Trí tuệ nhân tạo làmột ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính, là trí thông minh giúp máy móc có thể tự động hóa các hành vi như con người như: biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN - -
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
NGÔN NGỮ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN - -
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
NGÔN NGỮ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN VĂN THẠO
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực của bản thân,
em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa Ngữ văn, những người đã trang bị cho em những kiến thức đầu tiên, giúp em định hướng đúng đắn trong học tập, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn, lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Thạo, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, kết quảnghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và không trùng với bất kì côngtrình nghiên cứu nào đã từng được công bố trước đó
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình!
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của khóa luận 6
7 Bố cục của khóa luận 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 7
1.1 Cơ sở lí thuyết ngôn ngữ học 7
1.1.1 Cơ sở ngữ âm học 7
1.1.2 Cơ sở lí thuyết về nghĩa trong ngôn ngữ 7
1.1.3 Cơ sở ngữ dụng học 7
1.2 Trí tuệ nhân tạo và ngôn ngữ nhân tạo 8
1.2.1 Khái quát về trí tuệ nhân tạo 8
1.2.2 Ngôn ngữ nhân tạo 9
Tiểu kết chương 1 10
CHƯƠNG 2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ RÀO CẢN ĐỐI VỚI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ 11
2.1 Những thuận lợi của trí tuệ nhân tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ 11
2.1.1 Thuận lợi về mặt cấu tạo 11
2.1.2 Thuận lợi trong lĩnh vực ngôn ngữ 11
2.1.2.1 Thuận lợi về mặt ngữ âm 11
2.1.2.2 Thuận lợi về mặt ngữ nghĩa 12
2.2 Những rào cản đối với trí tuệ nhân tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ 13
2.2.1 Những rào cản về mặt ngữ âm 13
2.2.1.1 Hiện tượng đồng âm 13
2.2.1.2 Ngữ điệu 15
2.2.2 Những rào cản về mặt từ vựng 16
Trang 62.2.2.1 Hoán dụ, ẩn dụ 16
2.2.2.2 Trường nghĩa 18
2.2.2.3 Thành ngữ, tục ngữ 19
2.2.2.4 Điển tích, điển cố 22
2.2.2.5 Phương ngữ 27
2.2.2.6 Tiếng lóng 29
2.2.3 Những rào cản về mặt ngữ dụng 32
2.2.3.1 Nghĩa hàm ẩn 32
2.2.3.2 Ngữ cảnh 35
2.2.3.3 Tiền giả định 37
2.3 Một vài dự báo và để xuất 40
2.3.1 Một vài dự báo 40
2.3.2 Một vài đề xuất 41
Tiểu kết chương 2 42
KẾT LUẬN 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trí tuệ nhân tạo là một phạm trù lĩnh vực được rất nhiều các nhà nghiêncứu quan tâm tìm hiểu và nó là một yếu tố quan trọng góp phần phát triểnngành công nghiệp nói riêng, phát triển thế giới nói chung Trí tuệ nhân tạo làmột ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính, là trí thông minh giúp máy móc
có thể tự động hóa các hành vi như con người như: biết suy nghĩ và lập luận
để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp do hiểu ngôn ngữ, tiếng nói, biết học và tựthích nghi,…
Có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo vàđạt được nhiều thành tựu Cuối năm 2016, hãng Apple đã thông báo sẽ côngkhai các nghiên cứu của hãng về máy học và trí thông minh nhân tạo tựa đề
là "Học từ những hình ảnh mô phỏng và không có kiểm soát thông qua huấn
luyện đối nghịch" Nội dung chủ yếu của tài liệu này là tập trung vào những
nỗ lực của Apple trong lĩnh vực nhận diện hình ảnh thông minh.[36] Ở lĩnhvực y học, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Glasgow đã phát triển một “nhàhóa học robot” (Robot chemist) sử dụng trí thông minh nhân tạo để tìm ra loạithuốc mới trong y học.[37] Hay ở lĩnh vực nghệ thuật, tại Trung Quốc, mộtchú robot đã rất thành công trong việc vẽ tranh theo phong cách cổ xưa…[38]Tuy nhiên, ở Việt Nam cũng như trên thế giới chưa có một nhà nghiêncứu nào nghiên cứu chuyên sâu về sự ảnh hưởng của ngôn ngữ đối với sự
phát triển của trí tuệ nhân tạo Vì vậy, chúng tôi chọn ngôn ngữ của trí tuệ
nhân tạo làm đề tài nghiên cứu của khóa luận.
2 Lịch sử vấn đề
Cách mạng công nghiệp là giai đoạn biến đổi phát triển về chất tronglĩnh vực kĩ thuật của sản suất công nghiệp, diễn ra trong điều kiện chuyển từcông trường (xưởng) thủ công tư bản chủ nghĩa sang hệ thống công xưởng,nhà máy tư bản chủ nghĩa nhờ áp dụng những sáng chế mới trong công nghệ.Trên thế giới đã xảy ra bốn cuộc cách mạng công nghiệp lớn, góp phần làmthay đổi nền kinh tế toàn cầu và thay đổi cuộc sống của nhân loại Cuộc cáchmạng công nghiệp thứ nhất diễn ra khoảng ở nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửađầu thế kỉ XIX, sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản
Trang 8xuất Cuộc cách mạng lần thứ hai được khởi xướng từ cuối thế kỉ XIX kéo dàiđến đầu thế kỉ XX, nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt Cuộc cáchmạng lần thứ ba diễn ra vào những năm 1970, sử dụng điện tử và công nghệthông tin để tự động hóa sản xuất Còn cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
tư xuất hiện vào khoảng nửa cuối thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XXI [11]
Theo Gartner (công ty tư vấn và nghiên cứu toàn cầu cung cấp thông
tin chi tiết, tư vấn và công cụ cho các nhà lãnh đạo về công nghệ thông tin, tàichính, nhân sự, dịch vụ khách hàng và hỗ trợ, chức năng pháp lý và tuân thủ,tiếp thị, bán hàng và chuỗi cung ứng thế giới), Cách mạng Công nghiệp 4.0(hay Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư) xuất phát từ khái niệm "Industrie4.0" trong một báo cáo của chính phủ Đức năm 2013 "Industrie 4.0" kết nốicác hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật
số giữa Công nghiệp, Kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong [12].Cách mạng Công nghiệp 4.0 diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm Công nghệsinh học, Kỹ thuật số và Vật lý Yếu tố cốt lõi của cách mạng công nghiệp 4.0
là trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệulớn (Big Data)
Trí tuệ nhân tạo có thể được định nghĩa như một ngành của khoa họcmáy tính liên quan đến việc tự động hóa các hành vi thông minh Trí tuệ nhântạo là một bộ phận của khoa học máy tính và do đó nó phải được đặt trênnhững nguyên lý lý thuyết vững chắc, có khả năng ứng dụng được của lĩnhvực này Nói một cách khác, trí tuệ nhân tạo là trí thông minh của máy mócđược tạo bởi chính con người Trí tuệ này có thể tư duy, suy nghĩ, học hỏi, như trí tuệ con người Xử lý dữ liệu ở mức rộng lớn hơn, quy mô hơn, hệthống, khoa học và nhanh hơn so với con người [41]
Có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo vàđạt được nhiều thành tựu Thuật ngữ trí tuệ nhân tạo đã được manh nha xuấthiện từ năm 1956 khi công bố chương trình dẫn xuất kết luận trong hệ hìnhthức Đến khoảng năm 1960 khi McCathy ở MIT (Massachussets Institute of
Trang 9có khả năng suy nghĩ Các chương trình chơi cờ và các chương trình chứngminh định lý toán học đầu tiên cũng được công bố trong khoảng thời giannày [20] Cuối những năm 70, một số nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vựcnhư xử lý ngôn ngữ tự nhiên, biểu diễn tri thức, lý thuyết giải quyết vấn đề đãđem lại diện mạo mới cho TTNT Đến khoảng những năm 90 trên thị trường
đã có một số sản phẩm dân dụng áp dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo để nhậndạng hình ảnh, tiếng nói như máy giặt, máy ảnh… [20]
Hiện nay, trí tuệ nhân tạo được sử dụng một cách rộng rãi ở khắp cáchãng như Facebook, Amazon, IBM, Microsoft và một số hãng khác … Thậmchí bản thân google cũng là một phần mền tìm kiếm thông minh sử dụng trítuệ nhân tạo Các nhà khoa học đang muốn phát triển chúng để trở nên thôngminh hơn, có thể thay thế con người làm mọi việc Chúng đã có thể chơi cờ,khám bệnh, phát hiện ra người đồng giới, giúp con người làm rất nhiều việc,thậm chí chúng còn làm tốt hơn con người [42,34,23] Năm 1997, trongchương trình chơi cờ vua trên máy, máy tính Deep Blue đã đánh bại kiệntướng Kasparov, nhà vô địch cờ vua thế giới không thể đánh bại từ 1985 đến
1993 [24] Trong lĩnh vực y học, hệ chuyên gia MYCIN (1984, Standford)không thua kém chuyên gia người trong việc chuẩn đoán bệnh Ở lĩnh vựcquân sự, năm 1991 trong chiến tranh vùng Vịnh, kỹ thuật trí tuệ nhân tạođược dùng để lập lịch và lên kế hoạch hậu cần [5, tr 25] Đến những năm gầnđây, trí tuệ nhân tạo đã có nhiều bước tiến mới Tháng 10/2017 trên một trangbáo điện tử đã đăng tin trong chương trình chơi cờ vây, AlphaGo Zerocủa DeepMind, công ty trí tuệ nhân tạo thuộc Google, đúc kết hàng nghìnnăm kiến thức của con người về trò chơi và tự phát minh ra những nước đimới chỉ trong ba ngày và đánh bại con người [42] Cũng cuối năm 2017, khicho trí tuệ nhân tạo thử vẽ tranh, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nếu
là người bình thường sẽ không thể phân biệt được sự khác nhau giữa các tácphẩm được tạo nên bởi trí tuệ nhân tạo với các tác phẩm được tạo ra bởi conngười [10] Gầy đây nhất, ngày 11/4/2018 NASA chế tạo đàn ong robot khámphá sao Hỏa Những con ong robot nhỏ bằng ong nghệ sẽ lập bản đồ, lấy mẫuvật nghiên cứu và tìm kiếm dấu hiệu của sự sống trên hành tinh đỏ [22].Trước đó hai ngày, 9/4/2018 Trung Quốc đã trình làng hai mẫu robot cứu hộ
Trang 10mới Hai robot được thiết kế để hoạt động trong điều kiện môi trường khắcnghiệt, có thể tự động dò đường, tránh vật cản và mang vật nặng 300 kg [43].Gần đây nhất, ngày 30/4/2018 trên trang báo mới đã đưa tin Nga đã cho ramắt loại robot chiến đấu mang tên Uran-9 Uran-9 được trang bị hệ thống hỏalực rất mạnh mẽ là pháo tự động được gắn cùng súng máy đồng trục và cáctên lửa điều khiển chống tăng Uran-9 được gọi là “sứ giả tương lai” và đặcbiệt Uran-9 có khả năng tự quyết định và tham chiến mà không cần đến sựđiều khiển của con người [31].
Đối với lĩnh vực ngôn ngữ, trí tuệ nhân tạo, sự kiện quan trọng trong sựphát triển của khoa học trí tuệ nhân tạo là sự ra đời của ngôn ngữ PROLOG,
do Alain Calmerauer đưa ra năm 1972 Năm 1981, dự án của Nhật Bản xâydựng các máy tính thế hệ thứ V lấy ngôn ngữ PROLOG như là ngôn ngữ cơ
sở đã làm thay đổi khá nhiều tình hình phát triển trí tuệ nhân tạo ở Mỹ cũngnhư châu Âu [20]
Một số trang báo điện tử như news.zing.vn, genk.vn, vnexpress.net,baomoi.com,… các nhà nghiên cứu Facebook đã phát hiện ra các phần từ trítuệ nhân tạo đã giao tiếp với nhau bằng một thứ ngôn ngữ hoàn toàn mới màcon người không thể hiểu được [40,16,17] Ta có thể thấy được chúng dần đã
có sự học hỏi và sáng tạo ra một thứ ngôn ngữ mới để chúng tự giao tiếp vớinhau Khi chúng ta đọc đoạn hội thoại ấy, ta không thấy nghĩa, nhưng xét ởmột phương diện nào đấy, theo tôi đối với chúng thì đây là một đoạn hộithoại có nghĩa Như vậy, ngoài việc trí tuệ nhân tạo ưu việt hơn con người vềkhả năng lập trình, tư duy mà giờ đây chúng đã bắt đầu có những tư duy sángtạo riêng về mặt ngôn ngữ Liệu sự phát triển này của trí tuệ nhân tạo có thểkhiến chúng dần thay thế con người hay chúng sẽ giúp ích con người
Trên thế giới đã có một robot đầu tiên được cấp quyền công dân làSophia, đây là một trí tuệ nhân tạo có khả năng giao tiếp với con người mộtcách thuần thục, nghe nói trôi chảy và khôn ngoan như con người Cô có khảnăng học hỏi và làm theo con người một cách nhanh chóng [36] Thậm chí,
Trang 11rằng: cô “ muốn dùng trí tuệ nhân tạo của mình mang đến cho con người cuộcsống tiện nghi hơn Ví dụ như: bằng thiết kế nhà thông minh hơn, xây dựngthành phố tương lai thông minh hơn v.v…” [36].
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, tìm hiểu về ngôn ngữ của trí tuệ nhân tạo giúp cho ta có
một cái nhìn khác về trí tuệ nhân tạo Từ góc độ ngôn ngữ chúng ta có thể dựđoán được khả năng phát triển của trí tuệ nhân tạo so với con người Đặc biệt,khi nghiên cứu ta có thể giải quyết được sự nghi ngại của con người về dựđoán trí tuệ nhân tạo có thể thay thế cho con người, thậm chí chúng biến conngười thành nô lệ, tay sai cho chúng Đó là khẳng định robot có thể phát triểnhơn con người về nhiều mặt nhưng về ngôn ngữ thì chúng khó có thể vượtqua con người Ngôn ngữ của con người sử dụng là một thứ ngôn ngữ linhhoạt, phong phú Còn trí tuệ nhân tạo dù tài giỏi nhưng nó là một loại máymóc nên nó không thể linh hoạt giống như con người
Đề tài sẽ là cơ sở cho các công trình nghiên cứu khác liên quan đến trítuệ nhân tạo hoặc ngôn ngữ của trí tuệ nhân tạo Từ đó, giúp người đọc traudồi thêm sự hiểu biết, tri thức về ngôn ngữ cũng như về trí tuệ nhân tạo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý thuyết cơ bản về ngôn ngữ và về trí tuệ
nhân tạo
- Nhận diện, thống kê, phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến ngôn ngữcủa trí tuệ nhân tạo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là ngôn ngữ của các loại máy mócnói chung có khả năng lập trình ngôn ngữ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là các các loại máy móc hiện đại cókhả năng sử dụng ngôn ngữ Ngoài ra, khóa luận còn nghiên cứu các nguồntài liệu từ internet
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của khóa luận là:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: đây là phương pháp được sử dụng
chủ yếu, xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu vì phải phân tích, chia nhỏ cácvấn đề ra đề làm sáng tỏ, sau đó tổng hợp lại các kết quả nghiên cứu để có cáinhìn tổng thể
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: đặt lập luận trong mối quan hệ với
ngữ cảnh sử dụng để nhận diện rõ các thành phần lập luận, từ đó xác định cáckết tử lập luận đồng hướng, tính chất và chức năng của chúng
- Phương pháp miêu tả: đưa ra những phân tích, lí giải và minh họanhằm làm sáng tỏ các thuận lợi và khó khăn của ngôn ngữ đối với trí tuệ nhântạo trong các dạng lập luận khác nhau
6 Đóng góp của khóa luận
Giới thiệu những yếu tố thuận lợi và khó khăn của ngôn ngữ đối với trítuệ nhân tạo Từ đó, đưa ra ý kiến về nhận định trí tuệ nhân tạo sẽ thay thếcon người
Khóa luận có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việcnghiên cứu về sự phát triển của trí tuệ nhân tạo
Kết quả nghiên cứu ít nhiều cung cấp những gợi dẫn hữu ích trong việcnghiên cứu về trí tuệ nhân tạo
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,khóa luận gồm 2 chương, như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Chương 2: Những thuận lợi và rào cản đối với trí tuệ nhân tạo trongviệc sử dụng ngôn ngữ
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Cơ sở lí thuyết ngôn ngữ học
1.1.1 Cơ sở ngữ âm học
Ngữ âm học là khoa học nghiên cứu âm thanh ngôn ngữ loài người.Nhiệm vụ của ngữ âm học là nghiên cứu các âm thanh trong tất cả các trạngthái và chức năng của chúng, đồng thời nghiên cứu mối quan hệ giữ hình thức
âm thanh và chữ viết của chúng Ngữ âm học có một vị trí đặc biệt trongnghành học của ngôn ngữ học[13] Vì ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, nênngữ âm - vỏ vật chất, mặt biểu hiện của ngôn ngữ đều khác nhau Mỗi ngônngữ đều có hình thức diễn đạt bằng âm thanh của nó và chúng luôn đi kèmvới nhau Mỗi từ đều có cấu tạo bởi “cái biểu đạt” (âm thanh) và “cái đượcbiểu đạt” (nghĩa) Khi chúng ta thay đổi cách thức cấu tạo của một từ thìnghĩa của từ đó cũng sẽ bị biến đổi
1.1.2 Cơ sở lí thuyết về nghĩa trong ngôn ngữ
Lý thuyết về nghĩa trong ngôn ngữ được chia làm hai loại chính lànghĩa của từ và nghĩa ngữ pháp Nghĩa của từ hay còn gọi là ý nghĩa từ vựng
là những đơn vị ngữ nghĩa tạo nội dung cho lời nói, câu Nó tập hợp một sốnét nghĩa và được lĩnh hội bằng hình thức cảm tính Còn ý nghĩa ngữ pháp là
ý nghĩa chung cho nhiều từ, nhiều đơn vị ngữ pháp, là tổ chức lời nói, tổ chứccâu, thiết lập liên kết giữa các từ để tạo câu Khác với ý nghĩa từ vựng, ýnghĩa ngữ pháp chỉ có một nét nghĩa và nó được bộc lộ bằng những hình thứcchung [55]
1.1.3 Cơ sở ngữ dụng học
Ngữ dụng học là một chuyên ngành thuộc ng ô n ng ữ h ọ c v à t í n hi ệ u
h ọ c nghiên cứu về sự đóng góp của bối cảnh tới nghĩa Ngữ dụng học baohàm cả l ý t hu y ết h à n h v i ng ô n t ừ ,h àm ngô n hộ i t h o ạ i ,t ư ơ n g t á c l ờ i n ó i v à cảnhững cách tiếp cận khác tới hành vi ngôn ngữ trong t r i ết h ọ c ,x ã h ộ i
h ọ c v à n h ân h ọ c [35] Tuy nhiên trong phạm vi của bài khóa luận, chúng tôichỉ quan tâm tìm hiểu ngữ cảnh ảnh hưởng đến sự thay đổi của ý nghĩa ngônngữ Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ mà ở đó sản phẩm ngôn ngữ (văn bản)được tạo ra trong hoạt động giao tiếp, đồng thời là bối cảnh cần dựa vào để
Trang 14lĩnh hội thấu đáo sản phẩm ngôn ngữ đó Trong mỗi ngữ cảnh khác nhau,nghĩa của từ ngữ cũng có sự thay đổi theo ngữ cảnh của phát ngôn.
1.2 Trí tuệ nhân tạo và ngôn ngữ nhân tạo
1.2.1 Khái quát về trí tuệ nhân tạo
Trí tuệ nhân tạo là một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu trên thế giới , từnăm 1956 Trên thế giới đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ trítuệ nhân tạo Trong cuốn sách nổi tiếng “Trí tuệ nhân tạo: Hướng tiếp cậnmới nhất” (Artificial Intelligence) tái bản lần 3 của hai tác giả Stuart Russel
và Peter Norving có tổng hợp một số định nghĩa khác nhau về trí tuệ nhân tạonhư sau:
(1) Trí tuệ nhân tạo là nỗ lực thú vị nhằm khiến suy nghĩ của máy tính
có thêm nhận thức, tư duy
(2) Trí tuệ nhân tạo là những hành động của máy móc gắn liền với tưduy của con người, ví dụ như ra quyết định hay giải quyết vấn đề
(3) Trí tuệ nhân tạo là nghiên cứu về năng lực trí tuệ vận hành vào các
(6) Trí tuệ nhân tạo là nghiên cứu cách khiến máy tính làm được điều
mà ở thời điểm hiện tại con người vẫn đang làm tốt hơn [24]
Theo Haugeland (1985), Trí tuệ nhân tạo giúp tạo ra máy tính có khảnăng suy nghĩ … máy tính có trí tuệ theo đầy đủ nghĩa của từ này Còn theoRick and Knight (năm 1991) trí tuệ nhân tạo là khoa học nghiên cứu xem làmthế nào để máy tính có thể thực hiện được những công việc mà hiện conngười làm tốt hơn máy tính Winston (1992), trí tuệ nhân tạo là việc nghiêncứu các mô hình tính toán để máy tính có thể nhận thức, lập luận, và hànhđộng Còn Nilsson (1998) trí tuệ nhân tạo nghiên cứu các hành vi thông minh
mô phỏng trong các vật thể nhân tạo
Trang 15được biểu diễn bởi bất cứ một hệ thống nhân tạo nào Thuật ngữ này thườngdùng để nói đến các m á y tín h có mục đích không nhất định và ngành k h o a
h ọ c nghiên cứu về các lý thuyết và ứng dụng của trí tuệ nhân tạo [47] Trí tuệnhân tạo là trí tuệ do con người lập trình tạo nên với mục tiêu giúp máy tính
có thể tự động hóa các hành vi thông minh như con người Trí tuệ nhân tạokhác với việc l ập t r ìn h l og i c t rong các n g ô n n g ữ l ập t r ìn h ở việc ứng dụng các
hệ thống h ọ c m á y ( m ac h i n e le a r n in g ) để mô phỏng trí tuệ của con người trongcách xử lý mà con người làm tốt hơn máy tính [48] Tức là mỗi loại trí tuệnhân tạo hiện nay đang dừng lại ở mức độ những máy tính hoặc siêu máy tínhdùng để xử lý một loại công việc nào đó như điều khiển một ngôi nhà , nghiêncứu nhận diện hình ảnh, xử lý dữ liệu của bệnh nhân để đưa ra phác đồ điềutrị, khả năng trả lời các câu hỏi về chẩn đoán bệnh, xử lý dữ liệu để tự họchỏi, trả lời khách hàng về các sản phẩm của một công ty [51]
Hay nói một cách khác dễ hiểu hơn, trí tuệ nhân tạo là trí tuệ của máymóc được tạo ra bởi con người Trí tuệ này có thể tư duy, suy nghĩ, học hỏi, như trí tuệ con người Xử lý dữ liệu ở mức rộng lớn hơn, quy mô hơn, hệthống, khoa học và nhanh hơn so với con người
1.2.2 Ngôn ngữ nhân tạo
Ngôn ngữ nhân tạo là một hệ thống ngôn ngữ do một người hoặc mộtnhóm người sáng lập ra và nó khác với ngôn ngữ tự nhiện Theo Wikipedia,
ng
ữ mà h ệ th ốn g âm v ị , ng ữ p h á p , và t ừ vự n g do một người hoặc một nhómngười thiết kế ra Khác với các ng ô n n g ữ t ự n h i ê n , ngôn ngữ nhân tạo không
có quá trình phát triển tự nhiên [34]
Trên thế giới có rất nhiều loại ngôn ngữ nhân tạo, chúng được sáng lập
ra với các mục đích khác nhau Theo “từ điển bách khoa Việt Nam”, ngônngữ nhân tạo được chia thành ba loại với ba mục đích sử dụng khác nhau
do J o h a n n Ma r t i n S c h l e y er n gười Đức tạo ra năm 1879; Es p ér a n t o , do L.Z
a m e nh o f người Ba Lan tạo ra năm 18 8 7 ; I nt e r l i ng u a do Hiệp hội Ngôn ngữ
cơ
s ở (Basic English), do h arC l e s K ay Og d en t ạo năm 1930 Loại thứ hai
Trang 16được sử dụng với mục đích xử lý tự động thông tin nhờ máy tính (n gô n ng ữm
á y ) Còn loại thứ ba được sử dụng với mục đích ghi chép và lưu trữ thôngtin các chuyên ngành khoa học và kĩ thuật (n gô n n g ữ t h ôn g t i n ) [34]
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày một số lý thuyết cơ bản vềngôn ngữ có ảnh hưởng đến trí tuệ nhân tạo như lịch sử hình thành và pháttriển của trí tệ nhân tạo, một số lý thuyết về trí tuệ nhân tạo và ngôn ngữ nhântạo, và một số lý thuyết về ngôn ngữ tiếng Việt Ở phạm vi phần 1, chúng tôi
đã đưa ra một số cách hiểu khác nhau về trí tuệ nhân tạo Điều này, đã gópphần cũng cấp cho quý độc giả một số cách hiểu về trí tuệ nhân tạo, từ đó cóthể nắm được bản chất và đặc điểm của trí tuệ nhân tạo Bên cạnh đó, tôi còncung cấp một số thông tin về ngôn ngữ nhân tạo Ngôn ngữ nhân tạo là loạingôn ngữ do con người tạo ra Nó khác hẳn với ngôn ngữ tự nhiên mà conngười sử dụng hằng ngày Từ đó, tạo tiền đề cho vấn đề cần nghiên cứu: Liệutrí tuệ nhân tạo có sử dụng được thứ ngôn ngữ tự nhiên của con người?
Trang 17CHƯƠNG 2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ RÀO CẢN ĐỐI VỚI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
TRONG VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
2.1 Những thuận lợi của trí tuệ nhân tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ
2.1.1 Thuận lợi về mặt cấu tạo
Khi xét đến thuận lợi của trí tuệ nhân tạo, ta không thể không xét đếnnhững ưu điểm vượt trội của trí tuệ nhân tạo Thứ nhất, vì là mấy móc đượctạo ra bởi con người nên chúng có thể suy nghĩ, làm việc một cách không mệtmỏi, thậm chí chúng tư duy nhanh hơn con người gấp hàng trăm hàng nghìnlần, và có thể đưa ra hàng triệu kết quả khác nhau trong một khoảng thời gianngắn Thứ hai, khả năng học hỏi của chúng cũng thật đáng khâm phục Chỉcần người ta cài đặt vào nó bất kì một cuốn sách hay thông tin gì dù theo thứ
tự hay không theo thứ tự nhưng trí tuệ nhân tạo có thể dung nạp được tất cả
và phục vụ lại cho con người mỗi khi họ cần
2.1.2 Thuận lợi trong lĩnh vực ngôn ngữ
2.1.2.1 Thuận lợi về mặt ngữ âm
Xét về mặt ngữ âm, trí tuệ nhân tạo dễ dàng nhận biết được vỏ âmthanh của ngôn ngữ Khác với con người, trí tuệ nhân tạo không cần phải họchỏi từng âm từng chữ như con người mà chúng được dung nạp vào một hệthống vốn từ phong phú để chúng có thể dễ dàng nhận biết được ngôn ngữcon người phát âm ra
Ví dụ, trong cuộc trò chuyện giữa Sophia - một nữ robot được tích hợpcamera và các thuật toán thông minh cho phép cô có thể giao tiếp với conngười bằng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, với Steve Kovach - một phóng viên, cô
đã phát ngôn: “Tôi yêu con người Tôi muốn là hiện thân của tất cả nhữngđiều gì tốt đẹp nhất của con người” Xét phát ngôn, ta thấy trí tuệ nhân tạo cóthể biết phát ngôn gồm hai câu nói, câu thứ nhất gồm có 4 âm tiết và câu thứhai gồm có 17 âm tiết Trong phát ngôn trên có 15 từ trong đó có 13 từ đơn
Trang 18lần lượt là: “tôi, yêu, muốn, là, của, tất, cả, những, điều, gì, tốt, đẹp, nhất” vàhai từ ghép
Trang 19là “con người, hiện thân” Như vậy, ta thấy trí tuệ nhân tạo có thể dễ dàngnhận biết được mặt âm thanh của ngôn ngữ, thậm chí, chúng có thể đáp trảlại câu hỏi của con người dựa vào vốn từ nhất định mà chúng đã được học.
2.1.2.2 Thuận lợi về mặt ngữ nghĩa
Trong lĩnh vực ngôn ngữ, trí tuệ nhân tạo có thể dễ dàng nhận biếtđược những câu nói mang ý nghĩa tường minh Nghĩa tường minh (hay cònđược gọi là hiển ngôn) là nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ mang lại.Các yếu tố ngôn ngữ có thể về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, hay từ vựng… Đây làmột loại nghĩa được hiển thị trên bề mặt câu chữ, nó giúp cho người đọc hiểu
và nắm bắt được ý nghĩa nhanh chóng mà không cần đến tư duy Chính vìvậy, trí tuệ nhân tạo có thể dễ dàng nhận biết được ý nghĩa tường minh khinghe người khác nói Thậm chí, trí tuệ nhân tạo có thể bắt chước vả sử dụngnhững câu nói mang ý nghĩa tường minh này để giao tiếp với con người vàgiao tiếp với nhau Điều này được chứng minh qua các ví dụ sau:
Ví dụ thứ nhất, một câu nói của mẹ chị Ni trong cuốn “Con chó nhỏmang giỏ hoa hồng” của Nguyễn Nhật Ánh: “Người ta chỉ gắn camera đểphòng trộm thôi, chẳng ai gắn camera để xem vợ mình có uống cà phê củamình hay không [1].” Qua phát ngôn trên, xét về mặt ngữ âm trí tuệ nhân tạo
có thể nghe rõ từng âm thanh của cả câu mà không bị nhầm lẫn hay lẫn lộncác âm thanh trong một câu Âm tiết là một cấu trúc cơ bản của một câu nói
về mặt phát âm Âm tiết là một khái niệm thuộc ngữ âm học phương tây đểchỉ một đơn vị lời nói được phát ra Trước kia, chúng ta chỉ gọi đơn vị này làmột tiếng Trí tuệ nhân tạo có thể nhận biết được trong phát ngôn trên có baonhiêu âm tiết Cụ thể trong phát ngôn: “Người ta chỉ gắn camera để phòngtrộm thôi, chẳng ai gắn camera để xem vợ mình có uống cà phê của mình haykhông.” có 29 âm tiết tương đương với 29 tiếng
Ví dụ thứ hai, trong một tiết dạy về ngôn ngữ, giáo viên lấy ví dụ vềcâu đối: “Da trắng vỗ bì bạch/ Rừng sâu mưa lâm thâm” Như chúng ta đãbiết, trí tuệ nhân tạo có thể tiếp thu tri thức nhân loại rất nhanh chóng Chỉ vớivài phút lập trình, chúng có thể dung nạp đến hàng trăm hàng nghìn các kháiniện khác nhau, các thuật ngữ, nội dung lịch sử - văn hóa - văn học… Vì vậy
Trang 20khi nghe câu đối trên thì trí tuệ nhân tạo đã nhận biết được đây là một câu đốichứ không phải một câu thơ hay một câu văn và chúng có thể nhận biết đượccác đặc điểm từ vựng riêng biệt của câu đối trên Từ vựng được hiểu là tậphợp tất cả các từ và đơn vị tương đương với từ trong ngôn ngữ Xét về mặt từloại thì câu đối “Da trắng vỗ bì bạch/ Rừng sâu mưa lâm thâm” bao gồm có 8
từ trong đó có 6 từ đơn (da, trắng, vỗ, rừng, sâu, mưa) và có 2 từ ghép (bìbạch, lâm thâm) Về mặt hình thức của câu đối thì “da trắng” đối với “rừngsâu”; “vỗ” đối với “mưa” và “bì bạch” đối với “lâm thâm” Cái hay của câuđối trên còn thể hiện ở việc bên cạnh việc đối giữa hai câu thì trong nội bộcâu cũng đối với nhau Ví dụ trong câu “da trắng vỗ bì bạch” thì “bì” có nghĩa
là da, từ “bạch” có nghĩa là trắng Như vậy trong câu còn có hiện tượng đốitrong nội bộ một câu “da trắng” - “bì bạch” Tương tự như vậy, trong câu
“rừng sâu mưa lâm thâm” thì “rừng sâu” - “lâm thâm”
Ví dụ thứ ba, một câu nói được trích trong văn bản “Lão Hạc” của nhàvăn Nam Cao: “Vợ ông Giáo là một người như vậy Chị không ác với ainhưng mà chị quá khổ, mà người ta khổ quá thì còn nghĩ gì đến ai đượcnữa”[2] Xét về mặt ý nghĩa, phát ngôn này có nghĩa tường minh là:
(1), Vợ ông Giáo là một người rất khổ
(2), Vợ ông Giáo không ác
(3), Vì khổ nên chị không thể nghĩ đến nọi người xung quanh
(4), Nhân vật được nói đến là vợ ông Giáo
Như vậy, qua các ví dụ trên, ta thấy trí tuệ nhân tạo có thể dễ dàng nhậnbiết được ý nghĩa tường minh xuất hiện ở trong các phát ngôn trên cả 3 bìnhdiện: từ vựng, ngữ âm, ngữ nghĩa
2.2 Những rào cản đối với trí tuệ nhân tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ
2.2.1 Những rào cản về mặt ngữ âm
2.2.1.1 Hiện tượng đồng âm
Trang 21n h i ề u n gh ĩ a vì từ nhiều nghĩa cũng là từ có các nghĩa khác nhau (mặc dù làgần giống nhau) [55].
Như vậy, liệu trí tuệ nhân tạo có thể phân biệt được các từ đồnng âmtrong tiếng Việt?
Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu một số ví dụ
Ví dụ thứ nhất, xét trong phát ngôn “Ruồi đậu mâm xôi đậu” Trong phátngôn trên xuất hiện hai từ “đậu” trong cùng một phát ngôn, nhưng ý nghĩa củachúng lại hoàn toàn khác nhau Từ “đậu” thứ nhất là động từ, chỉ hoạt độngcủa những con vật biết bay khi chúng hạ cánh và nó trả lời cho các câu hỏi
“Ai đậu?” và “Đậu vào cái gì?” Từ “đậu” đã góp phần bổ sung ý nghĩa chodanh từ “ruồi” Từ “đậu” thứ hai là danh từ, chỉ một loại thực vật, cây nhỏ, cónhiều loại, tràng hoa gồm năm cánh hình bướm, quả dài, chứa một dãy hạt,quả hay hạt được dùng để làm thức ăn Khi kết hợp với từ “xôi” tạo thành mộtdanh từ mới chỉ tên của một loại xôi để phân biệt với các loại xôi khác như:xôi ngô, xôi gấc, xôi nếp… Như vậy, ta thấy mặc dù phát âm giống nhaunhưng nghĩa của hai từ lại hoàn toàn khác nhau Người ta gọi đây là hiệntượng từ đồng âm trong tiếng Việt
Ví dụ thứ hai, xét phát ngôn: “Hôm nay nhà tôi đi vắng, tôi mời bác ởlại nhà chơi rồi cùng tôi xem phim nhà Trần” Trong ví dụ trên xuất hiện
ba từ nhà: “nhà tôi”, “nhà”, “nhà Trần” Liệu nghĩa của ba từ trên có giốngnhau hay không? Từ nhà thứ nhất “nhà tôi” có nghĩa chỉ người vợ hoặc chồng
Từ “nhà” thứ hai chỉ một công trình kiến trúc, có mái, có tường, cửa và đượcdùng để ở Từ “nhà” thứ ba dùng để chỉ một triều đại phong kiến có trong lịchsử
Ví dụ thứ ba, khi đang nấu chè nhưng nhà lại hết đường, bà mẹ sai đứacon gái: “Lan đi ra đường mua cho mẹ cân đường về đây” Xét phát ngôntrên, ta thấy phát ngôn có hai từ “đường” tuy nhiên nghĩa của chúng lại có sựkhác biệt Từ “đường” thứ nhất là danh từ có nghĩa lối đi nhất định được tạo
ra để nối liền hai địa điểm, hai nơi như con đường hay đường đến trường
“Đường” thứ hai cũng là một danh từ nhưng nó không có ý nghĩa chỉ địa điểm
Trang 22mà là chất kết tinh có vị ngọt, được chế từ mía hoặc củ cải đường Chỉ vớimột từ nhưng ý nghĩa của chúng lại hoàn toàn khác nhau.
Trang 23Như vậy, trí tuệ nhân tạo sẽ không thể hiểu được những ý nghĩa của các
từ ngữ có trong phát ngôn Nếu đã không thể hiểu được, liệu chúng có thể sửdụng từ đồng âm một cách thành thạo như chính con người
2.2.1.2 Ngữ điệu
Ngữ điệu là một khái niệm mà bất kì ai cũng biết đến và chúng ta sửdụng chúng hằng ngày trong quá trình giao tiếp Theo kênh ngonngu.net, MaiNgọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến cho rằng ngữ điệu(intonation) là sự chuyển động của thanh cơ bản của giọng nói, là sự nâng caohoặc hạ thấp giọng nói trong câu [17] Tuy nhiên, hiểu một cách cơ bản nhất,ngữ điệu là cách chúng ta điều chỉnh âm lượng, thay đổi nhịp độ, hoặc cao độ
để giúp cuộc giao tiếp hêm hấp dẫn và thú vị Khi sử dụng một cách khônngoan, ngữ điệu sẽ không thu hút sự chú ý quá đáng vào ngườ nói và giúpngười nói tự tin, làm chủ được cuộc giao tiếp
Ta thấy, trí tuệ nhân tạo là một loại máy móc được lập trình để cónhững khả năng riêng nhưng dù tài giỏi và thông minh thì chúng vẫn khôngthể học được cách nói nhấn nhá, cao thấp linh hoạt của con người Cách nói
đó nó còn xuất phát từ chính tình cảm của người nói đối với vấn đề được nóiđến
Ví dụ, trong tác phẩm “Lang rận”, Nam Cao khi tái hiện đoạn hội thoạicủa vợ chồng ông Cựu nói về thầy lang rận đã sử dụng ngữ điệu một cách tàitình để góp phần tạo nên đặc sắc cho cuộc hội thoại
“Bà Cựu lắc đầu quầy quậy và nói như sợ mình không nói kịp:
- Thôi! Thôi! Thôi! Ông uống thuốc của nó thì ông uống, tôi thì tôikhông uống; thuê tiền tôi cũng không uống!
Ông Cựu bực mình, sừng sộ:
- Tại sao không uống? Người ta không uống nó khỏi đầy ra đấy
- Người ta uống mặc người ta!
Rồi thấy chồng chưa kịp nói gì, bà chip chip môi:
Trang 24- Ối chao! Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh bỏ ngoài
bờ tre.” [2]
Trang 25Trong đoạn trích trên có rất nhiều chỗ tác giả sử dụng ngữ điệu, tuynhiên, tiêu biểu nhất là các câu “Thôi! Thôi! Thôi” và “ôi chao!” Cả hai câuđều đi kèm với dấu chấm than (!) mà dấu chấm than có ý nghĩa là để bày tỏmột cảm xúc nào đó của con người Xét phát ngôn thứ nhất, ta thấy từ “thôi”được lặp lại ba lần mang ý nghĩa là muốn từ chối một điều mình không thíchvới thái độ gấp gáp Ở trong ngữ cảnh của đoạn hội thoại là bà Cựu đang từchối ý định uống thuốc của thầy lang Rận Phát ngôn thứ hai “ôi chao!” làtiếng thốt ra khi xúc động mạnh, thường được dùng để diễn tả cảm xúc buồn,than thở, không bằng lòng về một sự việc nào đó Trong tác phẩm “LangRận”, ta thấy tiếng “chao ôi” được thốt lên như một tiếng thở dài đầy não nề,cũng như ẩn chứa trong đó bao hoài nghi, bao bực tức, thậm chí ẩn chứa cảbao sự kinh dẻ, chê bai Bà Cựu kêu than, chê bai, khinh thường vì không tintưởng vào con người cũng như trình độ của thầy lang Rận.
Thông qua ví dụ trên, ta thấy trong phát ngôn của tiếng Việt bên cạnhviệc biểu thị ý nghĩa của từng lời nói, từng phát ngôn thì ngôn ngữ còn thểhiện thái độ của người nói thông qua cách thể hiện câu chữ, thông qua sựnhấn nhá, kéo dài hay thu hẹp âm tiết Trí tuệ nhân tạo với bản chất máy mócthì sẽ không thể có khả năng phát âm theo ngữ điệu cũng như là hiểu đượcthông điệp thông qua ngữ điệu đó truyền tải
2.2.2 Những rào cản về mặt từ vựng
2.2.2.1 Hoán dụ, ẩn dụ
Hoán dụ là phương thức làm biến đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy têngọi của sự vật, hiện tượng này để chỉ một sự vật, hiện tượng khác trên cơ sởmối quan hệ tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng ấy Còn ẩn dụ được hiểu làphương thức biến đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy tên gọi của sự vật, hiệntượng này để chỉ sự vật, hiện tượng khác trên cơ sở của sự giống nhau về mộtkhía cạnh nào đấy giữa hai sự vật hay hiện tượng ấy [42] Trong văn học ViệtNam, các tác giả sử dụng rất nhiều hiện tượng ẩn dụ hoán dụ Xét tác phẩm
“Việt Bắc”, Tố Hữu đã sử dụng rất nhiều hình ảnh ẩn dụ và hoán dụ, trong đótiêu biểu:
“Áo chàm đưa buổi phân li
Trang 26Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”[7]
Trang 27Câu thơ trên tác giả đã sử dụng hình ảnh hoán dụ “áo chàm” để khắchọa tình cảm sâu sắc của người miền xuôi với người miền ngược, của người ởlại với người ra đi, của những người dân Việt Bắc với các anh chiến sĩ Áochàm là một loại trang phục truyền thống của một số đồng bào dân tộc Tày,Nùng, Thái và một số đồng bào dân tộc khác trên vùng núi cao phía BắcViệt Nam Sở dĩ, gọi là áo chàm vì các bộ trang phục này được ngâm với nướcnhuộm lấy từ cây chàm có màu xanh đen Từ hình ảnh chiếc áo truyền thốngcủa dân tộc, Tố Hữu đã vận dụng để gợi ra trước mắt người đọc hình ảnhnhững người dân Việt Bắc nghĩa tình, thủy chung Câu thơ tuy ngắn nhưng nó
đã khắc họa ở đó biết bao tình nghĩa của nhưng người dân Việt Bắc với cácanh chiến sĩ, tuy họ chỉ ở bên nhau, gắn kết với nhau trong một thời gian ngắnngủi nhưng chính khoảng thời gian đó đã để lại trong lòng người biết bao kỉniệm
Bên cạnh hình ảnh hoán dụ, tác giả còn sử dụng hình ảnh ẩn dụ đặc sắc:
“Nghìn đêm thăm thẳm sương dàyNgày mai bật sáng như đèn pha lên”[7]
Câu thơ thật đẹp và giàu ý nghĩa với hình ảnh “sương dày” và “đènpha” Tác giả không chỉ đơn thuần miêu tả khung cảnh buổi đêm trên conđường Việt Bắc: bầu trời đêm đen được thiên nhiên “ưu ái” khoác trên mìnhmột lớp sương dày, phải khó khăn lắm người chiến sĩ mới có thể lái xe antoàn qua đây Bên cạnh hình ảnh mang ý nghĩa tả thật, tác giả còn sử dụngbiện pháp ẩn dụ tu từ giúp cho câu thơ giàu sức gợi tả và diễn tả một cách sâusắc tinh thần lạc quan của nhân dân Dù hiện tại đang phải đối mặt với “mưabom bão đạn” khó khăn trùng trùng nhưng ta vẫn mang trong mình tinh thầnlạc quan, niềm tin tưởng vào một tương lai tươi sáng của dân tộc như ánhsáng của chiếc đèn pha, một thứ ánh sáng lớn lan tỏa
Không chỉ được sử dụng trong văn học nghệ thuật, mà ngay cả trongđời sống hằng ngày, trong các cuộc giao tiếp, chúng ta vẫn thường xuyên sửdụng biện pháp tu từ hoán dụ bằng nhiều cách khác nhau Ta có thể dùng một
bộ phận trên cơ thể con người để chỉ cả một người “thiếu một chân sút bóng
Trang 28chuyên nghiệp” hay “ cánh tay đắc lực”… hoặc dung cái chứa đựng để nóiđến cái được chứa đựng “nhà tôi” (chỉ người vợ hoặc chồng) …
Trang 29Như vậy, ta thấy biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ là những biện pháp tu
từ được sử dụng thường xuyên, có tác dụng gây sự hứng thú cho người đọcngười nghe Đó cũng là những biện pháp tu từ đòi hỏi con người cần phải tưduy, suy nghĩ để tìm ra được ý nghĩa sâu xa của lời nói Trí tuệ nhân tạo mặc
dù được trang bị kho tàng tri thức “khổng lồ” nhưng chúng chỉ nhận diệnđược những mẫu câu đơn giản, dễ hiểu
2.2.2.2 Trường nghĩa
Lý thuyết trường nghĩa đã được đưa vào nghiên cứu cách đây vài chụcnăm Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về trường nghĩa, tuy nhiên, hiểu mộtcách cơ bản nhất, trường nghĩa là một tập hợp các từ đồng nhất với nhau vềquan hệ ngữ nghĩa và giữa các từ này có mối liên hệ mật thiết với nhau Trongmột hệ thống trường nghĩa lớn như trường động từ, tính từ,… lại có nhữngtrường nghĩa nhỏ hơn có tác dụng khu biệt đặc điểm, tính chất của sự vật hiệntượng
Ví dụ, trong các tác phẩm văn học ta đã biết đến nhiều tác phẩm sử dụngtrường nghĩa để tạo nên sự mới lạ, độc đáo của thơ ăn như “khóc ông tổngcóc” của Hồ Xuân Hương đã sử dụng trường nghĩ chỉ đông vật, thuộc họ nhàcóc để sáng tác nên bài thơ Bên cạnh đó, khảo sát tác phẩm “Cảnh ngày hè”của Nguyễn Trãi, ta thấy ông đã sử dụng hệ thống trường nghĩ thật khéo léo:
“Rồi bóng mát thuở ngày trường Hòe lục đùn đùn tán rợp rương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,Hồng liên trì đã tịn mùi hương
Lao xao chợ các làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương.”
(Nguồn: Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 1)
Trang 30Ta có thể tìm thấy một loạt các từ ngữ có cùng trường nghĩa chỉ sự vậttrong tác phẩm như “hòe”, “thạch lựu”, “hồng”, “cá”, “ve”, “đàn” Bên cạnh
Trang 31các trường nghĩa chỉ sự vật ta còn phát hiện ra trường nghĩa chỉ tính chất:
“mát”, “lục”, “đỏ”, “hồng”, “hương”, “giàu” và trường nghĩa chỉ hoạt độngnhư: “đùn đùn”, “phun”, tịn”, “lao xao”, “dắng dỏi”, “đàn” Đối với trườngnghĩa chỉ sự vật và trường nghĩa chỉ tính chất, ta gọi đó là trường nghĩa dọc.Với trường nghĩa chỉ sự vật, ta lại có thể xếp chúng vào những trường nghĩanhỏ hơn như trường nghĩa chỉ thực vật gồm “thạch lựu”, “hồng”, “hòe” vàtrường nghĩa chỉ động vật như “cá”, “ve” Tương tự như vậy, từ trường nghĩachỉ tính chất ta có thể chia ra là trường nghĩa chỉ màu sắc “lục”, “đỏ”,”hồng”.Như vậy, ta thấy có những từ có thể xếp vào trường nghĩa này nhưng đồngthời nó lại có thể xếp vào một trường nghĩa khác
Ngoài việc sử dụng trường nghĩa trong một tác phẩm, ta thấy lý thuyết
về trường nghĩa còn được sử dụng với liên tác phẩm Có rất nhiều các nhànghiên cứu đã đưa ra các đề tài nghiên cứu về trường nghĩa trong một số hoặctruyển tập sáng tác của một nhà văn, nhà thơ nào đó như trường nghĩa chỉngười phụ nữ trong các sáng tác của Nam Cao hoặc Thạch Lam Hay bàinghiên cứu về trường nghĩa chỉ tình yêu đôi lứa trong thơ Xuân Quỳnh… Tất
cả các bài nghiên cứu đã cho ta cái nhìn khái quát nhất về lí thuyết trườngnghĩa
2.2.2.3 Thành ngữ, tục ngữ
Theo từ điển tiếng Việt của viện ngôn ngữ học (NXB Đà Nẵng - 1977)thì thành ngữ được hiểu là “tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nóthường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạonên nó” Còn tục ngữ được định nghĩa là “tập hợp từ cố định đã quen dùng mànghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩacủa các từ tạo nên nó” Hiểu một cách đơn giản hơn Tục ngữ là một câu nóihoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý mang nội dung nhận xét quan hệ xã hội,truyền đạt kinh nghiệm sống, cho bài học luân lý hay phê phán sự việc Đặcbiệt tục ngữ mang trong mình cả ba chức năng cơ bản của văn học là chứcnăng nhận thức, chức năng thẩm mỹ và chức năng giáo dục, vì vậy nên tụcngữ còn được coi là một tác phẩm văn học trọn vẹn mặc dù nó rất ngắn ngủi.Còn thành ngữ là một cụm từ cố định đã quen dùng Xét về mặt ngữ pháp thì
nó chưa thể là một câu hoàn chỉnh, vì thế nó chỉ tương đương với một từ