1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sư phạm đặc điểm nội dung thơ Trần Nhân Tông, từ khám phá nỗi lòng

161 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Nội Dung Thơ Trần Nhân Tông
Tác giả Nguyễn Thị Giang
Người hướng dẫn PGS. TS. Đoàn Thị Thu Vân
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại luận văn thạc sĩ văn học
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • LỜI CAM ĐOAN

  • LỜI CẢM ƠN

  • MỤC LỤC

  • MỞ ĐẦU

    • 1. Lí do chọn đề tài

    • 2. Lịch sử vấn đề

    • 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

    • 4. Phương pháp nghiên cứu

    • 5. Mục đích và đóng góp của luận văn

    • 6. Cấu trúc của luận văn

  • Chương 1: THỜI ĐẠI LÝ – TRẦN VÀ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

    • 1.1. Thời đại Lý – Trần

      • 1.1.1. Hoàn cảnh lịch sử, văn hóa – xã hội thời Lý – Trần

      • 1.1.2. Văn học thời Lý – Trần

    • 1.2. Phật hoàng Trần Nhân Tông và thiền phái Trúc Lâm

      • 1.2.1. Trần Nhân Tông – thân thế và sự nghiệp

      • 1.2.2. Thơ văn Trần Nhân Tông

      • 1.2.3. Thiền phái Trúc Lâm và tư tưởng của Trần Nhân Tông

  • Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG

    • 2.1. Tình yêu và niềm tự hào về quê hương đất nước

      • 2.1.1. Tình yêu mến, gắn bó sâu sắc với đất nước và con người Đại Việt

      • 2.1.2. Niềm tự hào về đất nước, con người và văn hóa Đại Việt

    • 2.2. Tâm hồn phong phú, mẫn cảm và dạt dào chất nhân văn

      • 2.2.1. Mẫn cảm trước thiên nhiên

      • 2.2.2. Mẫn cảm trong tình người

    • 2.3. Quan niệm sống phóng khoáng, tùy duyên của một người đạt đạo

      • 2.3.1. Tinh thần nhập thế

      • 2.3.2. Tinh thần an nhiên, tự tại

  • Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ TRẦN NHÂN TÔNG

    • 3.1. Thể thơ

      • 3.1.1. Đường luật

      • 3.1.2. Cổ phong

    • 3.2. Ngôn ngữ

      • 3.2.1. Ngôn ngữ mang mĩ cảm thiền

      • 3.2.2. Ngôn ngữ tượng trưng, ẩn dụ

    • 3.3. Hình ảnh

      • 3.3.1. Cách lựa chọn hình ảnh

        • 3.3.1.1. Hình ảnh mùa xuân

        • 3.3.1.2. Hình ảnh trăng

        • 3.3.1.3. Hình ảnh giấc mộng

      • 3.3.2. Cách xây dựng hình ảnh

        • 3.3.2.1. Cảnh vật được quan sát trong sự vận động theo thời gian và dòng cảm xúc

        • 3.3.2.2. Cảnh vật được quan sát trong sự vận động biện chứng giữa động và tĩnh, hư và thực

    • 3.4. Giọng điệu

      • 3.4.1. Giọng hào sảng, lạc quan

      • 3.4.2. Giọng tự tình, sâu lắng

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC THƠ

Nội dung

Th ời đại Lý - Trần

Hoàn c ảnh lịch sử, văn hóa – xã hội thời Lý – Trần

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã giải phóng đất nước khỏi hơn 1000 năm đô hộ của phong kiến phương Bắc, đánh dấu sự hình thành nhà nước quân chủ độc lập và khởi đầu thời kỳ trung đại Các triều đại phong kiến như Ngô, Đinh đã ra đời và phát triển mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển của đất nước.

Tiền Lê đã củng cố và thống nhất quốc gia, tạo nền tảng cho sự phục hồi và phát triển kinh tế - văn hóa Đại Cồ Việt Những thành tựu này đã mở đường cho hai vương triều Lý và Trần xây dựng nhà nước độc lập, đưa Đại Việt đạt đỉnh cao trong lịch sử Thời đại Lý - Trần được coi là giai đoạn hào hùng và rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.

Thời Lý – Trần đánh dấu giai đoạn phục hưng và phát triển mạnh mẽ của đất nước Ngay khi lên ngôi, Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La vào năm 1010, đặt tên cho kinh đô mới là Thăng Long Quyết định này không chỉ phản ánh sự ổn định và phát triển của đất nước mà còn cho thấy rằng địa thế hiểm trở của Hoa Lư không còn phù hợp, trong khi Thăng Long trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước.

Trước yêu cầu phát triển của đất nước, Thăng Long được xác định là “đế đô muôn đời cho con cháu mai sau” Vua Lý Thái Tổ đã dời đô và đổi tên nước thành Đại Việt, đánh dấu niềm tự hào quốc gia Để củng cố triều đại, nhà Lý xây dựng triều đình chính quy với vua là Hoàng đế, nắm quyền quyết định mọi việc, cùng với các quan văn, quan võ và các cơ quan chuyên trách Đến triều Trần, bộ máy nhà nước trung ương được tăng cường, với nhiều cơ quan mới nhằm phát triển hành chính Các vua Trần có quy định nhường ngôi sớm cho con, cùng nhau quản lý đất nước, khác với triều Lý Bộ máy quan lại thời Trần có cấu trúc tương tự nhưng quy củ và đầy đủ hơn, với chức vụ cao cấp chủ yếu thuộc về giới quý tộc tôn thất Cả hai triều Lý và Trần đều chú trọng đến lập pháp, với bộ Hình thư và Quốc triều thống chế, pháp luật thời Trần hoàn thiện hơn, bổ sung yếu tố tăng cường uy quyền của nhà vua.

Tiếp nối sự nghiệp thống nhất dân tộc của các triều đại trước, thời Lý –

Triều đình Trần đã chú trọng đến việc bảo vệ và phát triển các dân tộc thiểu số, đặc biệt là những dân tộc sinh sống tại vùng biên giới giáp Trung Quốc Nhiều biện pháp đã được triển khai nhằm củng cố khối đoàn kết dân tộc và thống nhất quốc gia Dù đất nước đã giành được độc lập, nhưng nguy cơ ngoại xâm từ phương Bắc vẫn luôn hiện hữu.

Để củng cố nền thống trị và ứng phó với nạn ngoại xâm, nhà nước chú trọng xây dựng quân đội, chia thành quân cấm vệ và quân các lộ Trong thời chiến, lính được tuyển từ sổ quân, còn trong thời bình, quân lính luân phiên làm ruộng và ở lại quân ngũ để canh gác Chính sách này được gọi là “ngụ binh ư nông”, có nguồn gốc từ thời kỳ trước.

Dưới triều Lý và Trần, quân đội Việt Nam được hoàn thiện với phương châm "quân cốt tinh nhuệ, chứ không cốt nhiều" trong thời Trần, chú trọng đến chất lượng hơn số lượng Trang bị quân đội thời Trần cũng đa dạng và đầy đủ hơn so với thời Lý, bao gồm gươm, giáo và súng ống Nhìn chung, quân đội thời kỳ này có trình độ huấn luyện và tổ chức cao, đáp ứng tốt yêu cầu chiến đấu.

Nhà nước không chỉ chú trọng xây dựng quân đội mà còn phát triển kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp, thông qua các chính sách như khẩn hoang, xây dựng công trình thủy lợi, bảo vệ sức lao động nông nghiệp và giảm thuế cho nông dân trong những năm mất mùa Sản xuất nông nghiệp đã có tiến bộ đáng kể, với sự đa dạng trong trồng trọt và sản xuất thủ công nghiệp, mặc dù vẫn còn mang tính cá thể Giao thương giữa các vùng và với nước ngoài như Ấn Độ, Malaysia, Trung Quốc được mở rộng, với Thăng Long trở thành trung tâm thương mại lớn Nhà nước đã ban hành chế độ tiền tệ thống nhất, góp phần vào sự phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân, củng cố sức mạnh quốc phòng Thời kỳ này cũng đánh dấu ý thức độc lập, tự chủ và đoàn kết toàn dân, đặc biệt là trong bối cảnh đối phó với ngoại xâm, thể hiện qua các tác phẩm như Nam quốc sơn hà và Hịch tướng sĩ Các vua Lý – Trần đã thu phục các thủ lĩnh dân tộc thiểu số để cùng nhau đánh đuổi kẻ thù, dẫn đến những chiến công vang dội trong lịch sử như ba lần đánh tan quân Nguyên – Mông Hào khí Đông A được duy trì mãi mãi nhờ những chiến thắng này, là thành quả của cuộc chiến tranh nhân dân.

Hai triều đại Lý và Trần đã tạo dựng một thời đại "khoan giản, an lạc, nhân thứ, rộng mở và dân chủ" cho dân tộc Đại Việt nhờ vào các chính sách đúng đắn, sự đoàn kết và tư tưởng từ bi bác ái của nhà Phật Kinh tế phát triển và văn hóa phục hưng đã nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo ra những con người tự tin, hào hùng, phóng khoáng, giàu lòng nhân ái Những vị vua anh minh như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông đã góp phần vào việc phát triển nền văn hóa độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc.

Thái Tông và Trần Nhân Tông là những vị vua sáng suốt, yêu dân như con, không chỉ trị vì bằng sự khoan dung mà còn thu phục những kẻ phản bội để bảo vệ biên cương Tổ quốc Vua Lý Thánh Tông, trong những ngày đông lạnh giá, đã thể hiện tấm lòng nhân ái khi phát chăn chiếu và thức ăn cho tù nhân, đồng thời hỗ trợ dân nghèo trong lúc đại hạn bằng thóc và tiền lụa Ông khuyên các quan xử án cần khoan dung, thể hiện sự thương xót đối với dân Thượng hoàng Trần Thái Tông cũng không muốn trừng phạt quan lại, trong khi Trần Nhân Tông nhường ngai vàng cho con và trở thành Thiền sư, khuyên dân làm điều thiện và thắt chặt quan hệ hữu nghị với Chiêm Thành Thời đại này còn ghi nhận những vị tướng như Lý Thường Kiệt và Trần Quốc Tuấn, họ không màng công danh, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn, và những tấm gương như Trần Bình Trọng cho thấy tinh thần kiên cường, không chịu khuất phục trước giặc.

Thời đại hiện nay đã sinh ra nhiều nhân cách đẹp, góp phần tạo nên hào khí cho xã hội Một yếu tố quan trọng trong việc hình thành những con người có nhân cách cao đẹp chính là tư tưởng từ bi và bác ái của Phật giáo.

Dưới thời Lý, văn hóa Việt Nam chứng kiến sự xuất hiện của tầng lớp Nho sĩ được đào tạo theo Nho giáo, nhưng Phật giáo vẫn chiếm ưu thế và phát triển mạnh mẽ hơn, đóng góp lớn cho sự phục hưng và phát triển đất nước Vua và quý tộc rất tôn sùng đạo Phật, thể hiện sự ảnh hưởng sâu rộng của tôn giáo này trong đời sống xã hội.

Phật giáo và Đạo giáo chiếm tỉ lệ lớn trong đời sống nhân dân, với sự quan tâm của các vua trong việc xây dựng chùa chiền Sự dung hợp giữa Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo tạo nên tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” Thời Lý chứng kiến sự phát triển của giáo dục với việc xây dựng Văn Miếu (1070) và tổ chức khoa thi Tam giáo (1075), cùng với sự ra đời của Quốc Tử Giám vào năm 1076, đánh dấu nền tảng cho thi cử Nho học Nghệ thuật giải trí, âm nhạc và sân khấu phát triển mạnh mẽ, trong khi các lễ hội dân gian ca ngợi anh hùng như Thánh Dóng và Lý Thường Kiệt Kiến trúc cung đình và chùa tháp đạt nhiều thành tựu, với Thăng Long trở thành kinh thành lớn nhất Kiến trúc thời Lý nổi bật với kiểu dáng độc đáo, chắc chắn và hòa quyện với thiên nhiên Nghệ thuật điêu khắc cũng phát triển tinh xảo, đặt nền tảng cho văn hóa dân tộc phát triển rực rỡ trong các triều đại sau.

Thời Trần (1258 - 1288), đất nước trải qua ba lần xâm lược, kinh thành Thăng Long bị chiếm đóng và tàn phá, nhưng sau khi giành lại độc lập, triều đình và nhân dân đã khôi phục kinh tế và phát triển văn hóa mạnh mẽ Phật giáo trong thời kỳ này được tôn sùng bởi vua quan và nhân dân, với sự gia tăng số lượng chùa chiền Những người lãnh đạo triều Trần đã dân tộc hóa và đại chúng hóa Phật giáo, tạo ra một dòng thiền mang bản sắc dân tộc Việt Tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” từ thời Lý vẫn tồn tại gần một thế kỷ, nhưng đến nửa sau đời Trần, Phật giáo dần mất ưu thế trước Nho giáo, dẫn đến xung đột giữa hai hệ tư tưởng này Cuối thời Trần, Phật giáo rút lui khỏi chính trường, trong khi Nho giáo và Đạo giáo cũng được coi trọng.

Phật giáo có sự phát triển mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu rộng đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội Tôn giáo này không chỉ gắn liền với cuộc sống hàng ngày mà còn thấm nhuần trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa và nghệ thuật.

Văn học thời Lý – Trần

Văn học Lý – Trần là tấm gương phản chiếu trung thành cuộc sống và là sản phẩm văn hóa tinh thần của thời đại độc lập tự chủ Nó không chỉ thể hiện khí thế và tinh thần của thời kỳ mà còn đóng vai trò tiên phong trong việc hình thành nền văn học thành văn Việt Nam Với điểm khởi đầu vững chắc, văn học Lý – Trần đã giúp văn học dân tộc tiến xa hơn trong quá trình phát triển, đồng thời phản ánh tinh thần của thời đại và đặt nền móng cho nền văn học dân tộc.

Trong thời kỳ Phật giáo phát triển mạnh mẽ, kinh điển Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam, thu hút một lượng lớn người theo đạo, đặc biệt là vua quan, quý tộc và trí thức am hiểu sâu sắc giáo lý Sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đã tác động mạnh mẽ đến tư duy và hành động của con người, làm phong phú thêm nền văn học viết thời Lý – Trần với nhiều tác phẩm mang đậm chất thiền Con người tìm đến Phật giáo để đạt được sự tĩnh lặng và thanh thản tâm hồn giữa những biến động của cuộc sống Văn học giai đoạn này thể hiện tinh thần yêu nước và thượng võ, đồng thời phản ánh triết lý sống an nhiên tự tại, sống hết mình nhưng không cầu mong, chấp nhận mọi thăng trầm của cuộc đời.

Văn học trung đại, đặc biệt là văn học Lý – Trần, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn học Trung Quốc do hơn một nghìn năm Bắc thuộc Các triều đại phong kiến phương Bắc đã áp đặt văn hóa Hán vào Việt Nam với mong muốn đồng hóa, dẫn đến việc văn học Lý – Trần không thể tránh khỏi sự tác động này.

Hán văn ảnh hưởng sâu sắc đến ngôn ngữ, thể loại và tư tưởng trong văn học Việt Nam Ở giai đoạn đầu, hầu hết tác phẩm được viết bằng chữ Hán, trong khi chữ Nôm chỉ xuất hiện từ thời Trần Văn học Lý – Trần không chỉ vay mượn chữ viết mà còn tiếp thu thi liệu, điển cố từ sử sách và kinh điển Trung Quốc.

Văn học Lý – Trần chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn hóa Trung Quốc, thể hiện qua việc vay mượn các thể loại như văn vần, văn biền ngẫu và tản văn, bao gồm hịch, cáo, chiếu, biểu, từ, khúc ngâm, và thơ Đường luật Các tác giả thời kỳ này tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc của thể loại, và chưa có sự phá vỡ tính quy phạm như ở các giai đoạn sau Ngoài việc vay mượn thể loại, văn học Lý – Trần còn bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng tôn giáo và học thuyết như Phật, Nho, Lão, nhưng đã được điều chỉnh để phù hợp với truyền thống và đời sống tâm linh của người Việt.

Tuy trong hoàn cảnh buộc phải vay mượn một số phương tiện, văn học Lý -

Văn học Lý – Trần không chỉ thể hiện sự sáng tạo độc đáo mà còn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Trong quá trình phát triển, nó đã tiếp thu có chọn lọc những giá trị tinh túy từ văn học các nước, đặc biệt là những yếu tố hay và đẹp, góp phần làm phong phú thêm nền văn học trung đại Việt Nam.

Trung Hoa đã nỗ lực chống lại sự đồng hóa để nâng cao tính dân tộc trong cả nội dung và hình thức văn học Việc sử dụng chữ Nôm trong sáng tác cho thấy ý thức thoát khỏi sự lệ thuộc vào văn hóa phương Bắc, hướng tới việc xây dựng một nền văn học quốc ngữ Nội dung tác phẩm ngày càng tập trung vào cuộc sống và con người Đại Việt, ca ngợi vẻ đẹp quê hương và thể hiện niềm tự hào dân tộc Nhiều tác phẩm, dù vay mượn thể loại, vẫn mang đậm tính dân tộc và thể hiện tinh thần quyết chiến bảo vệ đất nước như trong các tác phẩm Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, và Tụng giá hoàn kinh sư Đặc biệt, bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt được coi là một tuyên ngôn về chủ quyền dân tộc và là lời hiệu triệu khích lệ tinh thần chiến đấu chống quân xâm lược.

1076 trên trận tuyến sông Cầu:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư [6, tr.321]

Khi chứng kiến cảnh sứ giặc tự do đi lại và sỉ nhục triều đình, Trần Quốc Tuấn cảm thấy căm phẫn, quyết tâm chiến đấu để bảo vệ đất nước Tinh thần yêu nước và sự sẵn sàng hy sinh của ông thể hiện lòng quyết tâm của những người con Đại Việt trong cuộc chiến chống ngoại xâm.

Bên cạnh những bài thơ thể hiện tinh thần hào hùng của con người và đất nước Đại Việt, còn có những tác phẩm tôn vinh vẻ đẹp giản dị của quê hương.

Lão tang diệp lục tàm phương tận, Tảo đạo hoa hương giải chính phì

Kiến thiết tại gia bần diệc hảo, Giang Nam tuy lạc bất như quy

(Quy hứng – Nguyễn Trung Ngạn) (Dâu già lá rụng tằm vừa chín,

Lúa sớm nở hoa thơm, cua đang lúc béo

Nghe nói ở nhà dẫu nghèo vẫn tốt, Đất Giang Nam tuy vui, cũng chẳng bằng về nhà.)

Văn học Lý – Trần đóng vai trò tiên phong quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của văn học dân tộc sau này Tác phẩm trong giai đoạn này không chỉ phong phú về nội dung mà còn thể hiện sự thanh nhã và uyên thâm Mặc dù số lượng tác phẩm còn lại sau chiến tranh không nhiều, nhưng giá trị văn chương và lịch sử của chúng vẫn được công nhận.

Ph ật hoàng Trần Nhân Tông và thiền phái Trúc Lâm

Tr ần Nhân Tông – thân thế và sự nghiệp

Trần Nhân Tông được ghi nhận là một vị vua hiền minh, có nhiều đóng góp quan trọng cho lịch sử dân tộc và Phật giáo Việt Nam Dù đã hơn bảy thế kỷ trôi qua, vai trò của ông vẫn được khẳng định và tôn vinh trong lòng người dân Hàng năm, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức lễ giỗ của ông, thu hút sự quan tâm của các cơ quan lãnh đạo và đông đảo Phật tử Trong những thời điểm đất nước đối mặt với nguy cơ xâm lăng, hình ảnh của vua Trần Nhân Tông, người đã lãnh đạo quân dân đánh bại hai cuộc xâm lược của quân Nguyên vào các năm 1285 và 1287, lại được nhắc đến như một biểu tượng của trí tuệ và lòng dũng cảm.

Trần Nhân Tông, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1258, là con trai của vua Trần Thánh Tông và hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm Theo truyền thuyết, hoàng thái hậu thường mơ thấy thần nhân tặng một đôi kiếm, và đã chọn ngẫu nhiên một thanh đoản kiếm, từ đó mang thai Trần Nhân Tông Khi ra đời, Đại Việt sử ký toàn thư mô tả ông là “được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng,” và được hai cung gọi là Kim Tiên đồng tử.

Trên vai trái của vua Trần Nhân Tông có một nốt ruồi đen như hạt đỗ, điều này được các nhà tướng số lý giải là dấu hiệu cho thấy ông có khả năng gánh vác trọng trách lớn Trong quá trình trưởng thành, ông được vua cha chăm sóc và giáo dục một cách chu đáo để sẵn sàng kế thừa sự nghiệp quốc gia trong tương lai.

Trần Nhân Tông, một vị vua thông minh và đa năng, được biết đến với sự hiếu học và hiểu biết sâu rộng về kinh điển Năm 16 tuổi, ông được phong làm Thái tử, mặc dù đã từ chối ba lần và mong muốn em mình được chọn thay Cùng năm đó, vua cha đã gả công chúa Khâm Từ cho ông, nhưng Nhân Tông cảm thấy cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, và khao khát một cuộc sống thanh tĩnh Một đêm, ông lén trốn lên núi Yên Tử nhưng bị phát hiện và đưa trở về Sau khi lên ngôi, mặc dù sống trong vinh hoa phú quý, ông vẫn yêu thích sự tĩnh lặng và thường xuyên tu hành tại chùa Tư Phúc Trong một giấc mơ, ông thấy một hoa sen vàng lớn nở trên rốn mình, với hình ảnh Phật vàng hiện ra, điều này đã thể hiện sự giác ngộ và tâm linh của ông.

Đức Phật Biến Chiếu Tôn đã khiến vua thay đổi thói quen ăn uống, dẫn đến việc vua thường xuyên ăn chay Hệ quả là vua trở nên gầy guộc và xanh xao, khiến vua cha lo lắng và hỏi lý do cho sự thay đổi này.

Thánh Tông, trong nỗi buồn và sự yếu đuối của tuổi già, đã nói với con rằng: “Ta chỉ có thể dựa vào con, nếu con không làm tốt thì sự nghiệp của tổ tông sẽ ra sao?” và cả hai cha con đã cùng nhau rơi lệ.

Năm 20 tuổi, nhằm ngày 22 tháng 10 năm 1278 (Mậu Dần), Trần Nhân Tông lên ngôi, đến mùng 1 tháng giêng năm 1279 đổi niên hiệu là Thiệu Bảo

Mặc dù mới 20 tuổi, vua Trần Nhân Tông đã thể hiện sự thông minh và tài trí của một nhà lãnh đạo trẻ Ngay khi lên ngôi, ông phải đối mặt với mối đe dọa từ nhà Nguyên, đang chuẩn bị xâm lược Đại Việt Đoàn sứ bộ do Sài Thung dẫn đầu đã đến nước ta với ý định bắt vua sang chầu, nhưng Trần Nhân Tông đã khôn khéo thực hiện chính sách ngoại giao linh hoạt, vừa mềm dẻo vừa cứng rắn, để tạo thời gian củng cố tiềm lực quốc gia Ông đã tiếp đón đoàn sứ bộ, tổ chức tiệc nhưng từ chối sang chầu với lý do sức khỏe yếu Nhà Nguyên đã giữ sứ giả Trịnh Quốc Toản và gửi Sài Thung trở lại với điều kiện đe dọa Để đối phó với nguy cơ chiến tranh, vua Trần Nhân Tông đã nhanh chóng triển khai các biện pháp nâng cao tiềm lực chính trị, quân sự, kinh tế và ngoại giao, đồng thời thực hiện chính sách an dân để ổn định xã hội ngay từ năm Thiệu Bảo thứ nhất.

Vào năm 1279, vua đã thực hiện đại xá cho nhân dân, nhằm giải quyết những oan ức và bất công trong xã hội Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận việc người dân đã đón tiếp vua để khiếu nại về một vụ án oan Ngay lập tức, trong khi đang trên đường, vua đã chỉ định Chánh chưởng nội thư hỏa Trần Hùng Thao kiêm chức Kiểm pháp quan để xử lý vụ việc.

Vào thời điểm này, Trịnh Giác Mật ở Đà Giang đã nổi loạn, khiến vua phải cử Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đến thuyết phục hàng phục Nhờ vào tài năng của mình, ông đã thành công trong việc thuyết phục Mật đầu hàng.

Vua Trần Nhân Tông không chỉ tập trung vào ổn định chính trị mà còn đặc biệt quan tâm đến phát triển kinh tế và đời sống nhân dân Ông chú trọng đến việc đắp đê điều nhằm thúc đẩy nông nghiệp, thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến sự phát triển bền vững của đất nước.

Vào năm 1280, vua đã quyết định thống nhất đơn vị đo lường bằng cách ban hành “thước gỗ, thước lụa cùng một kiểu” để thuận tiện cho giao lưu buôn bán Đồng thời, nhà vua cũng tiến hành “xét duyệt sổ đinh và các sắc dịch trong nước” nhằm nắm bắt dân số, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và tuyển quân khi cần thiết Đến tháng 10 năm Thiệu Bảo thứ 2, nhân dân đã được mùa to, với lúa ruộng ở Trà.

Kiều thuộc Khoái Lộ một giò hai bông” [30, tr.45]

Trong bối cảnh đất nước có nguy cơ chiến tranh, vua Trần Nhân Tông đã thể hiện sự sáng suốt trong việc điều hòa đối nội và đối ngoại Về mặt đối nội, triều đình hòa mục, không có tranh giành quyền lực, và vua luôn nhân từ, biết kết nối lòng dân, tin dùng những tướng tài, và tha thứ cho lỗi lầm của kẻ dưới Điều này đã tạo ra sự đoàn kết và yêu thương trong toàn dân, góp phần vào sức mạnh nội tại của dân tộc, giúp thực hiện hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông Về đối ngoại, vua Trần Nhân Tông nhận thức rõ điểm mạnh và yếu của mình cũng như của ngoại bang, từ đó áp dụng chính sách ngoại giao linh hoạt, bảo vệ lãnh thổ và thể diện quốc gia Ông đã xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với Chiêm Thành, từ chối ý định làm bề tôi của sứ bộ Chiêm Thành và hỗ trợ quân sự khi đất nước này bị quân Nguyên xâm lược, vì hiểu rõ âm mưu của quân Nguyên muốn chiếm Chiêm Thành làm bàn đạp tấn công Đại Việt Sau này, khi làm Thái thượng hoàng, ông còn gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân nhằm mở mang bờ cõi về phía Nam và tạo mối quan hệ thân tình với Champa, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của ông đối với quốc gia.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông, vua Trần Nhân Tông đã thể hiện tài năng lãnh đạo xuất sắc Ông trực tiếp khảo sát tình hình khi quân Nguyên xâm lược và tổ chức hội nghị Bình Than để bàn về kế sách chống giặc Trong thời chiến, vua là người mưu trí, kiên cường, biết quy tụ sức mạnh toàn dân để bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời thể hiện lòng nhân ái đối với bề tôi và cả kẻ thù.

Trong lần thứ hai Mông, Hưng Đạo vương đã chỉ đạo quân đội từ các lộ Hải Đông, Vân Trà, Ba Điềm vượt biển vào Nam Giữa lúc các quần thần lo lắng trước sức mạnh của kẻ thù, vua đã ngự thuyền và viết hai câu thơ khích lệ tướng sĩ: “Cối Kê cựu sự quân tu ký/ Hoan, Ái do tồn thập vạn binh”.

Khi Toa Đô thất thế, vua trông thấy thủ cấp của Toa Đô, “thương hại nói:

Ngô Sĩ Liên đã ghi nhận một hành động quyết đoán khi người làm tôi yêu cầu cởi áo ngự và ra lệnh chôn cất, đồng thời bí mật sai quân lấy đầu Toa Đô tẩm dầu để răn đe Hành động này xuất phát từ việc Toa Đô đã mượn đường để cướp nước ta trong suốt ba năm.

Thơ văn Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông không chỉ nổi bật với tài năng quân sự và ngoại giao mà còn là một nhà văn hóa lớn của dân tộc Ông đã sáng tác nhiều tác phẩm đa dạng, bao gồm thơ, phú, văn xuôi, bài giảng, ngữ lục và văn thư ngoại giao Tuy nhiên, do ảnh hưởng của chiến tranh, phần lớn các tác phẩm của ông đã bị thất lạc, chỉ còn lại một số ít được trích dẫn trong các sách như Tam Tổ Thực Lục, Thánh Đăng Lục và Việt Âm Thi.

Về thơ, Lê Mạnh Thát sưu tập và khẳng định “tổng số thơ của vua Trần

Nhân Tông gồm 32 bài thơ và 3 đoạn phiến, nhưng con số này chưa bao gồm các đoạn phiến rải rác trong các bài phú, văn xuôi và bài giảng Trong đó, có hai bài thơ chữ Hán nổi bật là Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca và Cư trần lạc đạo phú, cùng với bài Tán Tuệ Trung trong văn xuôi.

Thượng sĩ hành trạng, bài Hữu cú vô cú, Hàm tuyết 0F 1 tại buổi giảng ở chùa Sùng

Trong buổi giảng tại viện Kỳ Lân núi Chí Linh, Nghiêm núi Chí Linh đã trình bày bài Nhược vị 1F 2, kèm theo nhiều đoạn phiến thơ hai câu được viết bằng chữ Hán Những bài thơ này mang đậm chất thanh nhã, sâu sắc và thể hiện tinh thần hào hùng.

Trần Nhân Tông đã sáng tác hai bài thơ bằng chữ Nôm, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca và Cư trần lạc đạo phú, mang giá trị lớn đối với Phật giáo Việt Nam Đặc biệt, Cư trần lạc đạo phú được xem như bản tuyên ngôn cho con đường sống đạo của Phật giáo Việt Nam, ảnh hưởng sâu sắc đến hàng triệu phật tử trong thời kỳ đó và các thế kỷ sau Hai tác phẩm này không chỉ khẳng định vẻ đẹp của tiếng Việt như một ngôn ngữ văn học mà còn thu hút sự chú ý của người đương thời và hậu thế, góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền văn học Việt Nam.

Trần Nhân Tông không chỉ nổi bật với thơ và phú, mà còn có nhiều tác phẩm văn xuôi, bài giảng, ngữ lục và văn thư ngoại giao Trong số đó, tác phẩm văn xuôi tiêu biểu là "Thượng sĩ hành trạng", ghi lại tiểu sử của Tuệ Trung Thượng Sĩ và những bài tán của môn nhân Hai bài giảng quan trọng của ông được thực hiện vào năm 1304 tại chùa Sùng Nghiêm và năm 1306 tại viện Kỳ Lân, trong đó bài giảng ở chùa Sùng Nghiêm được ghi trong "Thánh đăng ngữ lục" Ngữ lục của Trần Nhân Tông bao gồm hai loại: đối đáp Thiền học bằng thơ giữa vua và các môn đồ, cùng với những phát biểu của vua trong các cuộc tiếp sứ giặc.

Hiện nay, hai văn bản này không tìm thấy, nhưng chúng đã thể hiện phong thái, cách ứng xử và quan điểm của vua Trần Nhân Tông dưới con mắt của đối phương Qua hai đoạn ngữ lục trước và sau hai cuộc chiến tranh vệ quốc 1285 và 1288, quan điểm của vua rất nhất quán: đấu tranh không nhân nhượng, không khuất phục trước uy quyền và những lời dọa dẫm của Hốt Tất Liệt Hai mươi hai văn kiện ngoại giao gửi cho vua quan nhà Nguyên của vua Trần Nhân Tông cũng thể hiện rõ điều đó.

Trần Nhân Tông thể hiện rõ nét tài trí và nhân cách của mình qua các văn kiện, với mong muốn xây dựng hòa bình giữa hai quốc gia láng giềng Ông kiên trì áp dụng biện pháp mềm dẻo nhưng cũng rất quyết đoán để đẩy lùi âm mưu xâm lược của vua Nguyên.

Các tác phẩm của vua Trần Nhân Tông, mặc dù không nhiều, nhưng mang giá trị lớn về văn học, lịch sử, văn hóa và triết học, đặc biệt là Thiền tông Thơ của ông nổi bật với giá trị văn chương cao, tạo nên vẻ đẹp riêng trong dòng chảy văn học Lý – Trần, thể hiện tài hoa và phẩm chất tâm hồn đặc biệt của vị vua Phật Trần Nhân Tông.

ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG

Tình yêu và ni ềm tự hào về quê hương đất nước

2.1.1 Tình yêu mến, gắn bó sâu sắc với đất nước và con người Đại Việt

Tình yêu quê hương đất nước là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, thể hiện rõ nét trong văn học qua những tác phẩm đầy cảm xúc của các nhà thơ, nhà văn Trần Nhân Tông, một vị vua nhân từ, không chỉ vì dân mà còn sống trong thời kỳ oanh liệt của lịch sử, đã thể hiện tình yêu sâu sắc với quê hương, đất nước và con người Đại Việt.

Tình yêu quê hương Việt Nam được thể hiện rõ nét qua những bài thơ tràn đầy cảm xúc, phản ánh cái hồn dân tộc mà tác giả luôn gìn giữ và trân trọng Những vần thơ trong sáng không chỉ miêu tả thiên nhiên mà còn khắc họa vẻ đẹp đặc trưng của quê hương, từ cảnh sớm xuân với đôi bướm trắng đến âm thanh ve ngân rộn rã vào những buổi chiều hè Hình ảnh ánh trăng sáng nơi am vắng hay trong cung cấm, cùng với khung cảnh thanh bình của làng quê Thiên Trường, tất cả đều gợi lên sự gần gũi và thân thương trong tâm hồn người Việt.

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên, Bán vô bán hữu tịch dương biên

Mục đồng nghịch lý quy ngưu tận, Bạch lộ song song phi hạ điền

(Thiên trường vãn vọng) (Trước thôn, sau thôn đều mờ mờ như khói phủ,

Bên bóng chiều (cảnh vật) nửa như có, nửa như không

Trong tiếng sao, mục đồng lùa trâu về hết,

Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng)

(Ngắm cảnh chiều ở Thiên Trường) [7, tr.464-465]

Bài thơ mô tả khung cảnh đồng quê yên bình, nơi nhà thơ đứng từ trên cao, cảm nhận vẻ đẹp quê hương trong ánh nắng chiều Tầm mắt bao quát ruộng đồng bát ngát, thôn xóm trù phú, cùng cánh cò trắng liệng xuống đồng và âm thanh trong trẻo của tiếng sáo Tất cả tạo nên một bức tranh thanh bình, gợi nhớ kỷ niệm tuổi thơ, gần gũi như lời ca dao của người Việt.

Trong văn chương trung đại, hình ảnh quen thuộc như “phong, hoa, tuyết, nguyệt” hay “hồ, đình, liễu, tạ” thường xuất hiện, trong khi những biểu tượng nông thôn như cánh cò, con trâu hay cánh đồng lúa lại hiếm hoi Phải đến cuối thế kỷ XIX, cảnh sắc nông thôn và đời sống chân thực mới được phản ánh trong thi ca Tuy nhiên, Trần Nhân Tông, dù lớn lên trong cung điện, vẫn vẽ nên bức tranh làng quê chân thực, sinh động và giản dị, thể hiện tấm lòng yêu mến quê hương và con người Đại Việt của ông.

Trần Nhân Tông một lần nữa dạo bước một mình trên con đường đất đầy bùn lầy tại quê nhà, sau cơn mưa vừa tạnh, cảnh vật xung quanh trở nên rực rỡ với những màu sắc lung linh.

Lục ám hồng bi bội tịch liêu,

Tễ vân thôn vũ thổ hoa tiêu

(Thiên Trường phủ) (Màu xanh thẫm, màu đỏ thưa, cảnh thêm vắng vẻ,

Mây quang, mưa tạnh, ngấn bùn đất cũng mất sạch.)

Sau cơn mưa, mọi vật trở nên tươi mới, như được gột rửa, hoa lá và cỏ cây tràn đầy sức sống Khi tiếng mưa dứt, cảnh vật trở lại yên tĩnh, và điều đặc biệt là lớp bùn đất trên đường đã biến mất Câu thơ “Tễ vân thôn vũ thổ hoa tiêu” nghe giản dị nhưng chứa đựng tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ Sự chú ý đến những chi tiết nhỏ nhặt và tinh tế này cho thấy tấm lòng gắn bó của thi nhân với quê hương.

Trần Nhân Tông không chỉ yêu mến quê hương Thiên Trường mà còn dành tình cảm cho mọi miền đất nước Đại Việt, từ những ngôi chùa cổ hoang vắng đến những cảnh sắc độc đáo, mỗi nơi đều mang trong mình vẻ đẹp riêng biệt.

Cổ tự thê lương thu ái ngoại, Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ

Thủy minh, sơn tĩnh, bạch âu quá, Phong định, vân nhàn,hồng thụ sơ

(Lạng Châu vãn cảnh) (Ngôi chùa cổ lạnh lẽo sau lớp khói mùa thu,

Thuyền câu hiu quạnh, chuông chùa bắt đầu điểm

Nước trong, núi lặng, chim âu trắng bay qua, Gió im, mây nhởn nhơ, cây lơ thơ lá đỏ.)

(Cảnh chiều ở Châu Lạng) [7, tr.468]

Buổi chiều ở Lạng Châu mang vẻ đẹp bình dị, thơ mộng như vùng quê Thiên Trường, với ngôi chùa cổ phủ sương khói mùa thu tạo nên sự hư ảo Cảnh vật tĩnh lặng càng tôn thêm vẻ cổ kính, chiếc thuyền câu hiu quạnh không có người, nước trong lặng lẽ, và gió im ắng Trong không gian yên tĩnh, tiếng chuông chùa vang lên rồi tan biến, làm tăng thêm sự vắng vẻ Trước cảnh thiên nhiên như chốn thần tiên, tâm hồn thi nhân hòa quyện với cảnh vật, và Trần Nhân Tông đã ghi lại vẻ đẹp giản dị, bình yên của làng quê này như một họa sĩ trước bức tranh tuyệt vời của thiên nhiên.

Trần Nhân Tông để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người qua những bước chân của mình, nơi cảnh đẹp của đất nước hiện hữu trong những bài thơ tràn đầy tình yêu thiên nhiên Những hình ảnh thanh nhã của núi Bảo Đài và chùa Phổ Minh, vẻ đẹp huyền ảo của chiều thu tại Vũ Lâm, hay Hồ Động Thiên đều gợi lên sự gắn bó giữa con người và cảnh vật Âm thanh của chuông chùa vang vọng hòa cùng tiếng kinh cầu, và tiếng ve ngân trong không gian tĩnh lặng của buổi trưa hè, tất cả tạo nên bức tranh sống động về hình ảnh quen thuộc của làng quê với gốc đa và bến nước.

Việt Nam hiện lên qua trang thơ Trần Nhân Tông với vẻ đẹp gần gũi, bình dị, thể hiện sự yên bình và ấm áp của thiên nhiên, đồng thời vẫn toát lên sự thanh thoát đặc trưng của đất nước.

2.1.2 Niềm tự hào về đất nước, con người và văn hóa Đại Việt

Trần Nhân Tông không chỉ thể hiện tình yêu quê hương mà còn tự hào về đất nước, con người và văn hóa Đại Việt Sau ba lần chiến thắng quân Nguyên, ông cùng triều đại Trần vẫn duy trì chính sách ngoại giao hòa bình với nhà Nguyên, thể hiện qua việc cử sứ giả sang cống và dâng biểu "xin lỗi" Nhà Nguyên đã cử Lý Tư Diễn sang Đại Việt để tuyên chiếu.

Trong bữa tiệc họp mặt, nhà vua đã sáng tác một bài thơ tặng sứ thần, thể hiện khí thế và bản lĩnh của người con đất Việt, đồng thời thể hiện niềm tự hào dân tộc.

Thác khai địa giác gia hòa khí,

Tịnh hiệp thiên hà tẩy chiến trần

(Mảnh đất mới mở rộng cũng có hòa khí, Kéo sông Thiên Hà rửa sạch bụi chiến tranh.) [7, tr.474-475]

Mặc dù ban đầu thể hiện sự khiêm nhường và tôn vinh “Hán ân”, nhưng nhà vua vẫn khẳng định hào khí dân tộc sau chiến thắng, nhấn mạnh rằng Đại Việt là vùng đất hòa bình, nơi con người yêu chuộng hòa bình Dù nhỏ bé, Việt Nam vẫn có những nhân tài đủ sức rửa sạch bụi chiến tranh Câu thơ của Trần Nhân Tông gợi nhớ đến tác phẩm của Đỗ Phủ trong bài Tẩy binh mã.

An đắc tráng sĩ vãn Ngân Hà

Tịnh tẩy giáp binh trường bất dụng

(Ước gì có được người tráng sĩ kéo sông Ngân Hà

Rửa sạch giáp binh có thể là điều mong muốn để không còn phải chiến đấu, nhưng với Đỗ Phủ, chấm dứt chiến tranh chỉ là giấc mơ xa vời, khiến hình ảnh thơ trở nên kì vĩ nhưng âm điệu lại buồn thương Ngược lại, vua Trần Nhân Tông đã thực hiện được chiến thắng trước quân Nguyên xâm lược, do đó giọng thơ của ông tràn đầy sự hào sảng, tự tin và niềm tự hào.

Trong bài thơ “Tức sự”, Trần Nhân Tông bộc lộ niềm tự hào và sự tự tin về sức mạnh dân tộc trong bối cảnh chiến tranh ác liệt của quân dân Đại Việt.

Cối kê cựu sự quân tu ký Hoan, Ái do tồn thập vạn binh

Tâm h ồn phong phú, mẫn cảm và dạt dào chất nhân văn

2.2.1 Mẫn cảm trước thiên nhiên

Thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca, thể hiện mối quan hệ sâu sắc giữa con người và thiên nhiên Trong cảm thức thời trung đại, con người được xem như một tiểu vũ trụ, hòa nhập và đồng nhất với thiên nhiên, tạo nên khái niệm “vạn vật nhất thể” Các thi nhân trải nghiệm thiên nhiên qua nhiều trạng thái cảm xúc phong phú, từ sự bình lắng trước cảnh sắc cô tịch, thanh nhã đến tinh thần tự tại, tiêu dao trước không gian bao la.

Thơ Trần Nhân Tông là tiếng nói từ trái tim, thể hiện sự nhạy cảm trước thiên nhiên và cuộc sống Nhà thơ, như một nghệ sĩ lang thang, đã khám phá mọi miền quê Việt Nam, từ đó sáng tác những bài thơ giàu cảm xúc về cảnh vật và con người Trần Nhân Tông được coi là một trong những thi sĩ vĩ đại nhất trong văn học Lý – Trần và đã để lại nhiều tác phẩm nổi bật, như Xuân hiểu, Khuê oán, và Thiên Trường vãn vọng Những tác phẩm này không chỉ phản ánh vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc.

Thơ thiên nhiên của Trần Nhân Tông thể hiện cảnh vật thanh nhã, u tịch nhưng hữu tình, hòa quyện giữa hư và thực Thiên nhiên không hoàn toàn câm lặng mà có những âm thanh nhẹ nhàng như tiếng chuông, tiếng ve, và tiếng sáo của trẻ mục đồng, tạo nên một không gian sống động Thi nhân thường không miêu tả cụ thể âm thanh mà mở lòng đón nhận chúng, hòa điệu với thiên nhiên Mỗi bài thơ như một bức tranh thủy mạc, chỉ cần vài nét chấm phá để ghi lại hồn cảnh vật, thể hiện tình yêu thiên nhiên và tâm hồn nhạy cảm Để sáng tác những bài thơ thiên nhiên bất hủ, thi nhân cần có tâm hồn rộng mở và sẵn sàng rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên Với phong cách đa dạng và tâm hồn mẫn cảm, Trần Nhân Tông đã viết nên những dòng thơ làm rung động lòng người, vừa an nhiên vừa siêu phàm Bài thơ Đăng bảo đài sơn là minh chứng cho sự tinh tế của tâm hồn ông.

Thời lai xuân vị thâm

Vân sơn tương viễn cận, Hoa kính bán tình âm

Vạn sự thủy lưu thủy, Bách niên tâm ngữ tâm ỷ lan hoành ngọc địch,

Minh nguyệt mãn hung khâm

(Đất hẻo lánh đài thêm cổ kính,

Theo thời tiết, mùa xuân về chưa lâu

Núi mây như xa như gần, Ngõ hoa nửa rợp, nửa nắng

Muôn việc như nước tuôn nước, Trăm năm lòng lại nhủ lòng

Tựa lan can nâng chiếc sáo ngọc, Ánh trăng sáng chan hòa trước ngực

Nhà thơ đến núi Bảo Đài vào đầu xuân, khi thời tiết chuyển mùa với nhiều mây và nắng mưa bất chợt, tạo nên khung cảnh mờ ảo giữa núi và mây Bảo Đài, thuộc dãy Yên Tử, vào thời điểm đó là vùng đất hẻo lánh, càng làm tăng vẻ cổ kính của nơi đây Mặc dù không gian tĩnh lặng, mùa xuân vẫn hiện lên tươi thắm, hòa quyện với sự cổ xưa của núi non và đất trời Bức tranh thiên nhiên được miêu tả bằng những màu sắc thanh đạm, không chói lọi, khiến tứ thơ trở nên sâu sắc và gợi mở nhiều liên tưởng Mặc dù không có từ chỉ màu sắc, nhưng sắc xuân vẫn hiện hữu, mang đến cảm nhận về cảnh vật lúc chớm xuân, với chút vương vấn của mùa đông.

Trước khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tâm hồn thi nhân trở nên thanh tĩnh và lắng đọng Họ khám phá mọi ngóc ngách của cảnh vật với cảm xúc ngạc nhiên và hân hoan Mây và núi như gần gũi hơn, trong khi con đường được che phủ bởi hoa và ánh nắng Thi nhân hòa mình vào cảnh vật, thổi sáo để ánh trăng tràn ngập lồng ngực, tạo nên sự hòa hợp tuyệt đối giữa tâm hồn và thiên nhiên Nhà thơ Saigyo của Nhật Bản vào thế kỷ mười hai cũng từng diễn tả những cảm xúc tương tự.

Trái tim trăng sáng Ánh lên ngời ngời Đến với bài Thiên Trường vãn vọng, chúng ta lại được thấy một bức tranh thôn quê yên bình:

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên, Bán vô bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lý quy ngưu tận,

Bạch lộ song song phi hạ điền

(Thiên trường vãn vọng) (Trước thôn, sau thôn đều mờ mờ như khói phủ,

Bên bóng chiều (cảnh vật) nửa như có, nửa như không

Trong tiếng sáo, mục đồng lùa trâu về hết,

Từ trên cao nhìn xuống ruộng đồng lúc chạng vạng, cảnh vật hiện lên nửa hư nửa thực, hòa quyện giữa khách quan và chủ quan Ánh hoàng hôn lặn vào sương khói tạo nên vẻ đẹp mờ ảo, trong khi những đứa trẻ mục đồng thổi sáo trên lưng trâu, hòa quyện cùng âm thanh yên bình của thiên nhiên Hình ảnh đôi cò trắng sà xuống ruộng như thiên thần mang đến điều kỳ diệu, tạo nên bức tranh thanh tịnh với con đường làng êm ả, đàn cò trên cánh đồng lúa xanh và những đứa trẻ lùa trâu về chuồng Bài thơ ngắn gọn nhưng vẽ nên một bức tranh thủy mạc chân thực, linh hoạt và sâu sắc, thể hiện tâm hồn thanh tịnh của nhà thơ.

Khi đến hồ Động Thiên, khung cảnh hữu tình khiến tâm hồn nhà thơ dâng trào cảm xúc, từ đó tạo nên những vần thơ tuyệt đẹp về vẻ đẹp của nơi đây.

Hoa thảo giảm xuân dung

Thượng đế liên sầu tịch,

Thái thanh thì nhất chung

(Động Thiên hồ thượng) (Quang cảnh hồ Động Thiên,

Hoa cỏ kém vẻ xuân tươi

Thượng đế thương hiu quạnh,

Tỉnh thoảng điểm một tiếng chuông giữa tầng biếc.) [7, tr.455]

Hồ Động Thiên nằm trong một khu vực vắng vẻ và khô cằn, khiến cho hoa cỏ ở đây không thể hiện được vẻ đẹp mùa xuân Tuy nhiên, bầu trời xanh vẫn tỏa ra sự tươi sáng và dồi dào sức sống của mùa xuân.

Thượng đế công bằng mang hương xuân từ trời cao xuống vùng đất hẻo lánh, tạo nên những tiếng chuông ngân vang vọng giữa không gian, làm cho cảnh hồ Động Thiên trở nên sống động và tươi mới Để cảm nhận được tình cảm của vũ trụ, cần một tâm hồn tinh tế, không để nơi nào bị thiệt thòi Dưới ánh nhìn của Trần Nhân Tông, cảnh mùa xuân buổi sớm trở nên rất tình tứ.

Thụy khởi khải song phi, Bất tri xuân dĩ quy

Nhất song bạch hồ điệp, Phách phách sấn hoa phi

(Xuân hiểu) Ngủ dậy mở cánh cửa sổ,

Không hay mùa xuân đã về

Một đôi bươm bướm trắng, Phần phật cánh bay đến với hoa.) [7, tr.453-454]

Bài thơ bắt đầu với hình ảnh giản dị của việc mở cửa sổ để ngắm thế giới bên ngoài, nơi thi nhân ngạc nhiên trước sự chuyển mình của đất trời: “xuân dĩ quy” Sau giấc ngủ, tâm hồn thư thái bỗng dâng trào cảm xúc khi thấy đôi bướm trắng tình tứ bên những cánh hoa hé nụ, báo hiệu mùa xuân đang đến, mang theo sức sống mới Dù bài thơ kết thúc, nhưng nó mở ra nhiều làn sóng cảm xúc êm ái và thi vị cho người đọc Hình ảnh mùa xuân không chỉ hiện diện qua hoa và bướm mà còn qua tình yêu của lứa đôi, gợi lên cảm giác ấm áp và sum họp Sự kết hợp màu sắc hài hòa giữa vườn hoa xuân rực rỡ và đôi bướm trắng tinh khôi tạo nên bức tranh xuân đẹp, thanh bình Nhà thơ thật tinh tế khi nhận ra những biến chuyển nhỏ của thiên nhiên trong những ngày đầu xuân.

Tâm hồn thi nhân Trần Nhân Tông thể hiện sự tinh tế và mẫn cảm qua việc cảm nhận vẻ đẹp kỳ thú của thiên nhiên, đặc biệt là khi quan sát cảnh vật gián tiếp qua cái bóng của nó.

Họa kiều đảo ảnh trám khê hoành, Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh

Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc, Thấp vân như mộng viễn chung thanh

(Vũ Lâm thu vãn) (Chiếc cầu chạm vẽ đảo bóng vắt ngang dòng suối,

Một vệt nắng chiều rực sáng bên ngoài ngấn nước

Nghìn núi lặng lờ, lá đỏ rơi, Mây ướt giăng như mộng, tiếng chuông xa vẳng.)

Chiều thu ở Vũ Lâm là bức tranh thiên nhiên Ninh Bình thanh tịnh, được tạo nên từ ngôn từ thơ ca và cảm nhận tinh tế của thi nhân Cảnh sắc chiều tà với ánh nắng vàng, lá thu đỏ rơi nhẹ, và núi non trùng điệp tạo nên không gian tĩnh lặng, hòa quyện với tiếng chuông chùa vang vọng Thi nhân không chỉ nhìn thấy cảnh vật mà còn cảm nhận qua cái bóng của nó, như bóng cầu đổ xuống dòng suối và ánh nắng chiều chiếu lấp lánh trên mặt nước Âm thanh nhẹ nhàng của lá đỏ rơi và tiếng chuông xa xăm khiến cho không gian như lạc vào giấc mộng đẹp.

Trần Nhân Tông không chỉ bị cuốn hút bởi vẻ đẹp thanh bình của thiên nhiên mà còn cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp mỏng manh của hoa mai Hoa mai, một hình ảnh quen thuộc trong thơ ca trung đại phương Đông, đã được nhiều thi sĩ ca ngợi, nhưng Trần Nhân Tông lại thể hiện một cách cảm nhận riêng biệt, vừa thâm trầm vừa tinh tế, mang đến sự sắc sảo và nồng nàn trong từng câu thơ.

Vũ xuất viên ba kim niễn tu, San hô trầm ảnh hải lân phù

Cá tam đông bạch chi tiền diện,

Tá nhất biện hương xuân thượng đầu

Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh,

Dạ quang như thủy khát cầm sầu

Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ, Quế lãnh thiềm hàn chỉ má hưu!

(Tảo mai I) (Năm cánh hoa tròn nhị điểm vàng,

[Như] bóng san hô chìm, [như] vảy cá biển nổi

Cành hoa trắng nở rộ suốt ba tháng đông, nhưng khi xuân đến, chỉ còn lại vài cánh hoa thơm nhẹ Hương thơm ngọt ngào đánh thức chú bướm, trong khi ánh sáng ban đêm như nước biển khiến con chim cảm thấy buồn rầu Nếu Hằng Nga biết đến vẻ đẹp thanh nhã của hoa mai, chắc hẳn sẽ thêm phần yêu thích.

Thì có ưa gì cây quế với cung thiềm lạnh lẽo.)

Trong thơ Trần Nhân Tông, hoa mai được miêu tả với vẻ đẹp tinh khiết và hấp dẫn, khác hẳn với hình ảnh cứng rắn thường thấy trong truyền thống thi ca phương Đông Cánh hoa mỏng manh, trắng điểm nhị vàng, tỏa hương thơm dịu ngọt, làm rực rỡ cả khu vườn giữa mùa đông giá lạnh Sắc hoa mai thu hút mọi loài vật, khiến cho chú bướm ngây ngất và thách thức vẻ đẹp của cây quế Sắc trắng tinh khôi của hoa hòa quyện cùng ánh trăng tạo nên một cảnh tượng lung linh, nhưng khi mùa xuân đến, vẻ đẹp ấy lại biến mất như một phép màu, khiến hoa mai trong thơ Trần Nhân Tông vừa gần gũi vừa xa vời.

Quan ni ệm sống phóng khoáng, tùy duyên của một người đạt đạo

Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ trước công nguyên, nhưng phát triển mạnh mẽ nhất vào thời đại Lý – Trần, đặc biệt dưới triều đại thịnh Trần, khi Phật giáo trở thành quốc giáo của Đại Việt Từ vua chúa, quan lại đến tầng lớp quý tộc và thứ dân đều tôn sùng và am hiểu về đạo Phật Mặc dù được du nhập từ Trung Quốc và Ấn Độ, Phật giáo tại Việt Nam đã mang bản sắc riêng của dân tộc Sự thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử bởi Trần Nhân Tông đã thống nhất Phật giáo, tạo nên một thiền phái mang đậm dấu ấn dân tộc Phật giáo Việt Nam không bi quan mà thể hiện tinh thần nhập thế tích cực, khuyến khích sự phóng khoáng và chỉ trích lối tu hành khổ hạnh Trong lịch sử Lý – Trần, nhiều Thiền sư đã tham gia chính trị, giúp vua đánh giặc và bảo vệ nhân dân, họ có thể là Thái sư, thầy thuốc hay thậm chí ngồi ở chín bệ rồng nhưng vẫn xông pha nơi trận mạc Những nhà sư này sống giữa đời thường mà không bị lợi danh làm hoen ố, giống như những đóa sen tỏa hương giữa đầm lầy, làm đẹp cho cuộc sống.

Có lẽ, đến Trần Nhân Tông, tinh thần nhập thế càng khởi sắc Đối với ông

“thấu hiểu đời mới đạt đạo”, con người chỉ cần có cái tâm là có thể “thành

Phật” Trong bài phú “Cư trần lạc đạo” ông viết:

Mình ngồi thành thị Nết dụng sơn lâm

Người đắc đạo thật sự không phải là sống tách biệt ở nơi núi rừng, mà là sống giữa đời thường mà vẫn giữ được sự an tường và tĩnh lặng, không bị cám dỗ làm vấy bẩn tâm hồn Tinh thần này được Trần Nhân Tông thể hiện rõ trong bài kệ bằng chữ Hán ở cuối tác phẩm Cư trần lạc đạo phú.

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch Đối kính vô tâm mạc vấn Thiền

(Sống giữa phàm trần, hãy tùy duyên mà vui với đạo, Đói thì ăn, mệt thì ngủ,

Trong nhà sẵn của báu từng tìm đâu khác, Đối diện với cảnh mà vô tâm, thì không cần hỏi Thiền nữa.)

Bài kệ này thể hiện triết lý sâu sắc của Phật giáo đại thừa, đặc biệt là tinh thần “tùy duyên” Tu hành không nhất thiết phải rời xa cuộc sống thường nhật, mà chỉ cần có chân tâm, con người có thể tu ngay trong cuộc sống hàng ngày Điều này có nghĩa là thân ở chốn thị thành nhưng tâm vẫn hướng về thôn dã Khi hòa nhập với cuộc sống trần thế và thiên nhiên, không phân biệt giữa người và vật, con người sẽ tìm thấy “bản lai diện mục” và đạt được “chân như”.

Thùy phọc cánh tương cầu giải thoát, Bất phàm hà tất mịch thần tiên

Phật ở trong lòng mỗi người, không cần tìm kiếm nơi xa xôi, vì "thiện căn ở tại lòng ta" (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Để giải thoát khỏi cuộc sống, con người chỉ cần giữ tâm thanh tịnh, không cần tìm phương pháp phức tạp.

Ma cung hồn quản thậm, Phật quốc bất thăng xuân

(Đề cố Châu Hương thôn tự) (Khi cung ma bị quản chặt,

Thì cõi Phật tràn ngập màu xuân.)

Khi giữ tâm bình lặng và từ bỏ mọi vọng niệm như tham, sân, si, cõi tâm sẽ trở nên sáng ngời Con người có thể hòa mình vào cuộc sống mà vẫn giữ được chân tâm trong sáng, đó chính là đạt đạo Trần Nhân Tông khuyên các đệ tử không nên chấp vào cái có và cái không, để tránh hành động sai lầm và quên đi điều quan trọng.

Hữu cú vô cú, Lập tông lập chỉ Đả ngõa toàn quy, Đăng sơn thiệp thủy

Hữu cú vô cú, Phi hữu phi vô

(Hữu cú vô cú) (Câu có câu không,

Cũng là dùi rùa đập ngói, Trèo núi lôi sông

Câu có câu không, Chẳng phải hữu, chẳng phải vô

Khác nào anh chàng khắc mạn thuyền mò gươm, Treo tranh vẽ đi tìm ngựa ký.) [7, tr 486-488]

Tinh thần nhập thế còn được Trần Nhân Tông thể hiện trong bài thơ Họa Kiều Nguyên Lãng vận:

Sinh vô bổ thế trượng phu tàm

(Sống mà không giúp ích gì cho đời là điều đáng thẹn của kẻ trượng phu.)

Nhà thơ nhấn mạnh rằng trách nhiệm của người đàn ông là sống có ích để không hổ thẹn với cuộc đời Tu thiền không chỉ là rút lui vào núi rừng, mà là sống giữa đời và hoàn thành nghĩa vụ của mình Trong bài thơ "Mai", Trần Nhân Tông thể hiện khát vọng sở hữu những phẩm chất vượt trội, mong muốn đạt được thành tựu vĩ đại như Hán Văn Đế và Đường Thái Tông.

Thiết đảm, thạch can lăng hiểu tuyết,

Cảo quần, luyện thế, nhạ đông phong

Nhân gian kiệm tố Hán Văn Đế, Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông

(Gan dạ sắt đá vượt lên tuyết buổi sáng,

Quần lụa mộc, khăn lụa trắng đón gió đông

[Như] Hán Văn Đế là người tiết kiệm, mộc mạc trong nhân gian,

[Và] Đường Thái Tông là bậc anh hùng trong thiên hạ.)

Trần Nhân Tông đã thể hiện tinh thần nhập thế tích cực, góp phần tạo nên hào khí thời đại nhà Trần bằng việc lãnh đạo quân dân đánh bại giặc Nguyên hai lần Ông không chỉ viết thơ động viên quân sĩ trong những trận chiến khốc liệt mà còn dẫn quân đi đánh Ai Lao để ổn định biên giới phía tây Khác với vua Lương Võ Đế của Trung Hoa, người đã rút lui để tu thiền trong lúc đất nước gặp khó khăn, Trần Nhân Tông đã thực hiện quan điểm “đi cũng thiền, ngồi cũng thiền”, hành đạo ngay trên trận mạc, mang lại an lạc cho nhân dân trong bối cảnh chiến tranh.

Trần Nhân Tông, kế thừa tinh thần “Đạo không tách rời cuộc sống”, đã mang đạo Phật đến gần gũi với quần chúng Sau khi xuất gia, ông đã đi khắp nơi để thuyết pháp, khuyên dân dứt bỏ những điều xấu và thực hành mười điều thiện Cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân công chúa và vua Chế Mân cũng là kết quả của sự sắp xếp từ nhà vua.

Khi con người sống giữa cuộc đời đầy rẫy khó khăn nhưng vẫn giữ được sự bình an và tự tại, thì điều đó thật sự đáng quý và đáng trân trọng.

Ngạo tuyết tâm hư, Lăng sương tiết kính

(Trải tuyết lạnh mà tâm hồn thông suốt, Dầu dãi trong sương mà đốt cứng cỏi) [7, tr.484]

Bài thơ về trúc nô không chỉ đơn thuần là một tác phẩm nghệ thuật mà còn chứa đựng triết lý sâu sắc về cuộc sống Con người, trong hành trình tìm kiếm đạo lý, phải đối diện với những biến đổi và cám dỗ của cuộc đời, nhưng vẫn giữ vững chân tâm Chính từ những trải nghiệm trong cõi đời, con người có thể nhận thức được chân lý và đạt đạo ngay giữa cuộc sống trần tục, giống như Tuệ Trung Thượng sĩ.

(Tán Tuệ Trung Thượng sĩ) (Nhìn lên càng thấy cao

Khoan vào càng thấy cứng) [7, tr.485]

Trần Nhân Tông thể hiện tinh thần nhập thế tích cực qua những vần thơ của mình, cho thấy ông dù đã quy y nhưng vẫn không quên cuộc sống thực tại Ông sống giữa đời thường nhưng tâm hồn vẫn hướng về đạo, thể hiện sự hòa quyện giữa đạo và đời mà không có sự phân biệt Những bài thơ của ông phản ánh trạng thái tinh thần đặc biệt này, nơi mà cả hai khía cạnh đều tồn tại song song.

2.3.2 Tinh thần an nhiên, tự tại

Cuộc đời là hư ảo và kiếp sống con người là tạm bợ, nhưng để sống tích cực và tránh bi quan không phải ai cũng làm được Trần Nhân Tông cùng các thiền gia thời Lý – Trần đã thể hiện một tư tưởng sống mạnh mẽ, mang tinh thần lạc quan và sức sống dạt dào.

Trần Nhân Tông thể hiện một thái độ tích cực và bình thản đối với cuộc sống và con người, sống theo tư tưởng "cư trần lạc đạo" Ông an nhiên tự tại, vượt qua những ràng buộc và qui ước giáo điều Nhận thức rõ quy luật tất yếu của cuộc sống, ông khuyên mọi người nên chấp nhận và thuận theo quy luật đó.

Tự khai tự tạ tùy thời tiết

Vấn trước Đông quân tổng bất tri

Hoa nở và tàn theo quy luật tự nhiên, điều này không thể thay đổi Thay vì băn khoăn, chúng ta nên chấp nhận và sống thoải mái Quan niệm sống này thể hiện sự bình thản, an nhiên, khác với sự vội vàng, gấp gáp của nhà thơ Xuân Diệu.

Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi

Trần Nhân Tông đã đạt được tâm trạng an lạc và ung dung bằng cách rèn luyện tâm hoàn toàn tĩnh lặng, vượt lên trên mọi thị phi của cuộc đời Sau khi nhận ra bản chất thật sự của cuộc sống, ông đã thấu hiểu chân lý và không để những ồn ào hay sự tàn phai của mùa xuân làm ảnh hưởng đến tâm hồn mình nữa.

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không, Nhất xuân tâm tại bách hoa trung

Như kim khám phá đông hoàng diện, Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng

Th ể thơ

3.1.1 Đường luật Đối với văn học trung đại, thể thơ Đường luật là một thể loại phổ biến và đặc biệt quen thuộc Hầu hết các tác giả ở giai đoạn văn học này đều chọn thơ Đường luật làm hình thức biểu hiện chính Thể thơ này luôn yêu cầu cao về sự chặt chẽ của niêm luật Chính yêu cầu về niêm luật chặt chẽ ấy đã tạo cho bài thơ cân đối về cấu trúc, hài hòa về âm điệu, rất phù hợp để bộc lộ những cảm xúc nội tâm của con người Một điều độc đáo nữa ở thể thơ này là tính chất cô đọng, hàm súc và ngôn ngữ trong sáng Tận dụng các ưu điểm ấy, các tác giả trung đại đã mượn cái vỏ Đường luật để chuyển tải một cách đầy đủ mà ngắn gọn cảm xúc nội tâm và tư tưởng đạo lí Trần Nhân Tông cũng không ngoại lệ Thơ ông phần lớn được viết theo thể Đường luật Trong tổng số 38 bài thơ của ông thì có tới 30 bài viết theo thể Đường luật, chiếm gần 79% Trong đó có 22 bài viết theo thể tứ tuyệt (18 bài thất ngôn tứ tuyệt, 4 bài ngũ ngôn tứ tuyệt), 9 bài theo thể bát cú (7 bài thất ngôn bát cú, 1 bài ngũ ngôn bát cú) Như vậy, nhìn chung, Trần Nhân Tông chủ yếu sử dụng thể thơ thất ngôn để sáng tác Điều này có lẽ là do thơ của Trần Nhân Tông thiên nhiều về chất trữ tình nên thể thất ngôn là thể phù hợp để bộc lộ cảm xúc nội tâm

Mặc dù số lượng thơ của Trần Nhân Tông còn lại không nhiều nhưng với

Trong 30 bài thơ viết theo thể Đường luật, nhà thơ Trần Nhân Tông đã gửi gắm tâm tư, tình cảm và quan điểm Thiền học của mình Dù phải tuân thủ những quy tắc nghiêm ngặt của thể thơ, tác phẩm của ông vẫn thể hiện phong cách riêng: nhẹ nhàng, trầm lắng nhưng đầy khí thế và tự nhiên Độc giả khi đọc thơ của ông không cảm thấy xa lạ hay khô cứng, mà ngược lại, họ cảm nhận được sự gần gũi và thấm đẫm cảm xúc.

Thể Đường luật được Nhân Tông sử dụng để bày tỏ tình yêu và niềm tự hào về vẻ đẹp quê hương, đất nước và con người Đại Việt, như trong tác phẩm "Thiên Trường vãn vọng" và "Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính" Trong bài thơ "Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính", tác giả đã chọn thể thơ thất ngôn bát cú để diễn đạt những cảm xúc sâu sắc này.

Trần Nhân Tông bộc lộ niềm tự hào về phong tục nước Việt trước mặt sứ giả phương Bắc:

Giá chi vũ bãi thí xuân sam,

Huống trị kim triêu tam nguyệt tam

Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính, Tòng lai phong tục cựu An Nam

Bài thơ ngắn gọn chỉ bốn câu nhưng mang trong mình ý nghĩa sâu sắc, thể hiện lòng tự hào về nền văn hóa dân tộc Qua đó, tác phẩm cũng nhắc nhở triều Nguyên về sự tồn tại độc lập và lâu dài của nước Đại Việt.

Thể thơ này cũng đắc dụng khi bày tỏ cảm xúc, sự rung động của tâm hồn trước vẻ đẹp của thiên nhiên:

Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn, Đông phong tiên dĩ đáo cô côn (căn) Ảnh hoàng thủy diện băng sơ bạn,

Hoa áp chi đầu noãn vị phân

Thủy vũ ca trầm sơn điếm nguyệt,

Họa long xuy thấp Ngọc quan vân

Nhất chi mê nhập cố vân mộng, Giác hậu bất kham trì tặng quân

Tảo Mai II thể hiện sự đồng cảm với tâm sự của người khác, như trong trường hợp của Khuê oán, đồng thời khẳng định quan niệm về chí làm trai và trách nhiệm của một thiên tử trong bối cảnh chiến chinh.

Phiêu phiêu hành ly lĩnh vân nam, Xuân nhập mai hoa chỉ lưỡng tam

Nhất thị đồng nhân thiên tử đức,

Sinh vô bổ thế trượng phu tàm

Mã đầu phong tuyết trùng hồi thủ, Nhãn để giang san thiểu trụ tham

Minh nhật Lô giang uyên thủy khoát,

Bồ đào nộn lục tẩy tâm đàm

(Họa Kiều Nguyên Lãng Vận) [7, tr.477]

Thể Đường luật còn được dùng để bày tỏ quan điểm Thiền học của Sơ tổ

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

(Cư trần lạc đạo) [7, tr.535]

Thơ Đường luật của Trần Nhân Tông tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về niêm luật, nhưng lại mang tính mềm mại, uyển chuyển với hình ảnh và âm thanh ấn tượng, thể hiện những rung động tinh tế của thi nhân Những quy định về số câu, số chữ, luật bằng trắc, đối, niêm trở thành công cụ đắc lực giúp ông bộc lộ cảm xúc và tư tưởng So với Đường thi, thơ Trần Nhân Tông nổi bật với hình ảnh gần gũi, giản dị như thôn xóm, cánh đồng và con cò trắng, thay vì những hình ảnh trang nhã, quý phái như phong, hoa, tuyết, nguyệt Khi đề cập đến những thi liệu quen thuộc, ông mang đến cách cảm nhận khác biệt, như trong bài tả hoa mai, ông chỉ tập trung vào vẻ đẹp thực của nó mà không dùng hoa mai như biểu tượng.

Thơ Trần Nhân Tông nổi bật với vẻ đẹp thanh tĩnh, u nhã, tương tự như Đường thi, nhưng đồng thời cũng thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa động và tĩnh, hư và thực Cảnh vật trong thơ ông luôn diễn biến theo thời gian và dòng cảm xúc, tạo nên một không gian sống động và tràn đầy sức sống.

Huân tận thiên đầu mãn tọa hương,

Thủy lưu sơ khởi bất đa lương

Lão dung ảnh lý tăng quan bế, Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường

(Đề Phổ Minh tự Thủy Tạ) [7, tr.466]

Và lung linh huyền ảo, nhiều lúc dường như xóa nhòa ranh giới giữa mộng và thực:

Nhất thiên như thủy nguyệt như trú, Hoa ảnh mãn song xuân mộng trường

(Nhị nguyệt thập nhất nhật dạ)

Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc,

Thấp vân như mộng viễn chung thanh

Thơ Đường luật của Trần Nhân Tông, mặc dù bề ngoài có vẻ giống với các nhà thơ khác, nhưng lại thể hiện cách quan sát và lựa chọn hình ảnh độc đáo Tác phẩm của ông không chỉ mang đậm hơi thở của đời sống mà còn thấm nhuần ý vị Thiền Thơ của Trần Nhân Tông toát lên vẻ đẹp của một anh hùng “thân dân” kết hợp với sự an nhàn, ung dung của một Thiền sư đạt đạo.

Ngoài thể thơ Đường luật, các nhà thơ trung đại còn sử dụng thể thơ cổ phong để sáng tác, mặc dù số lượng tác phẩm không nhiều bằng Thể thơ cổ phong không yêu cầu nghiêm ngặt về niêm luật, đối ngẫu hay cách gieo vần, cho phép các nhà thơ có phong cách sáng tác tự do thể hiện cảm xúc Trần Nhân Tông cũng đã chọn thể thơ này để diễn đạt quan niệm về thiền học và bộc lộ cảm xúc cá nhân Trong tổng số 38 bài thơ của ông, có 4 bài được viết theo thể cổ phong, bao gồm Hữu cú vô cú, Tán Tuệ Trung Thượng sĩ, Trúc nô minh và Kệ thị tịch.

Trước hết, Trần Nhân Tông lựa chọn thể cổ phong để trình bày quan điểm Thiền học, qua đó giảng cho đệ tử:

Hữu cú vô cú, Đằng khô thụ đảo

Kỷ cá nạp tăng, Chàng đầu hạp não

Lập tông lập chỉ Đả ngoã toàn quy, Đăng sơn thiệp thuỷ

Hữu cú vô cú, Phi hữu phi vô

Khắc chu cầu kiếm, Sách ký án đồ

Chấp chỉ vong nguyệt, Bình địa lục trầm

Hữu cú vô cú, Như thị như thị

Bát tự đả khai, Toàn vô ba tị

A thích thích địa, Náo quát quát địa

Hữu cú vô cú, Điêu điêu đát đát

Bài thơ "Hữu cú vô cú" của Trần Nhân Tông, sáng tác trong buổi giảng tại chùa Sùng Nghiêm, thể hiện quan điểm Thiền học của Trúc Lâm sơ tổ Với tư tưởng tự do và tinh thần nhập thế tích cực, ông đã bác bỏ hoàn toàn quan niệm tu hành khổ hạnh Trần Nhân Tông nhấn mạnh rằng Phật tại tâm, chỉ cần tâm bình lặng là đã đạt đạo Ông chỉ ra rằng con người thường rơi vào ngã tưởng và ngã niệm, chấp vào cái có và cái không Qua bài Kệ thị tịch, ông tiếp tục khẳng định quan điểm này bằng thể thơ cổ phong.

Nhất thiết pháp bất sinh

Nhất thiết pháp bất diệt Nhược năng như thị giải

Chư Phật thường hiện tiền

"Hà khứ lai chi hữu?" thể hiện tinh thần nhập thế và cách sống tùy duyên của bậc chân tu Chính thể cổ phong phú cùng ngôn ngữ thi ca mang đến sự mềm mại, linh hoạt trong việc truyền đạt tư tưởng Thiền học, giúp bài giảng về đạo trở nên dễ hiểu và dễ tiếp nhận hơn.

Bên cạnh đó, Trần Nhân Tông còn dùng thể cổ phong để bộc lộ cảm xúc ngưỡng mộ của mình trước người thầy đáng kính:

Vọng chí di cao, Toàn chi di kiên

Hốt nhiên tại hậu, Chiêm chi tại tiền

Phu thị chi vị, Thượng sĩ chi Thiền

Bài thơ ngắn nhưng chứa đựng những hình ảnh ấn tượng, phản ánh cốt lõi quan điểm Thiền học của Tuệ Trung Câu thơ “Bỗng nhiên ở phía sau/ Nhìn lại thành ở phía trước” thể hiện sự linh hoạt và diệu dụng của Thiền, điều mà người học trò của Thượng sĩ từng tâm đắc.

Mặc dù được sử dụng không nhiều (4/39 bài) nhưng thể cổ phong đã giúp

Trần Nhân Tông biểu đạt thành công những tư tưởng Thiền học và cảm xúc của thi nhân.

Ngôn ng ữ

3.2.1 Ngôn ngữ mang mĩ cảm thiền

Trần Nhân Tông thể hiện thiên nhiên và cuộc sống qua lăng kính Thiền học, không trực tiếp giải thích các vấn đề trừu tượng trong giáo lý Phật giáo, nhưng vẫn thấm đẫm tư tưởng Thiền trong nghệ thuật Lòng Thiền chi phối cảm hứng nghệ thuật, từ việc quan sát thiên nhiên đến những cảm xúc sâu lắng và tinh tế Đặc biệt, cách sử dụng ngôn ngữ trong thơ của ông mang ý vị Thiền, thể hiện tính chất “vô ngôn” khi không trực tiếp đề cập đến giác ngộ hay giáo lý Thay vào đó, ông sử dụng âm thanh, màu sắc thiên nhiên và hành động con người để tạo ra một ngôn ngữ siêu việt, biểu đạt những khoảnh khắc đạt đạo và thể nhập chân lý.

Khách lai bất vấn nhân gian sự,

Cộng ỷ lan can khán thúy vi

(Xuân cảnh) (Khách đến chơi không hỏi việc đời,

Cũng đang tựa lan can ngắm màu xanh mờ mịt ở chân trời.)

Trong không gian thơ mộng của buổi chiều xuân, tiếng chim hót líu lo trong khóm hoa dương liễu, tạo nên một bầu không khí yên bình Người khách đến chơi không bàn về thế sự hay Thiền học, mà tự nhiên quên đi mọi ưu phiền Tâm trạng thanh thản này được thi nhân thể hiện rõ nét trong bài Đăng Bảo Đài sơn, với hình ảnh Ỷ lan hoành ngọc địch và minh nguyệt mãn hung khâm.

(Tựa lan can nâng ngang chiếc sáo ngọc, Ánh trăng sáng chan hòa trước ngực.) [7, tr.456-457]

Các câu thơ gợi mở tâm tư người đọc thông qua hình ảnh và hành động cụ thể, không chỉ bằng lời nói, phản ánh sự hòa điệu giữa con người và vũ trụ Giây phút đạt ngộ khó có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ, mà chỉ có thể cảm nhận sâu sắc, thể hiện yếu chỉ “dĩ tâm truyền tâm” của Thiền tông Tính chất vô ngôn này cũng được thể hiện trong các tác phẩm như Xuân cảnh, Nguyệt, và Xuân hiểu.

Trong thơ Trần Nhân Tông, ngôn ngữ mang mĩ cảm Thiền thể hiện rõ qua việc sử dụng các khái niệm triết lý và mỹ học Thiền như tâm, hữu, vô, sắc, không, tùy duyên, và giải thoát Những khái niệm này xuất hiện thường xuyên trong các tác phẩm của ông, bao gồm các bài thơ nổi bật như "Cư trần lạc đạo", "Hữu cú vô cú", "Sơn phòng mạn hứng", "Đại Lãm Thần Quang tự", và "Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca".

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối kính vô tâm mạc vấn thiền

(Cư trần lạc đạo) [7, tr.510] Hay

Thùy phọc cánh tương cầu giải thoát,

Bất phàm hà tất mịch thần tiên

(Sơn phòng mạn hứng I) [7, tr.469]

Trong thơ Trần Nhân Tông, các từ ngữ như chùa, am mây, giường thiền, và kinh thường được sử dụng để tạo ra hình ảnh mang đậm cảm quan thiền Những từ này gợi lên tâm thái an nhiên và không gian thanh tĩnh, phản ánh tâm hồn trong lặng của một Thiền sư đắc đạo.

Cổ tự thê hương thu ái ngoại, Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ

(Lạng Châu vãn cảnh) (Ngôi chùa cổ lạnh lẽo sau lớp khói mùa thu,

Thuyền câu hiu quạnh, chuông chiều bắt đầu điểm.)

(Cảnh chiều ở Châu Lạng) [7, tr.468]

1: Bài k ệ cuối bài phú “Cư trần lạc đạo phú ”

2: Bài k ệ cuối bài phú “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca”

Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão,

Y cựu vân trang nhất tháp thiền

(Vượn nhàn, ngựa mỏi, người cũng đã già,

Vẫn một chiếc giường thiền ở am mây cũ.) [7, tr.469]

Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển

(Giường thiền ở dưới gốc cây, kinh một quyển.) [7, tr.535]

Nhờ ngôn ngữ mang mĩ cảm thiền mà Trần Nhân Tông không nói đến

Thiền không chỉ đơn thuần là việc thuyết giảng về giáo lý Thiền tông, mà còn là cách người đọc cảm nhận triết lý, quan niệm và tâm hồn của thiền gia qua từng trang thơ.

3.2.2 Ngôn ngữ tượng trưng, ẩn dụ

Bài thơ của Trần Nhân Tông không chỉ mang đậm mĩ cảm Thiền mà còn thể hiện rõ ràng giá trị nghệ thuật thông qua các biện pháp tu từ nghệ thuật Ông đã khéo léo vận dụng các biện pháp như ẩn dụ, so sánh và điệp để tạo nên hiệu quả cao trong tác phẩm Đặc biệt, ẩn dụ là biện pháp được sử dụng nhiều và thành công nhất, bao gồm ẩn dụ bằng hình ảnh, âm thanh và điển cố, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ thơ ca của ông.

Trần Nhân Tông đã sử dụng bốn hình ảnh xuất hiện sáu lần trong tác phẩm của mình, tất cả đều được lấy từ kinh tạng Phật giáo như mã ý, viên tâm, đã ngõa, toàn quy, xuân và bảo Những hình ảnh ẩn dụ này được ông áp dụng theo xu hướng ước lệ hóa, tạo nên chiều sâu và ý nghĩa cho tác phẩm.

Trước hết Trần Nhân Tông dùng ẩn dụ để khẳng định Phật tính tồn tại trong mỗi con người:

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối diện vô tâm mạc vấn thiền

(Cư trần lạc đạo phú)

(Trong nhà sẵn của báu đừng tìm đâu khác, Đối diện với cảnh mà vô tâm thì không cần hỏi Thiền nữa

Ông thường sử dụng ẩn dụ để diễn tả những nỗ lực tỉ mỉ và khổ công của người học đạo, tuy nhiên những việc làm đó lại sai lầm và vô ích, nhằm mục đích khai ngộ cho môn đồ.

Hữu cú vô cú, Lập tông lập chỉ Đả ngõa toàn quy, Đăng sơn thiệp thủy

Cũng là dùi rùa đập ngói,

Trèo núi lội sông.) [7, tr.486-488]

Cũng có lúc hình ảnh ẩn dụ ấy dùng để chỉ sức sống thường tồn của chân tâm như mùa xuân tươi thắm mãi:

Hoa ảnh mãn song xuân mộng trường

(Bóng hoa tràn ngập cửa sổ, giấc mộng đêm xuân triền miên.)

Cũng có khi hình ảnh ẩn dụ ấy được Trần Nhân Tông sử dụng một cách sáng tạo:

Viên nhàn, mã quy ện, nhân ưng lão

(Sơn phòng mạn hứng I) (Vượn nhàn, ngựa mỏi, người cũng đã già)

Trong thơ Thiền Lý – Trần, hình ảnh “Mã ý viên tâm” biểu thị cho tâm trí luôn dao động và mơ ước, trong khi Trần Nhân Tông đã sáng tạo hình ảnh “viên nhàn, mã quyện” để thể hiện tâm bình lặng, an nhiên giữa cuộc sống, không còn chạy theo danh lợi và thị phi.

Trần Nhân Tông không chỉ sử dụng ẩn dụ bằng hình ảnh mà còn áp dụng ẩn dụ bằng âm thanh trong tác phẩm của mình Ông đã sử dụng bốn loại âm thanh: tiếng chuông, tiếng chim, tiếng sáo và tiếng ve, xuất hiện tổng cộng bảy lần trong bảy tác phẩm khác nhau Những âm thanh này mang ý nghĩa sâu sắc, thể hiện giây phút đạt ngộ của con người.

Cổ tự thê lương thu ái ngoại, Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ

(Lạng Châu vãn cảnh) (Ngôi chùa cổ lạnh lẽo sau lớp khói mùa thu,

Thuyền câu hịu quạnh, chuông chiều bắt đầu điểm.) [7, tr.468]

Thượng đế liên sầu tịch,

Thái thanh thì nhất chung (Động Thiên hồ thượng)

(Thượng đế thương hiu quạnh,

Thỉnh thoảng điểm một tiếng chuông giữa tầng biếc.)

Tiếng chuông vang vọng giữa không gian tĩnh lặng có khả năng chạm đến những miền sâu thẳm trong tâm hồn con người, giúp hóa giải và xóa tan những vọng động còn tồn tại Nó trở thành tác nhân quan trọng, mang lại sự cân bằng cho chiều sâu nội tâm.

Âm thanh trong cuộc sống làng quê không chỉ mang ý nghĩa biểu thị sự yên bình, mà còn tạo nên bầu không khí vui tươi Trong khi tiếng ngựa hí và gươm khua tượng trưng cho chiến tranh và cái chết, thì những âm thanh nhẹ nhàng như tiếng sáo, tiếng chuông và tiếng chim hót lại gợi lên cảm giác thanh bình và êm ả của cuộc sống.

Mục đồng địch lí quy ngưu tận

(Trong tiếng sáo, mục đồng lùa trâu về hết.)

Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì

(Trong khóm hoa dương liễu, chim hót chậm rãi.) Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường

(Đề Phổ Minh tự thủy tạ) (Một tiếng ve đầu cất lên, tứ thu man mác.)

Việc áp dụng ẩn dụ bằng hình ảnh và âm thanh trong thơ Trần Nhân Tông đã tạo nên vẻ đẹp lung linh, sống động và dễ dàng chạm đến trái tim người đọc, đồng thời đạt được độ hàm súc ấn tượng Đặc biệt, ẩn dụ bằng điển cố chiếm ưu thế về số lượng và thành công trong các tác phẩm của ông.

Trong văn học trung đại, điển cố đóng vai trò quan trọng như một biện pháp tu từ, giúp mở ra một thế giới phong phú mà tác phẩm phản ánh, đồng thời thể hiện thế giới nội tâm tinh tế của người sáng tác Với tính chất kiệm lời và gợi mở, điển cố thường được Trần Nhân Tông và các tác giả trung đại khác sử dụng, góp phần làm phong phú thêm cho tác phẩm thơ Việc sử dụng điển cố không chỉ tạo ra chiều sâu cho nội dung mà còn làm nổi bật vẻ đẹp nghệ thuật của thơ ca.

Hình ảnh

3.3.1 Cách lựa chọn hình ảnh

Mùa xuân, trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, được coi là mùa đẹp nhất trong năm Đây là thời điểm cây cối đâm chồi nảy lộc và trăm hoa đua nở, biểu trưng cho sức sống tràn đầy của tuổi trẻ Vẻ đẹp của mùa xuân đã làm say đắm nhiều thi sĩ từ xưa đến nay, và vì vậy, mùa xuân thường xuất hiện trong thơ ca.

Trần Nhân Tông, một tâm hồn nhạy cảm với thiên nhiên, đã khắc họa vẻ đẹp của mùa xuân trong thơ ca của mình Trong tổng số 38 bài thơ, có đến 18 bài viết về mùa xuân, trong đó 9 bài trực tiếp mô tả cảnh sắc mùa xuân như "Xuân nhật yết Chiêu Lăng," "Xuân hiểu," và "Mai." Ngoài ra, còn 9 bài thơ khác thể hiện ý tưởng về mùa xuân, cảnh xuân và gió xuân, như "Đề Cố Châu Hương thôn tự" và "Động Thiên hồ thượng." Sự phong phú trong các tác phẩm của ông không chỉ thể hiện tình yêu thiên nhiên mà còn phản ánh tâm trạng con người trong mùa xuân.

Tống Bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai

Mùa xuân luôn mang lại niềm vui và sự yêu đời cho con người, khiến họ say mê tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên trong sự chuyển mình của đất trời Trần Nhân Tông cũng đã cảm nhận được vẻ đẹp tươi mới của mùa xuân với tâm trạng phấn khởi này.

Thụy khởi khải song phi,

Bất tri xuân dĩ quy

Nhất song bạch hồ điệp, Phách phách sấn hoa phi

(Xuân hiểu) (Ngủ dậy mở cánh cửa sổ,

Không ngờ mùa xuân đã về

Bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt miêu tả vẻ đẹp trong trẻo của buổi sáng mùa xuân, mang đến cảm giác tươi mới và lạc quan cho tâm hồn thi nhân Sự trẻ trung và yêu đời của tác giả càng làm cho hình ảnh mùa xuân thêm phần sống động Cánh hoa mai mỏng manh, vượt qua cái lạnh của mùa đông để nở rộ vào xuân, thể hiện vẻ đẹp vượt trội so với cây quế Đôi khi, cảnh sắc thanh tân của mùa xuân còn khiến thi nhân như lạc vào giấc mộng đẹp.

Trước khung cảnh xuân tươi đẹp và ấm áp, nhà vua tràn đầy lòng biết ơn và tự hào về những chiến công lừng lẫy của tổ tiên trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.

Tì hổ thiên môn túc,

Bạch đầu quân sĩ tại,

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong

Quân thị vệ hùng mạnh như hùm gấu, đứng nghiêm trang trước hàng nghìn cửa, với áo mũ của các quan từ bảy phẩm Người lính già, tóc bạc phơ, vẫn thường kể lại những câu chuyện về thời Nguyên Phong cho đến ngày nay.

Trần Nhân Tông không chỉ tự hào về truyền thống chống ngoại xâm mà còn về văn hóa lâu đời của dân tộc Vào ngày xuân, người dân hân hoan trong trang phục sặc sỡ, chào đón năm mới với những mâm bánh rau tươi ngon, đẹp mắt, phản ánh phong tục truyền thống của người Việt.

Trong thơ Trần Nhân Tông, bên cạnh không khí vui tươi của mùa xuân, còn xuất hiện hình ảnh xuân muộn, xuân tàn và gió xuân, thể hiện cảm thức về thời gian Các bài thơ như "Xuân vãn", "Sơn phòng mạn hứng II" và "Nhị nguyệt thập nhất dạ" phản ánh cảnh xuân tàn, trong khi hình ảnh gió xuân có mặt trong "Tống Bắc sứ Ma Hợp Kiều Nguyên Lãng" và "Khuê oán" Mùa xuân, tượng trưng cho tuổi trẻ, lại ngắn ngủi, khiến thi nhân nuối tiếc khi thấy cánh hoa rụng Hình ảnh xuân tàn biểu trưng cho tuổi già, nhắc nhở về sự trôi chảy của thời gian, khiến con người cảm thấy oán trách quy luật khắc nghiệt của cuộc sống.

Thời gian trôi qua nhanh chóng và cuộc đời con người rất ngắn ngủi, khiến nhiều người cảm thấy bâng khuâng và tiếc nuối Tuy nhiên, Trần Nhân Tông, với tâm thế của một người đạt đạo, đã thấu hiểu và chấp nhận điều này một cách an nhiên.

Như kim khám phá Đông hoàng diện, Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng

(Ngày nay đã khám phá được bộ mặt của chúa xuân, Ngồi trên nệm cỏ giữa tấm phản nhà chùa ngắm cảnh hoa rụng.)

Con người không thể can thiệp vào qui luật của thời gian, vì vậy nên sống an nhiên và tận hưởng cuộc sống mỗi ngày Khi lên thăm núi Bảo Đài, thi nhân hòa mình vào thiên nhiên bằng cách thổi sáo, cảm nhận sự trôi chảy của thời gian Trong bài thơ "Xuân cảnh," khung cảnh mùa xuân yên tĩnh được miêu tả với hoa dương liễu nở dày, tiếng chim kêu nhẹ nhàng và áng mây chiều lướt bay Trong bầu không khí tĩnh lặng, vị khách và chủ quán cùng im lặng ngắm nhìn màu xanh nhạt ở chân trời xa, tạo nên sự hòa quyện giữa cảnh vật và tâm hồn con người.

Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì, Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi

Khách lai bất vấn nhân gian sự, Cộng ỷ lan can khán thúy vi

(Xuân cảnh) (Trong khóm hoa dương liễu rậm, chim hót chậm rãi,

Dưới bóng thềm ngôi nhà trạm vẽ mây chiều lướt bay

Khách đến chơi không hỏi việc đời, Cũng đang tựa lan can ngắm màu xanh mờ mịt ở chân trời.)

Trần Nhân Tông là một thi sĩ tài ba, nổi bật với những tác phẩm thơ ca về mùa xuân, thể hiện sự hòa quyện giữa thiên nhiên và tâm hồn con người Những bài thơ mùa xuân của ông không chỉ mang đậm sắc xuân mà còn chứa đựng tình cảm sâu sắc của thi nhân, phản ánh vẻ đẹp của đất trời và lòng người.

Trăng là hình ảnh quen thuộc trong thơ ca trung đại, được coi là người bạn tri kỉ của thi sĩ Đối với các thiền gia, trăng tượng trưng cho trí tuệ bát nhã và sự viên giác.

Mặt trời đại diện cho nguyên lý dương của vũ trụ, biểu trưng cho sự năng động, linh hoạt và phát triển, là ánh sáng của tư duy lý trí Ngược lại, mặt trăng tượng trưng cho nguyên lý âm, thể hiện sự tĩnh lặng nhưng cũng là nền tảng cho sự chuyển động, là biểu tượng cho ánh sáng tâm linh.

Vì vậy, thơ thiền Lý – Trần thường dùng biểu tượng vầng trăng để khám phá sâu hơn tâm hồn con người

Trần Nhân Tông, một thi nhân yêu cái đẹp và thiền sư đạt đạo, thường đưa hình ảnh trăng vào thơ của mình Trong tổng số 38 bài thơ, ông nhắc đến trăng trong 6 bài, thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên và biểu tượng cho sự đạt ngộ tâm hồn Bài thơ "Nguyệt" là tác phẩm đặc sắc nhất về chủ đề này.

Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,

Lộ trích thu đình dạ khí hư

Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ, Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ

(Bóng đèn soi nửa cửa sổ, sách đầy giường, Móc rơi trên sân thu, hơi đêm trống không

Tỉnh giấc không biết tiếng chày nên vải ở nơi nào,

Trên chùm hoa quế trăng vừa mọc.) [7, tr.465]

Bài thơ mở ra không gian bao la, trong trẻo và bình lặng, đặc trưng của Thiền tông, diễn ra trong một đêm mùa thu – thời điểm lý tưởng cho sự bừng ngộ khi tâm hồn con người lắng đọng Cảnh vật chuyển động từ ánh đèn bên cửa sổ đến ánh sáng huyền diệu của vầng trăng, mà thi nhân hướng về, biểu tượng cho vẻ đẹp thuần khiết của tâm hồn Ánh trăng mới lên không chỉ chiếu rọi mà còn phản ánh sự thanh tịnh của con người, gợi nhớ đến hình ảnh trong kinh Phật Trần Nhân Tông không chỉ cảm nhận mà còn hòa mình vào vẻ đẹp của vầng trăng, bỏ quên danh lợi và địa vị, chỉ còn lại tâm hồn bình lặng hòa quyện với cảnh vật, đó chính là giây phút đạt ngộ và bừng sáng của chân như.

Trăng còn bước vào thơ Trần Nhân Tông với vẻ đẹp kì diệu, giúp con người tự soi mình: Ỷ lan hoành ngọc địch,

Minh nguyệt mãn hung khâm

(Tựa lan can nâng chiếc sáo ngọc, Ánh trăng sáng chan hòa trước ngực.)

(Lên núi Bảo Đài) [7, tr.456-457]

Gi ọng điệu

3.4.1 Giọng hào sảng, lạc quan

Thời đại nhà Trần là một giai đoạn hào hùng trong lịch sử Việt Nam, nổi bật với những chiến công lẫy lừng và tinh thần quật cường Dưới triều đại Trần Nhân Tông, tinh thần yêu nước càng được khẳng định khi hai lần đánh bại quân xâm lược Nguyên - Mông, bảo vệ nền độc lập dân tộc Tinh thần này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến giọng điệu thơ ca thời kỳ này, thể hiện sự lạc quan và hào sảng.

Cối kê cựu sự quân tu ký Hoan, Ái do tồn thập vạn binh

Trần Nhân Tông đã ghi lại hai câu thơ vào thời điểm quân ta thất trận, nhằm nhắc nhở và động viên tinh thần quân lính khi quay về Vạn Kiếp Qua đó, nhà vua thể hiện niềm tin vững chắc vào chiến thắng của dân tộc, với giọng thơ hào sảng và lạc quan Bài thơ không chỉ trấn an bề tôi mà còn phản ánh tinh thần tự chủ của người đứng đầu dân tộc Giọng thơ vang vọng như tiếng thơ của Lý Thường Kiệt, và niềm tin ấy lại được khẳng định trong những câu thơ của ông vào ngày khải hoàn.

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu

(Trên nền xã tắc hai lần ngựa đá phải mệt nhọc, Nhưng núi sông nghìn đời được đặt vững như âu vàng.)

Giọng thơ hào sảng thể hiện rõ cảm xúc ngưỡng vọng của tác giả đối với tài năng, trí tuệ và nhân cách của thầy Trần Tung.

Vọng chi di cao, Toàn chi di kiên

Chiêm chi tại tiền, Phu thị chi vị, Thượng sĩ chi thiền

(Tán Tuệ Trung Thượng sĩ) (Càng nhìn càng cao,

Khoan vào càng thấy cứng

Cái đó gọi là, Đạo Thiền của Thượng sĩ.)

(Ca ngợi Tuệ Trung Thượng sĩ) [7, tr.485]

Giọng điệu hào sảng và phơi phới trong những bài thơ tiếp sứ của nhà vua thể hiện niềm tự hào và sự tự tin vào sự trường tồn của một quốc gia độc lập tự chủ.

Thác khai địa giác giai hòa khí, Tịch hiệp thiên hà tẩy chiến trần

(Tặng Bắc sứ Lý Tư Diễn) (Mảnh đất mới mở rộng cũng có hòa khí,

Kéo sông Thiên Hà rửa sạch bụi chiến tranh.) [7, tr.474-475]

3.4.2 Giọng tự tình, sâu lắng

Trần Nhân Tông, với tâm hồn mẫn cảm và tinh tế, đã tạo ra những tác phẩm thiên về yếu tố trữ tình Giọng điệu tự tình và sâu lắng trong thơ của ông mang đến nhiều cung bậc cảm xúc phong phú và đa dạng.

Giọng thơ của Trần Nhân Tông mang tính tự tình và sâu lắng, thể hiện cảm xúc mãnh liệt trước vẻ đẹp của thiên nhiên và đất nước Ông miêu tả vẻ đẹp tươi vui của buổi sáng mùa xuân, sự u tịch và thanh nhã của hồ Động Thiên, núi Bảo Đài, chùa Phổ Minh, cùng với vẻ đẹp bình yên của vùng quê Thiên Trường Tất cả những hình ảnh này đều được thể hiện một cách nhẹ nhàng, sâu lắng, gợi lên nhiều cảm xúc miên man trong lòng người đọc.

Họa kiều đảo ảnh trám khê hoành,

Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh

Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc,

Thấp vân như mộng viễn chung thanh

(Vũ Lâm thu vãn) (Chiếc cầu chạm vẽ đảo bóng vắt ngang dòng suối,

Một vệt nắng chiều rực sáng bên ngoài ngấn nước

Nghìn núi lặng lờ, lá đỏ rơi, Mây ướt giăng như mộng, tiếng chuông xa vẳng

(Chiều thu ở Vũ Lâm) [7, tr.467]

Có khi giọng tự tình, sâu lắng cũng được dùng để thể hiện cảm xúc trước sự chảy trôi của thời gian và sự biến đổi của đời người:

Vạn sự thủy lưu thủy, Bách niên tâm ngữ tâm

(Muôn việc như nước trôi nước, Trăm năm lòng lại nhủ lòng.) [7, tr.456-457]

Có khi giọng điệu tâm tình ấy mang tính chất nhắn nhủ, nhắc nhở chân thành đối với người học đạo:

Nhất thiết pháp bất sinh

Nhất thiết pháp bất diệt

Nhược năng như thị giải Chư Phật thường hiện tiền

Hà khứ lai chi hữu?”

Trong thơ tiếp sứ, giọng điệu thân thiết và lưu luyến của nhà thơ thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc đối với sứ thần, đồng thời bày tỏ lòng khao khát hòa bình.

Thiều tinh lưỡng điểm chiếu thiên nam,

Quang dẫn thai triền dạ nhiễu tam

Thượng quốc ân thâm tình dị cảm,

Tiểu bang tục bạc lễ đa tàm

Tiết lăng chướng vụ thân vô dạng, Tiên phất xuân phong mã hữu tham Đỉnh ngữ nguyện ôn Trung Thống chiếu,

Miễn giao ưu quốc mỗi như đàm

Tống Bắc sứ Ma Hợp Kiều Nguyên Lãng mang đến ánh sáng như hai ngôi sao sứ thần chiếu xuống trời Nam, dẫn dắt mọi người qua ba vòng cung độ mỗi đêm Sự tri ân đối với quốc gia thể hiện rõ nét trong lòng người, trong khi phong tục của đất nước nhỏ bé lại đơn giản và khiêm tốn, thể hiện sự thẹn thùng trước lễ nghi.

Cờ tiết mao vượt qua lam chướng, ngài vẫn bình an,

Ngọn roi quất trong gió xuân, ngự có ngựa kèm

Xin hãy ôn lại lời nói “chuông vạc” trong tờ chiếu năm

Trung Thống, Để tránh cho nhau khỏi mối phiền “lo nước” luôn luôn nung đốt trong lòng

Giọng điệu tự tình và sâu lắng trong tác phẩm "Tiễn sứ Bắc Ma Hợp Kiều Nguyên Lãng" giúp thi nhân truyền tải cảm xúc và suy tư của mình như những lời tâm sự với người đọc Qua đó, người học đạo cảm nhận được triết lý của Phật giáo một cách nhẹ nhàng, không cần phải giảng giải phức tạp Tác phẩm miêu tả thiên nhiên một cách chân thực, khơi gợi những suy nghĩ và cảm nhận về niềm tự hào của nhà vua trước cảnh thái bình của đất nước, cũng như tâm thái an nhàn của thi nhân Điều này phản ánh phong cách bình dị của một thiền gia đạt đạo, từ đó mang đến cho người đọc nhiều bài học quý giá về cuộc sống.

Thơ Trần Nhân Tông không chỉ đa dạng về nội dung mà còn đặc sắc về nghệ thuật Dù sử dụng thể thơ Đường luật và cổ phong, ông đã tạo ra phong cách riêng thông qua việc lựa chọn hình ảnh và cách xây dựng chúng Những tác phẩm của ông nổi bật với sự quan sát cảnh vật trong dòng chảy của thời gian và cảm xúc, thiên nhiên được miêu tả một cách sống động, thể hiện sự vận động biện chứng giữa hư – thực, động – tĩnh, mang đến vẻ đẹp lung linh và sức hấp dẫn mãnh liệt.

Ngày đăng: 25/06/2021, 16:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hu ỳnh Công Bá (2012), L ịch sử Việt Nam cổ trung đại , Nxb Thu ận Hóa, Hu ế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam cổ trung đại
Tác giả: Hu ỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2012
2. Ban Ph ật giáo Việt Nam – Ban Phật giáo chuyên môn (1995), Thi ền học đời Tr ần, Nxb Vi ện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền học đời Trần
Tác giả: Ban Ph ật giáo Việt Nam – Ban Phật giáo chuyên môn
Nhà XB: Nxb Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam
Năm: 1995
3. Ban Văn học Việt Nam, (1971), “Về việc nghiên cứu thơ văn Lý – Trần”, T ạp chí Văn học , (5), tr.117-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc nghiên cứu thơ văn Lý – Trần”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Ban Văn học Việt Nam
Năm: 1971
4. Lê B ảo (2001), Thơ văn Lý – Tr ần , Nxb Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Lý "– "Trần
Tác giả: Lê B ảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
5. Nguy ễn Huệ Chi (1978) , “Các y ếu tố Nho – Phật – Đạo được tiếp thu và chuy ển hóa như thế nào trong đời sống tư tưởng và văn học thời đại Lý – Tr ần”, T ạp chí Văn học , (6), tr.76-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố Nho – Phật – Đạo được tiếp thu và chuyển hóa như thế nào trong đời sống tư tưởng và văn học thời đại Lý – Trần”, "Tạp chí Văn học
6. Nguy ễn Huệ Chi (1998), Thơ văn Lý – Tr ần (tập 1), U ỷ ban Khoa học xã hội Vi ệt Nam, viện văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Lý "– "Trần (tập 1)
Tác giả: Nguy ễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
7. Nguy ễn Huệ Chi (1998), Thơ văn Lý – Tr ần (t ập 2) , Ủy ban Khoa học xã hội Vi ệt Nam, viện văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Lý "– "Trần (tập 2)
Tác giả: Nguy ễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
8. Nguy ễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh (2010), “Trần Nhân Tông và tầm vóc m ột thời đại”, Gương mặt văn học Thăng Long, Nxb Hà N ội, Hà N ội, tr.146-169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Nhân Tông và tầm vóc một thời đại”, "Gương mặt văn học Thăng Long
Tác giả: Nguy ễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
9. Trương Văn Chung (1996), Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Tr ần , Lu ận án phó Tiến sĩ Triết học, Viện Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần
Tác giả: Trương Văn Chung
Năm: 1996
10. Trương Văn Chung, Doãn Chính (2008), Tư tưởng Việt Nam thời Lý – Tr ần , Nxb Chính tr ị Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Việt Nam thời Lý "– "Trần
Tác giả: Trương Văn Chung, Doãn Chính
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
11. Thi ều Chửu (2000), Hán Vi ệt tự điển , Nxb Tp. H ồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt tự điển
Tác giả: Thi ều Chửu
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2000
12. Cao H ữu Đính, Văn học sử Phật giáo, Nxb Minh Đức, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học sử Phật giáo
Nhà XB: Nxb Minh Đức
13. Hi ểu Đông (2009), Điển cố Phật giáo trong một số tác phẩm văn học Thiền tông đời Trần , Nxb Tôn giáo, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố Phật giáo trong một số tác phẩm văn học Thiền tông đời Trần
Tác giả: Hi ểu Đông
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2009
14. Lê Giang (2001), Ý th ức văn học cổ Trung đại Việt Nam , Lu ận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức văn học cổ Trung đại Việt Nam
Tác giả: Lê Giang
Năm: 2001
15. Tr ần Văn Giáp (1942), Vi ệt Nam Phật giáo sử lược , Nxb Hà N ội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Phật giáo sử lược
Tác giả: Tr ần Văn Giáp
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1942
16. Tr ần Văn Giàu (2000), B ản lĩnh Việt Nam , Nxb Tr ẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản lĩnh Việt Nam
Tác giả: Tr ần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2000
17. Nguy ễn Hùng Hậu (2002), Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam: từ khởi nguyên đến thế kỉ XIV , Nxb Khoa h ọc xã hội Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam: từ khởi nguyên đến thế kỉ XIV
Tác giả: Nguy ễn Hùng Hậu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2002
18. Tr ần Thị Thu Hiền (2009), Nh ững đóng góp của Tuệ Trung Thượng sĩ cho thơ Thiền Việt Nam , Lu ận văn Thạc sĩ Văn học, Trường Đại học Sư ph ạm Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đóng góp của Tuệ Trung Thượng sĩ cho thơ Thiền Việt Nam
Tác giả: Tr ần Thị Thu Hiền
Năm: 2009
19. Ph ạm Thành Hiệp (2011), Thơ ca Thịnh Trần – hành trình đi tìm cái đẹp , Lu ận văn Thạc sĩ Văn học, Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh, Tp. H ồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Thịnh Trần – hành trình đi tìm cái đẹp
Tác giả: Ph ạm Thành Hiệp
Năm: 2011
20. H ồ Sĩ Hiệp (2007), Đến với Đường thi tuyệt cú, Nxb Đại học Sư phạm Tp.H ồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với Đường thi tuyệt cú
Tác giả: H ồ Sĩ Hiệp
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm