Vịnh Hạ Long là một kỳ quan thiên nhiên vô giá mà tạo hóa đã ban tặng cho chúng ta. Do đó việc tìm hiểu và khai thác những giá trị tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của Vịnh Hạ Long phục vụ du lịch là một trong những điều rất cần thiết. Khi đến với Vịnh Hạ Long du khách sẽ được cảm nhận, hòa mình vào trong những cảnh sắc của tài nguyên thiên nhiên hùng vĩ với những đảo đá tuyệt đẹp, hang động lộng lẫy nhiều nhũ đá, măng đá, những bãi tắm trong xanh, …và tài nguyên văn hóa phong phú như những kho tàng cổ vật của con người, những kiến tạo kỳ vĩ và rất đặc biệt của hệ thống đảo đỏ… Vịnh Hạ Long là một thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng không chỉ ở trong nước mà cả trên thế giới, với những giá trị đặc trưng độc đáo của mình, Vịnh đã được UNESCO 2 lần công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới ( tháng 12/ 1994 và tháng 11/ 2000 ). Việc được công nhận là Di sản Thế giới một mặt là vinh dự và tự hào lớn của Việt Nam, mặt khác nó cũng mang lại cho nước ta những lợi thế đáng kể về kinh tế, văn hóa và xã hội. Đồng thời đặt ra cho chúng ta những yêu cầu mới về việc bảo tồn, phát huy giá trị của Di sản và nhất là việc khai thác 1 cách có hiệu quả nguồn lực tài nguyên thiên nhiên này phục vụ cho sự phát triển du lịch Việt Nam nói chung và du lịch tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Để giới thiệu, tôn vinh những giá trị đặc sắc và vẻ đẹp kỳ vĩ của khu Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long, đồng thời đưa ra những định hướng, đề xuất góp phần vào việc bảo tồn, phát huy giá trị, sử dụng và khai thác du lịch có hiệu quả khu Di sản Thế giới Vịnh Hạ Long. Bài nghiên cứu sẽ đi sâu phân tích đánh giá tình hình, thực trạng dịch vụ du lịch Vịnh Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh và đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao dịch vụ du lịch tại đây. Nội dung bài nghiên cứu gồm: Chương I: Cơ sở lý luận và giới thiệu khái quát về Vịnh Hạ Long Chương II: Thực trạng chất lượng dịch vụ tại Vịnh Hạ Long Chương III: Đề xuất phát triển du lịch Vịnh Hạ Long
Trang 1Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ VỊNH HẠ LONG 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch
- Du lịch: Từ Du lịch (Tourism) được xuất hiện sớm nhất trong quyển Từ điển
Oxford xuất bản năm 1811 ở Anh, có hai ý nghĩa là đi xa và du lãm.
Bên cạnh đó, Luật Du Lịch Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006) đã nêu rõ:
- Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
- Tài nguyên du lịch: là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử -
văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
- Khách du lịch: là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi
học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
- Khu du lịch: là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du
lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường
- Điểm du lịch: là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham
quan của khách du lịch
- Du lịch bền vững: là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai
- Du lịch sinh thái: là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc
văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững
- Du lịch văn hóa: là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự
tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
- Môi trường du lịch: là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn
nơi diễn ra các hoạt động du lịch
Trang 2- Chất lượng dịch vụ: là một khái niệm trừu tượng, khó nắm bắt bởi các đặc
tính riêng có của dịch vụ, sự tiếp cận chất lượng được tạo ra trong quá trình cung cấp dịch vụ, thường xảy ra trong sự gặp gỡ giữa khách hàng và nhân viên giao tiếp
- Chất lượng dịch vụ du lịch: là mức phù hợp của dịch vụ của các nhà cung
ứng du lịch thỏa mãn các yêu cầu của khách du lịch thuộc thị trường mục tiêu
1.1.2 Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất
kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch
Theo Michael M Coltman, sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể như
thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát
- Cơ cấu của sản phẩm du lịch:
+ Những thành phần tạo lực hút (lực hấp dẫn đối với du khách) gồm nhóm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn
+ Cơ sở du lịch (Điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch) gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
+ Dịch vụ du lịch: là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những
tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch và thông qua các hoạt động tương tác
đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng du lịch
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ du lịch
Sản phẩm du lịch trên cơ sở lý thuyết bao gồm ba thành phần cơ bản: tài nguyên
du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch và chất lượng dịch vụ Như vậy để đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch phải phân tích mối quan hệ giữa chất lượng du lịch thông qua đánh giá của khách hàng (hay sự thỏa mãn của khách hàng) và 3 yếu
tố nêu trên
Hai khái niệm chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng lại cùng được nghiên cứu, đo lường và đánh giá dựa trên việc so sánh với ý kiến của khách hàng trước và sau khi sử dụng dịch vụ Sự thỏa mãn khách hàng chịu tác động bởi mức độ hài lòng về chất lượng dịch vụ trong quá trình tiêu dùng Nói cách
Trang 3khác, để đánh giá chất lượng dịch vụ hay sự thỏa mãn khách hàng, chúng ta phải dựa trên những mức độ kỳ vọng của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ trước khi tiêu dùng và cảm nhận của họ sau khi sử dụng.
Quan hệ giữa giá và sự thỏa mãn
Tác động của giá lên sự thỏa mãn nhận được sự quan tâm ít hơn nhiều so với vai trò của sự kỳ vọng và các cảm nhận sau khi sử dụng sản phẩm/dịch vụ, nhưng các đề xuất dựa vào giá đối với sự thỏa mãn được đề nghị nghiên cứu và thực hành khá rộng rãi Giá sau khi mua có tác động dương lên sự thỏa mãn và bản thân nó chịu ảnh hưởng dương của các cảm nhận về giá trước khi mua, mặt khác cảm nhận giá trước khi mua cũng có tác động dương lên sự thỏa mãn
Mối quan hệ giữa kinh nghiệm đi du lịch; học vấn và sự thỏa mãn của du khách
Kinh nghiệm trước đó của con người có ảnh hưởng rất nhiều đến sự kì vọng của
họ Kinh nghiệm có đuợc do học hỏi và sự từng trải, mức độ kinh nghiệm gia tăng thì kì vọng cũng tăng theo Tương tự vậy, khi trình độ học vấn càng cao thì người ta càng kì vọng nhiều hơn vào chất lượng của các dịch vụ Mặt khác, dịch
vụ nhận được là những gì mà khách hàng thực sự nhận được khi họ sử dụng xong dịch vụ Do dịch vụ có tính vô hình, không đồng nhất, không lưu giữ và tiêu thụ đồng thời nên khách hàng nhận biết được dịch vụ sau khi đã so sánh với
kì vọng của mình, qua đó nhận thức về chất lượng các dịch vụ mà mình đã sử dụng Chính vì vậy, khi mức độ kì vọng càng cao, người ta thường có xu hướng đánh giá về chất lượng dịch vụ khắt khe hơn những đối tượng khác
Loại du khách ảnh hưởng đến nhân tố sự thỏa mãn
Nơi cư trú thường xuyên của du khách là cơ sở để chúng ta phân loại khách (khách quốc tế và khách nội địa) Khoảng cách giữa nơi cư trú thường xuyên với điểm đến du lịch là một trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thỏa mãn và các nhận định khác của khách Bởi lẽ, khi khoảng cách càng lớn thì
sự khác biệt về khí hậu, thời tiết, văn hóa, phong tục tập quán, tính cách dân tộc…càng lớn Do vậy du khách thường có tâm lý đánh giá cao các giá trị vật chất - tinh thần mà đối với họ đó thật sự là những điều mới lạ
Thu nhập du khách liên quan đến sự thỏa mãn của họ khi đi du lịch
Theo John Maynard Keynes thì quy luật tâm lý cơ bản là ở chỗ con người có thiên hướng tăng tiêu dùng cùng với tăng thu nhập, nhưng không tăng theo cùng một tốc độ của tăng thu nhập Nhìn chung phần đông du khách có thu nhập cao
Trang 4sẽ chi cho các dịch vụ nhiều hơn Và khi đó họ cũng mong muốn được nhận lại
sự phục vụ có chất lượng cao Điều này đồng nghĩa với việc gia tăng sự kì vọng,
và như vậy sự thỏa mãn sẽ khó đạt được hơn
Mối quan hệ giữa tuổi của du khách và sự hài lòng của du khách
Mỗi một lứa tuổi mang một tâm lý đặc trưng, tức là tâm lý ở các nhóm tuổi khác nhau là khác nhau
Riêng đối với yếu tố “giới tính”, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh được sự khác biệt trong quá trình cảm nhận chất lượng dịch vụ giữa hai giới nam và nữ
1.1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch
a Tính hấp dẫn
Tính hấp dẫn là yếu tố quan trọng nhất để đánh giá tài nguyên du lịch vì nó quyết định sức thu hút khách du lịch Độ hấp dẫn có tính chất tổng hợp rất cao
và thường được xác định bằng vẻ đẹp của phong cảnh, sự thích hợp của khí hậu,
sự đặc sắc và độc đáo của tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Độ hấp dẫn được thể hiện ở số lượng và chất lượng của các tài nguyên, ở khả năng đáp ứng được nhiều loại hình du lịch
Đối với tài nguyên du lịch tự nhiên: tính hấp dẫn du lịch là yếu tố tổng hợp và thường được xác định bằng vẻ đẹp của cảnh quan tự nhiên, sự đa dạng của địa hình, sự thích hợp của khí hậu, sự đặc sắc và độc đáo của hiện tượng và cảnh quan tự nhiên, quy mô của điểm tham quan
b Tính an toàn
Là chỉ tiêu thu hút du khách đảm bảo sự an toàn về sinh thái và xã hội, được xác định bởi tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội, vệ sinh môi trường
- Rất an toàn: Bảo đảm an sinh và không có thiên tai
- Khá an toàn: Bảo đảm an sinh và thiên tai, nhưng có hoạt động bán hàng rong
- An toàn trung bình: Có hoạt động bán hàng rong và có hiện tượng ăn xin
- Kém an toàn: Xảy ra cướp giật, ảnh hưởng đến tính mạng của du khách
Trang 5c Tính bền vững
Tính bền vững nói lên khả năng bền vững của các thành phần và bộ phận tự nhiên trước áp lực của hoạt động du lịch và các hiện tượng tự nhiên tiêu cực như thiên tai
- Rất bền vững: Không có thành phần, bộ phận nào bị phá hoại Khả năng tự phục hồi cân bằng sinh thái môi trường nhanh, tài nguyên du lịch tự nhiên tồn tại vững chắc, > 100 năm hoạt động du lịch diễn ra liên tục
- Khá bền vững: Các thành phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại không đáng
kể, có khả năng phục hồi nhanh, tài nguyên du lịch tự nhiên tồn tại vững chắc từ
20 - 100 năm, hoạt động du lịch diễn ra liên tục
- Trung bình bền vững: Nếu có 1 - 2 bộ phận bị phá hoại đáng kể phải có sự trợ giúp tích cực của con người mới hồi phục được Thời hạn hoạt động từ 10 - 20 năm, hoạt động du lịch diễn ra bị hạn chế
- Kém bền vững: Có 2 - 3 thành phần, bộ phận bị phá hoại nặng Tồn tại vững chắc dưới 10 năm, hoạt động du lịch bị gián đoạn
d Tính thời vụ
Thời vụ hoạt động du lịch được xác định bởi số thời gian thích hợp nhất trong năm của các điều kiện khí hậu và thời tiết đối với sức khỏe của du khách và số thời gian trong năm thuận lợi nhất cho việc triển khai các hoạt động du lịch Tính thời vụ của tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến hướng khai thác đầu tư quy hoạch kinh doanh du lịch được đánh giá cho tài nguyên tự nhiên và nhân văn
- Rất dài: triển khai du lịch suốt năm
Trang 61.1.5 Một số chỉ tiêu đánh giá cơ sở du lịch
- Khá: Đồng bộ, đủ tiện nghi đạt tiêu chuẩn quốc tế 1 - 2 sao
- Trung bình: Có được một số cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật nhưng chưa đồng bộ và chưa đủ tiện nghi
- Kém: Còn thiếu nhiều cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật, nếu có thì chất lượng thấp hoặc tạm thời thiếu hẳn thông tin liên lạc
b Sức chứa khách du lịch
Là tổng sức chứa lượng khách tại một điểm du lịch cho một đoàn khách du lịch đến trong một ngày hợp đồng Sức chứa khách du lịch phản ánh khả năng về quy mô triển khai hoạt động du lịch tại mỗi điểm du lịch Sức chứa khách du lịch có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm hoạt động của khách (số lượng, thời gian), đến khả năng chịu đựng của môi trường tự nhiên, xã hội Vì thế sức chứa khách du lịch không phải theo xu thế càng nhiều càng tốt mà phải là càng phù hợp càng tốt
- Rất lớn: sức chứa trên 1000 người/ ngày
- Khá lớn: sức chứa 500 - 1000 người/ ngày
- Trung bình: sức chứa 100 - 500 người/ ngày
- Kém: sức chứa dưới 100 người/ ngày
1.1.6 Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ được định nghĩa là nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ của một hãng cụ thể nào đó dựa trên sự so sánh thành tích của hãng đó trong việc cung cấp dịch vụ với sự mong đợi chung của khách hàng đối với tất
cả các hãng khác trong cùng ngành cung cấp dịch vụ
Trang 7Chất lượng dịch vụ được đo lường bởi sự mong đợi và nhận định của khách hàng với 5 nhóm yếu tố:
1 Sự tin cậy (Reliability): khả năng cung ứng dịch vụ đúng như đã hứa với khách hàng
2 Sự đáp ứng (Responsiveness): sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên trong việc cung ứng dịch vụ nhanh chóng
3 Năng lực phục vụ (Assurance): thể hiện qua trình độ chuyên môn và thái
+ Mức không hài lòng: Khi mức độ cảm nhận được của khách hàng nhỏ hơn kì vọng
+ Mức hài lòng: Khi mức độ nhận được của khách hàng bằng kì vọng
+ Mức rất hài lòng và thích thú: Khi mức độ nhận được của khách hàng lớn hơn
kì vọng
1.2 Giới thiệu chung về Vịnh Hạ Long
Quảng Ninh - một trong 3 đỉnh của tam giác phát triển kinh tế phía Bắc: Hà Nội
- Quảng Ninh - Hải Phòng, là một địa danh giàu tiềm năng du lịch.Quảng Ninh
sở hữu danh thắng nổi tiếng là Vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là
di sản thiên nhiên thế giới và di sản thế giới bởi giá trị địa chất địa mạo.Vịnh Hạ
Trang 8Long là địa điểm du lịch lý tưởng của Quảng Ninh cũng như miền bắc Việt Nam.
1.2.1 Lịch sử hình thành
Có thể khẳng định rằng, trang sử đá Hạ Long là hình ảnh sinh động nhất về lịch
sử địa chất của khu vực, nó ghi lại quá trình hình thành, vận động kiến tạo của
vỏ trái đất cách ngày nay 250- 270 triệu năm Cuộc chuyển động uốn nếp Caledonie và thuộc điệp Carbon thường và Permi tạo khu vực Đông Nam Á thành đảo núi xen kẽ các trũng biển.Cách ngày nay 175 triệu năm cuộc vận động tạo sơn Indossinias mạnh, nâng các trũng biển thành lục địa.Mặc dù vậy, địa hình Vịnh Hạ Long về cơ bản vẫn không thay đổi cho tới ngày nay.Vì vậy,
Hạ Long không chỉ đẹp mà còn là bảo tàng địa chất quý giá, được gìn giữ ngoài trời đã quá 250 triệu năm
Bờ và trong lòng Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều hệ tầng trầm tích thành phần cacbonat và lục nguyên với nhiều di tích cổ sinh vật dưới dạng hoá thạch, trong
đó có các ngành động thực vật đã bị biến mất trên trái đất Đó là những trang sử
đá ghi lại những biến cố vĩ đại của quá trình địa chất và tiến hoá của sự sống Lịch sử địa chất lâu dài của Vịnh Hạ Long được biết ít nhất trên 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau, với nhiều lần tạo sơn – biến thoái, sụt chìm - biển tiến Khu vực Vịnh Hạ Long đã từng là biển sâu vỏo các kỷ Odovic – Silua ( khoảng 500 – 410 triệu năm trước), là biển nông vào các kỷ Carbon – Pecmi (khoảng 340 – 250 triệu năm trước), biển ven bờ vào cuối kỷ Paleogen - đầu kỷ Neogen (khoảng 26- 20 triệu năm trước) và trải qua một số lần biển tiến trong kỷ Nhân Sinh (khoảng 2 triệu năm qua)
Xen kẽ với các thời kỳ biển tồn tại là các thời kỳ lục địa.Vịnh Hạ Long đã trải qua những thời kỳ cổ địa lý rất đặc biệt Kỷ Carbon (khoảng 340 – 285 triệu năm trước) là thời gian nóng ẩm của trái đất, phát triển môi trường đầm lầy thực vật thuận lợi cho hình thành các bể than khổng lồ ở Châu Âu thì ở Vịnh Hạ Long lại là vùng biển nông, khí hậu khô nóng để hình thành nên tầng đá vôi dày Trái lại, vào kỷ Trias (khoảng 240- 195 triệu năm trước) khi trái đất nói chung, Châu Âu nói riêng có khí hậu khô nóng thì khu vực Vịnh Hạ Long là những đầm lầy ẩm ướt với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ nhiều thế hệ
Vịnh Hạ Long còn là mẫu hình tuyệt vời về cấu trúc địa chất Karst trưởng thành trong điều kiện nhiệt đới ẩm, trải qua trên 20 triệu năm nhờ sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi rất dày, khí hậu nóng ẩm và quá trình nâng
Trang 9kiến tạo chậm chạp trên tổng thể Vịnh Hạ Long là một trong số 29 vịnh được Câu lạc bộ những vịnh đẹp nhất thế giới xếp hạng và chính thức công nhận vào tháng 7 năm 2003.
1.2.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên trên Vịnh Hạ Long
• Vị trí địa lý
Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo nằm ở phía đông bắc Việt Nam, thuộc địa phận Quảng Ninh có toạ độ từ 106°56’ đến 107°37’ kinh độ đông và 20°43’ đến 21°09’ vĩ độ bắc Phía Tây và Tây Bắc Vịnh Hạ Long kéo dài từ huyện Yên Hưng qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả đến hết phần biển đảo huyện Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ, phía Tây Nam và Tây giáp đảo Cát Bà ( TP Hải Phòng), phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Đông tiếp giáp với Biển Đông
Vịnh Hạ Long là một phần của đại lục Châu Á bị chìm xuống biển nơi sâu nhất không quá 200m, với diện tích 1500 km², có 1600 đảo lớn nhỏ, trong đó có gần
1000 đảo có tên
• Địa hình
Địa hình Hạ Long với hệ thống hang động là một kiểu đặc sắc của địa hình Karst với những đảo núi xen kẽ giữa các trũng biển, là vùng bằng cát mặn có sú vẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng Chúng ta có thể hoàn toàn tìm thấy ở
Hạ Long những dạng địa hình rất độc đáo và có vai trò lớn đó là:
Dạng địa hình đá vôi: được hình thành cách đây 250 đến 280 triệu năm, qua quá
trình vận động tạo sơn của vỏ trái đất là phần rỡa của đại lục Châu Á chìm xuống mặt Vịnh rộng khoảng 1500km², có hàng ngàn đảo đá và hang động kỳ diệu Một phần diện tích đáng kể của đảo là núi, các đảo nhỏ ngoài khơi có ngọn cao tới 150m đến 200m, chủ yếu các đảo cấu tạo bằng đá phiến tựa những chiếc mộc bản chạy song song với các rặng núi trong đất liền
Địa hình bờ bãi biển: Đặc trưng địa hình là sườn thoải, cát trắng, nước biển
trong xanh Trong đó có những biển đẹp đã được đưa vào khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch như: Bãi Cháy Ti Tốp, Quan Lạn, Ba Trái Đào… với nhiệt
độ trung bình 25°c rất lý tưởng
Trang 10• Khí hậu
Khí hậu của Hạ Long nói riêng và Quảng Ninh nói chung có khí hậu tiêu biểu của các tỉnh miền Bắc Việt Nam, mang tính chất nhiệt đới ẩm Một năm có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông Đây là vùng biển nhiệt đới gió mùa.Mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều gió thình hành là gió nam.Mùa đông lạnh, khô hanh và ít mưa, gió thịnh hành là gió đông bắc Nhiệt độ trung bình từ 15 - 25oc, độ ẩm trung bình hàng năm là 84%, lượng mưa hàng năm lên tới 2000-2200mm/năm, số ngày mưa trung bình là 90 – 170 ngày Vịnh Hạ Long có chế độ nhật triều thuần nhất điển hình (biên độ triều từ 3, 5 – 4,0m Độ mặn của nước biển từ 31-34, 5MT, mùa mưa thấp hơn
Bảng 1: Những thay đổi nhiệt độ trung bình của Vịnh Hạ Long
Tháng 3 - 4 5 - 8 9 - 10 11 - 12
Nhiệt độ TB 14 – 22o 25 – 30 o 20 – 25 o 12 – 19 o
Vịnh Hạ Long được che chắn bởi ba phía cùng với địa hình đáy biển tương đối bằng phẳng nên đây là vùng vịnh khá tĩnh, tần xuất lặn sóng chiếm khoảng 80 – 84% Nhìn chung khí hậu Hạ Long khá thuận lợi cho hoạt động du lịch đặc biệt
từ tháng 4 đến tháng 11, đây là thời kỳ gió mùa nồm nam rất thuận lợi cho loại hình du lịch biển
• Thủy văn
Trong khu vực của Vịnh Hạ Long, lượng nước song với phù sa đổ vào biển hầu như không có nên nước biển thường trong, có độ mặn cao, đáy cát mịn Có thể nói hiếm có nơi nào mặt nước lại trong xanh và đẹp tĩnh lặng như Hạ Long.Thuỷ triều Hạ Long có chế độ nhật triều đối với biên độ lớn từ 4 – 4,5m là hiện tượng hiếm thấy trên thế giới, tạo ra những thay đổi lớn trong ngày về diện mạo
và cảnh quan bờ, đảo Việc lợi dụng con nước triều có thể đưa khách đi thăm những nơi đẹp, huyền bí của Vịnh Việc nắm vững quy luật thủy triều có thể tạo
ra những cơ hội cho hoạt động du lịch biển như: du thuyền, lướt ván, lặn biển, tham quan đánh bắt cá của làng chài và vãn cảnh biển
• Tài nguyên động – thực vật
Các kết quả nghiên cứu cho thấy Vịnh Hạ Long có đầy đủ các hệ sinh thái của vùng biển nhiệt đới như: hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ
Trang 11sinh thái cỏ biển, hệ sinh thái rừng nhiệt đới và đặc biệt là hệ sinh thái tùng áng đặc thù Vịnh Hạ Long có khoảng 163 rặng san hô, thuộc 44 chi và 12 họ, thường tập trung ở độ sâu 5-10m Độ che phủ rạn san hô trung bình 30% nhưng cũng có nơi lên đến 70-80% như khu vực Cống Đỏ, Bọ Hung… Rừng san hô Vịnh Hạ Long thực sự là một cảnh sắc tuyệt đẹp, san hô dạng cảnh như san hô cây, san hô đĩa, san hô cục… với nhiều sắc trắng lam, hồng, đỏ… Rừng san hô đồng thời là nơi cư trú của nhiều loài sinh vật như cá 107 loài, rong, tảo, động vật phù du, thực vật phù du… trong đó có nhiều loài cá cảnh rất đẹp Hệ sinh thái rừng ngập mặn tập trung chủ yếu ở khu vực Tuần Châu, Cửa Lục, Ba Chẽ
và rải rác ven bờ Hệ sinh thái vùng nhiệt đới với số lượng loài rất phong phú như đinh, hương, sến, táu, vàn hương phần lớn trên các đảo Đây cũng chính là nơi sinh sống của rất nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm như: hươu, chồn, sóc,… đặc biệt là khỉ khoang trắng và khỉ long đỏ cùng nhiều loài khác Ngoài
ra, Vịnh Hạ Long còn có hệ sinh thái tùng áng nhỏ ăn thông với biển Đông, là nơi cư trú sinh sống và phát triển của vô số loài sinh vật và thực vật như: cò biển, rong, tảo, cá tôm,… Ngoài xa khơi là nơi cư ngụ của các loài tôm, cá, mực, bào ngư, hải sản với số lượng đánh bắt hàng năm lên tới hàng nghìn tấn
1.2.3 Các cảnh quan nổi tiếng của Vịnh Hạ Long
Vùng di sản trên vịnh Hạ Long được thế giới công nhận (vùng lõi) có diện tích
434 km², như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông), bao gồm 775 đảo với nhiều hang động, bãi tắm Vùng kế bên (vùng đệm), là di tích danh thắng quốc gia đã được bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng từ năm 1962
Khu vực biển, đảo
Các đảo ở vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung
ở hai vùng chính là vùng phía Đông Nam Vịnh Bái Tử Long và vùng phía Tây Nam vịnh Hạ Long Theo thống kê của ban quản lý vịnh Hạ Long, trong tổng số 1.969 đảo của vịnh Hạ Long có đến 1.921 đảo đá với nhiều đảo có độ cao khoảng 200m
Các đảo trên vịnh Hạ Long có những hình thù riêng, không giống bất kỳ hòn đảo nào ven biển Việt Nam và không đảo nào giống đảo nào Đảo thì giống khuôn mặt ai đó đang hướng về đất liền (hòn Đầu Người); đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Lã Vọng); phía xa là hai cánh buồm nâu đang rẽ sóng nước ra khơi (hòn Cánh Buồm); rồi hai con gà đang âu yếm vờn nhau trên sóng nước (hòn Trống Mái); đảo lại có hình tròn cao khoảng 40m
Trang 12trông như chiếc đũa phơi mình trước thiên nhiên (hòn Đũa), mà nhìn từ hướng khác lại giống như vị quan triều đình áo xanh, mũ cánh chuồn, nên dân chài còn gọi là hòn Ông v.v.
Bên cạnh các đảo được đặt tên căn cứ vào hình dáng, là các đảo đặt tên theo sự tích dân gian (núi Bài Thơ, hang Trinh Nữ, đảo Tuần Châu), hoặc căn cứ vào các đặc sản có trên đảo hay vùng biển quanh đảo (hòn Ngọc Vừng, hòn Kiến Vàng, đảo Khỉ v.v.) Dưới đây là một vài hòn đảo nổi tiếng:
- Hòn Con Cóc: nằm cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 12 km về phía
Đông Nam, trên vùng vịnh Hạ Long Đây là hòn núi đá rất đẹp có góc nghiêng
và hình dáng như một con cóc ngồi xổm giữa biển nước, cao khoảng 9m
- Hòn Gà Chọi: là một trong những hòn đảo nổi tiếng trên vịnh Hạ Long, hòn
Gà Chọi (hay đôi khi gọi là Hòn Trống Mái) nằm gần hòn Đỉnh Hương ở phía Tây Nam của Vịnh, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 5 km Đây là cụm gồm 2 đảo có hình thù giống như một đôi gà, một trống một mái, có chiều cao khoảng hơn 10m với chân thót lại ở tư thế rất chênh vênh
- Đảo Ngọc Vừng: nằm cách cảng tàu du lịch khoảng 34 km, thuộc huyện Vân
Đồn, tỉnh Quảng Ninh, có đặc điểm là một trong số ít đảo đất trên vùng vịnh Hạ Long Xung quanh đảo có nhiều bãi biển đẹp, có núi Vạn Xuân cao 182m và có
di chỉ khảo cổ thuộc văn hoá Hạ Long rộng 45.000m².Đảo Ngọc Vừng rộng 12 km², có người ở, có bến cảng cổ Cống Yên thuộc hệ thống thương cảng cổ Vân Ðồn từ thế kỷ 11, và có di tích thành cổ nhà Mạc, thành nhà Nguyễn Phía đông của đảo có bãi cát dài tới hàng kilômét với cát trắng trải ra tới tận bến tàu
- Đảo Ti Tốp: nằm trên khu vực vịnh Hạ Long cách Bãi Cháy chừng 14 km về
phía Đông Đảo Ti Tốp có bờ dốc đứng và bãi cát trắng phẳng hình vầng trăng nằm dưới chân
- Đảo Tuần Châu: là một đảo đất rộng khoảng 3 km² Từ năm 2001, một con
đường lớn đã được xây dựng nối đảo với đất liền Một tổ hợp dịch vụ vui chơi, giải trí, quần thể khách sạn, nhà hàng và bãi tắm sang trọng được xây dựng, đưa vào phục vụ góp phần làm thay đổi bộ mặt của Hạ Long từ năm du lịch 2003 tới nay
• Hang động
Những hang động tại Hạ Long, theo các nhà thám hiểm địa chất người Pháp, khi nghiên cứu về vịnh Hạ Long đầu thế kỷ 20, khẳng định rằng hầu hết trong
Trang 13số chúng đều được kiến tạo trong thế Pleistocen kéo dài từ 2 triệu đến 11 ngàn năm trước, nằm trong 3 nhóm hang ngầm cổ, hang nền carxtơ và các hàm ếch biển.
- Hang Sửng Sốt: hay động Sửng Sốt nằm trên đảo Bồ Hòn ở trung tâm vịnh
Hạ Long Ðây là một hang động rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long Vị trí và diện tích: Hang Sửng Sốt là một hang dạng ống, nằm ở độ cao 25m so với mực nước biển hiện tại Diện tích khoảng 10.000m2, chiều dài hơn 200m, chỗ rộng nhất 80m, khoảng cách lớn nhất từ nền tới trần hang xấp xỉ 20m Hang được chia thành 2 ngăn chính Năm 1999, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã đầu tư tôn tạo Hang Sửng Sốt Hệ thống đường đi, ánh sáng để du khách có thể quan sát và cảm nhận được vẻ đẹp của những khối nhũ, măng đá trong lòng hang.Ánh sáng được thiết kế phù hợp với kiến trúc hang đồng thời hài hoà với ánh sáng tự nhiên từ phía cửa hang
- Động Thiên Cung: Hang Đầu Gỗ và động Thiên Cung cách nhau chừng
100m, được thông nhau bằng những lối đi quanh co, uốn lượn dưới tán lá rừng.Động Thiên Cung nằm ở lưng chừng đảo Canh Độc, ở độ cao 25m so với mực nước biển Lòng động mở ra không gian có tiết diện hình tứ giác với chiều dài hơn 130 mét, với những măng đá như một đền đài mỹ lệ Vách động cao và thẳng đứng được bao bọc bởi những nhũ đá và trên mỗi vách động ấy thiên nhiên đã khảm nhiều hình thù kỳ lạ, hấp dẫn người xem Cửa động nhỏ hẹp được giấu kín trong lòng núi nhưng càng đi vào bên trong, lòng động càng mở lớn và rộng, dẫn dắt người xem đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác
- Hang Đầu Gỗ: hiện các nhà khảo cổ tìm thấy rất nhiều khúc gỗ và mẩu gỗ vụn
còn sót lại trong động Nếu động Thiên Cung hoành tráng khoẻ khoắn, hiện đại thì hang Ðầu Gỗ trầm mặc uy nghi nhưng cũng rất đồ sộ Cửa hang Đầu Gỗ ở lưng chừng vách núi và trong lòng hang được chia thành 3 ngăn chính Ngăn phía ngoài hình vòm cuốn tràn ánh sáng tự nhiên, với trần hang như một bức tranh khổng lồ Phía dưới là rừng măng đá, nhũ đá nhiều màu với nhiều hình thù tùy theo trí tưởng tượng của từng người Chính giữa lòng hang là một cột trụ đá khổng lồ hàng chục người ôm, từ phía dưới chân cột lên trên là những hình mây bay, long phi phượng vũ, hoa lá, dây leo
- Một số hang động khác: Ngoài các hang động trên, du khách còn tham quan
hàng chục hang động đẹp và quyến rũ khác như hang Bồ Nâu có cửa uốn vòng cung với nhũ đá buông xuống mềm mại như cành liễu; hang Hanh cách thành phố Cẩm Phả 9 km về phía tây, là một hang động đẹp và dài nhất so với các
Trang 14hang động hiện có trên vịnh Hạ Long, với chiều dài 1.300m chạy xuyên suốt dãy núi đá Quang Hanh ra tới biển; hang Trinh Nữ với tảng đá hình cô gái đứng xõa mái tóc dài hướng ra biển, và đối diện với nó là hang Trống (hay hang Con Trai) với bức tượng chàng trai hóa đá quay mặt hướng về phía hang Trinh Nữ; rồi hang Tiên Long, Ba Hang, hang Luồn, động Tiên Ông, động Tam Cung, động Lâu Đài, Ba Hầm v.v Báo cáo của ban quản lý vịnh Hạ Long cho biết hiện nay vẫn chưa thể thống kê hết được tất cả hang động trên 1.969 đảo.
1.2.4 Một số thành tựu của Vịnh Hạ Long
- Di sản quốc gia Việt Nam
Năm 1962, vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa-Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1553 km² bao gồm 1969 hòn đảo Các đảo trong vùng vịnh Hạ Long được quy hoạch là khu bảo tồn các di tích văn hoá-lịch sử và cảnh quan quốc gia, theo Quyết định Số 313/VH-VP của Bộ Văn hoá-Thông tin Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 1962 (ADB 1999) Các đảo này cũng có trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo Quyết định Số 194/CT, ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính Phủ)
Năm 1995, vịnh Hạ Long, cùng với đảo Cát Bà, được Phân viện Hải dương học Hải Phòng đề nghị đưa vào danh sách hệ thống các khu bảo tồn biển
Năm 1999, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB 1999) đề xuất thành lập một khu bảo vệ có tên là Khu cảnh quan thiên nhiên vịnh Hạ Long rộng 155.300 ha, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa thực hiện được
- Di sản thế giới lần 1: giá trị thẩm mỹ
Ngày 21 tháng 12 năm 1991 Chính phủ Việt Nam cho phép xây dựng hồ sơ về cảnh quan vịnh Hạ Long để trình Hội đồng Di sản Thế giới xét duyệt di sản thiên nhiên thế giới.Năm 1993, hồ sơ khoa học về vịnh Hạ Long được hoàn tất
và chuyển đến UNESCO để xem xét Ngày 17 tháng 12 năm 1994, trong kỳ họp thứ 18 tại Phuket, Thái Lan, Ủy ban Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng toàn cầu
về mặt thẩm mĩ (tiêu chí vii), theo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tế về bảo vệ
Di sản tự nhiên và văn hóa của thế giới
- Di sản thế giới lần 2: giá trị địa chất địa mạo
Trang 15Tháng 9 năm 1998, theo đề nghị của Ban quản lý vịnh Hạ Long và IUCN, Giáo
sư Tony Waltham, chuyên gia địa chất học trường Đại học Trent Nottingham đã tiến hành nghiên cứu địa chất vùng đá vôi carxtơ vịnh Hạ Long Ngày 25 tháng
2 năm 1999, sau khi nhận được báo cáo của giáo sư Tony Waltham, UNESCO
đã gửi thư tới Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam và Ban quản lý vịnh Hạ Long yêu cầu xúc tiến việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận về giá trị địa chất, địa mạo vùng đá vôi vịnh Hạ Long Tới tháng 7 năm 1999, hồ sơ trình Hội đồng Di sản Thế giới để công nhận vịnh Hạ Long về giá trị địa chất hoàn tất và được gửi đến Trung tâm Di sản thế giới tại Paris Tháng 7 năm 2000, kỳ họp giữa năm của Trung tâm Di sản thế giới tại Paris đã chính thức đề nghị Ủy ban Di sản Thế giới công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thế giới bởi giá trị toàn cầu về địa chất địa mạo, theo tiêu chuẩn viii của UNESCO Ngày 2 tháng 12 năm 2000, căn cứ Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và kết quả xét duyệt hồ
sơ địa chất vịnh Hạ Long, tại Hội nghị lần thứ 24 của Hội đồng Di sản Thế giới tại thành phố Cairns, Queensland, Úc, Hội đồng Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long là di sản thế giới lần thứ 2 theo tiêu chuẩn (viii) về giá trị địa chất địa mạo
- Đề cử di sản thế giới lần thứ 3
Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang xúc tiến đệ trình UNESCO công nhận Vịnh Hạ Long là Di sản thế giới lần thứ 3, dựa trên những giá trị về khảo cổ học và đa dạng sinh học trong vùng Vịnh
- Bình chọn trong Bảy Kì quan Thiên nhiên Mới của Thế giới
Trong 4 năm từ 2007-2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng kết hợp với
Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông, báo Tuổi Trẻ các hội đoàn như Đoàn Thanh niên, Hội Sinh Viên v.v cùng tỉnh Quảng Ninh và nhiều địa phương khác, tổ chức vận động quy mô bầu chọn cho
Hạ Long là một trong Bảy Kì quan Thiên nhiên Mới của Thế giới, là một cuộc bình chọn do Tổ chức tư nhân NewOpenWorld (NOWC) Lúc 2h ngày 12 tháng
11 năm 2011 (giờ Việt Nam), vịnh Hạ Long được tổ chức New7Wonders tuyên
bố là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới mới sau cuộc kiểm phiếu sơ bộ
1.3 Tiềm năng du lịch của Vịnh Hạ Long
Trang 16Với các giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất, địa mạo, lại là trung tâm của khu vực có nhiều yếu tố đồng dạng bao gồm vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc, quần đảo Cát Bà với vịnh Cát Bà và vịnh Lan Hạ phía Tây Nam, vịnh Hạ Long hội tụ những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch với loại hình đa dạng Đến vịnh Hạ Long, du khách có thể tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham quan ngắm cảnh, tắm biển, bơi thuyền, thả dù, lặn khám phá rặng san hô, câu cá giải trí Hiện nay, khách đến vịnh Hạ Long chủ yếu tham quan ngắm cảnh, tắm biển và bơi thuyền Các loại hình du lịch du thuyền tại vịnh Hạ Long bao gồm tham quan Vịnh ban ngày, đi tour buổi chiều ngắm hoàng hôn trên Vịnh, du thuyền đêm để ngắm cảnh Vịnh về đêm kết hợp với câu cá mực, thậm chí có thể tự chèo thuyền để khám phá Vịnh Trong những năm tới, ngành du lịch sẽ mở thêm nhiều tuyến điểm tham quan và tăng thêm nhiều loại hình du lịch khác
Quá trình đô thị hóa thành phố Hạ Long đang diễn ra mạnh mẽ về mọi mặt là một tiền đề vững chắc để phát triển du lịch Hiện thành phố Hạ Long có khoảng
300 khách sạn từ 1 sao đến 5 sao với 4500 phòng nghỉ và nhiều khách sạn mini
cơ bản đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch Sự tăng trưởng về số lượng khách ở Hạ Long được đánh giá là nhanh nhất ở Việt Nam trong những năm gần đây Là một trong 2 vịnh biển đẹp nhất Việt Nam bên cạnh vịnh Nha Trang, vịnh Hạ Long là nơi thường xuyên đón tiếp các tàu du lịch quốc tế chọn làm điểm dừng tham quan
Chương 2:
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ DU LỊCH TẠI VỊNH HẠ
LONG 2.1 Các yếu tố tạo nên chất lượng dịch vụ tại Vịnh Hạ Long
Bên cạnh các yếu tố về điều kiện tự nhiên ban tặng cho Vịnh Hạ Long, chất lượng dịch vụ du lịch tại Vịnh Hạ Long còn phải kể đến: cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực
Trang 17Có các hình thức vận chuyển đa dạng gồm: đường sắt, đường bộ, đường biển và đường hàng không cùng các tuyến đường được nâng cấp, xây mới có chất lượng tốt đảm bảo phục vụ yêu cầu đi lại tham quan của du khách.
+ Đường bộ gồm các tuyến xe buýt chất lượng cao
+ Đường sắt Hà Nội – Hạ Long dài 170km xuất phát từ ga Yên Viên ((Hà Nội)+ Đường hàng không, vào thứ 7 hàng tuần có một chuyến máy bay trực thăng của Công ty bay dịch vụ miền Bắc, xuất phát từ sân bay Gia Lâm (Hà Nội)
+ Đường thủy, hiện nay phương tiện tàu thủy cao tốc rất được khách du lịch quan tâm và sử dụng nhiều khi đến tham quan Hạ Long
Trong đó các phương tiện di chuyển bằng ô tô, tàu thủy đã được khai thác phục
vụ du lịch từ rất lâu và mang lại hiệu quả rõ rệt.Trong những năm gần đây hình thức vận chuyển khách du lịch bằng trực thăng và tàu hỏa được rất nhiều du khách đón nhận sử dụng dịch vụ
Tuyến tàu hỏa du lịch khởi hành từ ga Gia Lâm (Hà Nội) đến Hạ Long (Quảng Ninh) được đưa vào hoạt động, đã được du khách hết sức quan tâm Đây là chuyến tàu khách chất lượng cao do công ty TNHH một thành viên vận tải đường sắt Dongrim (Hàn Quốc) đầu tư khai thác với tổng số vốn đầu tư trên 1 triệu USD Điều này đã mở ra cơ hội mới cho du lịch Quảng Ninh trong việc đưa đón, thu hút du khách tham quan du lịch từ Hà Nội về Hạ Long và ngược lại
Bên cạnh đó, các tuyến đường chính như đường Hùng Thắng, đường Hạ Long
đã và đang được đầu tư xây dựng, nâng cấp có chất lượng tốt đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu đi lại tham quan của du khách Đặc biệt, gần đây cây cầu Bãi Cháy được xây dựng và đưa vào lưu thông đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch của thành phố cũng như của tỉnh một cách thống nhất
- Về hệ thống điện, nước
Hiện nay hệ thống điện, nước tại Hạ Long là rất tốt và ngày càng được chú trọng đầu tư sửa chữa và nâng cấp Hệ thống điện ổn định, đường dây tải đảm bảo an toàn Hệ thống cấp thoát nước trong thành phố cũng như khu vực Vịnh
Hạ Long khá tốt với việc đảm bảo cung cấp nguồn nước sạch, đảm bảo an toàn
vệ sinh, cũng như đảm bảo xử lý và thoát nước theo đúng quy định
Trang 18- Mạng lưới thông tin liên lạc rất tốt, đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu thông tin của khách du lịch.
Bên cạnh đó là các cơ sở hạ tầng khác như các trạm thu phí, trạm cấp cứu y tế ven biển, ngân hàng cũng khá phát triển… nhằm phục vụ du khách tốt nhất
2.1.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật
• Các cơ sở lưu trú
Cơ sở lưu trú là điều kiện thiết yếu không thể thiếu để đảm bảo cho hoạt động
và phát triển du lịch Hiện nay, sự gia tăng đáng kể về số lượng du khách đến Quảng Ninh nói chung và Vịnh Hạ Long nói riêng đã thúc đẩy sự phát triển của các cơ sở lưu trú Chỉ tính riêng trong vòng 10 năm trở lại đây, hàng loạt khách sạn, nhà nghỉ, nhà khách, nhà trọ của các thành phần kinh tế, các cơ quan, tổ chức và tư nhân lần lượt ra đời Chiếm số lượng chủ yếu là các khách sạn mini, các cơ sở lưu trú này đáp ứng cao nhu cầu chỗ nghỉ của du khách đặc biệt là vào mùa cao điểm, tuy nhiên sự gia tăng ồ ạt của các khách sạn có quy mô vừa và nhỏ này tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng thừa trong mùa thấp điểm Do vậy, công suất sử dụng phòng trong năm là không cao Một số khách sạn được xếp hạng sao cho công suất sử dụng phòng khá cao như khách sạn Hạ Long I, II, III và
Hạ Long bay đạt trên 80%, ngoài ra còn có một số khách sạn lớn khác như: khách sạn Sài Gòn – Hạ Long, khách sạn Hạ Long – Plaza, khách sạn Bạch Đằng, khách sạn Công Đoàn, khách sạn Vườn Đào cũng là những khách sạn có công suất sử dụng phòng cao
Trong những năm gần đây, tổng số khách sạn và số phòng đạt tiêu chuẩn quốc
Trang 19(Nguồn: Sở du lịch Quảng Ninh)
Số lượng cơ sở lưu trú năm 2008 tăng khá nhanh so với năm 2007 Số lượng khách sạn đạt tiêu chuẩn 1-5 sao tăng thêm 13 cơ sở, tăng 5.7% Số lượng phòng lưu trú tăng 450 phòng
Các khách sạn chủ yếu tập trung ở khu vực Bãi Cháy và một số nằm ở bên Hòn Gai – chủ yếu nằm trên đường Lê Thánh Tông Đây là một trong số những thuận lợi cho phát triển du lịch của thành phố nói chung và khu vực Vịnh Hạ Long nói riêng trong việc đáp ứng nhu cầu lưu trú của các du khách
• Các cơ sở ăn uống
Các cơ sở ăn uống tại thành phố Hạ Long rất đa dạng Hầu hết các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng đều phục vụ ăn uống Ngoài ra còn có các nhà hàng, quán
ăn, quán bar, của các thành phần kinh tế, trong đó phần lớn là của tư nhân phục
vụ khách du lịch và nhân dân địa phương suốt ngày đêm
Với những loại cơ sở dịch vụ nhà hàng ăn uống từ bình dân, đặc sản biển đến các quán ăn Âu, Á sang trọng Các quán ăn cao cấp tập trung phần lớn quanh khu vực Bãi Cháy và trong các khách sạn lớn Các quán ăn phục vụ chủ yếu các món đồ đặc sản biển, món ăn Việt Nam
- Nhà hàng ăn Âu, Á có quy mô tương đối lớn, chủ yếu đặt tại các khách sạn đạt tiêu chuẩn 3-5 sao, đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế
Đơn vị Năm
2007
Năm 2008
So sánh năm 2007 với năm 2008
Trang 20- Nhà hàng đặc sản biển, với số lượng hàng chục nhà hàng có quy mô phục
vụ vừa và khá lớn nằm trên đường Bãi Cháy và những tuyến đường lớn của đường phố như Lê Thánh Tông, Trần Hưng Đạo là những địa chỉ cho khách du lịch thưởng thức những món ăn đặc sản biển của Hạ Long Đặc biệt nhất là chuỗi nhà hàng nổi, nhà bè nơi du khách tận mắt ngắm nhìn và thưởng thức những món hải sản mang hương vị vùng biển Hạ Long
- Ngoài ra, cơ sở dịch vụ ăn uống ở Hạ Long phong phú hơn bởi rất nhiều quán ăn, quán bar, quán giải khát phục vụ ngày đêm Trong đó, được biết đến nhiều là “Siêu thị ốc” nơi hấp dẫn du khách vào các buổi tối
Tuy nhiên, dù là cơ sở dịch vụ lớn hay nhỏ, phục vụ tại thời điểm nào, tất cả đều phục vụ các món hải sản đặc trưng của một địa danh vùng biển
• Các cơ sở vui chơi, giải trí và thể thao
Hiện nay, tại thành phố Hạ Long cũng như khu vực vịnh có rất nhiều khu vực vui chơi – giải trí – thể thao được xây dựng để phục vụ nhu cầu của du khách cũng như của nhân dân địa phương Tập trung phần lớn tại khu vực Bãi Cháy với nhiều cơ sở được đầu tư kỹ lưỡng gồm các quán bar, sàn nhảy, song bạc casino, khu công viên (công viên Quốc tế Hoàng Gia) nằm bên bờ biển, khu du lịch quốc tế Tuần Châu, khu chợ đêm bán hàng lưu niệm, khu vực thể thao như moto nước, dù lượn,…
• Các phương tiện vận chuyển khách du lịch
Phương tiện vận chuyển du khách chủ yếu hiện nay là ô tô và tàu du lịch Số lượng phương tiện vận chuyển ngày càng tăng về số lượng và chất lượng Hiện nay, thành phố có khoảng trên 427 tàu du lịch các loại phục vụ khách tham quan Vịnh Hạ Long, trong đó có 109 tàu có cơ sở lưu trú với các phòng đạt tiêu chuẩn chất lượng cao (số liệu thống kê năm 2008) Các phương tiện có thể đáp ứng ở nhiều mức độ tùy theo nhu cầu của du khách về tiện nghi, trang thiết bị Tàu du lịch ở Hạ Long được phân loại và xếp hạng như sau:
- Loại tàu đạt tiêu chuẩn 3 sao
- Loại tàu đạt tiêu chuẩn 2 sao
- Loại tàu đạt tiêu chuẩn 1 sao
- Loại tàu đạt tiêu chuẩn tối thiểu
Tùy thuộc vào tuyến hành trình lựa chọn, thời gian tham quan trên vịnh có thể kéo dài 4h, 6h, 8h mà du khách còn có thể lựa chọn dịch vụ lưu trú đêm trên vịnh trên các tàu du lịch có đủ điều kiện kinh doanh
Trang 21• Các công ty lữ hành và đại lý du lịch
Vịnh Hạ Long từ lâu được biết đến là một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn của đất nước với những hoạt động du lịch diễn ra sôi động.Đóng góp một phần rất lớn vào việc quảng bá hình ảnh du lịch Vịnh Hạ Long trong nước và quốc tế
là các công ty du lữ hành và các đại lý hiện đang hoạt động rất hiệu quả Hiện nay, có khoảng 30 công ty lữ hành đặt trụ sở và chi nhánh hoạt động tại Hạ Long, trong đó có nhiều công ty lữ hành và đại lý du lịch lớn, uy tín
2.1.3 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực luôn giữ vị trí chủ chốt trong quá trình phát triển, quy định chất lượng phục vụ khách du lịch Theo đánh giá mới đây của Tổng cục du lịch, hiện nay số lao động trong lĩnh vực du lịch khoảng 850 nghìn người Trong đó, lao động trực tiếp là 250 nghìn người, lao động gián tiếp là 600 nghìn người Tuy nhiên, chỉ có khoảng 50% số lao động trong số này được qua đào tạo Đối với tỉnh Quảng Ninh, theo số liệu thống kê năm 2006, có khoảng 12.000 lao động được bố trí việc làm Trong đó, nhân lực ngành du lịch – dịch vụ là 1.200 lao động chiếm 10% Hiện nay, cùng với những chủ trương phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, số lượng lao động phục vụ trong ngành du lịch – dịch vụ ngày càng tăng mạnh Không chỉ có nguồn nhân lực trong tỉnh mà còn có một số lượng tương đối đông nguồn nhân lực từ các tỉnh khác đến Số lượng và cơ cấu lao động được thể hiện cụ thể ở bảng sau:
Bảng 2: Số lượng và cơ cấu lao động ngành du lịch ở Hạ Long
Trang 22vụ đã được đào tạo
Hiện nay, cùng với một số lượng khá lớn nhân lực phục vụ trong ngành du lịch, tỉnh Quảng Ninh cũng đưa ra những chủ trương chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao nhằm phục vụ ngày một tốt hơn nhu cầu của du khách
Cơ sở đào tạo nguồn nhân lực du lịch chủ yếu của tỉnh là Trường cao đẳng Nghệ thuật và du lịch với các ngành đào tạo Việt Nam học (chuyên ngành quản trị lữ hành – hướng dẫn), quản trị khách sạn – nhà hàng, quản lý văn hóa, quản trị lữ hành – hướng dẫn Góp phần quan trọng vào việc phát triển nguồn nhân lực du lịch có chuyên môn của tỉnh, là nơi cung cấp một đội ngũ nhân viên dịch
vụ và hướng dẫn viên tốt tại khu vực du lịch Vịnh Hạ Long
2.2 Hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch và hoạt động du lịch tại Vịnh
Hạ Long
Hiện nay việc khai thác phục vụ du lịch ở Vịnh Hạ Long chỉ tập trung chủ yếu ở những vùng ven bờ, điều này làm cho sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chưa tương xứng với tiềm năng và giá trị đích thực của khu vực di sản thiên nhiên thế giới.Khai thác và hoạt động du lịch của toàn bộ khu vực di sản mới chỉ dừng lại
ở việc phục vụ nghỉ dưỡng cho du khách, tham quan trên vịnh, khám phá hang động.Bên cạnh đó cũng có nhưng tour du lịch được thiết kế dựa trên nhu cầu cụ
Trang 23thể của du khách Một số doanh nghiệp thiết kế những tour nghỉ đêm trên vịnh, chèo thuyền Kayak, tham quan làng vạn chài…
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một chương trình đặc biệt nào tạo được ấn tượng riêng trong lòng du khách như các tour chuyên nghiên cứu các di chỉ khảo cổ, tìm hiểu nét văn hóa, phong tục tập quán của cư dân làng vạn chài đang sinh sống trên khu vực vịnh Hạ Long, hay còn gọi là loại hình dịch vụ văn hóa Việc đưa ra những sản phẩm du lịch mới cùng với các dịch vụ mang đậm yếu tố văn hóa không chỉ làm đa dạng thêm loại hình du lịch, kéo dài thời gian lưu trú của du khách mà còn góp phần quảng bá hết cho du khách những giá trị đặc sắc còn tiềm ẩn sâu trong lòng Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long
2.2.1 Thị trường khách du lịch đến Vịnh Hạ Long
2.2.1.1 Thị trường khách du lịch trong nước
Số lượng khách nội địa đến tham quan Vịnh Hạ Long trong những năm gần đây
đã tăng lên đáng kể Khách nội địa đến Hạ Long bằng nhiều con đường khác nhau, chủ yếu là khách địa phương và các vùng phụ cận, từ Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc Ngoài ra còn có một số lượng không nhỏ khách du lịch đến từ các tỉnh phía Nam và thành phố Hồ Chí Minh đi theo các tuyến du lịch đến thủ
đô Hà Nội rồi đi Hạ Long (Tour thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội – Hạ Long Khách du lịch đến Quảng Ninh trong hai năm 2007-2008 đạt từ 3-4 triệu lượt, trong đó khách nội địa đạt trên 2 triệu lượt, chiếm khoảng 60% Lượng khách nội địa đến thăm Vịnh Hạ Long tăng 1.5 đến 2.5 triệu lượt, chiếm trên 50-60% lượng khách du lịch đến Quảng Ninh, trong đó khách nội địa chiếm 42.7%.Như vậy, có thể thấy Quảng Ninh với nhiều danh lam thắng cảnh đã thu hút không ít du khách trong nước đến tham quan Tuy nhiên kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long vẫn là điểm đến trọng điểm
2.2.1.2 Thị trường khách du lịch quốc tế
Số lượng khách quốc tế đến Quảng Ninh trong 10 năm trở lại đây tăng lên khá nhanh, đặc biệt trong những năm gần đây Chỉ tính riêng lượng khách quốc tế đến Quảng Ninh trong năm 2007 là 1.3 triệu lượt khách, đến năm 2008, lượng khách quốc tế là 1.9 triệu lượt Khách quốc tế đến Quảng Ninh cũng có nhiều quốc tịch khác nhau như: Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kong, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Australia,…
Trang 24- Thị trường khách Trung Quốc là thị trường chiếm tỷ lệ đông nhất trong tổng số khác, là loại khách tiêu thụ ít, thích dịch vụ rẻ Chủ yếu sử dụng các loại sản phẩm dịch vụ như: tham quan Vịnh Hạ Long, nghỉ biển, mua sắm Ngày tour trung bình khoảng 3-5 ngày.
- Thị trường khách Nhật Bản: khách du lịch Nhật Bản có mức chi tiêu cao, đòi hỏi dịch vụ cao cấp Thích đến những nơi có cảnh sắc đẹp, ngày tour trung bình thường là 7 ngày Họ chủ yếu lựa chọn các loại sản phẩm dịch vụ như: du lịch tham quan Vịnh Hạ Long, du lịch sinh thái, du lịch tàu biển và câu cá trên vịnh
- Thị trường khách Hàn Quốc có sở thích gần giống khách Nhật Bản, tuy nhiên ngày tour trung bình ngắn hơn, chỉ khoảng 3-5 ngày Thường yêu cầu các loại sản phẩm dịch vụ như: du lịch tham quan vịnh, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – lễ hội
- Thị trường khách Pháp: khách du lịch Pháp cầu kỳ, khá sành trong việc lựa chọn dịch vụ du lịch Họ thích nghỉ tại các khách sạn 3-4 sao và các kiểu nhà nghỉ giải trí, yêu cầu chất lượng phục vụ cao Do vậy, khách Pháp thường thích loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái trên Vịnh Hạ Long, du lịch mạo hiểm Khách du lịch Pháp đặc biệt đam mê trước phong cảnh Vịnh Hạ Long
- Thị trường khách Mỹ: khách du lịch là người Mỹ đến tham quan Vịnh Hạ Long chủ yếu là các cựu chiến binh, Việt kiều, thanh niên đam mê hành động, phiêu lưu Họ không quá chú trọng hình thức, khá dễ tính trong lựa chọn các loại hình du lịch Họ thích thể loại du lịch tham quan, du lịch sinh thái Vịnh Hạ Long, môn thể thao lặn biển, thường có ngày tour khá dài, thường là 7 ngày.Theo số liệu thống kê của Sở Du lịch Quảng Ninh, trong 6 năm (2001-2006), về chỉ tiêu khách du lịch đạt tốc độ tăng bình quân 14%/năm; trong đó khách quốc
tế đạt tốc độ tăng bình quân 13%/năm Nếu năm 2001, tổng lượng khách đến Quảng Ninh chỉ đạt 1.9 triệu/năm thì năm 2006 đạt trên 3 triệu lượt khách Tổng doanh thu du lịch năm 2001 à 468 tỷ đồng thì năm 2006 là 1,259 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 6 năm là 27% Lượng khách tham quan Vịnh Hạ Long trong những năm gần đây tăng nhanh Năm 2008, lượng khách tham quan Vịnh Hạ Long chiếm 62% lượng khách đến Quảng Ninh Lượng khách du lịch đạt 2.6 triệu lượt tăng 46% so với năm 2007 Trong đó, khách quốc tế đạt 1.7 triệu lượt, tăng 6.4% so với năm 2007 Chỉ số trên cho thấy, tốc độ tăng doanh thu nhanh hơn và cao hơn chỉ số tăng về khách du lịch Đây là một sự chuyển biến đáng mừng về chất lượng cho du lịch Vịnh Hạ Long nói riêng và du lịch tỉnh Quảng Ninh nói chung