Ung thư là một bệnh trong đó xảy ra sự tăng sinh đột biến của một dòng tế bào bất thường, từ đó dẫn đến hậu quả là tạo ra trong cơ thể chức lạ gồm nhưng tế bào non, chuyển hoá mạnh lẫn á
Trang 1ThS BS Nguyễn Văn Hoà
Trang 2Mở đầu:
Mỗi năm có hơn 6 triệu người chết vì bệnh unng thư, 10 triệu ca ung thư mới được chẩn đoán trên thế giới Trong số đó 1/3 có thể chữa trị một cách có hiệu quả nếu được phát hiện sớm Ung thư là nguyên nhân gây tử vong phổ biến đứng hàng thứ hai ở các nước công nghiệp phát triển chỉ sau bệnh tim mạch (1)
Ung thư là một bệnh trong đó xảy ra sự tăng sinh đột biến của một dòng tế bào bất thường, từ đó dẫn đến hậu quả là tạo ra trong cơ thể chức lạ gồm nhưng tế bào non, chuyển hoá mạnh lẫn át các tổ chức xung quanh về mặt không gian cũng như tranh chấp các chất dinh dưỡng…Thực chất của ung thư là sự thoát khỏi việc kiểm soát của các cơ chế điều hoà tự động có trong các tế bào (2) Cơ chế phát sinh Ung thư rất phức tạp, liên quan đến bệnh lý phân tử, di truyền, sai lệch về cấu trúc, sao chép, dịch mật mã thông tin di truyền
Việc phát hiện, điều trị, theo dõi bệnh Ung thư hiện nay gặp rất nhiều khó khăn nhất là khi bệnh đã di căn từ tổ chức nguyên phát sang các tổ chức khác của cơ thể Vì vậy, chẩn đoán sơm, chẩn đoán đúng bệnh ung thư là rất quan trọng, nó giúp cho việc điều trị có hiệu quả, triệt để, kéo dài được tuổi thọ cho bệnh nhân Với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật về vật lý, sinh học, hoá sinh… như ngày nay, chúng ta đã có rất nhiều phương pháp, máy móc, trang thiết bị hiện đại có thể giúp cho việc chẩn đoán với
độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao Một trong các phương pháp đó là phương pháp về hoá sinh dựa trên cơ sở khi có khối U trong cơ thể, bản thân khối U sẽ sản sinh ra những chất đặc biệt, đóng vai trò như chất “chỉ điểm” cho khối U (Tumour Maxkers) và có thể được phát hiện nhờ những phản ứng kháng nguyên – kháng thể, với kỹ thuật ELISA, huỳnh quang, hoá phát quang, điện hoá phát quang…
Trang 3I MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ UNG THƯ
1 Tế bào Ung thư
* Có 3 đặc điểm sau:
- Hoạt động của tế bào Ung thư vượt ra khỏi sự kiểm soát của các cơ chế tự động điều khỉên của cơ thể với các tế bào lành.
- Tế bào Ung thư thâm nhiễm vào các mô bệnh bên cạnh (khác với U lành).
- Tăng sinh với tốc độ lớn, lan rộng tại chỗ hoặc di căn bằng đường bạch mạch và đường máu.
2 Căn nguyên bệnh Ung thư
Thông thường khối U không do một nguyên nhân Ung thư phát triển theo từng giai đoạn trong đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan đến cấu trúc gene của từng cá thể, yếu tố môi trường, lối sống…các yếu tố thường gặp:
- Yếu tố Gene.
- Virus gây Ung thư (Papilloma vius, Hepatitis B virus).
- Hoá chất.
- Các hợp chất vô cơ chứa kim loại nặng.
- Hợp chất Hydro cacbon vòng (Benzen, Benzopyren…).
- Hợp chất N – nitroso (trong thuốc lá, đồ nướng cháy).
- Yếu tố vật lý.
- Tia xạ, UV, X – ray…
- Kích thích cơ học.
- Tuổi tác cao.
- Tăng khả năng sao chép lỗi các thông tin di truyền.
- Thiếu hụt hệ thống miễm dịch.
- Yếu tố tâm lý.
-
Trang 4Năm 1976, Dominique, Michael và Hazald đã phát hiện ra các Gene gây Ung thư gọi là Oncogene Người ta đã xác định được rằng trong các tế bào bình thường có Gene tiền Ung thư (Proto – Oncogene) có chức năng kiểm soát và điều hoà quá trình sinh sản của tế bào phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cơ thể Một số yếu tố có khả năng tác động đến Gene này, đó là yếu tố sinh học, hoá học, vật lý, gốc tự do…chúng có thể gây ra những thay đổi, chuyển vị AND, từ đó các Proto – Oncogene chuyển thành Oncogene, kết quả
là quá trình điều hoà bị rối loạn, khả năng kiểm soát sự sinh sản tế bào bị mất, các tế bào phát triển vô tổ chức Những yếu tố mới này (khối U) sinh ra các kháng nguyên Ung thư, chỉ điểm đặc hiệu cho khối U đó dựa vào sự có mặt của chất này ở trong máu Việc phát triển kháng nguyên Ung thư bằng các phản ứng miễn dịch với kháng thể đặc hiệu là nguyên lý của kỹ thuật định lượng các dấu ấn này khi chỉ có một tế bào Ung thư xuất hiện Những phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao nhất là khi sử dụng kháng thể đơn
Trang 53 Quá trình phát triển của bệnh Ung thư
Trang 6* Quan niệm mới về bênh Ung thư chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn khởi phát: Là giai đoạn bị các tác nhân bên ngoài tấn công vào vật liệu di truyền (AND).
- Giai đoạn tiến triển: Các tế bào U xuất hiện một cách thầm lặng, các yếu tố khởi động tấn công lặp đi lặp
lại nhiều lần.
4 Hệ số tăng sinh của tế bào Ung thư
Sự lớn lên của khối U phụ thuộc vào chu kỳ phân chia của tế bào Ở tế bào bình thường chu kỳ phân chí gồm
4 giai đoạn, phụ thuộc vào lượng AND và sự phân bào.
- Thời kỳ yên tĩnh (2n Chromosom).
- Thời kỳ tổng hợp AND (Chuyển hoá tích cực).
- Thời kỳ trước mitose (4n Chromosom).
- Thời kỳ mitose.
Từ đó người ta xác định được thời gian nhân đôi của khối U và hệ số tăng sinh của khối U Hệ số tăng sinh
có ý nghĩa quan trọng trong điều trị Thông thường phương pháp hóa trị liệu có tác dụng hiệu quả với đa số các tế bào ở trạng thái nghỉ.
5 Chẩn đoán
Giai đoạn này có ảnh hưởng đến sự lựa chọn liệu pháp điều trị cho bệnh nhân gồm 3 yếu tố quan trọng: > Kích thước của khối U đầu tiên.
> Có hạch hay không có hạch Lympho.
> Có hay không di căn.
* Các tiêu chuẩn chẩn đoán theo hệ thông phân loại TNM.
- T: Khối U nguyên phát.
- N: Hạch Lympho.
- M: Tình trạng di căn của khối U.
* Các phương pháp chẩn đoán
- Phương pháp vật lý: X quang, CT, Cộng hưởng từ, Đồng vị phóng xạ…
- Phương pháp giải phẫu bệnh: Sinh thiết, đọc tế bào (Tiêu chuẩn vàng).
- Phương pháp hoá sinh: Định lượng các chất chỉ điểm khối U bằng kỹ thuật huỳnh quang và điện hoá phát quang…
Trang 7TIÊU ĐỀ
7
6 Điều trị
Phẫu thuật.
01
Liệu pháp dùng tia phóng
xạ.
02
Hoá trị liệu.
03
Liệu pháp
Hormon.
04
Liệu pháp
miễn dịch.
05
Trang 8II CHẤT CHỈ ĐIỂM KHỐI U (TUMOUR MARKERS)
1 Định nghĩa
Chất chỉ dẫu khối U là phân tử tự nhiên có trong huyết thanh, huyết tương, các dịch khác trong cơ thể, hoặc các mẫu thử lấy từ các mô để xác định sự hiện diện của tế bào Ung thư,
để đánh giá tiên lượng trên bệnh nhân hoặc theo dõi sự đáp ứng của bệnh nhân đối với phương pháp điều trị, chất chỉ điểm khối U có thể là các phân tử Prôtein, Acid nucleic, hormon, enzym và một số tế bào đặc biệt Chất chỉ dấu khối U có bên trong các tế bào, cả
tế bào chất, nhân và các chất này được liên kết với các màng ngoài của tế bào và được lưu thông trong máu
Chất chỉ dấu khối U lý tưởng dùng để chẩn đoán Ung thư phải có hai đặc điểm:
- Được tiết vào máu có thể xác định được vị trí khối U
2 Phân loại
Hiện nay chất chỉ dấu khối U được chia làm 2 loại:
+ Nhóm chất chỉ dấu khối U là những tế bào
+ Nhóm chất chỉ dấu khối U là các phân tử hoà tan trong dịch thể, là các kháng
nguyên Ung thư lưu hành trong máu hoặc trong các dịch thể khác
- Các kháng nguyên Ung thư do chính bản thân khối U sinh ra rồi giải phóng vào huyết thanh như: AFP (Alpha Feto Protein) – Trong Ung thư gan nguyên phát, CEA (Carcino Embryonic Antigen) – Trong Ung thư đường tiêu hoá, CA 125 (Cancer Antigen 125) – Trong Ung thư buồng trứng
* Chất chỉ dấu khối U là Hormon: Beta HCG (Beta Hormon Chorinoic Gonadotrope)
* Chất chỉ dấu khối U là các chất chuyển hoá tăng cao trong quá trình phát triển Ung thư như: LDH trong Ung thư gan
Trang 93 Tiêu chuẩn của một số chất chỉ dấu khối U
Có độ nhạy và độ đặc hiệu cao (xấp xỉ 100%).
Được giải phóng từ tế bào khối U vào các dịch thể dễ thu nhận, có nghĩa là phải được phân bố và lưu hành trong máu, dịch cơ thể.
Phát hiện được ở những nồng độ rất thấp,
có nghĩa là có khả năng phát hiện sớm Ung thư.
Nồng độ trong máu của chất chỉ dấu khối U phản ánh được tình trạng và tiến triển của khối U (kích thước, sự phát triển, tình trạng di truyền, kết quả điều trị).
Trang 104 Về định lượng Tumour Markers cho phép theo dõi tiến triển của bênh, hiệu quả của liệu pháp điều trị
- Trường hợp Markers đặc hiệu cho cơ quan mộ cách tuyệt
đối
Ví dụ: Trong Ung thư tuyến giáp việc cắt bỏ toàn bộ khối U sẽ
không sản sinh ra Thyroglobulin, nếu sản sinh trở lại chứng tỏ
vẫn còn sót khối U và khối U tiếp tục phát triển.
- Trường hợp kiểm tra, theo dõi quá trình điều trị: Trong nhiều
trường hợp các Tumour Markers cho thông tin nhạy cảm hơn
so với siêu âm, nội soi.
-Nếu nồng độ Markers giảm xuống liên tục chứng tỏ điều trị
tốt, dẫn tới tiên lượng tốt.
-Nếu nồng độ Markers tăng liên tục chứng tỏ điều trị không
hiệu quả, bệnh càng ngày càng phát triển.
- Nếu Markers tăng đột ngột rồi giảm dần cũng là một tiên
lượng tốt, có thể việc điều trị gây ra sự phá huỷ khối U một
cách mạnh mẽ, giải phóng ào ạt Markers vào máu sau đó giảm
dần.
- Việc định lượng nồng độ các Tumour Markers trong máu
trong một số trường hợp có thể xác định chẩn đoán hoặc phát
hiện Ung thư ở giai sớm.
Ví dụ: Nồng độ AFP tăng sớm trong bệnh nhân xơ gan Ung
thư hoá, hoặc tăng nồng độ P.S.A trong Ung thư Tiền liệt tuyến
ở bệnh nhân có U lành Tiền liệt tuyến.
Trang 11III CÁCH SỬ DỤNG CHẤT CHỈ DẤU KHỐI U TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DÕI ĐIỀU TRỊ
UNG THƯ
Viện Hàn lâm Hoá sinh lâm sàng Quốc gia Hoa Kỳ và nhóm chuyên gia Châu Âu nghiên cứu Tumour
Markers khuyến cáo:
Một số Tumour Markers chẩn đoán bệnh Ung thư
- AFP (Alphafeto – protein) (BT < 10 ng/ml) Ung thư Gan
- CEA (Carcino Embryonic Antigen) (BT < 10 ng/ml) Ung thư Trực tràng
- CA 15 - 3 (Cancer Antigen 15 - 3) (BT < 30 ng/ml) Ung thư Vú
- CA 125 (Cancer Antigen 125)(BT < 35 ng/ml) Ung thư Buồng trứng
- CYFRA 21 - 1 (Cytokeratin 19 fragment) (BT < 1.8 ng/ml) Ung thư Phổi
- CA 19 – 9 (Carbohydrate Antigen 19 – 9) (BT < 30 ng/ml) Ung thư Đường mật, Dạ
dày
- CA 72 – 4 (Carbohydrate Antigen 72 – 4) (BT < 3.4 ng/ml) Ung thư Dạ dày
- PSA (Prostate Spesipic Antigen) (BT < 50T < 1.5 ng/ml; > 50T < 5
- CSC (Squamous Cell Carcinoma // CYFRA 21 – 1) Ung thư Tai Mũi Họng
- TPA (Tissue Polypeptid Antigene) Ung thư Bàng quang
- CA 19 – 9 // CEA // CYFRA 21 - 1 Ung thư Thực quản
* Ở bảng trên dấu // chỉ Tumour Markers cần phối hợp xác định Ung thư
Trang 12"XIN CHÂN THÀNH
CẢM ƠN!"
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!