thông tin thu thập được trong điều tra
Trang 264.2 Các cuộc điều tra chọn mẫu quốc gia về dân số - y tế
4.2.1 Tổng điều tra dân số và nhà ở
Mục đích điều tra: Thu thập số liệu về dân số, lao động toàn xã hội và nhà
ở phục vụ công tác nghiên cứu, phân tích qui mô, cơ cấu phân bố và tốc độ pháttriển dân số, nguồn lao động và nhà ở của dân cư, đánh giá tình hình thực hiệncác kế hoạch kinh tế- xã hội có liên quan
Đối tượng điều tra: Tất cả công dân Việt Nam cư trú thường xuyên trêntoàn bộ lãnh thổ Việt Nam hoặc đang tạm trú ở nước ngoài
Nội dung điều tra:
- Dân số chia theo giới tính, tuổi, dân tộc, tôn giáo, tình trạng đi học, trình độhọc vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật
- Dân số chia theo ngành nghề đào tạo, di cư, tiếng nói thường dùng tronggia đình, tình trạng tàn tật, tình trạng hôn nhân, lao động và việc làm , tình hìnhsinh chết của dân số
- Tình trạng sở hữu và các điều kiện sinh hoạt của hộ có nhà ở
Chu kỳ điều tra: 10 năm một lần, tiến hành vào ngày 01 tháng 04 các năm
có số tận cùng là 9
4.2.2 Điều tra dân số giữa kỳ
Mục đích điều tra: Thu thập thông tin về dân số và nguồn lao động làm cơ
sở để lập kế hoạch và xây dựng chính sách dân số, đánh giá các chương trình dân
số quốc gia
Nội dung điều tra: Thu thập thông tin về qui mô, cơ cấu, phân bố và tốc
độ tăng dân số và nguồn lao động, mức độ sinh chết và kế hoạch hoá gia đình
Chu kỳ điều tra: 10 năm một lần, tiến hành vào ngày 01 tháng 4 các năm
có số tận cùng là 4
4.2.3 Điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình.
Mục đích điều tra: Thu thập các thông tin cơ bản về dân số làm cơ sởhoạch định chính sách, nghiên cứu biến động dân số và tính các chỉ tiê u thống kêquốc gia về dân số Nhân khẩu đang thường trú tại hộ và số người chết của hộ
Nội dung điều tra:
- Thông tin chung về dân số: họ tên nhân khẩu thực tế thường trú, giớitính, tình hình di cư, tình hình đi học, tình trạng hôn nhân…
Trang 27- Thông tin về người chết của hộ: thông tin về số người chết, các nguyênnhân chết, tình hình tử vong mẹ.
- Thông tin liên quan đến sinh đẻ, kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinhsản của phụ nữ 15-49 tuổi
Chu kỳ điều tra: 01 năm một lần, tiến hành vào ngày 01 tháng 4 trừ nămtiến hành điều tra dân số giữa kỳ
4.2.4 Điều tra khuyết tật.
Mục đích điều tra: Thu thập thông tin chi tiết về khuyết tật phục vụ hoạchđịnh chính sách bảo đảm quyền lợi cho người khuyết tật
Nội dụng điều tra: Tỷ lệ người khuyết tật chia theo l oại tật, nguyên nhânkhuyết tật; Xác định nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ và phục hồi chức năng Nhucầu về giáo dục, việc làm
Chu kỳ điều tra: 10 năm một lần, tiến hàn vào ngày 01 tháng 04 các năm có tậncùng là 5
4.2.5 Điều tra cơ sở và nhân lực ngành y tế.
Mục đích điều tra: Thống kê số lượng cơ sở, số giường bệnh, số nhân lực y
tế, trang thiết bị máy móc kỹ thuật phục vụ chủ trương xã hội hoá công tác y tế
Nội dung điều tra: số lượng và loại cơ sở, số giường bệnh , nhân lực y tế.Chu kỳ điều tra: 5 năm 1 lần, tiến hành vào ngày 01 tháng 04 các năm có
số tận cùng là 0 và 5
4.2.6 Điều tra HIV – AIDS.
Mục đích điều tra: Thu thập số liệu về tình hình dân số nhiễm HIV và chết
do AIDS nhằm cung cấp thông tin để đánh giá, giám sát các chương trình HIV/AIDSquốc gia; phục vụ các nhà lập chính sách và quản lý, giúp Chính phủ trong việc xâydựng các chương trình phòng chống HIV và AIDS
Nội dung điêu tra: Nhóm chỉ tiêu về nhân khẩu học Nhóm chỉ tiêu về cácđặc trưng cơ bản của đối tượng điều tra: trình độ học vấn, nghề nghiệp, việclàm, Hiểu biết về HIV/AIDS
Chu kỳ điều tra: 2 năm 1 lần, tiến hành vào ngày 01 tháng 04 các năm có tậncùng là số 0, 2, 4, 6, 8
4.2.7 Điều tra dinh dưỡng.
Mục đích điều tra: Cung cấp thông tin phục vụ đánh giá tình hình dinhdưỡng sức khoẻ bà mẹ và trẻ em dưới 5 tuổi
Trang 28Nội dung điều tra: Tình trạng dinh dưỡng Phòng chống suy dinh dưỡngcủa trẻ em.
Chu kỳ điều tra: 01 năm 1 lần, tiến hành vào ngày 01 tháng 6
4.2.8 Khảo sát mức sống hộ gia đình.
Mục đích điều tra: Thu thập thông tin làm căn cứ đánh giá mức sống,đánh giá tình trạng nghèo đói và phân hoá giàu nghèo để phục vụ công tác hoạchđịnh chính sách, kế hoạch và các chương trình mục tiêu quốc gia; cung cấp sốliệu để tính quyền số chỉ số giá tiêu dùng và phục vụ tính toán hệ thống tàikhoản quốc gia
Nội dung điều tra:
- Đối với hộ: Đặc trưng nhân khẩu học; Giáo dục, tình trạng sức khoẻ và
sử dụng các dịch vụ y tế; thu nhập và chi tiêu; việc làm; tài sản, nhà ở, đồ dùng,điện, nước, công trình vệ sinh; Tham gia chương trình xoá đói giảm nghèo, tìnhhình tín dụng
- Đối với xã: Thông tin chung về dân số và dân tộc cư trú trên địa bàn xãđiều tra; Kết cấu hạ tầng: điện, ường, trường, trạm, chợ, nguồn nước; Tình trạngkinh tế; Một số thông tin cơ bản về tình hình kinh tế xã hội
Chu kỳ điều tra: 2 năm 1 lần; chia làm 2 kỳ: tháng 5 và tháng 9, tiến hànhvào các năm tận cùng là số 0, 2, 4, 6, 8
2.5 Sai số trong thống kê dân số y tế
Chính xác là một yêu cầu quan trọng của thống kê dân số Nhưng người ta
đã nhận thấy trong hầu hết các cuộc điều tra này, số liệu thu thập đượ c luôn cónhững sai số nhất định Những sai số thường gặp là:
- Hiện tượng khai báo trùng lặp hay bỏ sót Hiện tượng này thườn g gặpkhi phương án điều tra không được xây dựng và thực hiện nghiêm túc từ cơ sở
Sơ đồ các điểm dân cư được đánh giá là có vai trò đặc biệt quan trọng để khắcphục tình trạng này, nhất là ở đô thị Trong các cuộc điều tra chỉ sử dụng mộtloại nhân khẩu “thường trú” hoặc “hiện có” để thu thập tài liệu ghi chép ban đầuthì cũng hay gặp phải những sai sót này và nó thường xảy ra đối với nhữngngười đang di chuyển tại thời điểm điều tra
- Khai báo không đúng ở một số tiêu thức nào đó Do có sự khác biệtgiữa đối tượng và đơn vị điều tra, trong mỗi hộ gia đình, một người nào đó cóthể đại diện để khai báo chung cho toàn bộ các nhân khẩu trong gia đình Trong
Trang 29hỏi có trong phiếu điều tra/thu tin cho mọi thành viên trong gia đình Ví dụ:Tổng điều tra dân số 1/4/1989, những câu hỏi về nghề nghiệp, tên đơn vị côngtác, công việc chính đòi hỏi phải đăng ký khá cụ thể mà người đại diện, nhất
là các bậc cha mẹ đã già, khó có thể trả lời đượ c chính xác Vì vậy, nhưng phân
tổ dân cư theo nghề nghiệp, chức năng chính, chuyên ngành đã được đào tạo
có thể gặp sai sót
- Độ tuổi là một tiêu thức quan trọng trong nghiên cứu dân số Nhưngtrong hầu hết các cuộc điều tra dân số thế giới nó lại là chỉ tiêu khó có thể đượcthu thập chính xác và thường bị khai báo tập trung vào một số độ tuổi nhất định
Đó là do đặc điểm của tâm lý lứa tuổi; những tác động của chính sách kinh tế
-xã hội; do những hoàn cảnh riêng tư; do có sự không trùng nhau giữa cá ch tínhtuổi trong dân gian và trong dân số học Xu hướng chung thường gặp là các cụgià khai tăng tuổi, phụ nữ trung niên, nhất là những chị em chưa xây dựng giađình thường khai rút tuổi Sự khai báo không đúng ngày thường tập trung vàomột số độ tuổi ưu thích Độ tuổi của trẻ em thường được làm tròn không đúngquy định của dân số học Ví dụ 10 tháng tuổi khai là 1 tuổi, 18 tháng tuổi khai là
2 tuổi Những xu hướng không chính xác này cũng thường gặp ở nông thônnhiều hơn thành thị, ở các nước đang phát t riển có trình độ văn hóa thấp nhiềuhơn ở các nước công nghiệp phát triển
Câu hỏi lượng giá
1 Hãy trình bày khái niệm và phân loại thu thập dữ liệu thống kê dân số
2 Hãy trình bày được cách thức thu thập thông tin trong thống kê thườngxuyên trong dân số
3 Hãy trình bày cách thức thu thập thông tin trong thống kê thường xuyêntrong y tế
4 Hãy nêu khái quát các điều tra thống kê trong y tế- dân số
_
Trang 30Bài 3 THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG VÀ CƠ CẤU DÂN SỐ
Mục tiêu
1 Nêu được khái niệm, ý nghĩa và chỉ tiêu của thống kê số dân
2 Nêu được khái niệm, ý nghĩa và chỉ tiêu của thống kê phân bổ dân số
3 Nêu được khái niệm, ý nghĩa và chỉ tiêu của thống kê cơ cấu dân số
_
1 Thống kê số dân
1.1 Số dân thời điểm
Số dân thời điểm là chỉ tiêu phản ánh số lượng nhân khẩu của một đơn vịlãnh thổ, một vùng tại một thời điểm xác định
Số dân luôn là kết quả đầu tiên thu được trong các cuộc điều tra dân số, làchỉ tiêu cơ bản nhất trong hệ thống các chỉ tiêu thống kê dân số Chỉ tiêu này chobiết quy mô dân số của một đơn vị lãnh thổ tại thời điểm nghiên cứu
Thống kê s ố dân của một địa phương phụ thuộc vào diện tích, phân bốdân cư và phụ thuộc vào phương pháp xác định nhân khẩu Trong thống kê dân
số người ta phân biệt ba loại nhân khẩu sau:
Nhân khẩu có mặt: Là tất cả những người có mặt tại một đơn vị hành
chính nhất định vào đúng thời điểm điều tra, không kể thời gian họ có mặt tạiđơn vi điều tra là bao lâu
Nhân khẩu pháp lý: là tất cả những người đã được đăng ký hộ khẩu
thường trú, hoặc tuân theo một quy định đăng ký hiện hành nào đó
Nhân khẩu thường trú: là tất cả những người thường xuyên sinh sống tại
một đơn vị hành chính nhất định không kể tại thời điểm điều tra họ có mặt tại địaphương đó hay không và không phụ thuộc vào việc người đó đã đăng ký hộ khẩuthường trú hay chưa
Để xác định nhân khẩu thường trú, người ta thường lấy thời gian làm tiêuchuẩn Ở các nước, khoảng thời gian cần thiết làm mốc tính nhân khẩu thườngtrú là 6 tháng
Những nhân khẩu thường trú nhưng khô ng có mặt tại địa phương vào thời
Trang 31điểm điều tra, gọi là nhân khẩu tạm vắng Những người tại thời điểm điều tra cómặt tại địa phương nhưng không phải là nhân khẩu thường trú của địa phươngđược gọi là tạm trú.Giữa các chỉ tiêu số lượng dân số trên có mối q uan hệ vớinhau thông qua phương trình
Nếu có số liệu dân số tại hai thời điểm của một thời kỳ, với giả thiết dân
số biến đổi đều trong thời kỳ quan sát, khi đó dân số bình quân trong thời kỳ đóđược tính theo công thức:
P
P
n n
[3.2]
Trang 32Trong đó:
n - số thời điểm;
P1; P2; Pn: - dân số có đến từng thời điểm trong kỳ
Nếu ta chỉ có số liệu dân số ở đầu và cuối một thời kỳ tương đối dài thìviệc áp dụng công thức [3.1] để tính toán số trung bình sẽ không chính xác dogiả thiết dân số biến đổi đều là không hợp lý, Trong trường hợp này người ta gi ảthuyết dân số biến động theo cấp số nhân, áp dụng công thức sau để xác đinh dân
số trung bình
2 1
2 1 ln
lnP P
P P P
2 Thống kê phân bố dân số
Phân bố dân số là sự phân chia tổng số dân của một nước theo các tiêuthức vùng lãnh thổ, theo thành thị và nông thôn, theo đơn vị hành chính và theovùng kinh tế
Thống kê phân bố dân số phản ánh tỷ trọng số dân của từng vùng lãnhthổ, mức độ tập trung (hay phân tán) của dân số Chỉ tiêu này cũng phản ánh đặcđiểm, tập quán sinh sống của một vùng, một lãnh thổ
Để nghiên cứu sự phân bố dân số, người ta tính các chỉ tiêu:
- Tỷ trọng dân số của từng vùng, từng đơn vị hành chính trong tổng số dântheo công thức sau:
Trang 333 Thống kê cơ cấu dân số
Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân của một đơn vị lãnh thổ theocác tiêu thức giới tính, theo tuổi, theo nghề nghiệp hoặc theo một tiêu thức khác
Thống kê cơ cấu dân số phản ánh đặc điểm dân số của một đơn vị lãnhthổ, một địa phương như dân số già hay trẻ, dân số nhiều nam hay ít nam, dân số
có học vấn cao hay thấp Trên cơ sở các đặc điểm cơ cấu dân số, các chính sáchphát triển kinh tế- xã hội của địa phương đó cùng phải điều chỉnh p hù hợp như
cơ cấu ngành nghề, cơ cấu kinh tế (công nghiệp/nông nghiệp/dịch vụ)
Hiện nay có nhiều loại cơ cấu dân số như cơ cấu dân số theo tuổi, cơ cấudân số theo giới, cơ cấu dân số theo nghề, cơ cấu dân số theo trình độ học vấn Tuy nhiên trong thống kê dân số người ta quan tâm nhiều nhất là thống kê cơ cấudân số theo tuổi, theo giới tính và kết hợp 2 thuộc tính này
3.1 Cơ cấu dân số theo giới tính
Cơ cấu dân số theo giới tính là sự phân chia tổng dân số của một đơn vịlãnh thổ theo giới tính nam và nữ
Thống kê cơ cấu giới tính của dân số là công việc rất cần thiết trong cáccuộc điều tra dân số và nghiên cứu kinh tế -xã hội và dân số học Chỉ tiêu nàyphản ánh khả năng tái sản xuất dân số của một dân số
Để nghiên cứu cơ cấu giới tính của dân số, người ta dùng các chỉ tiêu sau:
- Tỷ trọng nam/nữ trong dân số: Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng số dân
thì dân số nam/nữ chiếm bao nhiêu phần trăm
Tổng dân sốChỉ tiêu này có thể được tính cho tổng số dân mộ t nước, một vùng, từngkhu vực, có thể được tính cho từng độ tuổi, nhóm tuổi để phục vụ việc nghiêncứu kinh tế xã hội và dân số học
- Tỷ số giới tính (SR): cho biết của 100 phụ nữ thì trong vùng có tương
ứng bao nhiêu nam
Trang 34Tỷ số giới tính (SR) = Dân số nam [3.7]
Dân số nữChỉ tiêu này cũng có thể được tính cho tổng số dân một nước, một vùng,từng khu vực, có thể được tính cho từng độ tuổi, nhóm tuổi để nghiên cứu tái sảnxuất dân số và kinh tế-xã hội Do đặc điểm tự nhiên và xã hội như xác suất sin hcon trai nhiều hơn nữ và phụ nữ sống thọ hơn nam giới nên chỉ tiêu này luônbiến động giám khi độ tuổi nghiên cứu tăng
Ở nước ta hiên nay chỉ tiêu được đặc biệt chú ý tới tỷ số giới tính khi sinh.Trong điều kiện tự nhiên, không phụ thuộc và không gian chỉ số này nằm trongkhoảng 103-107 Theo các chuyên gia quốc tế, nếu chỉ tiêu này vượt mức 110 thỉkhẳng định quốc gia đó đã mất cân bằng giới tính khi sinh Nếu tình trạng mấtcân bằng giới tính khi sinh diễn ra trong thời gian dài thì sẽ gây bất ổn xã hội domột bộ phận đàn ông sẽ không thể lấy được vợ như buô n bán phụ nữ, mại dâm
Công thức [3.8] chỉ áp dụng khi tổng số trường hợp sinh thu thập phải lớnhơn 10.000 bé (đủ lớn) và trong thời gia ít nhất là 12 tháng (đủ dài):
Tỷ số giới tính khi sinh
Số bé trai
[3.8]
Số bé gái
3.2 Cơ cấu dân số theo tuổi
Cơ cấu tuổi của dân số là sự phân chia tổng số dân theo độ tuổi hoặcnhóm tuổi tùy theo mục đích nghiên cứu
Các số liệu dân số chia độ tuổi và nhóm tuổi rất cần thiết cho việc lập kếhoạch giáo dục, việc làm, sử dụng nguồn lao động Đồng thời là cơ sở xây dựngbảng sống, tính tuổi thọ bình quân và dự đoán dân số
Để nghiên cứu cơ cấu tuổi của dân số, người ta dùng các chỉ tiêu sau:
- Tỷ trọng dân số trong từng độ tuổi, nhóm tuổi: Chỉ tiêu này phản ánh
trong tổng số dân thì từng độ tuổi (nhóm tuổi dân số) chiếm bao nhiêu phần trăm
Tỷ trọng nhóm tuổi = Dân số theo nhóm tuổi [3.9]
Tổng dân số
- Tỷ số phụ thuộc (chung, trẻ, già): chỉ tiêu này biểu thị gánh nặng của dân
số trong tuổi lao động Chỉ tiêu này phản ánh tác động của mức độ sinh và mức
độ chết đến cơ cấu tuổi và lực lượng lao động
Trang 35- Tỷ số già hóa: chỉ tiêu này biểu thị xu hướng già hóa dân số
Tỷ số
Dân số từ 65 tuổi trở lên
[3.13]Dân số dưới 15 tuổi
- Tháp dân số: Trong thực tế khi phân tích cơ cấu dân số chỉ tiêu dân số
chia theo giới tính thường được kết hợp với chỉ tiêu dân số chia nhóm tuổi Người
ta dùng tháp tuổi dân số để biểu thị cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi
Tháp tuổi dân số là một biểu đồ gồm hàng loại hình chữ nhật nằm ngang.mỗi hình chữ nhật tương đương với số lượng (hoặc tỷ trọng) của mỗi độ tuổihoặc nhóm tuổi nhất định
Độ tuổi hoặc nhóm tuổi càng cao thì số lượng (tỷ trọng) của nó càng thấp
Vì thế mà hình chữ nhật chồng lên nhau có chiều dài ngắn dần tạo nên một hìnhtháp Trong đó trục tung biểu thị độ tuổi hoặc nhóm tuổi, trục hoành biểu thị dân
số hoặc tỷ trọng của mỗi độ tuổi hoặc nhóm tuổi Bên t rái biểu thị số dân nam.bên phải biểu thị số dân nữ
Qua tháp tuổi dân số, chúng ta có thê nhận xét được tình hình tái sản xuấtdân số trong tương lai và qua đó rút ra được kết luận nhất định
Trang 36Tháp dân số Việt Nam 1/4/2009
-5.000.000 -2.500.000 0 2.500.000 5.000.000
0-4 10-14 20-24 30-34 40-44 50-54 60-64 70-74 80-84
Nam Nữ
Câu hỏi lượng giá
1 Hãy nêu khái niệm, ý nghĩa và chỉ tiêu của thống kê số dân ?
2 Hãy nêu khái niệm, ý nghĩa và chỉ tiêu của thống kê phân bổ dân số ?
3 Hãy nêu khái niệm, ý nghĩa và chỉ tiêu của thống kê cơ cấu dân số ?
_
Trang 37Bài 4 THỐNG KÊ BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ
Mục tiêu:
1 Nêu được khái niệm, ý nghĩa và chỉ tiêu của thống kê mức sinh
2 Nêu được khái niệm, ý nghĩa và chỉ tiêu của thống kê mức chết
3 Nêu được khái niệm, ý nghĩa và chỉ tiêu của thống kê hôn nhân
4 Nêu được khái niệm, ý nghĩa và chỉ tiêu của thống kê xuất cư, nhập cư
_
1 Thống kê mức sinh
Mức sinh là một chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tăng trưởng dân số, đồng thời
là công cụ quan trọng cho việc xây dựng và triển khai thực hiện chính sách dân
số và kế hoạch hóa gia đình Các chỉ tiêu liên quan đến mức sinh luôn thu hút sựquan tâm của các nhà lập chính sách, các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu.Trong phạm vi tài liệu này sẽ giới thiệu một số chỉ tiêu cơ bản về thống kê mứcsinh đang được sử dụng rộng rãi
1.1 Thống kê số trẻ em sinh ra
Tổng số trẻ em được sinh ra (B) là số cộng dồn số trẻ em sinh sống trong
kỳ (năm) Số lượng trẻ em sinh ra trong kỳ là cơ sở để tính số dân tăng thêm và
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
Trẻ đẻ ra sống (hoặc sơ sinh sống): là trẻ sơ sinh được 22 tuần tuổi thai
trở lên, thoát khỏi bụng mẹ có các dấu hiệu của sự sống (khóc, thở, tim đập, cóphản xạ bú, mút) (quyết định 3440/QĐ-BYT)
1.2 Thống kê số lần sinh và độ tuổi của bà mẹ
Việc thống kê số trẻ em sinh sống theo tuổi và số lần sinh của người mẹdựa vào các tài liệu khai sinh nhằm nghiên cứu mức sinh của p hụ nữ ở các độtuổi khác nhau và phục vụ cho công tác quản lý, dự báo dân số
1.3 Tỷ suất sinh thô (Crude birth rate - CBR)
Số đo cơ bản thông dụng của mức sinh, phản ánh số trẻ em sinh ra bìnhquân trên 1000 dân trong năm xác định Công thức tính:
CBR (‰) = Tổng số trẻ em được sinh ra trong năm (B)
Dân số bình quân một năm (P)
Trang 381.4 Tỷ suất sinh chung (General fertility rate - GFR)
Được xác định bằng tương quan giữa số trẻ em sinh ra và số phụ nữ trong
độ tuổi sinh đẻ có khả năng sinh đẻ Chỉ tiêu tổng hợp về mức độ sinh, phản ánhbình quân 1000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của tổng thể có khả năng sinh baonhiêu trẻ em trong một năm Công thức tính:
1000 49
15
x W
B GFR
1.6 Tổng tỷ suất sinh (Total fertility rate - TFR).
Chỉ tiêu tổng hợp về mức độ sinh, phản ánh bình quân phụ nữ trong mộtđời người sinh bao nhiêu con nếu như trong cuộc đời sinh đẻ của mình họ cómức độ sinh theo độ tuổi của thời kỳ nghiên cứu Công thức tính:
TFR =
49
15
x x
x W
B
x 1000 = 5 x
7
1
i i
i W
Trang 39W - số phụ nữ x tuổi có đến giữa năm tính toán (hay số phụ nữ trung bình
x tuổi);
i - khoảng 5 độ tuổi liên tiếp ( i = 1, 2, , 7)
Đây là thước đo mức sinh không phụ thuộc vào cấu trúc tuổi
Lưu ý không tính cho mẫu nhỏ : như cấp xã/phường
2 Thống kê mức chết
Mức chết luôn là chủ đề nghiên cứu quan trọng trong dân số học và nhiềungành khoa học khác có liên quan như dịch tễ học, y tế cộng đồng hay thốngkê Mục đích nghiên cứu là thu được những kiến thức khoa học cần thiết để cảithiện cuộc sống thông qua các chương trình và chính sách thích hợp Trongnghiên cứu thống kê dân số, tử vong đóng vai trò qu an trọng, do đó mức chết vàmức sinh là nhân tố quan trọng xác định tỷ lệ tăng dân số tự nhiên Trong phạm
vi tài liệu này sẽ giới thiệu một số chỉ tiêu cơ bản về thống kê mức chết đangđược sử dụng rộng rãi
Thống kê số người chết theo giới tính và độ tuổ i được tiến hành trên cơ sởkhai tử Một trong những khó khăn của công việc này là xác định tuổi chính xáccủa người chết Do những người có trách nhiệm khai không chính xác ngàytháng năm sinh của người chết
Người chết do rất nhiều nguyên nhân khác nhau: chết vì bệnh tật, vì già,
vì tai nạn giao thông, vì chủa đẻ Vì vậy những tài liệu thống kế phản ánh sốngười chết theo nguyên nhân và nhóm tuổi rất cần thiết đối với công tác phòng
và chữa bệnh
2.1 Tỷ suất chết thô (Crude death rate -CDR).
Số người chết tính bình quân trên 1000 dân trong năm xác định Côngthức tính:
CDR
Tổng số người chết trong năm xác định (D)
1000 [4.5]Dân số bình quân trong cùng một năm (P)
2.2 Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi (Age specific deat rate - ASDR).
Chỉ tiêu này phản ánh bình quân 1000 người dân ở độ tuổi nhất định nào
đó sẽ có bao nhiêu người chết Tỷ suất chết đặc trung theo tuổi là một trongnhững chỉ tiêu dùng để lập bảng sống, tính tuổi thọ bình quân và dự đoán dân số.Công thức tính:
Trang 40Dx - số người chết trong độ tuổi x
Px – dân số bình quân ở độ tuổi x;
ASDRxkhông chịu ảnh hưởng bởi cấu trúc dân cư, phản ánh đúng mức chết
ở từng độ tuổi Để tính toán được các ASDRx, cần có hệ thống số liệu chi tiết về
số người chết và số sống trung bình ở từng độ tuổi Trong nhiều trường hợp, dokhông có đủ số liệu cần thiết, nó có thể được tính cho các nhóm tuổi
2.3 Tỷ suất chết trẻ em (Infant mortality rate - IMR)
Có nhiều chỉ tiêu phản ánh mức chết của trẻ em, trong đó tỷ suất chết củatrẻ em dưới 1 tuổi là chỉ tiêu quan trọng nhất và được sử dụng nhiều nhất Nóphản ánh tỷ lệ trẻ em chết dưới 1 tuổi trong năm tính bình quân trên 1000 trẻ emsinh ra sống trong năm đó Công thức tính:
IMR
Số trẻ em dưới 1 tuổi chết trong năm xác định
1000 [4.7]Tổng số trẻ em sinh ra sống trong cùng 1 năm
Ngoài ra, để nghiên cứu mức chết của trẻ em, người ta còn dùng nhiều chỉtiêu khác như tỷ suất chết của trẻ em 1-4 tuổi, tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi
2.4 Tỷ suất chết bà mẹ
Chết mẹ: Là số chết của phụ nữ từ khi mang thai đến 42 ngày sau khi kết
thúc thai nghén do bất kỳ một nguyên nhân gì và chết ở bất kỳ nơi nào , trừ tai nạn,ngộ độc và tự tử
Đây là số liệu quan trọng để đánh giá tác động của công tác chăm sóc SKSS
và tình hình kinh tế xã hội của một vùng và một quốc gia Số liệu tử vong mẹ, hiệnnay thu thập chưa được kịp thời và chưa đầy đủ các trường hợp tử vong Một số ýkiến cho rằng số liệu tử vong mẹ cần thu thập bằng phương pháp điều tra chọn mẫu.Việc tiến hành điều tra chọn mẫu để thu thập về tử vong mẹ thì cỡ mẫu điều tra phảirất lớn như vậy sẽ rất tốn kém, vì vậy không đảm bảo cung cấp số liệu được thườngxuyên và kịp thời Một phương pháp thu thập tốt nhất mà c ác chuyên gia đánh giá
về nguyên nhân tử vong đã khuyến cáo là củng cổ và tăng cường hệ thống ghi chép,báo cáo định kỳ, đặc biệt từ tuyến xã/phường (Sổ tử vong A6/YTCS)
Để đảm bảo thu thập và cung cấp kịp thời, đầy đủ chính xác số liệu chết mẹcủa xã/ph ường, cán bộ trạm y tế xã/phường cần kết hợp với cán bộ y tế thôn bản để