Trong Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên 2015, công trình này cũng chỉ mới đưa ra khái niệm về thể thư và khái quát một cách rất ngắn g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
ĐẶNG THỊ KIỀU OANH
ĐẶC ĐIỂM THƯ CỦA PHẠM PHÚ THỨ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 2======
ĐẶNG THỊ KIỀU OANH
ĐẶC ĐIỂM THƯ CỦA PHẠM PHÚ THỨ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
ThS LÊ THỊ HẢI YẾN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người Người đầu tiên tôi muốn gửi lời cảm ơn đó là ThS Lê Thị
Hải Yến - Giảng viên Tổ Văn học Việt Nam, người đã trực tiếp hướng dẫn,
chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới quý các thầy, cô giáo Tổ Văn học Việt
Nam cùng các thầy, cô trong Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2 đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Khóa luận được hoàn thành song chưa thật sự chỉn chu và không tránh
khỏi những hạn chế, thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
từ phía thầy cô và các bạn để khoá luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Đặng Thị Kiều Oanh
Trang 4Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của tôi dưới
sự hướng dẫn của ThS Lê Thị Hải Yến Nếu phát hiện có bất kỳ gian lận nào
tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả khóa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Đóng góp của khóa luận 5
8 Bố cục khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1 Thể thư trong văn học trung đại Việt Nam 7
1.1.1 Nguồn gốc, khái niệm 7
1.1.2 Diện mạo 9
1.2 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Phạm Phú Thứ 19
1.2.1 Con người, thời đại 19
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Phạm Phú Thứ 29
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2 THƯ CỦA PHẠM PHÚ THỨ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 31
2.1 Thư thăm hỏi 31
2.2 Thư nghị luận 35
2.2.1 Về chính trị, xã hội 35
2.2.2 Về văn chương, học thuật 39
Tiểu kết chương 2 43
Trang 63.1 Ngôn ngữ 44
3.2 Giọng điệu 47
3.3 Kết cấu và lập luận 48
Tiểu kết chương 3 52
KẾT LUẬN 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Để thấy được cái hay, cái đặc sắc của một tác phẩm văn học ta có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau Chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu các tác
phẩm từ góc độ thể loại là cần thiết và ý nghĩa Như M Bakhtin đã nói:“thể
loại mới chính là nhân vật số một của văn học” Chính vì vậy, thể thư được
rất nhiều nhà văn quan tâm và tìm hiểu Tuy nhiên chưa có giáo trình nào viết
về thể thư và cũng chưa có công trình nghiên cứu nào được thực hiện Từ đó,
chúng tôi quyết định chọn đề tài Đặc điểm thư của Phạm Phú Thứ để nghiên
cứu nhằm thấy được những vấn đề về: khái niệm, diện mạo, phương diện nội dung và nghệ thuật của thể thư Từ đó khẳng định những đóng góp của thể thư trong văn học trung đại Việt Nam
Trong chương trình Ngữ văn lớp 10 nâng cao, học sinh Trung học phổ
thông được tìm đọc Thư lại dụ Vương Thông lần nữa của Nguyễn Trãi Để có
thể giúp học sinh đọc hiểu được văn bản thư của Nguyễn Trãi người giáo viên cần phải nắm được những đặc trưng cơ bản của thể thư trong văn học trung
đại Việt Nam Khi thực hiện đề tài Đặc điểm thư của Phạm Phú Thứ, tôi sẽ có
cơ hội nghiên cứu kĩ lưỡng hơn về thể loại thư, chắc chắn việc nghiên cứu này
sẽ giúp ích rất nhiều cho tôi trong việc giảng dạy sau này
Ngoài ra, bản thân là một sinh viên Khoa Ngữ văn, một giáo viên trong tương lai, bên cạnh việc giảng dạy chúng tôi cho rằng người giáo viên cần phải có khả năng nghiên cứu văn học Để nghiên cứu văn học, chúng ta phải
có kiến thức chuyên ngành tốt Với mong muốn bổ sung thêm những kiến thức chuyên ngành để hỗ trợ cho việc nghiên cứu sau này chúng tôi đã quyết
định chọn đề tài Đặc điểm thư của Phạm Phú Thứ để nghiên cứu Việc nghiên
cứu đề tài này sẽ giúp tôi có thêm những hiểu biết sâu sắc về thể thư và những tác phẩm thuộc thể loại thư Đặc biệt, có cái nhìn rộng hơn về văn học thời trung đại
Trang 8về nội dung, nghệ thuật cũng như đánh giá đúng vai trò của thể thư trong văn học trung đại Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi nghiên cứu về thể thư trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX trước hết chúng tôi đi nghiên cứu về thể thư nói chung
Để tìm hiểu về thể thư đã có cuốn sách viết về thể thư tiêu biểu là Mấy vấn
đề thi pháp Văn học trung đại Việt Nam của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử
(1999) Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra khái niệm về thể thư là thể loại văn học chữ Hán, ngoài chỉ ra khái niệm thì công trình cũng đã đưa những tác phẩm viết bằng thể thư Sách viết: “Thư cũng là một thể trình bày quan điểm để trao đổi với nhau nên cũng xem là một dạng nghị luận Ví
như Thư gửi Thôi Quần, Thư gửi Phùng Túc bàn văn của Hàn Dũ…
Văn học Trung Quốc có một truyền thống thư, luận, thuyết rất hùng
hậu Ví như Hàn Dũ có Nguyên đạo, Nguyên tính, Huy biện, Sư thuyết, Tranh
thần luân, Tạp thuyết; Liễu Tôn Nguyên có Phong kiến luận, Đồng Diệp Phong đệ biện,…Âu Dương Tu có Bản luận, Bằng đảng luận,…Tăng Củng
có Đường luận; Tô Tuân có Dịch luận, Nhạc luận, Thi luận, Thư
luận,…Đường Tống bát đại gia nổi tiếng trước hết vì văn luận thuyết của họ”
[13; 301]
Cũng trong Mấy vấn đề thi pháp Văn học trung đại Việt Nam của nhà
nghiên cứu Trần Đình Sử, một trang khác có viết: “Thư cũng là một lối văn
nghị luận quan trọng Trong Quân trung từ mệnh tập do Nguyễn Trãi soạn có
biết bao bức thư khi mềm mại, khi đanh thép, thắt buộc mà tác giả dùng để
“phạt mưu, công tâm”, đánh vào ý chí xâm lược của địch Bức thư lại dụ
Vương Thông là một trong những mẫu mực được truyền tụng Đến thời cận
đại thể thư càng đắc dụng như Thư thất điều của Phan Chu Trinh, Hải ngoại
Trang 9huyết thư của Phan Bội Châu,…” [13; 306] Ở đoạn này, tác giả cũng mới chỉ
ra được khái niệm thư cũng là một lối văn nghị luận, đưa ra được một số tác phẩm và tác giả tiêu biểu Ở công trình nghiên cứu này, ta chưa thấy được sự đánh giá khác quát của tác giả về đặc điểm nội dung cũng như nghệ thuật của thể thư
Trong Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2015), công trình này cũng chỉ mới đưa ra khái niệm về thể thư và khái quát một cách rất ngắn gọn về diện mạo của thể thư với các tác phẩm của một số tác giả tiêu biểu, Từ điển viết: “Thư cũng là một lối văn nghị luận cổ, viết cho một người nhận xác định Trong điều kiện báo chí chưa phát triển, phương thức thông tin còn hạn chế, thư là thể loại nghị luận dân chủ rất quan trọng để trình bày các ý kiến cá nhân về các vấn đề
tư tưởng, học thuật, xã hội, chính trị đối với những người có trách nhiệm và
trình độ Ví dụ: Thư trả lời Vi Trung Lập bàn về đạo làm thầy của Liễu Tông Nguyên, Thư gửi Vương Thông của Nguyễn Trãi, Thư trả lời Hoàng Cao
Khải của Phan Đình Phùng, Thư thất điều của Phan Chu Trinh, Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu, Thư gửi An – be Xa – rô của Nguyễn Ái
Quốc,… Trong văn học cổ Việt Nam, thư là một thể loại văn chính luận quan trọng, có vị trí đáng kể trong đời sống, thể hiện tinh thần công dân của người dân” [2; 323] Ở công trình nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu chưa tập trung đi sâu vào nghiên cứu đặc trưng cơ bản về nội dung và nghệ thuật của thể thư
Ngoài ra ta còn có thể nhắc tới trong sách Văn chính luận Việt Nam
thời trung đại của tác giả Phạm Tuấn Vũ (2012), công trình nghiên cứu này
cũng chỉ nói lên được khái niệm của thể thư một cách rất ngắn gọn mà chưa
hề đề cập đến nội dung cũng như đặc trưng nghệ thuật của thể này
Sách Phạm Phú Thứ toàn tập do nhiều tác giả viết xuất bản năm 2014
là một bộ sách đồ sộ Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã tập hợp
Trang 10ra được khái niệm, chỉ ra các tác thư của ông mà chưa đưa ra được những khái quát về đặc điểm nội dung cũng như nghệ thuật của thể loại này Sách
Phạm Phú Thứ toàn tập viết: “Thư là để chỉ thư từ nói chung Theo sách Các thể văn chữ Hán Việt Nam, trang 134: “Đây là thể loại được vua quan văn
nhân trí thức chuyên dùng để trao đổi tin tức, thăm hỏi bè bạn, thân nhân Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, thư cũng được biến thành công văn có tính chất trao đổi công việc, thành các bài nghị luận về các vấn đề chính trị, thời sự, văn chương học thuật…”
Trong Giá viên toàn tập, Thư, Khải, Tự, Bạt và Trát gồm 137 bài trong
3 quyển 24, 25, 26, một số lượng bài thật đồ sộ” [9; 24]
Qua việc tìm hiểu ở các cuốn sách trên khi viết về thể thư ta thấy được hầu hết các tác giả trên chưa tập trung đi sâu vào phân tích kĩ những đặc trưng tiêu biểu của thể loại thư Vấn đề được nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nêu khái niệm và kể tên một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu thuộc thể thư Về diện mạo phát triển qua các giai đoạn, đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của thể thư vẫn còn khoảng trống lớn Các công trình nghiên cứu trên vẫn chưa khẳng định được những đóng góp của thể thư trong văn học trung đại Việt Nam Đặc biệt, chưa có tác giả nào nghiên cứu những tác phẩm này theo góc nhìn từ góc nhìn thể loại
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 11Thứ hai: thống kê số lượng tác phẩm viết bằng thể thư
Thứ ba: đi vào nghiên cứu các tác thư của Phạm Phú Thứ nhìn từ phương diện nội dung và nghệ thuật để thấy được đặc trưng nội dung, nghệ thuật của thể thư
4 Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm thư của Phạm Phú Thứ Cụ thể là qua các tác phẩm thuộc thể loại thư của tác giả Phạm Phú Thứ
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đặc điểm thư của Phạm Phú Thứ
Phạm vi tư liệu: Chúng tôi tìm hiểu các tác phẩm thuộc thể thư giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đi sâu vào tìm hiểu những bài thư của tác giả Phạm Phú Thứ Những tư liệu chúng tôi dùng để nghiên cứu là: các tác thư
của Phạm Phú Thứ trong tác phẩm Giá viên toàn tập ở quyển số 24, 25, 26
6 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu văn học sử
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
- Các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh
7 Đóng góp của khóa luận
Khái quát lại diện mạo, đặc trưng nội dung và nghệ thuật của thể thư trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX
Trang 12luận tốt nghiệp kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Thư của Phạm Phú Thứ nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3: Thư của Phạm Phú Thứ nhìn từ phương diện nghệ thuật
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Thể thư trong văn học trung đại Việt Nam
1.1.1 Nguồn gốc, khái niệm
Trong nền văn học cổTrung Quốc, thư là một thể loại văn học có từ rất
lâu đời Các nhà văn cổ Trung Quốc đã để lại một kho tàng các tác thư, mỗi
tác thư lại mang những giá trị vô cùng to lớn Ví như: tác giả Hàn Dũ có Thư
gửi Thôi Quần, Thư gửi Phùng Túc bàn văn; Âu Dương Tu thì để lại Hán thư, Hậu Hán thư, Tấn thư, Tống thư, Nam Tề thư, Lương thư, Trần thư, Nguỵ thư, Bắc Tề thư, Chu thư, Tuỳ thư, Cựu Đường thư, Tân Đường thư; nhà văn
Tăng Củng cũng có để lại Ký Âu Dương xá nhân thư,…Thể thư ở Trung Quốc
phát triển như vậy nên khi chúng sang xâm lược nước ta thì thể văn này cũng bắt đầu du nhập vào Việt Nam Thể thư xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thế
kỷ XIII với tên tuổi của nhà văn Nguyễn Trãi và đạt thành tựu nổi bật vào nửa
cuối thế kỷ XIX với các tác thư của tác giả Phạm Phú Thứ
Để đưa ra một khái niệm thống nhất về thư, chúng tôi tiến hành tìm
hiểu thông qua cuốn từ điển
Theo Từ điển tiếng Việt:
Danh từ
giấy viết nội dung những điều mình muốn nói và gửi đến người khác
viết thư gửi mẹ
Tính từ
ở trạng thái công việc đã bớt thúc bách hơn
thư thả, nói tắt; không vội
Động từ
cho hoãn lại một thời gian ngắn
xin cho tôi thư món nợ ít ngày nữa
Trang 14sau: “Thư cũng là một thể trình bày quan điểm để trao đổi với nhau nên cũng xem là một dạng nghị luận” [13; 301]
Cũng trong cuốn sách trên của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, một trang khác ông có viết: “Thư cũng là một lối văn nghị luận quan trọng” [13; 306]
Khái niệm thể thư được đưa ra trong cuốn Phạm Phú Thứ toàn tập như sau: “Thư là để chỉ thư từ nói chung Theo sách Các thể văn chữ Hán
Việt Nam, trang 134: “Đây là thể loại được vua quan văn nhân trí thức chuyên
dùng để trao đổi tin tức, thăm hỏi bè bạn, thân nhân Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, thư cũng được biến thành công văn có tính chất trao đổi công việc, thành các bài nghị luận về các vấn đề chính trị, thời sự, văn chương học thuật…”
Trong Giá viên toàn tập, Thư, Khải, Tự, Bạt và Trát gồm 137 bài trong
3 quyển 24, 25, 26, một số lượng bài thật đồ sộ” [9; 24]
Ngoài các sách trên thì trong Từ điển thuật ngữ văn học cũng có viết:
“Thư cũng là một lối văn nghị luận cổ, viết cho một người nhận xác định Trong điều kiện báo chí chưa phát triển, phương thức thông tin còn hạn chế, thư là thể loại nghị luận dân chủ rất quan trọng để trình bày các ý kiến cá nhân về các vấn đề tư tưởng, học thuật, xã hội, chính trị đối với những người
có trách nhiệm và trình độ (…) Trong văn học cổ Việt Nam, thư là một thể loại văn chính luận quan trọng, có vị trí đáng kể trong đời sống, thể hiện tinh thần công dân của người dân” [2; 323]
Tóm lại, theo chúng tôi thư là một thể văn cổ được viết bằng chữ Hán, mang nội dung thăm hỏi có điểm giống với thư thăm hỏi trong văn học hiện đại; bên cạnh đó nó còn mang nội dung như một tác phẩm nghị luận bàn về một vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội Ngôn ngữ của thư phải chặt chẽ, có ví
dụ thực tế để chứng minh Cách tổ chức, sắp xếp các ý kiến, triển khai các
Trang 15luận điểm, luận cứ phải theo một thứ tự để làm sáng rõ một chân lí nào đó Thông qua hệ thống luận điểm, luận cứ và luận chứng, tác động trực tiếp vào
lí trí người đọc và người nghe một cách dễ hiểu nhất Qua đó người đọc thấy được một quan điểm, tư tưởng, lập trường có cơ sở lý luận trong đời sống và học thuật
1.1.2 Diện mạo
Thể thư là thể văn đã có từ rất lâu đời trong nền văn học Trung Quốc
Thể văn này đã du nhập vào Việt Nam cùng với thời gian Trung Quốc đô hộ Việt Nam Thể thư phát triển gắn liền với sự biến động của lịch sử dân tộc Đặc biệt thể thư đạt được nổi bật là ở 2 giai đoạn: thế kỷ X – hết thế kỷ XIV
và cuối thế kỷ XIX Để thấy cụ thể hơn về diện mạo của thể thư qua các giai đoạn, tôi đã thống kê được bảng sau đây:
Bảng thống kê các tác phẩm viết bằng thể thư trong văn học trung đại Việt Nam
Quân trung từ mệnh tập có:
- Thư xin hàng (Thư tố oan)
- Thư cho Tổng binh cùng quan Phủ vệ Thanh-Hoá
- Thư cho Thái giám Sơn Thọ
- Thư cho Phương Chính
- Thư trả lời Phương Chính
- Lại thư trả lời phương chính
- Lại thư cho Phương Chính
- Lại thư trả lời Phương Chính
- Thư trả lời bọn Tổng binh Vương Thông Thái giám Sơn Thọ
- Thư gửi bọn Hoa đại nhân
Trang 16- Thư cho Thái Công
- Thư cho Hình nội quan cùng bọn Đả Trung và Lương Nhữ Hốt
- Lại thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt
- Lại thư trả lời Vương Thông
- Lại thư cho Vương Thông Sơn Thọ -Lại thư cho Vương Thông
- Lại thư cho Vương Thông
- Lại thư cho Vương Thông
- Lại thư cho Vương Thông
- Lại thư cho Sơn Thọ
- Thư cho Vương Thông
- Thư cho Thái giám Sơn Thọ
- Lại thư cho Sơn Thọ
- Lại thư cho Vương Thông
- Thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt
- Lại thư cho Vương Thông
- Lại thư cho Thái giám Sơn Thọ
- Thư dụ Thổ quan thành Điêu-diêu
- Thư dụ thành Bắc Giang
- Thư dụ thành Tam Giang
- Thư cho Vương Thông
- Lại thư dụ Vương Thông
- Lại thư dụ Vương Thông
- Thư cho Vương Thông
- Lại thư cho Vương Thông
Trang 17Giai
đoạn
Tác giả Tác phẩm
- Thư cho Thái đô đốc
- Thư cho Vương Thông
- Thư dụ các thành Thanh Hoá, Nghệ An
- Thư cho Vương Thông
- Lại thư cho Vương Thông
- Lại gửi thư trả lời cho Vương Thông
- Thư gửi cho Vương Thông
- Thư dụ hàng (các tướng sĩ trong) thành Bình - than
- Thư dụ hàng (các tướng sĩ trong) thành Xương - giang
- Thư dụ (tướng sĩ trong) thành Xương giang
- Thư gửi Liễu Thăng
- Thư gửi Liễu Thăng
- Thư gửi Lương Minh, Hoàng Phúc
- Đầu mục nước An – Nam kính gửi các vị Tỳ tướng của Thiên triều
- Đầu mục nước An – Nam thư gửi các vị Tỳ tướng Thiên triều
- Đầu mục nước An – Nam thư gửi các vị Tỳ tướng của Thiên triều
- Cháu ba đời vua nhà Trần An – Nam trước, là Trần Cảo thư gửi quan Tổng binh Vân - Nam Kiềm quốc công cùng các vị quyền Ba ti xét
- Thư của đầu mục nước An - Nam, kính gửi Tổng binh quan, Thái phó, Kiềm quốc công xét
- Thư gửi quan Tổng binh, Sơn đại nhân và các vị
Trang 18- Đầu mục nước An – Nam là Lê Lợi thư gửi quan Tổng binh Vương đại nhân, Thái giám Sơn đại nhân xét
- Đầu mục nước An – Nam là Lê Lợi trả lời Tổng binh đại nhân, Thái giám Sơn, Mã Hai đại nhân xét
- Thư lại gửi cho Vương Thông
- Đầu mục nước An – Nam là Lê Lợi thư gửi Tổng binh quan Vương đại nhân, Thái giám Sơn, Mã Hai đại nhân, các vị xét
- Đầu mục nước An – Nam là Lê Lợi thư gửi quan Tổng binh Vương đại nhân, cùng hai vị Thái giám Sơn và Mã soi xét
- Đầu mục nước An – Nam là Lê Lợi (Thư gửi Vương Thông)
- Thư lại gửi cho (Vương) Thông, (Sơn) Thọ Cuối
thế kỷ
XIX
- Phan Đình Phùng (1847-1895)
- Phạm Phú Thứ (1821-1882)
- Kính ký Hoàng Cao Khải thư
Giá Viên toàn tập có:
+ Quyển 24:
- Thư trả lời quan Hộ đốc Ninh Thái Bùi chế đài
- Thư gửi Nguyễn Giáp sứ Tuân Thúc lời đề sau Yên
Thiều thi tập
Trang 19Giai
đoạn
Tác giả Tác phẩm
- Trả lời Nguyễn Hy Phần Phương Bá ở Quảng Ngãi
- Thư an ủi gửi quan Tán tương Quân vụ Trần Tử Mẫn
- Đáp lời cụ Tú tài Lê Văn Thạch
- Thư phúc đáp Nguyễn Hy Phần ở Quảng Ngãi
- Trả lời ngài Tuần phủ Hưng Yên Tôn Thất Trọng Tín
- Đáp thư Trần Vọng Nghi
- Trả lời quan Án sát Hà Nội Vũ Ngang Lâm
- Thư vui gửi tặng quan Thị lang họ Trần coi việc dinh điền
- Trả lời thư về việc thân sĩ ở quê kết lập hội
- Thư gửi quan Đốc học Quảng Nam Trần Vỹ
- Gửi thuyền bên cạnh - Chuyến theo vua đi Thuận An
- Thư phúc đáp an ủi Nguyễn Tổng đốc Nnh Thái kiêm Thị sư
- Đáp thư Huấn đạo Lê Cự Đình ở Thư viện Việt Hoa
- Gửi hành nhân Lý Mậu Thuỵ
- Thư trả lời quan Bố chính Nam Định Vũ Tiến Chi
- Đáp thư ngài Hiệp biện Đại học sĩ lĩnh Tổng đốc Sơ Hưng Tuyên Hoàng Tá Viêm
- Gửi quan Tổng đốc Ninh Thái Tôn Thất Thuyết
- Gửi quan Tuần phủ Nghệ An
- Gửi lại các quan Tổng đốc, Bố chính Thanh Hoá
- Gửi quan Tham tán Bắc thứ Ông Mục Chi
- Gửi quan Tuần phủ Hà Nội Trần Vọng Nghi
Trang 20- Gửi ông anh Đỗ Xạ Phu ở Nam Định
- Kính gửi Tuy Thạnh Quận công Trương Đoan Khê đại nhân
- Gửi các quan Bố chính, Án sát tỉnh ta
- Gửi Đường quan sát nước Thanh, ngài Đình Canh lúc ông đến Thuận An xem xét việc mở cục chuyên chở hàng hoá
- Thư gửi nguyên Đốc bộ Ninh Thái Nguyễn niên huynh
- Gửi quan Đốc bộ An Tĩnh Nguyễn Hữu Trang
- Gửi quan Đề học Trung Hoa, Thám hoa Lý Văn Điền
- Đáp gửi quan Đốc bộ Hà Ninh Trần Cung Trọng
- Gửi quan Tư nghiệp Hà Nội Lê Đình Diên
- Thư đáp Vương Tử Thuyên ở Hương Cảng
- Thư đáp quan Học sĩ xứ Việt Đông, ngài Thám hoa
Lý Văn Điền
- Đáp thư quan Giám học Lê Ngoại Hàn ở Thư viện Việt Hoa
- Gửi Vương Thao Viên ở Hương Cảng
- Gửi quan Nguyễn, chức Học chính Hải Dương
- Thư đáp quan Tư nghiệp Nguyễn Hy Phần
- Gửi ngài Giám học Lê Cự Đình ở Thư viện Việt Hoa
- Đáp quan Tri huyện Quế Dương Bùi Oánh
- Đáp thư quan Đốc bộ Định Yên Nguyễn Quế Bình gửi chung các vị phiên đài, niết đài
Trang 21Giai
đoạn
Tác giả Tác phẩm
+ Quyển 25:
- Gửi Binh bộ Thượng thư Trần tướng công
- Gửi Ngài Kì Vĩ Bá Nguyễn, Thượng thư bộ Hộ
- Gửi Ngài Khâm phái Sơn phòng sứ Nguyễn Thăng Chi
- Gửi Thị lang bộ Hộ Đỗ Tùng Đường
- Gửi Văn Minh điện Đại học sĩ Trần tướng công
- Trả lời quan Án sát Bắc Ninh Phan Nhẫn Am
- Gửi quan Danh điền sứ Bình Thuận, Nguyễn Hy Phần
- Trả lời quan Đốc bộ Định Yên Nguyễn Quế Bình
- Trả lời Nguyễn đại thần Kỳ Vĩ Bá ở Thương bạc bộ
Hộ
- Trả lời quan Tham tán quân vụ Trần La Hà
- Gửi anh Nguyễn Vân Lộc
- Gửi quan Dinh điền Sơn phòng sứ tỉnh Quảng Nam Nguyễn Thăng Chi
- Gửi Văn Minh điện Đại học sĩ Trần tướng công
- Gửi Văn Minh điện Đại học sĩ Trần tướng công
- Gửi quan Tri phủ mới đến Điện Bàn
- Gửi anh Nguyễn Tuân Thúc
- Trả lời quan Thị độc Nội các họ Ngô lúc vâng lệnh phái đi xem xét quan lại các tỉnh
- Trả lời lãnh Tổng đốc Hà Ninh Trần Cung Trọng
- Gửi Văn Minh điện Đại học sĩ Trần tướng công
- Gửi quan Khâm phái Tham tri Vũ Trọng Bình
Trang 22- Trả lời quan Tổng đốc Yên Định Nguyễn và các quan cùng tỉnh hỏi thăm an ủi việc dân đói
- Gửi quan Thị lang họ Bùi, sứ bộ đi Yên kinh lúc lên đường
- Gửi quan Tham chính bộ Hộ Đỗ Tùng Đường
- Đáp lời quan Thị độc Dao Khanh đã gửi lời Bạt đề trên bức hoạ Giang Thụ Sào
- Gửi Viện trưởng Viện Hàn lâm Nguyễn Tuân Thúc
- Gửi Thượng thư bộ Lại Nguyễn Hạ Phong
- Gửi quan Khâm sai Hoàng đến Quảng Nam cứu giúp
- Gửi quan Đốc quân vụ Hoàng quý đài
- Gửi ông Bùi, Án sát sứ Bắc Ninh
- Trả lời thư Võ tuần phủ hai tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình
- Gửi anh Đỗ Tùng Đường Thứ Khanh
- Gửi ngài Trương Cúc Viên đại thần quân vụ Tham tán quân sứ
- Trả lời anh Nguyễn Tuân Thúc
- Trả lời thư anh
+ Quyển 26:
- Gửi Tùng Thiện công hỏi về lời thơ
- Thư gửi người trong họ tiễn quan Tri phủ Đình Thư
về lại phủ lỵ Từ Sơn
- Gửi Phan Nhẫn Am và hoạ bài thơ Quảng Yên thu cảm ký hoài
Trang 23Giai
đoạn
Tác giả Tác phẩm
- Gửi tặng quan Đề học Hải Dương thọ 70 tuổi
- Thư mật trả lời Thống đốc quân vụ Hoàng đại thần
- Thư gửi phủ viện Quảng Yên, thiết lập trấn thủ Vân Đồn
- Trả lời quan Tổng chế Định An Nguyễn Quế Bình kiêm giản phiên Niết sứ
- Gửi quan Tổng đốc Định Yên Nguyễn Quế Bình
- Gửi Vũ Nguyễn Nhị
- Trả lời thư Đỗ Tùng Đường
- Gửi Nguyễn Hà Đình, chánh chủ khảo trường thi Hà Nam
- Gửi quan Tổng đốc Định Yên Nguyễn Quế Bình
- Gửi quan Tuần phủ Trần, tỉnh Nam Nghĩa ta
- Gửi Trần tướng công, ddienj Văn Minh
- Gửi mừng Vỹ Dã vương 70 tuổi thọ
- Gửi Vân Lộc Nguyễn Tuân Thúc ở Viện Hàn lâm
- Gửi Tổng đốc Ninh Thái mượn lúa kho
- Đáp thư anh Đỗ Thứ Khanh, Thượng thư bộ Lễ
- Trả lời thư quan Tổng chế Ninh Thái Nguyễn Hoà Khanh tức Huy Khởi
- Thư đáp Tổng đốc An Tĩnh Nguyễn Hữu Trang
- Gửi quan Biên tu Nguyễn Tự ở Bảo An
- Đáp thư Nam Anh Đỗ Xạ Phu
- Gửi hương thân, lý dịch bổn xã
- Trả lời Chế quan Định Yên Nguyễn Quế Bình
- Thư răn dạy em, cháu
Trang 24- Trả lời thư Vũ Nguyên Nhị
- Gửi Lại bộ Thượng thư Nguyễn Hữu Trang
- Trả lời quan Tổng đốc Yên Định Nguyễn Quế Bình
- Thư đáp tạ Thống đốc Quân vụ đại thần Hoàng La Châu đại nhân đã tặng sách
- Gửi sung như Tây chánh sứ Nguyễn Hạ Phong Tử Cao
- Trả lời thư quan Bố chánh sứ Thái Nguyên Bùi Uẩn Trai
- Gửi Nguyễn Hy Phần
- Gửi Nguyễn Tuân Thúc
- Gửi bổn hội huyện Diên Phước
- Gửi quan Đề đốc quân thứ Vũ Văn Đức
- Gửi đề thi cho cháu – Cử nhân Lâm
- Gửi cháu Lâm, Tư vụ bộ Binh
- Thư gửi cháu Lâm, chức Biên tu ở Nội các
- Gửi cháu Lâm, Trước tác ở Nội các
- Gửi con gái Xuân Ninh, vợ của viên huyện Chân Ninh
Qua bảng thống kê trên ta thấy, các nhà văn đã để lại cho đời sau một
số lượng tác thư vô cùng phong phú Các tác thư ở các giai đoạn khác nhau lại mang những nét đặc trưng riêng
Ở giai đoạn đầu tiên từ thế kỷ X – hết thế kỷ XIV, thể thư mới du nhập vào nước ta, cụ thể thể thư xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ XIII tiêu
biểu với tác giả Nguyễn Trãi cùng kiệt tác Quân trung từ mệnh tập gồm 68
bức thư Những bức thư này Nguyễn Trãi viết theo lệnh của Lê Lợi nhằm để
Trang 25trao đổi, tranh biện với hàng tướng lĩnh của nhà Minh Các tác thư của ông khi mềm mỏng, khi đanh thép để đánh vào ý chí xâm lược của kẻ địch, khiến chúng không đánh mà tự lui, mang lại thắng lợi không đổ máu
Trong giai đoạn từ thế kỷ XV – đến nửa đầu thế kỷ XIX, thể thư phát triển rất chậm và dường như ở giai đoạn này thể thư không hề xuất hiện trong các sáng tác văn chương
Bước sang giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, thể thư đạt được thành tựu
vô cùng to lớn với các tên tuổi như Phan Đình Phùng, Phạm Phú Thứ Tác giả
Phan Đình Phùng nổi tiếng với tác phẩm Kính ký Hoàng Cao Khải thư.Thể
thư thực sự đạt đến đỉnh cao thì ta phải kể tới tác giả Phạm Phú Thứ với 114
tác thư trong tác phẩm Giá viên toàn tập Các tác thư của Phạm Phú Thứ bên
cạnh nội dung như một bức thư thăm hỏi bình thường thì ở những tác thư này
nó còn mang nội dung như một bức thư nghị luận về tình hình chính trị, thời
sự cũng như văn chương, học thuật
Nhìn chung ta thấy thể thư trong văn học trung đại Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XIII và kết thúc vào nửa cuối thế kỷ XIX, nó đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử Thể loại thư đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam những tác phẩm có giá trị vô cùng to lớn Chính những đóng góp này có đã góp phần khẳng định vị trí, tầm quan trọng của thể thư trong nền văn học trung đại Việt Nam
1.2 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Phạm Phú Thứ
1.2.1 Con người, thời đại
Con người
Phạm Phú Thứ là nhà nho canh tân Việt Nam cuối thế kỉ XIX Ông có nguyên tên là Phạm Phú Hào, sau đổi thành Phạm Phú Thứ, tự là Giáo Chi và Thúc Minh (bó cái sáng lại), hiệu là Trúc Đường (nhà tre), biệt hiệu là Giá
Viên (vườn mía) và Trúc Ẩn (núp trong tre) Trong tác phẩm Giá Viên toàn
tập ông hay tự gọi mình là Giang Thụ Sào, Nông Giang Điếu Đồ Khi ông
Trang 26Phạm Phú Thứ sinh ngày 27 tháng 1 năm 1821 (tức ngày 24 tháng Chạp năm Canh Thìn), mất ngày 5 tháng 2 năm 1882 (tức ngày 17 tháng Chạp năm Tân Tỵ) Ông được sinh ra và lớn lên ở xã Đông Bàn, tổng Đa Hoà Thượng, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam; nay thuộc xã Điện Trung (Gò Nổi), huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho giáo, phụ thân là Phạm Phú Sung, mẫu thân
là Phạm Thị Cẩm (người trong làng Trừng Giang và là con gái của một ông đồ)
Vào niên hiệu Thiệu Trị thứ 2 (tức năm 1842), Phạm Phú Thứ tham gia cuộc thi Hương, ông đỗ Giải nguyên Ân khoa năm Nhâm Dần khi đó ông mới
23 tuổi Đến năm sau, năm Quý Mão (1843), ông tiếp tục tham gia cuộc thi Hội, ông cũng đỗ đầu (Hội nguyên) Khi vào cuộc thi Đình, ông đứng đầu bảng Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa thi Hội năm 1843, niên hiệu Thiệu Trị thứ 3
Sau khi thi đỗ, ông được bổ làm Biên tu năm 1844 Một năm sau, vua
Tự Đức thăng ông làm Tri phủ Lạng Giang (nay thuộc tỉnh Bắc Giang), rồi tiếp tục thăng làm Thị Độc Một thời gian sau, vì phụ thân của ông qua đời nên ông xin nghỉ chức
Năm Tự Đức 2 (tức năm 1849), ông được chuyển qua Viện Tập hiền, ông giữ chức Khởi cư chú ( tức thư ký ghi lời nói và hành động của vua), rồi tiếp tục sang tòa Kinh diên (phòng giảng sách cho vua)
Năm 1850, ông thấy nhà vua ham vui chơi, lơ là việc triều chính, ông mạnh dạn dâng sớ can gián, vì lí do đó ông bị cách chức và giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế) Xét án, triều đình nhà Nguyễn đã khép ông vào tội đồ, ông
bị đày đi xa; song nhà vua cho rằng đó chỉ là lời nói lúc nóng giận nên ông chỉ
bị đày làm lính trạm chuyên chạy việc canh nông ở Thừa Nông (Huế)
Trang 27Năm 1852, ông được khôi phục hàm Biên tu Năm 1854, vua Tự Đức
cử ông làm Tri phủ Tư Nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngãi Tại đây, ông đã tổ chức
và vận động dân chúng lập được hơn năm mươi kho nghĩa thương để phòng khi chẩn tế cho dân Với việc làm đó, ông được vua cho giữ chức Viên ngoại lang ở bộ Lễ
Năm 1855, ông được điều sang công tác quân sự để giải quyết cuộc bạo động của người Thượng ở Đá Vách (thuộc tỉnh Quảng Ngãi) Sau khi dẹp yên cuộc bạo động, ông được thăng chức làm Án sát sứ ở hai tỉnh là Thanh Hóa và Hà Nội
Năm 1858, ông được chuyển về làm việc ở Nội các tại Huế
Năm 1859, ông xin về quê để dưỡng bệnh và cải táng mộ cha Khi trở lại triều, ông dâng sớ xin đắp đê Cu Nhí, đào sông Ái Nghĩa, đồng thời xây dựng công sự bố phòng và luyện tập quân sự ở tỉnh nhà (Quảng Nam)
Năm 1860, từ Nội các, ông được vua thăng chức lên làm Thị lang bộ Lại, rồi thăng làm Thự Tham tri của bộ này
Đầu năm 1863, sau khi vua Tự Đức xét các điều khoản trong Hòa ước Nhâm Tuất còn có chỗ chưa thỏa, liền phong Phạm Phú Thứ làm Khâm sai vào ngay Gia Định, cùng với Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp để đàm phán với quan soái Pháp và quan đại thần nước Tây Ban Nha Không hoàn thành nhiệm vụ, ông bị giáng xuống một cấp Cũng trong năm 1863, ông được cử làm Phó sứ, cùng với Chánh sứ Phan Thanh Giản và Bồi sứ Ngụy Khắc Đản, sang Pháp và Tây Ban Nha với nhiệm vụ xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ
Tháng 2 âm lịch năm 1864, ông về đến Huế Sau đó, ngoài bản tường trình cốt để thuyết phục vua Tự Đức mau tiến hành cải cách việc học tập và đẩy mạnh phát triển công nghiệp, Phạm Phú Thứ còn dâng lên vua hai tác
phẩm do ông làm trong chuyến đi, đó là Tây hành nhật ký và Tây Phù thi
Trang 28Năm 1865, vua Tự Đức thăng chức cho ông lên làm Thự Thượng thư
bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần Ở chức việc này, ông đã mật tấu xin đặt 4 Tuyên phủ sứ ở Quảng Trị, Bình Định, Nghệ An và Hưng Hóa
Năm 1866, quan soái Pháp phái tàu đến cửa biển Thuận An (Huế) đưa thư đòi ta phải cho chúng nắm quyền quản lí ba tỉnh là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, chúng lấy cớ là ở đây bọn trộm cướp thường qua lại Nhà vua liền sai Phạm Phú Thứ và Phan Huy Vịnh đến đàm phán cũng như yêu cầu chúng giữ giao ước cũ
Năm 1867, Phan Thanh Giản mất, triều đình cử Phạm Phú Thứ làm người điều đình với Pháp Song thực dân Pháp không hài lòng về cách xử sự cứng rắn của ông, còn triều đình Huế thì không hài lòng vì việc thương lượng
cứ đỗ vỡ Cuối cùng, ông bị Ngự sử đàn hặc, và bị gọi về kinh
Năm 1873, vì phạm lỗi, ông lại bị giáng làm Thị lang, rồi khai phục chức Tham Tri
Năm 1874, triều đình cho mở nhà thương chính ở Bắc Kỳ Nhà vua
cho ông là người am hiểu, có tài nên tháng 10 (âm lịch) năm đó, vua Tự Đức
đã đổi ông làm Thự Tổng đốc Hải Yên (hay còn gọi là Hải An, gồm Hải Dương và Quảng Yên) kiêm sung Tổng lý thương chánh Đại thần Khi vừa đến nơi, gặp lúc đê huyện Văn Giang (nay thuộc Hưng Yên) vỡ, nước lũ tràn
cả hai phủ là Bình Giang và Ninh Giang thuộc Hải Dương, thấy dân đói khổ, ông đã lập tức xin trích năm vạn phương gạo ở kho Hưng Yên để phát chẩn Đồng thời, ông lại phái thuộc hạ đem những người dân còn khỏe mạnh đến Đông Triều, Nam Sách để khẩn hoang, cày cấy kiếm sống
Năm 1876, nhà vua chuẩn cho Phạm Phú Thứ giữ chức Tổng đốc Hải
An Để yên dân, ông xin đặt trường mua gạo ở chợ An Biên (thuộc huyện An Dương, Hải Phòng) và Đồ Sơn (thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh);
Trang 29đồng thời phái Thương biện là Lương Văn Tiến (anh em họ ngoại với Phú Thứ) đi hiểu dụ lưu dân, tạo công ăn việc làm cho họ Ngoài ra, ông còn cho khai rộng sông ở phủ Bình Giang , mở Nha Thương Chánh và trường học chữ Pháp ở Hải Dương vào năm 1878,…
Năm 1878, vua Tự Đức thăng ông làm Thự Hiệp biện Đại học sĩ, song vẫn lĩnh chức vụ cũ Cũng trong năm này, Khâm phái ngự sử là Dương Hoàn tâu lên vua việc Lương Văn Tiến đã cậy thế mà chở gạo ra ngoại quốc Vì vậy, Phạm Phú Thứ phải về Huế, thời gian ở đây ông vừa chữa bệnh và vừa đợi án Năm 1880, khi bản án dâng lên, ông bị giáng làm Quang lộc tự khanh, lĩnh chức Tham tri bộ Binh Cũng trong lúc này ông đang mang bệnh nên ông
sĩ và chỉ dụ cho các quan tỉnh Quảng Nam tổ chức lễ tang Dụ rằng: “Viên
này từng trải nhiều khó nhọc, sang Trung Quốc, sang Tây, tuy sức yếu không
từ chối; việc thương chính ở Hải Dương lúc mới mở ra bèn vâng mệnh đi ngay, công việc đều xong xuôi, về sau có thể noi theo được Tỉnh Quảng Yên dân xiêu tán, giặc giã quấy rối lâu năm, kinh lý cũng dẹp yên; lập đồn điền ở Nam Sách, thực là lo xa, đó là công lao tài năng ngày thường rực rỡ đáng nêu” [20; 505-506]
Cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Phú Thứ đã trải qua nhiều thăng trầm nhưng chúng ta có thể nhận thấy ông là một nhân chứng cho một con người suốt đời vì nước vì dân Không một uy quyền nào có thể làm cho ông sợ hãi,
Trang 30dân ông mới ra đi
Trong hồi kí của mình thiếu tướng Đỗ Mậu cũng đã viết rằng: “Cụ
Phạm Phú Thứ là một nhà nho tuy ra làm quan nhưng ông luôn hành xử một cách thanh liêm, cương trực và từng tỏ thái độ bất khuất đối với người Pháp, nên người được giới sĩ phu và nhân dân miền Trung hết lòng ngưỡng mộ” Hay khi nói về cuộc đời và sự nghiệp Phạm Phú Thứ bà Mai Hương -
Phu nhân của cố Giáo sư Huỳnh Lý đã có những dòng thơ rất xúc động sau
khi đến thăm mộ của Phạm Phú Thứ Bài thơ có nhan đề “Đốt nén hương
lòng nhớ cụ Phạm Phú Thứ” đã có những câu thơ ca ngợi sau:
“Bốn mươi năm cách chức bốn lần
Chỉ vì yêu nước, với thương dân
Qua Tây đã thấy nền cơ khí
Về nước mong bàn chuyện canh tân
là một nước trong khu vực châu Á cùng với nguồn tài nguyên vô cùng lớn thu hút các nước tư bản Chính vì vậy nước ta đã trở thành một lựa chọn trước tiên, là con mồi béo bở của các nước đế quốc trên con đường đi xâm lược Năm 1858, thực dân Pháp đã nổ phát súng đầu tiên tại bán đảo Sơn Trà, mở đầu cho con đường xâm lược nước ta Sự kiện này đã đánh dấu một
Trang 31bước ngoặt to lớn trong lịch sử dân tộc Pháp xâm lược là một biến động ghê gớm, nó làm thay đổi sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống của nhân dân lúc bấy giờ
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam đã có những biến chuyển to lớn Việt Nam từ một xã hội phong kiến đã biến thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến Khi đã hình thành thuộc địa thì tất cả các mặt của xã hội nước ta đều nằm trong quỹ đạo chuyển động do thực dân Pháp tạo nên Trong lòng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, ở Việt Nam đã hình thành nên hai mâu thuẫn đan xen nhau, đó là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp Trong đó, mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động
Trong tình hình đất nước lúc bấy giờ, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu nhiều ảnh hưởng Thực dân Pháp đã tiến hành cuộc khai thác thuộc địa ở ba nước Đông Dương trong đó có Việt Nam Cuộc khai thác thuộc địa đã làm cho nền kinh tế nước ta khủng hoảng trầm trọng Nền nông nghiệp ngày càng
sa sút, hiện tượng dân lưu tán ở khắp mọi nơi, đê điều không được chăm sóc, mất mùa, đói kém xảy ra liên miên Về công thương nghiệp thì bị đình đốn, trì trệ xu hướng độc quyền công thương của nhà nước đã hạn chế sự phát triển của sản xuất và thương mại
Trước chính sách cai trị tàn bạo, độc ác của thực dân Pháp, nhân dân ta
đã đấu tranh vô cùng quyết liệt, mạnh mẽ Triều đình nhà Nguyễn lúc đầu còn chống đối nhưng ngày càng yếu ớt và cuối cùng thì nhượng bộ, thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp Các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra ở khắp nơi, tiêu biểu như cuộc khởi nghĩa của Ðoàn Hữu Trưng, Ba Cai Vàng, Trần Tấn,… Phong trào đấu tranh yêu nước của các sĩ phu, các lãnh binh đã lãnh đạo nhân dân chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương cũng nổ ra rầm rộ và kéo dài từ Bình Ðịnh, Quảng Bình ra đến Hưng Yên, Thái Bình, Tây Bắc Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như Phan Ðình Phùng, Ðinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám,