1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập nhóm Môn: QUAN HỆ CÔNG CHÚNG

18 487 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 131,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập nhóm Môn, QUAN HỆ CÔNG CHÚNG

Trang 1

Môn: QUAN HỆ CÔNG CHÚNG

Giảng viên: ThS.Nguyễn Anh

bai bao cao lan 1

1 TRẦN ĐỨC THÀNH _ K134011740

2 NGUYỄN LIỄU THẢO NGUYÊN _ K134010041

3 VÕ THỊ PHƯỢNG HẰNG _ K134010011

4 PHẠM MỸ LINH _ K134010028

5 PHAN PHƯỚC THỊNH _ K134010072

6 NGUYỄN ANH TOÀN _ K134010057

7 HỒ HỒNG PHÚC _ K134010049

8. NGUYỄN QUANG HIẾU _ K134010016

Trang 3

CÂU 01: TỔNG HỢP, PHÂN TÍCH CÁC KHÁI NIỆM – ĐỊNH

NGHĨA PR

PR là từ viết tắt của Public Relation, nghĩa là quan hệ công chúng hay quan hệ cộng đồng, quan hệ ngoại giao hay giao tế nhân sự Tuy nhiên cách gọi được nhiều người thừa nhận nhất là quan hệ công chúng

tâm nhất trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập và phát triển toàn cầu vì vậy cụm từ “Quan hệ công chúng” không còn là một thuật ngữ xa lạ Ngày nay, công việc PR được nhiều doanh nghiệp biết đến, triển khai và thực hiện các chương trình để quảng bá thương hiệu cho doanh nghiệp mình Thậm chí còn có các công ty dịch vụ chuyên đứng ra kinh doanh các hoạt động PR cho các doanh nghiệp khác Tuy nhiên, dù không phải

là quá xa lạ nhưng vẫn còn rất nhiều người lầm tưởng hai khái niệm PR

và quảng cáo là đồng nhất hoặc chưa hiểu rõ về hoạt động này Đến thời điểm này có rất nhiều định nghĩa về PR, kể cả những người làm PR cũng đưa ra những cách hiểu khác nhau nhưng điều này rất dễ hiểu bởi vì PR

là một lĩnh vực hoạt động rất phong phú, do đó những người làm PR có thể tiếp cận chúng từ nhiều góc độ khác nhau Các định nghĩa sau đây sẽ

lý giải chi tiết về khái niệm “quan hệ công chúng”

Công chúng: theo nghĩa rộng thì công chúng là tất cả mọi người trong xã hội Tuy nhiên đối với một tổ chức cụ thể thì công chúng của nó lại không phải như vậy và công chúng của PR cũng không hướng đến một

“công chúng nói chung chung” Khái niệm công chúng của PR là: Công chúng của một cá nhân hay tổ chức là tất cả các cá nhân, các nhóm người hay các tổ chức có những mối liên hệ nhất định với cá nhân hay tổ chức đó

Khái niệm về PR: có rất nhiều quan niệm, cách định nghĩa khác nhau về PR Người ta ước tính có khoảng 500 định nghĩa khác nhau về

Trang 4

PR Có 3 định nghĩa được chấp nhận trên phạm vi quốc tế và quen thuộc với các chuyên gia PR là:

+ Theo Viện Quan hệ công chúng Anh (England Institute of Public

Relations - IPR) thì: “PR là một hoạt động liên tục được lên kế hoạch

nhằm nỗ lực thiết lập và duy trì uy tín, tình cảm, sự hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức và công chúng”.

Định nghĩa này nhấn mạnh đến việc PR là hoạt động được tổ chức thành chiến dịch hay một chương trình, kéo dài liên tục và phải có kế hoạch

thức giao

tiếp được lên kế hoạch, cả bên trong và bên ngoài tổ chức, giữa một tổ chức và

công chúng của nó nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể liên quan đến

sự hiểu biết lẫn nhau”

(Jefkin F., Phá vỡbí ẩn PR.)

Định nghĩa này nhấn mạnh đến hoạt động có mục tiêu cụ thể và dựa vào đó để xây dựng các hoạt động và đánh giá hiệu quả hoạt động của PR

Thật vậy, PR là hoạt động liên quan đến mọi tổ chức, dù đó

là tổ chức

thương mại hay phi thương mại Nó tồn tại một cách khách quan, dù ta muốn hay

không muốn tất yếu hoạt đông PR tự nó buộc các tổ chức phải biết đến

và sử dụng

nó Bởi PR bao gồm tất cả hoạt động thông tin với tất cả những người mà

tổ chức

có liên hệ Hoạt động PR không chỉ chú trọng tuyên truyền, quảng bá bên trong, bên

Trang 5

ngoài tổ chức mà còn tham gia và quảng bá mục tiêu của tổ chức Frank Jefkins

khẳng định mục đích của PR không chỉ là tạo sự hiểu biết lẫn nhau một cách chung

chung mà còn nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể, như giải quyết các vấn đề

truyền thông, cung cấp kiến thức cho công chúng, nhằm mục đích thay đổi nhận

thức của họ, làm thay đổi thái độ từ tiêu cực sang tích cực Khi đề cập đến khía cạnh

mục tiêu, Frank Jefkinsnhấn mạnh khả năng có thể áp dụng việc quản lý trong hoạt

động PR Khi một tổ chức đã đặt ra những mục tiêu cụ thể thì có thể quan sát và

đánh giá được mức độ thành công hay thất bại của một chiến dịch PR của họ

Trong một buổi họp giữa các viện thông tấn PR đến từ nhiều nước World

Assembly of Public Relations Associates diễn ra tại Mexico tháng 8 năm

1978, các đại biểu đã tán thành định nghĩa sau: “PR là một ngành khoa

học xã hội nhân văn, phân tích những xu hướng, dự đoán những kết quả,

tư vấn cho các nhà lãnh đạo của tổ chức và công chúng”

Định nghĩa này đã đề cập đến khía cạnh khoa học xã hội và công tác xã hội của một tổ chức một cách đầy đủ nhất Đó là trách nhiệm của

tổ chức đối với quyền lợi của công chúng Một tổ chức sẽ được đánh giá qua sự quan tâm và trách nhiệm của nó đối với quyền lợi của công chúng PR liên quan đến sự tín nhiệm và danh tiếng của tổ chức

Trang 6

Bách khoa toàn thư mở của Việt Nam định nghĩa: “Quan hệ công

chúng, hay giao tiếp cộng đồng là việc một cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp chủ động quản lý các quan hệ giao tiếp cộng đồng để tạo dựng

và giữ gìn một hình ảnh tích cực của mình Các hoạt động quan hệ công chúng bao gồm các việc quảng bá thành công, giảm nhẹ ảnh hưởng của các thất bại, công bố các thay đổi, và nhiều hoạt động khác.”

Có thể thấy định nghĩa này bao hàm quy trình cơ bản của PR: phân tích, xác định mục tiêu, xác định khung thời gian, xây dựng chiến lược, đánh giá

Định nghĩa này đã khẳng định rằng PR là một môn khoa học bởi nó cần có một quá trình nghiên cứu tình hình, phân tích, chiến lược và đánh giá một cách khoa học Ngoài ra, định nghĩa còn cho thấy mục đích của

PR là nhằm xây dựng, kiểm soát và duy trì hình ảnh, ấn tượng tích cực về

tổ chức

Có ý kiến cho rằng mục đích của PR được đề cập ở đây chưa được đầy đủ bởi trong định nghĩa này mục đích của hoạt động PR chỉ dừng lại

ở “hiểu biết lẫn nhau” mà chưa tiến đến việc “chấp nhận nhau” giữa tổ chức và công chúng Tuy nhiên, định nghĩa có nêu hai động từ “tạo dựng” và “giữ gìn”, cắt nghĩa của từng từ thì “tạo dựng” chính là tổ chức phải làm sao để công chúng biết đến, còn “giữ gìn” không chỉ dừng lại ở chấp nhận nhau mà còn có ý duy trì mối quan hệ lâu dài với nhau

Qua đây, ta có thể hiểu rằng PR là một hệ thống các nguyên tắc và hoạt động có

liên hệ hữu cơ, nhất quán nhằm xây dựng một hình ảnh, một quan điểm, một ấn tượng

lâu dài, lòng tin, thói quen sử dụng của một nhóm đối tượng nhất định về một sản phẩm,

Trang 7

một thương hiệu, một công ty, một chính sách, một nước, một cá nhân, một vấn đề Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu chi tiết hơn về

PR như sau:

thông điệp của hoạt động PR ít mang tính thương mại rõ ràng, mà

có tính thông tin nhiều hơn mang lại lợi ích cho cả tổ chức và công chúng

hoạt động PR không thể mang tính đại khái, để cho khách hàng muốn hiểu theo cách nào cũng được mà luôn hướng tới một mục tiêu cụ thể đã được đề ra trước đó

chỉ truyền thông điệp đến cho khách hàng thôi thì chưa đủ mà còn phải lắng nghe những phản hồi từ khách hàng

phụ thuộc vào những hoạt động thực tế của tổ chức và phản ánh mức độ hiệu quả của hoạt động thông qua phản hồi từ phía công chúng

tiện truyền thông, trong khi hiệu quả thông tin lại không thấp hơn do tính chất tập trung của đối tượng và nhờ tác dụng rộng rãi của truyền miệng

Cho đến nay có nhiều định nghĩa về PR nhưng nội dung chính vẫn là cung cấp kiến thức cho công chúng, trong đó bao hàm cả mục đích thay đổi nhận thức của họ

Như vậy, PR là 1 hình thức giao tiếp Nó được áp dụng trong tất cả các tổ chức, cả thương mại và phi thương mại, trong khu cực tư nhân và nhà nước PR xuất hiện sớm hơn cả tiếp thị và quảng cáo, và phạm vi hoạt động của nó cũng lớn hơn

Trang 8

CÂU 02: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG PR THỰC TIỄN (CHỨC NĂNG-NHIỆM VỤ CỦA PR) TRONG MỘT NGÀNH/ LĨNH VỰC CỤ THỂ- CỦA MỘT HOẶC VÀI DOANH NGHIỆP CỤ THỂ.

2.1 Thông cáo báo chí.

Hàng tháng, Vinamilk cho ra đời những bài viết để nói về doanh nghiệp, những sự kiện mà doanh nghiệp tổ chức hoặc có liên quan, có những bài viết để giới thiệu về các “đầu tàu” dẫn dắt tạo nên thương hiệu nổi tiếng như hiện nay và cung cấp thông tin trong các sản phẩm đã sản xuất

2.2 Sự kiện.

Vinamilk rất tích cực tổ chức các sự kiện dành cho mọi người, đặc biệt là trẻ nhỏ Những thông tin về các sự kiện được đưa tin rất thường xuyên trên cách phương tiện thông tin đại chúng nhằm thu hút sự tham gia của đông đảo bậc phụ huynh và học sinh Có những sự kiện được tổ chức để công bố những chương trình, chính sách, những sự thay đổi,… của doanh nghiệp trong thời gian sắp tới Thông tin đến mọi người một cách cụ thể hơn

Tạo ra môi trường thân thiện giữa người tiêu dùng, khách hàng tiềm năng,… với doanh nghiệp Cơ hội tốt để giới thiệu những sản phẩm mới đến tận tay người tiêu dùng, dễ dàng tìm được các đối tác, nhà đầu tư…

2.3 Chiêu thị

Nhờ các ấn phẩm sáng tạo, hấp dẫn, vui nhộn và thiết thực, sản phẩm của Vinamilk được phổ biến rộng rãi trên toàn quốc và các nước nhập khẩu sản phẩm Người tiêu dùng ấn tượng và tin tưởng vào chất lượng sản phẩm nhờ việc nắm bắt được nhu cầu thực tế để tạo ra hiệu quả tức thì Các chính sách khuyến mãi được Vinamilk tận dụng để tăng doanh thu Và giúp duy trì doanh số cho những dòng sản phẩn đang bán chạy, thậm chi có thể làm mới lại một dòng sản phẩm có mặt trên thị trường Các hình thức: quảng cáo trên website, blog; thẻ khách hàng thân thiết; quà tặng; chương trình giới thiệu sản phẩm mới,…

Trang 9

2.4 Quảng bá (quảng danh).

khâu quảng bá sản phẩm và Vinamilk cũng không ngoại lệ Thông tin về những dòng sản phẩm của Vinamilk hiện hữu xung quanh chúng ta rất nhiều, qua các TVC, báo mạng, báo giấy,… Một trong những chức năng là giúp cho người dùng có thể nhận diện được sản phẩm đó của công ty nào

và quyết định có hay không về việc tiêu dùng nếu đó là nhãn hàng của Vinamilk

2.5 Hoạt động cộng đồng:

Dính” 140-200 triệu đồng/năm

thiện của công ty trong năm 2008, trong đó có thể kể đến chương trình 6 triệu ly sữa miễn phí cho trẻ em nghèo Việt Nam

khai chương trình quỹ sữa “Vươn cao Việt Nam”

- Ngày 30/9/2012, Vinamilk đã phối hợp vơi tổng cục môi trường trồng 17.000 cây xanh tại Đồng Tháp Mười trong chương trình “Quỹ 1 triệu cây xanh Việt Nam” Cam kết đóng góp vào quỹ 1 triệu cây xanh ít nhất 3 tỉ đồng

Thông qua đó:

nghiệp Vinamilk quan tâm đến cộng đồng và các vấn đề xã hội (Bảo vệ môi trường, giáo dục, )

Trang 10

2.6 Tài trợ:

“cúp Vinamilk” để giúp các em nhỏ có sân chơi vui vẻ

chính mình”,…

Tài trợ cho các chương trình sẽ giúp xây dựng hình ảnh doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội đến công chúng

2.7 Quản lý khủng hoảng:

không có tạp chất, không có các chất gây hại, nguồn nguyên liệu trong nước được đảm báo Trong khi nhiều nhà sản xuất sữa khác phải vất vả chống chọi với sự tẩy chay các loại sữa chứa melamin của người tiêu dùng, Vinamilk vẫn đứng vững là khẳng định chất lượng vượt trội trong các sản phẩm của mình Họ đưa ra đầy đủ các kiểm nghiệm chứng minh sản phẩm không chứa melamin và an toàn cho người sử dụng

Qua đó:

sản phẩm tốt của công ty

đạt chất lượng và giá cả tốt nhất

- Tạo niềm tin cho người tiêu dùng với sản phẩm trong nước nói chung và của doanh nghiệp nói riêng

CÂU 03: CÔNG VIỆC PR “IN-HOUSE” (CHO VÍ DỤ MINH HỌA)? CÁC CHỨC DANH TRONG TỔ CHỨC/ DOANH NGHIỆP, MÔ TẢ TRÁCH NHIỆM VÀ CÔNG VIỆC?

3.1.1 Khái niệm:

PR “In-house” là khái niệm dùng cho hoạt động quan hệ công chúng được sử dụng trong doanh nghiệp Khác với PR Agency là thuê từ bên ngoài, PR “In-house” là một bộ phận tự làm các hoạt động truyền thông

Trang 11

cho doanh nghiệp hoặc tổ chức của minh Thông thường các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường xuyên áp dụng mô hình này

Vai trò chính của PR “In-house” trong hoạt động kinh doanh là góp phần xây dựng và quảng bá thương hiệu, phối hợp tốt với các phòng ban để tăng cường marketing nội bộ cũng như hỗ trợ hoạt động tiếp thị của doanh nghiệp Bên cạnh đó có thể bảo vệ doanh nghiệp, tổ chức trước những đợt khủng hoảng

3.1.2 Ví dụ minh họa:

Công ty Cổ phần sữa Vinamilk – một trong những doanh nghiệp lớn nhất nhì tại Việt Nam và đang dần khẳng định được danh tiếng của minh ra thế giới Được mệnh danh là đại gia không tiếc tiền trong việc quảng bá thương hiệu, số tiền khổng lồ mà Vinamilk bỏ ra đã mang về các giá trị không thể cân đo đong đếm được, và tất nhiên không thể thiếu được chính là những chiến lược quảng bá hoàn chỉnh trong mọi lĩnh vực:

xác định nhân viên là một tài sản quý giá”

trọng, công bằng và môi trường làm việc, trong đó:

trọng ở đây là coi trọng sự khác biệt của nhau, các quan điểm xuất phát

từ chinh những sự khác biệt đó

viên, trong đánh giá năng lực cá nhân, việc tuyển dụng, sắp xếp công việc cũng như xác định mức lương, lợi ích của nhân viên

an ninh, an toàn, lành mạnh và thân thiện Một môi trường luôn thu hút

và giữ chân những con người tài năng dù họ có xuất phát điểm khác nhau

Trang 12

→ Chính những cam kết mạnh mẽ đó ngay từ đầu đã tạo cho nhân viên của Vinamilk niềm tin về quyền lợi của họ sẽ được đảm bảo một cách tốt nhất

“tôn trọng lợi ích lẫn nhau” là phương châm quan trọng và thiết yếu

trung thực, khách quan và hài hòa lợi ích

chất lượng là đặc biệt quan trọng Vì thế, công ty đã xây dựng các quan

hệ bền vững với các nhà cung cấp thông qua chính sách đánh giá Bên cạnh đó cũng ký kết hợp đồng hàng năm với các nhà cung cấp sữa

như chính lợi ích của mình

0,14 đến 0,20 tỷ đồng/năm

đồng

thiện Trong đó chương trình 6 triệu ly sữa miễn phí cho trẻ em nghèo Việt Nam đã giúp quảng bá thương hiệu rộng rãi đến các vùng ít tiếp cận được thông tin đại chúng

Cao Việt Nam” để huy động thêm nhiều nguồn lực trong xã hội cùng đóng góp

bằng việc trích 50 đồng trên mỗi sản phẩm nước giải khát Vfresh bán ra, với số tiền cam kết tối thiểu là 3 tỉ đồng

Trang 13

- Ngoài ra còn nhiều các hoạt động từ thiện cũng như các đóng góp cho xã hội khác

Vinamik đã thực hiện chương trình người Việt uống sữa Việt mang tên:

“Niềm tin sữa bột Việt” để lấy niềm tin của người tiêu dùng vào chất lượng sữa Vinamilk không thua kém chất lượng sữa ngoại

bột thì rất cao Công ty đã thực hiện ngay chương trình quảng bá với thông điệp "sữa tươi nguyên chất 100%" để thu hút và lấy lại lòng tin của khách hàng về sản phẩm của mình Với hy vọng thông điệp trăm phần trăm được lặp đi lặp lại sẽ khắc sâu vào tâm trí khách hàng dù cho họ có

cố tình hay vô tình nghe từ các mẫu quảng cáo, Vinamilk mong rằng khách hàng của các nhãn hiệu khác sẽ quay sang ủng hộ minh

tờ báo như báo gia đình và tiếp thị, báo phụ nữ, báo sức khoẻ và gia đinh,

…để thường xuyên đăng tải nhiều bài viết tạo dư luận tốt trước khi tung

ra sản phẩm mới

thi, chương trinh truyền hình có danh tiếng cũng góp phần mang thương hiệu đi rộng rãi hơn

Melamine”, Vinamilk vẫn vững vàng và khẳng định vị thế cũng như chất lượng Vinamilk đã chủ động gửi tất cả các mẫu nguyên liệu đầu vào và thành phẩm của mình đi kiểm nghiệm và kết quả cho thấy không có mẫu nào nhiễm melamine

nguyên liệu trong sản phẩm sữa tươi, người tiêu dùng đã phản ứng rất

Ngày đăng: 28/09/2019, 07:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w