TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC******************** NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRUYỆN VIẾT VỀ LOÀI VẬT CỦA TÔ HOÀI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
********************
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRUYỆN VIẾT VỀ LOÀI VẬT CỦA TÔ HOÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi
Người hướng dẫn khoa học
TS LA NGUYỆT ANH
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới cô giáo TS La Nguyệt Anh
-người đã hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa Giáo
dục Tiểu học đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình triển khai khóa luận.
Mặc dù đã có những cố gắng, tìm tòi nhất định, song chắc chắn khóaluận không tránh khỏi hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp của thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương Anh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, dưới sự hướng dẫn của TS La Nguyệt Anh, khóa luận tốt nghiệp “Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện viết về loài vật của Tô
Hoài” được hoàn thành theo sự nhận thức vấn đề của riêng tác giả, không
trùng với bất kì khóa luận nào khác
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã kế thừa những thành tựu của cácnhà khoa học với sự trân trọng và biết ơn
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích nghiên cứu 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Cấu trúc của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1 Giới thuyết về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật 8
1.1.1 Ngôn ngữ 8
1.1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật 9
1.1.3 Lời văn trong tác phẩm là một hiện tượng nghệ thuật
16 1.2 Tô Hoài và truyện viết cho thiếu nhi 19
1.2.1 Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác .
19 1.2.2 Bút lực của Tô Hoài qua mảng truyện viết cho thiếu nhi
21 CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN VIẾT VỀ LOÀI VẬT CỦA TÔ HOÀI 29
2.1 Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong truyện viết về loài vật của Tô Hoài 29 2.1.1 Ngôn ngữ trần thuật khách quan, chân thực 29
Trang 52.1.2 Ngôn ngữ trần thuật có xu hướng xóa nhòa khoảng cách giữa lời kể và lời nhân vật 32
Trang 62.2 Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật loài vật trong truyện của Tô Hoài 37
2.2.1 Ngôn ngữ đối thoại ngắn gọn, giản dị, sâu sắc 38
2.2.2 Ngôn ngữ độc thoại đậm chất trữ tình 45
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 7tư tưởng và hình thức biểu hiện Bởi vậy, nhà văn không ngừng sáng tạo,khám phá để mỗi dòng chữ viết ra đều được chắt lọc tinh tế, độc đáo đủ sứcthuyết phục lòng người và lắng đọng với thời gian, cuộc sống.
Ngôn ngữ trong văn học là ngôn ngữ chủ quan gắn liền với quan niệmnghệ thuật của nhà văn Đó là kết tinh trình độ ý thức của con người, phảnánh tồn tại của con người Cũng như ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ trong vănhọc thể hiện cái nhìn, một quan niệm về thế giới của nhà văn Chính vì thế,những nhà văn lớn đều là những nhà ngôn ngữ trác tuyệt Trong sự sáng tạocủa họ, sự sáng tạo về ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng Trong lao động nghệthuật của nhà văn có một sự lao tâm khổ tứ về ngôn ngữ để mang đến một
“thực tại” và hình thức mới cho sáng tạo nghệ thuật
Có thể ví ngôn ngữ trong tác phẩm văn học như cái ổ khóa bên ngoàicánh cửa, nếu không mở được nó thì người nghiên cứu văn học không thểbước vào lâu đài của thế giới nghệ thuật, không thể chiếm lĩnh thấu đáo ýnghĩa cũng như cái đẹp của tác phẩm văn học
Trong bối cảnh hiện nay, khi mà ngành lí luận văn học ở nước ta được
mở ra thì việc tìm hiểu phong cách viết văn cũng như cách sử dụng ngôn ngữcủa một tác giả tiêu biểu trong văn học hiện đại như Tô Hoài là một vấn đềthực sự có ý nghĩa với chúng tôi
1.2 Tô Hoài là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại Xuấthiện và được chú ý từ rất sớm, Tô Hoài đã mau chóng trưởng thành Ông lànhà
Trang 8văn mở đầu và cũng là người có hành trình sáng tác văn học nghệ thuật bền bỉ,đóng góp lớn cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam.
Bên cạnh đó, ở Tô Hoài là tài quan sát, nghệ thuật miêu tả tinh tế và cónăng lực sử dụng ngôn ngữ tự nhiên mà giàu có Tô Hoài đã góp phần làmnên sự đa dạng cho nền văn học nước nhà Trong hành trình sáng tạo nghệthuật, ông đã góp phần làm hiện đại hóa ngôn ngữ văn học
1.3 Tác phẩm của Tô Hoài đã được chọn giảng trong nhà trường ở cácbậc học: từ Tiểu học cho đến các cấp Phổ thông, Cao đẳng và Đại học Sứcsáng tạo dẻo dai, bền bỉ của Tô Hoài và đặc biệt là những sáng tạo mới mẻtrong cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn đã khiến cho sự khámphá về ông cả về văn lẫn đời là một niềm say mê với chúng ta
Tiếp thu thành tựu của những người đi trước, tìm hiểu kết quả nghiêncứu về ngôn ngữ nghệ thuật những thập niên gần đây, chúng tôi thấy rằng đãđến lúc cần thiết và có cơ sở để thực hiện một công trình nghiên cứu và cóchuyên sâu về ngôn ngữ nghệ thuật của Tô Hoài trong “truyện viết về loàivật” Từ việc tập trung, nhận diện, phân tích, đánh giá đặc điểm ngôn ngữnghệ thuật trong truyện viết về loài vật, khóa luận góp phần khẳng địnhnhững đóng góp của tác giả Tô Hoài trong quá trình hiện đại hóa ngôn ngữvăn học Việt Nam thế kỉ XX
Trên phương diện ngôn ngữ, cho đến nay quả thực chưa có nhiều côngtrình nghiên cứu về Tô Hoài Vẫn còn những “khoảng đất trống” mà các nhànghiên cứu chưa kịp khai phá Đó cũng chính là lí do thôi thúc chúng tôi
mạnh dạn lựa chọn đề tài này Hy vọng kết quả nghiên cứu vấn đề Ngôn ngữ
nghệ thuật trong truyện viết về loài vật của Tô Hoài không chỉ có ý nghĩa
thiết thực với chúng tôi mà còn có ý nghĩa tích cực đối với thực tiễn nghiêncứu, dạy và học phân môn Tập Đọc trong nhà trường Tiểu học
Trang 9Xuất phát từ những yêu cầu khoa học và nhu cầu thực tiễn trên, chúng
tôi lựa chọn đề tài: Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện viết về loài vật
của Tô Hoài.
2 Lịch sử vấn đề
Truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài là những đóng góp đặc sắc cảtrước và sau Cách mạng tháng Tám Trong đó, truyện về loài vật là mảngsáng tác khá thành công của ông Đã có rất nhiều bài viết trên các tạp chí,những khóa luận, luận văn, luận án, chuyên khảo đánh giá, nghiên cứu vềmảng sáng tác này Theo đó, ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tạo của Tô Hoàicũng được quan tâm
Lí luận văn học hiện đại nghiên cứu ngôn ngữ trong tính hệ thống, toàndiện Đó là tiền đề phát hiện quan niệm nghệ thuật ngôn ngữ của nhà văn, là
cơ sở lí giải tính nội dung của ngôn ngữ nghệ thuật
Trong các bài nghiên cứu về văn học, các tác giả đã ít nhiều đề cập đếnphương diện ngôn ngữ của các tác phẩm Tô Hoài Với sự tìm tòi khám phá rấtcông phu, trong nhiều công trình nghiên cứu, các tác giả đã đề cập đến yếu tốngôn ngữ của Tô Hoài:
Vân Thanh nhận xét: “ngôn ngữ Tô Hoài thường ngắn gọn và rất gầnvới khẩu ngữ của nhân dân lao động” [14, tr.64]
Ý kiến đó được Phan Cự Đệ tiếp tục nhấn mạnh: “Tô Hoài đã chú ý họctập nghề nghiệp và ngôn ngữ địa phương” [14, tr.78] Trong tác phẩm của TôHoài nhìn chung ngôn ngữ của quần chúng đã được nâng cao và nghệ thuậthóa
Cùng với Phan Cự Đệ, Bùi Hiển thấy rằng: “Văn phong Tô Hoài chủyếu làm bằng những nét nhẹ, mảnh, nhuần nhị, tinh tế, đôi khi hơi mờ ảo nữa”
Theo Trần Hữu Tá, ở Tô Hoài “Không phải là chuyện chơi chữ haykhoe chữ Đây là hàng trăm lần quan sát và ngẫm nghĩ về thiên nhiên đất
Trang 10nước để tìm chữ, để đặt tên cho sự vật: phải tìm kiếm chọn lọc rồi phải đúcluyện thêm mới đưa cho người đọc Đây là những sáng tạo của tình yêu đấtnước, tình yêu tiếng mẹ đẻ và của lao động cật lực.”.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng làm sáng tỏ về khả năng sáng tạotrong cách dùng chữ đặt câu của Tô Hoài: “Câu văn cũng như cuộc đời – nhưtôi vừa nói với anh – không bao giờ lặp lại cả Cho nên, đời không lặp lại thìcâu văn cũng không được phép lặp lại Phải làm thế nào để cho người đọc chỉnhận thấy dáng câu chứ không bao giờ thấy được kiến trúc câu Vì kiến trúccâu tức là cách để xây dựng nên cuộc đời Cuộc đời đã không lặp lại thì kiếntrúc câu cũng không được quyền lặp lại”
Cụ thể hơn, Giáo sư Hà Minh Đức kết luận: “Trong nghệ thuật ngôn
ngữ của Tô Hoài chú ý đến cách cấu trúc câu văn Ông không viết theo
những mô hình câu có sẵn trên sách báo Ông viết theo sự tìm từ riêng của
mình để diễn đạt cho được chủ đề và tư tưởng tác phẩm Câu văn của Tô Hoài
mới mẻ Ông sáng tạo ra những quan hệ mới, cấu trúc mới trong cấu trúc thica” Giáo sư còn cho rằng: “Trong lĩnh vực ngôn ngữ, Tô Hoài đặc biệt chú ýđến cái mới, cái đẹp của chữ nghĩa Làm sao để thuần túy là chuyện chămchút và màu sắc ngôn ngữ Tô Hoài tìm hiểu cách dùng chữ đẹp của quầnchúng trong lao động, trong từng nghề nghiệp và từ đấy suy nghĩ và sángtạo.” [14, tr.30]
Khi nghiên cứu những truyện loài vật của Tô Hoài, nhiều tác giả cũng
đã đề cập đến vấn đề ngôn ngữ:
Một trong những nhà nghiên cứu đáng chú ý về ngôn ngữ Tô Hoài đóchính là Trần Hữu Tá Trần Hữu Tá đã khái quát nên được phong cách nghệthuật của Tô Hoài Ông cho rằng: “Tô Hoài có khả năng quan sát tinh tế vànghệ thuật miêu tả linh động người, vật, thiên nhiên, cảnh sinh hoạt,… tấtcả
Trang 11đều biểu hiện lên lung linh sống động nổi rõ cái thần của đối tượng và thườngbàng bạc một chất thơ.
Có thể nói bút kí Tô Hoài có chất thơ, chất nhạc và chất họa Thơ,nhạc, họa hòa quyện nhiều chương, đoạn và các nhà điện ảnh cũng có thểtìm thấy trong tác phẩm của Tô Hoài những sáng tạo gần gũi với chuyênmôn của mình
Tác giả còn nhận xét: “Điều cốt lõi trong nghệ thuật miêu tả của TôHoài là công phu dùng chữ Ông là một trong số ít những nhà văn đặc biệt coitrọng khía cạnh này [9, tr.17] Chính nhà văn Tô Hoài đã từng ao ước: “Mỗichữ phải là hạt ngọc buông xuống những trang bản thảo, hạt ngọc mới nhấtcủa mình tìm được do phong cách văn chương của mình mà có” [9, tr.22]
Bên cạnh đó, có thể kể đến các bài viết như: Ngôn ngữ một vùng quê
trong các tác phẩm đầu tay của Tô Hoài (Võ Xuân Quế) [14,tr.428]; Truyện viết về loài vật của Tô Hoài (Giáo sư Hà Minh Đức) [14, tr.464]; Nhà văn và những con chữ (Định Hải) [6]; Tô Hoài truyện phong tục, thôn quê và loài vật
(Thế Phong) [23] …
Như vậy, tuy các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Tô Hoài đã thuđược những kết quả đáng mừng, song do xuất phát từ nhiều mục đích, ởnhững điều kiện khác nhau nên các kết luận ít nhiều còn mang tính khái quát,chưa thực sự đi sâu vào các đặc điểm về ngôn ngữ Vì thế, trong đề tài nàychúng tôi vận dụng những thành tựu về ngôn ngữ nghệ thuật của Tô Hoài –những phương diện đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhận diện đểchúng tôi ứng dụng cơ sở lí thuyết về ngôn ngữ nghệ thuật của lí luận văn họclàm tư liệu quý cho việc tham khảo, định hướng trong quá trình nghiên cứucái độc đáo trong đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của Tô Hoài trong các tácphẩm viết về loài vật
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ nghệ thuật trongtruyện viết về loài vật của Tô Hoài
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tập trung vào đối tượng nghiên cứu
chúng tôi khảo sát một số truyện viết về loài vật của Tô Hoài trong: Tuyển tập
văn học thiếu nhi (1977), Nxb Văn học, Hà Nội.
4 Mục đích nghiên cứu
Nhận diện, phân tích, khái quát những đặc điểm của ngôn ngữ nghệthuật trong truyện viết về loài vật của Tô Hoài Từ đó, chúng tôi khẳng địnhthành công trong sáng tạo nghệ thuật của ông đặc biệt là trên phương diệnngôn ngữ Và bằng những vốn ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn nhưng đậm chấttrữ tình như thế, Tô Hoài muốn gửi gắm tới các thế hệ bạn đọc đặc biệt là các
em thiếu nhi những bài học bổ ích và tự ý thức được lời ăn tiếng nói hằngngày trong giao tiếp với mọi người xung quanh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
1 Tìm hiểu cơ sở lí luận về ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật
2 Chỉ ra đặc điểm cơ bản về ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện viết vềloài vật của Tô Hoài
6 Phương pháp nghiên cứu:
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê
Phương pháp này giúp chúng tôi thông kê, phân loại và miêu tả cụ thểđặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật từ những khảo sát tin cậy với những số liệu cụthể làm cơ sở chắc chắn cho quá trình triền khai các luận điểm khoa học
Trang 13- Phương pháp so sánh đối chiếu
Chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuậtcủa Tô Hoài với ngôn ngữ nghệ thuật của các nhà văn sáng tác trước Tô Hoài
và các nhà văn cùng thời với Tô Hoài, để thấy những đặc điểm riêng trongngôn ngữ nghệ thuật của Tô Hoài
- Phương pháp phân tích văn bản
Nếu phương pháp cấu trúc – hệ thống tạo nên “diện” thì việc phân tíchvăn bản sẽ là điểm nhấn quan trọng tạo nên “điểm” của công trình nghiêncứu Việc đặt văn bản trong mối quan hệ tổng hòa với hàng loạt tương quan
và phân tích tháo gỡ những tương quan hữu cơ đó được xem như sự minh họasinh động gắn với từng yêu cầu cụ thể của khóa luận
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Khóa luận vận dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu khoa học củanhiều chuyên ngành: kí hiệu học, thi pháp học, ngôn ngữ học, lí thuyết thôngtin nhằm khám phá đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện viết vềloài vật của Tô Hoài
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của
khóa luận gồm có 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện viết về loài vậtcủa Tô Hoài
Trang 14NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Giới thuyết về ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt trong đời sống của con người Theo quanniệm của ngôn ngữ học: Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu trong
đời sống con người “Ngôn ngữ là ý thức thực tại thực tiễn, ngôn ngữ cũng
tồn tại cho cả người khác nữa, và cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ sinh ra là do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với người khác nữa” [17, tr.8].
Theo Từ điển văn học, ngôn ngữ là: “thuật ngữ chỉ hệ thống các
phương tiện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, giúp cho việc khách thể hóa hoạt động tư duy, và làm công cụ giao tiếp trao đổi cách suy nghĩ, hiểu biết lẫn nhau giữa người với người trong xã hội Ngôn ngữ là phương tiện bảo lưu và truyền thông tin, là một trong những phương tiện điều chỉnh hành vi của con người Ngôn ngữ tồn tại dưới dạng nói và dạng viết” [7, tr.1088] Do đó, ngôn
ngữ là một phương tiện của giao tiếp xã hội và là một phương tiện để tư duy
Nó vừa là một sản phẩm, vừa là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu đượctập thể xã hội chấp nhận, để cho phép các cá nhân vận dụng năng lực này.Tính chất xã hội, tính chất võ đoán là đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ
Người nói dùng ngôn ngữ theo quy phạm để biểu đạt ý nghĩa riêng củamình Trong đó, cơ chế tâm lí – vật lý cho phép người nói thể hiện nhữngcách kết hợp ngôn ngữ thành lời nói cụ thể Theo đó, có thể hiểu, khi ta nóingôn ngữ tức là nói về lời nói cá nhân (parole) gắn với chủ thể phát ngôntrong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể và được tổ chức một cách sinh động.Khi nói ngôn ngữ (langue) là nói đến kho từ chung với những đặc trưng tiêu
Trang 15biểu mặc nhiên được toàn xã hội thừa nhận; Ngôn ngữ là tổng thể tất cả cácđơn vị, phương tiện, các kết hợp mà lời nói sử dụng như ngữ âm, từ vựng.Khả năng của ngôn ngữ vô cùng to lớn, nó giúp cho việc giao tiếp của conngười ở tất cả mọi lĩnh vực hoạt động, ở khắp mọi nơi giữa các thời đại khácnhau Nó còn có khả năng biểu hiện tinh vi đời sống tình cảm, tư tưởng conngười Với các khả năng ấy, ngôn ngữ là chất liệu, phương tiện tổ chức lờivăn nghệ thuật.
Ngoài chức năng giao tiếp, ngôn ngữ còn là phương tiện lưu trữ, bảotoàn và cố định kết quả nhận thức tư duy Ngôn ngữ và tư duy tạo thành mộtthể thống nhất hữu cơ, bởi lẽ cái này không thể tồn tại nếu không có cái kia…Nếu vỏ vất chất của ngôn ngữ là cái biểu đạt thì nội dung của ngôn ngữ - tứccái được biểu đạt – là nhận thức tư duy Mác nói: “hiện thực trực tiếp của
tư tưởng là ngôn ngữ và là công cụ giao tiếp quan trong nhất của conngười” [2, tr.109]
Như vậy, thuật ngữ ngôn ngữ cần được hiểu là ngôn ngữ tự nhiên của
con người Đó là một hệ thống tín hiệu tồn tại không phải cho từng cá nhân
mà cho cả cộng đồng, mang bản sắc phong cách từng cộng đồng, từng xã hội,đặc biệt là bản sắc từng dân tộc Mỗi cá nhân sử dụng muốn sáng tạo ngônngữ phải tuân thủ những quy ước chung của xã hội
1.1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật
Trong văn học, ngôn ngữ mang những giá trị đặc biệt, vừa truyền tảidung lượng thông tin nhất định, vừa mang tính thẩm mĩ cao Ngôn ngữ ở vị trítrung tâm của văn học thể hiện phông văn hóa, cá tính sáng tạo của nhà văn
và xu thế ngôn ngữ chung của thời đại Phân biệt ngôn ngữ văn học với ngôn
ngữ nói chung, Từ điển thuật ngữ văn học viết: “Ngôn ngữ văn học là ngôn
ngữ có tính chất nghệ thuật của các tác phẩm văn học Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này có ý nghĩa rộng hơn, nhằm bao quát các hiện tượng ngôn ngữ
Trang 16được dùng một cách chuẩn mực trong các biên bản nhà nước, trên báo chí, đài phát thanh, trong văn học và khoa học” [7, tr.183].
Ngôn ngữ văn học không vì thế mà từ bỏ cội nguồn tự nhiên của nó Từcội nguồn này, nhà văn đã lựa chọn, chắt lọc để tạo nên vốn ngôn ngữ của
riêng mình Giải thích về cội nguồn của ngôn ngữ học Từ điển thuật ngữ văn
học nhận xét: “Ngôn ngữ văn học chính là dạng ngôn ngữ đời sống được lựa chọn đưa vào trong tác phẩm văn học Cội nguồn của nó bắt đầu từ kho ngôn ngữ của nhân dân Ngôn ngữ nhân dân càng phong phú thì ngôn ngữ văn học càng tiếp thu và sáng tạo được nhiều hơn” [7, tr.183].
Trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ là yếu tố quan trọng đặc biệt, gắnliền với các phẩm chất như: tính hình tượng, tính hàm súc, tính chính xác,ngôn ngữ văn học là hình thái ý nghĩa mang tính thẩm mĩ Nằm trong tổ chứcnội tại của văn học, ngôn ngữ trong văn học được phân hóa qua các thể loạicủa văn học Mỗi thể loại có những đặc trưng ngôn ngữ riêng biệt, độc đáo:trữ tình là ngôn ngữ cách điệu, gợi cảm và giàu nhịp điệu; ngôn ngữ kịch gắnvới đối thoại, gần với ngôn ngữ đời thường; ngôn ngữ trong tự sự lại gắn bóchặt chẽ với ngôn ngữ trần thuật
Bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi thông tin mà ngôn ngữ ra đời, bắt nguồn
từ nhu cầu thưởng thức cái hay, cái đẹp mà văn học ra đời Ngôn ngữ văn học
đã đem lại bản chất nghệ thuật của tác phẩm văn học, tạo nên nét khu biệtgiữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ nói chung
Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng, dùng ngôn ngữ làm công
cụ để biểu đạt Vì thế, ngôn ngữ có vai trò quan trọng vừa là yếu tố đầu tiênvừa là chất liệu để tạo nên tác phẩm văn học Sáng tạo ngôn ngữ văn học là sựphấn đấu không ngừng của nhà văn chân chính Đó cũng là công việc vô cùnggian khổ Từ rất sớm, các nhà lí luận, nhà thi pháp đã rất chú ý đến các cấp độ
ngôn ngữ trong tác phẩm văn học Theo cách nói của Vêxêlôpxki: có thể nói,
Trang 17lịch sử ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người trần thuật cũng thể hiện lịch sửvăn học dưới dạng rút gọn.
Trong đó ngôn ngữ nghệ thuật còn được gọi là ngôn ngữ văn
học,“ngôn ngữ chuẩn”, “ngôn ngữ tiêu chuẩn”, và được xem là một trong
những hình thức tồn tại chủ yếu của ngôn ngữ” [22, tr.172].
Ngôn ngữ được dùng ở sáng tác văn học không chỉ đóng khung trongphạm vi các chuẩn mực ngôn ngữ học, các nhà văn còn sử dụng các thànhphần ngôn ngữ thông tục, phương ngữ, biệt ngữ làm phong phú thêm tácphẩm của mình Phần lớn các ngôn ngữ hiện đại đều gồm cả dạng nói, dạnghội thoại và dạng viết Ngôn ngữ văn học vì thế mà luôn phát triển, không chỉ
là thành tựu và sự phản ánh của văn hóa dân tộc, mà còn là nơi gìn giữ tất cảnhững gì có giá trị được biểu hiện bằng ngôn ngữ đã tạo ra bởi nhiều thế hệ
Nếu ngôn ngữ tự nhiên thường mang tính ổn định thì ngôn ngữ nghệ
thuật – với tư cách là một “mã” nghệ thuật lại luôn thay đổi Mỗi thời đại văn
học, mỗi trào lưu, khuynh hướng và ở mỗi thể loại, các tác giả lại có quy ước
riêng trong cách sử dụng ngôn ngữ để mang đến một“thực tại” và hình thức
mới cho sáng tạo nghệ thuật
Ngôn ngữ nghệ thuật: “Khái niệm chỉ loại hình ngôn ngữ dùng để biểu
đạt nội dung hình tượng của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ (sáng tác lờitruyền miệng và văn học viết) Về mặt chất liệu, các phương tiện ngôn ngữnghệ thuật có thể không khác gì các phương tiện từ vựng, ngữ pháp của ngônngữ toàn dân cũng như không khác gì các yếu tố phương ngữ, ngôn ngữ thôngtục và biệt ngữ…” [8, tr 1090 – 1091]
Theo G.N.Pospelop, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ văn học của dântộc nào cũng nảy sinh trên cơ sở ngôn ngữ các dân tộc có các thổ ngữ địaphương vốn biểu hiện trong thực tiễn của lời nói miệng Dần dần với trình độphát triển tương đối cao của văn hóa dân tộc, ngôn ngữ văn học hình thành
Trang 18dưới dạng viết và diễn thuyết; theo đó, nó “đã làm giàu kho từ vựng và ngữ
âm của ngôn ngữ dân tộc” [5, tr 358].
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử: “Ngôn ngữ văn học… không
chỉ khác với lời nói tự nhiên hằng ngày, khác với các hình thức giao tiếp phi nghệ thuật khác mà cũng khác với hình thức của nghệ thuật ngôn ngữ khác” [4, tr 208].
Từ các ý kiến trên, có thể thấy mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữtoàn dân và ngôn ngữ nghệ thuật Theo đó có thể hiểu, ngôn ngữ nghệ thuật làmột lời nói (hoặc viết) do nhà văn sáng tạo trên cơ sở kho tàng ngôn ngữchung Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ của tác phẩm văn học, của thế giớinghệ thuật, là kết quả sáng tạo của người nghệ sĩ Ngôn ngữ nghệ thuật khôngchỉ là một sinh thể tồn tại trong thế giới nghệ thuật, mà còn là biểu hiện đầy
đủ và nổi bật nhất ngôn ngữ dân tộc, là tinh hoa của ngôn ngữ toàn dân
Mặc dù bắt nguồn và được nuôi dưỡng từ vốn ngôn ngữ toàn dân, ngônngữ tự nhiên nhưng ngôn ngữ nghệ thuật vẫn mang những đặc trưng riêng
Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật
Hình tượng văn học là hình tượng ngôn ngữ Mắc-xim Gorky (nhà vănNga) đã nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Nhà thơ Lê Đạt nóimình là “phu chữ” Trong phần đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật này, tôi chỉ
trình bày một cách ngắn gọn về Sự giống và khác nhau của ngôn ngữ thơ ca
và ngôn ngữ truyện Từ đó ta có thể lựa chọn từ ngữ như thế nào để đưa vào
bài thơ hay truyện cho đúng lúc, đúng chỗ nhằm chuyển tải được những cảmxúc, ý nghĩ của mình đạt hiệu quả thẩm mỹ cao
Một bài thơ hay với nhiều tầng liên tưởng không dễ gì ta cảm nhậnngay được, có khi chỉ bằng linh cảm mà nhận ra cái “ý tại ngôn ngoại” ấy.Đọc rồi, đọc nữa, suy ngẫm, đối chiếu ta mới nhận ra thứ ánh sáng, màu sắc,hương thơm man mát bên trong hình tượng thơ Chẳng thế mà nhà thơ Hoàng
Trang 19Đức Lương đã rất đề cao nàng thơ: “Thơ là sắc đẹp ở ngoài sắc, vị ngọt ở
ngoài vị, không thể trông bằng mắt thường được, chỉ có thi nhân trông thì mới thấy đẹp, nếm mới thấy ngon” [30] Hay như Sóng Hồng (cố Tổng Bí thư
Trường Chinh) viết: “Thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất của trí tưởng
tượng” Vì vậy để viết được bài thơ hay nhà thơ không thể không khổ công đi
tìm ý, tứ, câu, chữ và bao yếu tố khác trong thơ và ngoài thơ
Một truyện ngắn hay, đọc rồi còn đọng lại trong ta bao điều trăn trở vuibuồn trước tình đất, tình người Nếu nhà văn sáng tác theo lý thuyết “tảngbăng trôi” như Hê-min-uê thì nội dung, ý nghĩa của truyện nằm sâu ở bảyphần chìm dưới nước không dễ gì nhận ra ngay như ba phần nổi Muốn khámphá phần chìm ấy ta không thể bỏ qua đội “âm binh” ngôn ngữ mà nhà văn đãdày công lựa chọn
Chúng ta thừa nhận một cách tương đối: Văn học chia làm 3 loại hình:thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (xét ở góc độ kịch bản văn học) Riêngloại thơ văn xuôi, và truyện thơ vừa có các yếu tố của thơ vừa có yếu tố củatruyện Giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ truyện vừa có sự giống nhau lại vừa có
sự khác nhau Song, chúng đều được gọi chung là “ngôn ngữ văn học” Ngôn
ngữ văn học có 3 đặc trưng cơ bản là tính chính xác, tính hình tượng và tính
biểu cảm Chính vì vậy, giữa ngôn ngữ văn học ở các loại hình vừa có điểm
giống nhau, vừa có sự khác biệt
Sự giống nhau: Cả thơ và truyện đều dùng chất liệu chính là ngôn ngữ
để xây dựng tác phẩm Trong kho tàng ngôn ngữ vô cùng phong phú của toàndân, nhà thơ hay nhà văn lựa chọn những từ ngữ cần thiết nhất để đưa vào tácphẩm Đó là quá trình khổ luyện, tìm tòi, tích lũy vốn sống mới có đượcnhững chữ “thần” để có thể “lóe sáng” lên ở câu thơ, câu văn làm cho tácphẩm “nổi gió”, “cất cánh” Nhà thơ Nga Mai-a-côp-ski đã viết:
Trang 20Phải phí tổn ngàn cân quặng chữ Mới thu về một chữ mà thôi Những chữ ấy làm cho rung động Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài.
Xuất phát từ đặc trưng của thể loại Thơ và Truyện mà ngôn ngữ vănhọc ở hai thể loại này được các tác giả sử dụng ở những cấp độ khác nhau
Sự khác nhau: Đối với truyện, do nhà văn phải xây dựng nhân vật điển
hình trong những hoàn cảnh điển hình nên việc miêu tả ngoại hình, nội tâmnhân vật, bối cảnh xã hội thường phải cụ thể qua nhiều tình tiết, mâu thuẫn
Ở mỗi đoạn, mỗi chương lại có sự phát triển tâm lý nhân vật một cách trựctiếp hay gián tiếp Số câu chữ có thể giãn ra hay co lại theo ý đồ tác giả.Nhưng nhìn chung là nó không có sự cô đúc như từ ngữ thơ ca
Ví dụ: Khi miêu tả bộ mặt một tên quan huyện không thiện cảm mà dân
ta thường gọi là “Quan phụ mẫu”, Nguyễn Công Hoan viết:
“Quan phụ mẫu là người có nhiều cái đặc biệt Đứng trước ngài ta có
cảm tưởng hỗn xược như phải ăn một mâm cỗ đầy ăm ắp những thịt mỡ khi ta
đã no nê Nghĩa là ta phát ngấy về sự phì nộn của ngài Ngài cúi mặt xuống,
cả tấm thịt trên quai hàm bị cổ áo là cứng, nó đùn lên, nó vẽ nên một nếp
nhăn chia má ra làm hai khu đều nhau, khu nào cũng phinh phính và nung
núc những thịt Cái tấm má ấy đầy đặn đến nỗi, giá chỉ một mũi ghim nhỏ
nhỡ đụng vào là có thể chảy ra hàng lít nước nhờn nhờn mà ta quen gọi là
mỡ Lông mi ngài rậm và vòng lên đối với đôi mắt hùm hụp cong xuống Từ thái dương đến chung quanh miệng ngài người ta tưởng mặt ngài làm bằng
cứt sắt vì nó đen đen Nhưng không, đấy chỉ là di tích của một bộ râu quai
nón mà sáng nay ngài quên chưa cạo Ngài đặt lên đầu một vòng khăn không
xứng đáng vì đối với cái bộ mặt vĩ đại ấy nó phải nhiều nếp hơn Nó đai quanh đầu ngài một cách rất chướng như cái đai quanh thùng gỗ đựng nước
mắm ”.
Trang 21Nguyễn Du miêu tả bộ mặt của Tú Bà - trùm nhà chứa:
“Trong cuộc đời trong trắng và tẻ nhạt của các cô thiếu nữ bỗng đến
một lúc cõi lòng bừng đón ánh nắng và tiếp nhận nỗi niềm tỉ tê của hoa lá.
Lúc ấy sự sống dào dạt dâng lên từ con tim phập phồng hòa tan mọi ý nghĩ và niềm thèm khát mơ hồ Cái giờ phút ấy là giờ phút bâng khuâng thơ ngây và vui mừng thấm thía Khi đứa trẻ nhìn thấy sự việc thì nó mỉm cười Khi cô
thiếu nữ cảm thấy yêu đương chớm nở trong lòng, thiếu nữ cũng mỉm cười
như thời thơ ấu Như nói ánh sáng là mối tình đầu trong đời người thì tình yêu không phải là ánh sáng trong lòng người sao?”.
Viết về nỗi rung động đầu đời, nhà thơ Xuân Diệu lại có cách diễnđạt khác:
Con đường nho nhỏ gió hiu hiu
La lả cành hoang nắng trở chiều
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn Lần đầu rung động nỗi thương yêu.
(Thơ duyên)
Thực hiện nhiệm vụ của khóa luận, chúng tôi xin dành sự quan tâm đặc
biệt đến ngôn ngữ văn xuôi Trong văn xuôi, ngôn ngữ nghệ thuật hay còn gọi
là lời văn nghệ thuật Lời nói nghệ thuật là một tấm thảm ngôn từ mà người
nghệ sĩ thêu dệt nên trong toàn bộ chiều dài tác phẩm văn chương Ngôn ngữ
là yếu tố đầu tiên của văn học, ngôn ngữ chất liệu để tạo nên tác phẩm vănhọc
Trang 221.1.3 Lời văn trong tác phẩm là một hiện tượng nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, lời văn nghệ thuật là: “Dạng phát
ngôn được tổ chức một cách nghệ thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật, là hình thức ngôn từ nghệ thuật của các tác phẩm văn học… lời văn nghệ thuật có tính chất cố định, tính độc lập hoàn chỉnh, trong bản thân
nó có tính vĩnh viễn” [20, tr 129].
Lời văn nghệ thuật được tổ chức theo quy luật về nội dung, phươngpháp, phong cách, thể loại Nó không còn là một hiện tượng ngôn ngữ mangchức năng giao tiếp thông thường mà đã được đưa vào một hệ thống giao tiếp
khác, mang chức năng khác Sự khác biệt còn thể hiện ở chỗ: “lời nói thường
giải quyết các nhiệm vụ tức thời, một lần; lời văn tác phẩm không chỉ có tác dụng đó, thậm chí, trái lại nó có tham vọng trở thành lời nói trong nhiều lần, với muôn đời” [20, tr.313] Còn lời văn nghệ thuật được viết ra với dụng ý tạo
nên một sản phẩm tương đối độc lập với hệ thống giao tiếp tự nhiên
Trong sáng tác văn học, nhà văn, nhà thơ thường không thỏa mãn vớinhững từ ngữ quen thuộc vốn có sẵn mà luôn tìm tòi, sáng tạo nghĩa mới, từmới cho từ ngữ để miêu tả, biểu hiện một cách mới lạ, gây được cảm xúcthẩm mỹ cho người đọc Sự sáng tạo này ngoài việc góp phần làm nên giá trịthẩm mỹ cho tác phẩm mà còn là một sự đóng góp quý báu làm nên sự đadạng, phong phú của ngôn ngữ văn học
Theo giới nghiên cứu, lời văn nghệ thuật gồm lời nói gián tiếp củangười kể chuyện và lời nói trực tiếp của nhân vật Sự kết hợp của hai yếu tố
tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong“sinh thể nghệ thuật”.
Như vậy, lời văn nghệ thuật là một tổng thể chứ không đơn thuần làphép cộng của các câu văn Chính sự tổ chức đặc biệt như thế, lời văn nghệ
thuật đã tạo ra được một ý lớn ngoài lời Có nhà nghiên cứu đã nói: “văn học
Trang 23là siêu ngôn từ” – tức văn học tổ chức lại ngôn ngữ nghệ thuật, làm toát lên ý
nghĩa mà đôi khi nghĩa đó không tồn tại trên câu chữ
Ngôn ngữ nghệ thuật hay lời văn nghệ thuật được phân ra thành hai
hình thức là ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ người kể chuyện.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Ngôn ngữ trần thuật là phần lời độc
thoại thể hiện quan điểm của tác giả hay quan điểm của người kể chuyện (sản phẩm sáng tạo của tác giả) đối với cuộc sống được miêu tả, có những nguyên tắc thống nhất lựa chọn và sử dụng phương tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ” [7, tr 181].
Trong đó, ngôn ngữ trần thuật được đánh giá là: “vai trò then chốt
trong phương thức tự sự mà còn là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả Ngôn ngữ người trần thuật có thể có một giọng (chỉ nhằm gọi ra sự vật) hoặc có hai giọng (như lời nhại, lời mỉa mai, lời mỉa trực tiếp…) thể hiện sự đối thoại với ý thức khác nhau về cùng một đối tượng miêu tả.
Ngôn ngữ người kể chuyện dưới hình thức lời kể chuyện ngoài đặc điểm như trên còn mang sắc thái, quan điểm bổ sung cho lập trường, đặc điểm tâm lí, cá tính của nhân vật - người kể chuyện mang lại” [7, tr 184].
Từ định nghĩa trên ta thấy: ngôn ngữ người kể chuyện chiếm một vị tríhết sức quan trọng trong tác phẩm tự sự Nó đóng vai trò tổ chức và chỉ đạovới ngôn ngữ toàn tác phẩm, để khắc họa đặc điểm của các tính cách, để dẫndắt quá trình phát triển của cốt truyện, để thực hiện kết cấu tác phẩm, đồngthời nó tác động đến thái độ của người đọc đối với đối tượng đang được miêu
tả trong tác phẩm Và ngôn ngữ người kể chuyện được quy định bởi điểmnhìn trần thuật
Cũng vì thế mà khi kiến tạo một tác phẩm, nhà văn phải lựa chọn chomình một chỗ đứng thích hợp để kể câu chuyện: tham gia trực tiếp vào sự
Trang 24kiện cốt truyện hay đứng ngoài sự kiện Việc tìm chỗ đứng này xác lập chongười kể một điểm nhìn trần thuật để từ đó câu chuyện được bắt đầu.
Trong văn xuôi nghệ thuật, ngôn ngữ nhân vật là một thành tựu rực rỡ,góp phần không nhỏ cho sự thành công của Tô Hoài
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyệt Ân định nghĩa về ngôn ngữ nhân vật như sau: “ngôn ngữ nhân vật là một trong các phương tiện quan
trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính của nhân vật Trong tác phẩm, nhà văn có thể cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: Nhấn mạnh cách đặt câu, ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân vật, lặp lại những từ, câu mà nhân vật thích nói, kể cả ngoại quốc và từ địa phương Trong các tác phẩm tự sự, nhà văn còn miêu tả trực tiếp trong ngôn ngữ của nhân vật.
Dù tồn tại dưới dạng nào hoặc được thể hiện bằng cách nào ngôn ngữ nhân vật bao giờ cũng phải đảm bảo sự kết hợp sinh động giữa tính cá thể và tính khái quát Nghĩa là, một mặt mỗi nhân vật có ngôn ngữ mang đặc điểm riêng, có lời ăn tiếng nói riêng, mặt khác ngôn ngữ ấy lại phản ánh được đặc điểm ngôn ngữ của một tầng lớp người nhất định gần gũi về nghề nghiệp, tâm
lí, giai cấp, trình độ văn hóa [1, tr 180 - 181].
Ngôn ngữ nhân vật là một phạm trù lịch sử Trong văn học trung đại,
do ý niệm cá nhân chưa phát triển, nó chưa có được sự cá thể hóa sâu sắc
và chưa phân biệt được với ngôn ngữ tác giả Với chủ nghĩa hiện thực, ngôn ngữ được coi là một đối tượng miêu tả, cá tính hóa trở thành một yêu cầu thẩm mĩ” [1, tr.181].
Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về đặc điểmngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện loài vật của TôHoài – nhà văn bậc thầy trong nghệ thuật sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ văn
Trang 25học dân tộc để thấy được thành công và những đóng góp đáng trân trọng củaông đối với nền văn học nước nhà.
1.2 Tô Hoài và truyện viết cho thiếu nhi
1.2.1 Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen Ông sinh ngày 27 – 09 – 1920 tại làngNghĩa Đô, phủ Hoài Đức – tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô – quậnCầu Giấy – Hà Nội) Quê quán: Thị trấn Kim Bài – Huyện Thanh Oai – Tỉnh
Hà Tây
Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô và Hoài Đức Ngoài ra,
Tô Hoài còn có các bút danh khác: Mắt Biển, Mai Trang, Duy Phương, HồngHoa, Vũ Đột Kích,…
Tô Hoài xuất thân trong một gia đình làm nghề dệt lụa Ông học hết bậcTiểu học, sau đó, vừa tự học, vừa làm đủ các nghề để kiếm sống Tô Hoài bắt
đầu in những tác phẩm đầu tiên trên Hà Nội tân văn và Tiểu thuyết thứ bảy từ
cuối những năm 30 của thế kỉ XX
Tuổi thanh niên, Tô Hoài phải trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếmsống như: dạy học tư, bán hàng, làm kế toán cho hiệu buôn,… Năm 1938, ôngchịu ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân và tham gia hoạt động trong tổ chứcHội Ái hữu thợ dệt và Thanh niên dân chủ Hà Nội
Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc và bắt đầu viết bài
báo cho báo Cứu quốc và Cờ giải phóng Đến với văn chương ông nhanh chóng được người đọc chú ý nhất là truyện Dế mèn phiêu lưu kí.
Sau cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm Chủ nhiệm báo Cứu quốc, ông
là một trong số những nhà văn đầu tiên Nam tiến và tham dự một số chiếndịch ở mặt trận phía Nam (Nha Trang, Tây Nguyên,…) Năm 1946, ông đượckết nạp vào Đảng
Trang 26Năm 1950, ông về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam Năm 1957,được bầu làm Tổng Thư kí Hội Nhà văn Việt Nam Từ năm 1958 đến năm
1980, tiếp tục tham gia Ban Chấp hành, phó Tổng thư kí Hội Nhà văn ViệtNam Từ năm 1966 - 1996, ông làm Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội
Đến với con đường nghệ thuật từ cuối những năm ba mươi cho đến nay(2014), Tô Hoài đã sáng tác được một số lượng tác phẩm đồ sộ hơn 170 tácphẩm và đăng hàng nghìn bài viết ở nhiều thể loại khác nhau Ông viết sớm,viết nhiều, đều đặn, dẻo dai và bền bỉ ở mọi đề tài: miền núi, lịch sử, truyện
đồng thoại, Những tác phẩm tiêu biểu như Dế mèn phiêu lưu kí, Võ sĩ bọ
ngựa, O chuột, Đàn chim gáy, Kim Đồng, chuyện Nỏ thần… mãi mãi là một
món quà bổ ích đồi với trẻ thơ
Quá trình sáng tác của Tô Hoài trải dài từ trước Cách mạng tháng Támđến nay, phát triển qua hai chặng:
Trước Cách mạng tháng Tám có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu sau:
Dế Mèn Phiêu Lưu Kí (truyện dài, 1941), O Chuột (truyện, 1942), Quê người (tiểu thuyết, 1943), Giăng thề (truyện, 1943), Nhà nghèo (tập truyện ngắn, 1944), Xóm giềng ngày xưa (truyện, 1944), Cỏ dại (hồi kí, 1944)…
Sau Cách mạng tháng Tám với sức sáng tạo bền bỉ, dẻo dai, Tô Hoài
tiếp tục cho ra đời hàng loạt tác phẩm, ở nhiều lĩnh vực Truyện ngắn: Núi
cứu quốc (1948), Xuống làng (1950), Truyện Tây Bắc (1953), Khác trước (1957), Vỡ tỉnh (1962), Người ven thành (1972); Tiểu thuyết: Mười năm (1957), Miền tây (1967), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Tự truyện (1978), Những ngõ phố, người đường phố (1980), Nhớ Mai Châu (1988); Kí: Đại đội Thắng Bình (1950), Thành phố Lênin (1961), Tôi thăm Cam-pu-chia (1964), Nhật kí vùng cao (1969), Trái đất tên người (1978), Hoa hồng vàng song cửa (1981), Cát bụi chân ai (1992); Truyện thiếu nhi: Tuyển tập văn học thiếu nhi, tập I và II (1994); Tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác: Một số kinh
Trang 27nghiệm viết văn của tôi (1959), Người bạn đọc ấy (1963), Sổ tay viết văn (1977), Nghệ thuật và phương pháp viết văn (1997)…
Với những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà, Tô Hoài đãđược nhận nhiều giải thưởng: Giải nhất Tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt
Nam 1956 (Truyện Tây Bắc); Giải A giải thưởng của Hội văn nghệ Hà Nội
1970 (tiểu thuyết Quê nhà); Giải thưởng Bông sen vàng của Hội nhà văn Á – Phi 1970 (tiểu thuyết Miền Tây); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ
thuật (đợt 1 - 1996)
Nhìn chung, Tô Hoài là một nhà văn sớm bước vào đời, vào nghề văn
và cũng sớm tham gia hoạt động cách mạng Ông viết ở nhiều thể loại và thểloại nào ông cũng đạt được những thành công đặc sắc Đặc biệt là ở những tácphẩm viết về loài vật và miền núi Tây Bắc Tô Hoài luôn có những cố gắngtìm tòi, khám phá trong sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật, đó là một trong nhữngyếu tố góp phần làm nên sức hấp dẫn, sức sống và ý nghĩa lâu bền ở tác phẩmcủa ông đối với đời sống tinh thần của người đọc nhiều thế hệ
“Dao có mài mới sắc”, sự cần mẫn, bền bỉ, dẻo dai, không ngừng họchỏi, tích lũy, tự vượt mình để sáng tạo đó chính là điều làm nên bản lĩnh và tàinăng nghệ thuật của Tô Hoài Với những thành tựu to lớn đã đạt được sau hơnnửa thế kỉ sáng tạo nghệ thuật, Tô Hoài xứng đáng là một trong những cây búttiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, là tấm gương lao động nghệthuật cho văn nghệ sĩ noi theo Người đọc trước đây, hiện nay và mai sau có
lẽ không thể quên được những đóng góp độc đáo, đặc sắc về ngôn ngữ nghệthuật của Tô Hoài đối với nền văn chương dân tộc
1.2.2 Bút lực của Tô Hoài qua mảng truyện viết cho thiếu nhi
Văn học thiếu nhi phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945,gắn liền với chế độ xã hội mới, nâng cao và hoàn thiện cùng hai cuộc chiếntranh giữ nước vĩ đại của dân tộc
Trang 28Văn học thiếu nhi Việt Nam đã vượt qua những bước chập chững banđầu để ngày càng lớn mạnh với một đội ngũ sáng tác đông đảo, một khốilượng tác phẩm phong phú về đề tài và phong cách nghệ thuật Văn học viếtcho thiều nhi thực sự hình thành với tư cách một bộ phận văn học khi Nhàxuất bản Kim Đồng được thành lập (17-6-1957) Trong số những tác giả cóđóng góp to lớn cho nền văn học thiếu nhi nước nhà, cây bút lão luyện TôHoài đã chứng tỏ bút lực, tài năng và tình yêu đối với thế hệ trẻ.
Trong quá trình sáng tạo, Tô Hoài luôn ý thức và tâm huyết làm một cái
gì đó giúp cho trẻ có được hình thức giải trí lành mạnh Vì vậy, mỗi sáng tácdành cho thiếu nhi, bằng những ngôn ngữ giàu tính hàm súc, biểu cảm, đầytính hình tượng, ngắn gọn và dễ hiểu, dù ở hoàn cảnh nào ông cũng viết với ýthức lao động công phu nhất Một sự nghiệp viết cho thiếu nhi song song vớihành trình viết cho người lớn và ông luôn là người khai phá cũng là người đểlại những thành tựu ở đỉnh cao Đặc biệt, những sáng tác về loài vật của TôHoài đã được rất nhiều các bạn đọc thiếu nhi quan tâm
Truyện loài vật của Tô Hoài là mảng truyện vô cùng phong phú với nộidung đặc sắc và độc đáo Nhà văn rộng lượng với ngòi bút của mình khi đưanhững con vật đi vào trang viết Ông không phân biệt loài xấu – loài đẹp, loàisạch – loài không sạch, loài hiền lành – loài hung dữ, loài to – loài nhỏ Nhiềucon vật bay trên trời, sống dưới nước, ở trên mặt đất… đều xuất hiện trong tácphẩm của ông Đọc truyện loài vật của Tô Hoài, người đọc hiểu Tô Hoàimuốn nói đến cuộc sống của con người Tâm điểm của ông là những con vậtsống gần gũi với con người, hàng ngày quanh quẩn bên góc bếp, mảnh vườnhay ngoài đồng ruộng… Chẳng hạn như Chó, Mèo, Chuột, Bọ Ngựa, DếMèn, Dế Trũi, Xiến Tóc… Có thể thấy, khi đưa ra những con vật này vàotrang sách, tác giả luôn tạo ra sự liên hệ gần gũi với thế giới con người.Những triết lí về cuộc sống trong truyện loài vật đều gắn liền với các vấn đềcủa con người
Trang 29Phải thừa nhận hiếm có ngòi bút nào miêu tả loài vật tài tình như TôHoài Cái khó của truyện đồng thoại là có sự kết hợp giữa hiện thực và mơtưởng Khi Tô Hoài viết truyện về loài vật, bằng vốn ngôn ngữ độc đáo, giản
dị mà đậm chất trữ tình, ông đã tả đúng đặc điểm – hình dáng – tính cách củatừng loài Sau đó, biết gắn những tính cách của con người sang cho con vậtmột cách phù hợp với đặc điểm của chúng Sự khéo léo của nhà văn đã gópphần khỏa lấp những chi tiết khiên cưỡng, giúp độc giả nhỏ tuổi có dịp lạcvào thế giới loài vật phong phú, sinh động và chân thực bằng biện pháp nhânhóa tài hoa Chúng ta sẽ tìm hiểu thế giới loài vật phong phú trong các tácphẩm thời kì này
Trước Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài đã có nhiều sáng tác dành chothiếu nhi Bằng một bút lực dồi dào, Tô Hoài đã dựng lên một thế giới loài vậtsinh động, hấp dẫn:
Ở Võ sĩ Bọ Ngựa, các em sẽ gặp một chú Bọ Ngữa hiếu động, hiếu
thắng, không lượng sức mình, rất giống những câu bé “choai choai” mới lớn
Bọ Ngựa sống cùng mẹ trên cây hoa hồng, mẹ đi kiếm ăn, sai cậu ta ở nhàtrông nhà không được đi đâu Nhưng mẹ vừa khuất dáng cậu ta đã tụt xuốngđất và thám hiểm thế giới xung quanh, Bọ Ngựa gặp ngay hai kẻ nhát gan làChâu Chấu Ma và Gián Ống Chúng thấy Bọ Ngựa giáp trụ đầy mình nên cảhai đều tôn xưng cậu là đại ca và cầu xin được che chở Lập tức Bọ Ngựa thấy
mình là nhân vật quan trọng đầy sức mạnh, cậu ta liền tự xưng là Võ sĩ Đại
Mã và kiên quyết cùng hai đệ tử “dạy cho thiên hạ một bài học” Nhưng chưa
dạy nổi ai thì cậu ta đã nhận được một cái tát cảnh cáo của bà Bọ Muỗm vàbài học sức mạnh của ông Cồ Cộ Sau khi hiểu được một chân lí đơn giản: Hễcậy mình khỏe để bắt nạt kẻ yếu thì sẽ bị người khỏe hơn trừng trị lại, BọNgựa đã chừa thói ngông cuồng, trở thành đứa con ngoan ngoãn và khiêm
tốn Trong Võ sĩ Bọ Ngựa, ngôn ngữ mà Tô Hoài sử dụng vô cùng phong phú,
giản di, khắc họa được rõ nét tính cách cũng như tâm hồn của nhân vật
Trang 30Ở Đám cưới Chuột, các em sẽ được biết đến số phận chìm nổi của
chàng Chuột Nhắt, nhân vật trung tâm trong tranh Đám cưới Chuột của làng
Hồ Chuột Nhắt là con của ông bà Thử, gia đình khá giả nhưng ngặt nỗi cậu ta
ốm yếu và xấu xí nên chẳng có bạn chơi Đến tuổi trưởng thành, ông bà Thứbèn đầu tư cho con đi học, hy vọng có vốn chữ nghĩa cậu ta sẽ khá hơn Sau
ba năm miệt mài đèn sách, Chuột Nhắt đi thi và đỗ tú tài Ông bà Thứ lấy làmhãnh diện và tổ chức đám rước vinh quy cho cậu thật linh đình Cũng từ đây,
bi kịch cuộc đời cậu bắt đầu Nguyên nhân là do lão Mèo Già, sau khi nhậnmấy con cá săn sắt của bà Thử hối lộ, nghe tiếng trống mõ nổi lên tưng bừng,lão phấn khích kêu lên vài tiếng meo meo, khiến lũ chuột khiêng kiệu bỏchạy Chuột Nhắt ngã, kiệu đè chân, sau thành thọt Đến lúc đi hỏi vợ, cậu ta
đã tìm cách vượt qua kì sát hạch khó khăn của cô Chuột Chù, một tiểu thư connhà danh giá Nhưng tin đồn về đôi chân của cậu đã làm cho cô Chuột Chùthoái hôn Chuột Nhắt rơi vào tuyệt vọng Ông Chuột Cống xuất hiện, đemđến cho Chuột Nhắt nhiều lẽ sống mới Ông phân tích cho cậu thấy nguyênnhân bi kịch của cậu đều do lão Mèo Già gây ra, vì vậy phải cùng với dânlàng chống lại lão Chuột Nhắt đã hiểu ra và đi theo ông Chuột Cống, lấy việcgiúp đỡ mọi người làm niềm vui và lẽ sống của bản thân mình
Ở Dê và Lợn và Ba anh em các em hiểu được vai trò của tình đoàn kết
yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trong tình bạn và trong nội bộ tập thể Dê vàLợn rủ nhau đi trốn, tìm tới cuộc sống tự do thoát khỏi vòng kiểm soát củaông chủ, không ngờ vì nhẹ dạ đã kết nạp Mèo vào hội, bị Mèo tố giác, cuốicùng bị bắt trở về trang trại Ở đây lời khuyên dành cho các em là phải biết
“chọn bạn mà chơi” và “bí mật là mẹ của thành công” Truyện Ba anh em , cóhai chú Chó và một chú Mèo luôn gây gổ đổ lỗi cho nhau, vì vậy luôn bị ôngchủ cho ăn đòn, từ ngày chúng biết bảo ban, giúp đỡ nhau, cuộc sống trở nênvui vẻ và tốt đẹp hơn lên Đây chính là bài học “đoàn kết là sức mạnh”