Yêu cầu của chơng trình Chơng trình GDPT môn Ngữ văn Ban hành kèm theo QĐ số 16/2006/QĐ BGD&ĐT, 5.5.2006 của Bộ trởng Bộ GD&ĐT, phần Tiếng Việt: -Nhận biết các từ mợn trong văn bản-Nhận
Trang 1giờ cũng có con đờng đi của riêng nó để đến với ngời tiếp nhận và đó chính là lí do mà xa nay ngời
ta vẫn đề cao việc Tự học, thậm chí còn định nghĩa Đại học = Tự học Trong thực tế có không ít các nhà khoa học, nhà s phạm đã thành đạt, thành tài và thành danh bằng con đờng Tự học; vậy thì làm gì có cái gọi là Phơng pháp dạy học?! Quan niệm thứ hai khẳng định Phơng pháp dạy học là
một bộ môn khoa học, nó là sự kết hợp một cách biện chứng giữa các thao tác trong t duy và các
thao tác trong việc trình bày của ngời dạy Phơng pháp dạy học không chỉ là phơng tiện hoặc cách thức, mà còn là một lộ trình của t duy trong đó ngời dạy có sứ mệnh tạo ra những tiền đề giúp cho ngời học có thể dần dần chuyển hoá quá trình đợc đào tạo thành quá trình tự đào tạo Nói cách khác, sự ra đời và tồn tại của bộ môn Phơng pháp đợc coi là một tất yếu của quá trình nhận thức từ
thấp đến cao, từ riêng lẻ đến hệ thống, từ hiện tợng đến bản chất Nói nôm na nh ngời Việt ta thì
Trang 2“Không thầy đố mày làm nên” Bằng chứng là, trong thực tế, ai ai cũng từng phải cắp sách tới
tr-ờng; sau khi kết thúc giai đoạn học ở nhà trờng thì mới có sự phân hoá đẳng cấp giữa những ngời
có năng lực (và cả ý chí nữa) tự học để phát triển và thành đạt với những ngời chỉ biết mài mòn mảnh bằng theo thời gian cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.
Song, cả hai quan niệm trên lại có sự thống nhất cao khi đều vui vẻ thừa nhận luận điểmcốt lõi sau: “Trớc hết là tri thức, sau tri thức mới là phơng pháp; không có phơng pháp tối u nàothay thế cho sự dốt nát!” Diễn đạt luận điểm này, cố Thủ tớng Phạm Văn Đồng từng nói một câu,
đại ý: “Thầy giáo phải biết mời để dạy một”; tức là thầy giáo phải có một nền tảng tri thức cơ bản
đủ rộng và đủ sâu thì mới có thể thành công khi thực hiện một phơng pháp nào đấy
Có nhiều phơng pháp dạy học (xem Đề cơng PPDH TV THCS), nhng đối với những bài Lí thuyết ngôn ngữ, xa nay ngời ta vẫn coi trọng Phơng pháp qui nạp Sách giáo khoa trớc năm 2002 thiết kế mỗi bài Lí thuyết thành ba phần rõ rệt: I Tìm hiểu bài (ngữ liệu ngôn ngữ có hiện tợng của
bài học)/II Bài học (xác lập từng đơn vị kiến thức, sau đó qui nạp thành kiến thức cơ bản của bàihọc)/III Luyện tập (thực hành nhằm củng cố, mở rộng, nâng cao kiến thức đã học) Sách giáokhoa hiện nay gộp hai mục I và II, nhng cơ bản không có thay đổi gì về phơng pháp dạy (qui nạp)
và tính chất môn học (thực hành) Tất nhiên, Phơng pháp qui nạp không phải là một cái mô hình
trừu tợng nhất thành bất biến, nó luôn có những biến thể linh hoạt tuỳ theo từng bài học cụ thể;
chẳng hạn bài “Phó từ” (SGK Ngữ văn 6, tập 2) có ba mục I,II,III thì I và II là phần Lí thuyết, III là phần Thực hành; bài “Câu trần thuật đơn” (SGK Ngữ văn 6, tập 2) lại chỉ có hai mục I,II thì I là phần Lí thuyết (gộp I,II của sách cũ), II là phần Thực hành Với bài “Phó từ”, giáo viên phải hớng
dẫn học sinh qui nạp I,II thành kiến thức cơ bản của bài học, còn với bài “Câu trần thuật đơn” thìgiáo viên lại phải hớng dẫn học sinh qui nạp các đơn vị kiến thức I.1, I.2, I.3 thành kiến thức cơbản của bài học
Trong một thời gian có hạn, chúng ta khó mà trao đổi hết những vấn đề có liên quan đến
Phơng pháp dạy học nói chung, PPDH Tiếng Việt nói riêng; do đó các bạn có thể tham khảo tài
liệu “Đề cơng PPDH TV THCS” để có thêm cơ sở suy nghĩ, tìm kiếm một phơng pháp khả dĩ choriêng mình; còn hôm nay, chúng tôi chỉ xin tập trung vào luận điểm đã dẫn ở phía trên Nói cụ thểhơn là chỉ trao đổi về một số đơn vị kiến thức có liên quan đến những bài học trong sách giáo khoaNgữ văn hiện hành Và dĩ nhiên, mọi sự trao đổi bao giờ cũng mang tính chất gợi ý và tính chất
dân chủ Những gì là bổ ích, thiết thực là cái đợc; nhng những gì là bất cập, cực đoan cũng không phải là cái mất - Đó là lợi ích của mọi cuộc đối thoại trên cõi đời này! Xa thế! Nay thế! Và muôn
đời vẫn thế!
Chúc các bạn mạnh khoẻ, luôn có khát vọng và luôn thành công!
20.1.2009
Tác giả
I Yêu cầu của chơng trình
Chơng trình GDPT môn Ngữ văn (Ban hành kèm theo QĐ số 16/2006/QĐ BGD&ĐT, 5.5.2006 của Bộ trởng Bộ GD&ĐT), phần Tiếng Việt:
-Nhận biết các từ mợn trong văn bản-Nhận biết từ Hán Việt thông dụng trong vănbản
-Biết nghĩa 50 yếu tố Hán Việt thông dụngxuất hiện nhiều trong các văn bản học ở lớp 6
- Nghĩa của
từ
-Hiểu thế nào là nghĩa của từ-Biết tìm hiểu nghĩa của từ trongvăn bản và giải thích nghĩa của từ-Biết dùng từ đúng nghĩa trong nói,viết và sửa các lỗi dùng từ
-Hiểu thế nào là hiện tợng nhiềunghĩa, nghĩa gốc và nghĩa chuyểntrong từ nhiều nghĩa
-Biết đặt câu với nghĩa gốc, nghĩachuyển của từ nhiều nghĩa
-Nhận biết cách giải thích nghĩa của các từtrong phần chú thích của sách giáo khoa-Biết giải thích nghĩa của các từ thông dụngbằng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa và bằngcách trình bày khái niệm (miêu tả sự vật, hiệntợng) mà từ biểu thị
-Nhận biết và sử dụng đợc từ nhiều nghĩa,nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa
Ngữ pháp
- Từ loại -Hiểu thế nào là danh từ, động từ,tính từ, số từ, lợng từ, chỉ từ, phó từ -Nhớ đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của cáctừ loại
Trang 3-Biết sử dụng các từ loại đúng nghĩa
và đúng ngữ pháp trong nói, viết-Hiểu thế nào là tiểu loại dnah từ(danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ
sự vật, danh từ chung và danh từriêng), tiểu loại động từ (động từtình thái và động từ chỉ hành động,trạng thái), tiểu loại tính từ (tính từchỉ đặc điểm tơng đối và tính từ chỉ
đặc điểm tuyệt đối)
-Nhận biết các từ loại trong văn bản-Nhớ đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của cáctiểu loại
-Nhận biết các tiểu loại danh từ, động từ, tính
từ trong văn bản-Nhớ qui tắc và biết viết hoa các danh từ riêng
- Cụm từ -Hiểu thế nào là cụm danh từ, cụm
động từ, cụm tính từ-Biết cách sử dụng các cụm từ trongnói, viết
-Nắm đợc cấu tạo và chức năng ngữ pháp củacụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ
-Nhận biết cụm danh từ, cụm động từ, cụmtính từ trong văn bản
- Câu -Hiểu thế nào là thành phần chính
và thành phần phụ của câu-Hiểu thế nào là chủ ngữ và vị ngữ
-Biết cách chữa các lỗi về chủ ngữ,
vị ngữ trong câu-Hiểu thế nào là câu trần thuật đơn-Biết các kiểu câu trần thuật đơn th-ờng gặp
-Biết cách sử dụng câu trần thuật
đơn trong nói, viết; đặc biệt là trongviết văn tự sự, miêu tả
-Phân biệt đợc thành phần chính và thànhphần phụ của câu
-Nhận biết chủ ngữ và vị ngữ trong câu đơn-Nhớ đặc điểm ngữ pháp và chức năng củacâu trần thuật đơn
-Nhận biết câu trần thuật đơn trong văn bản-Xác định đợc chức năng của một số kiểu câutrần thuật đơn thờng gặp trong các truyện dângian
- Dấu câu -Hiểu công dụng của một số dấu
câu: dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấmhỏi, dấu chấm than
-Biết cách sử dụng dấu câu trongviết văn tự sự, miêu tả
-Biết các lỗi thờng gặp và cách chữacác lỗi về dấu câu
-Giải thích đợc cách sử dụng dấu câu trongvăn bản
Phong cách
ngôn ngữ và
biện pháp tu
từ
-Hiểu thế nào là so sánh, nhân hoá,
ẩn dụ, hoán dụ-Nhận biết và bớc đấu phân tích đợcgiá trị của các biện pháp tu từ trêntrong văn bản
-Biết cách sử dụng các biện pháp tu
từ trên trong nói, viết
Hoạt động
giao tiếp -Hiểu thế nào là hoạt động giao tiếp-Nhận biết và hiểu vai trò của các
nhân tố chi phối một cuộc giao tiếp-Biết vận dụng những kiến thức trênvào thực tiễn giao tiếp của bản thân
-Biết vai trò của nhân vật giao tiếp, đối tợnggiao tiếp, phơng tiện giao tiếp, hoàn cảnh giaotiếp trong hoạt động giao tiếp
Lớp 7
Từ vựng
- Cấu tạo từ
-Hiểu cấu tạo của các loại từ ghép,
từ láy và nghĩa của từ ghép, từ láy-Nhận biết và bớc đầu phân tích đợcgiá trị của việc dùng từ láy trongvăn bản
-Hiểu giá trị tợng thanh, gợi hình,gợi cảm của từ láy
-Biết cách sử dụng từ ghép, từ láy
-Biết hai loại từ ghép: từ ghép chính phụ và từghép đẳng lập, tính chất phân nghĩa của từghép chính phụ, tính chất hợp nghĩa của từghép đẳng lập
-Biết hai loại từ láy: từ láy toàn bộ và từ láy
bộ phận (láy phụ âm đầu, láy vần)
- Các lớp từ -Hiểu thế nào là yếu tố Hán Việt và
cách cấu tạo đặc biệt của một số từghép Hán Việt
-Bớc đầu biết cách sử dụng từ HánViệt đúng nghĩa, phù hợp với yêucầu giao tiếp; tránh lạm dụng từHán Việt
-Nhớ đặc điểm của từ ghép Hán Việt-Biết hai loại từ ghép Hán Việt chính: ghép
đẳng lập và ghép chính phụ, biết trật tự cácyếu tố Hán Việt trong từ ghép chính phụ HánViệt
-Hiểu nghĩa và cách sử dụng từ Hán Việt đợcchú thích trong các văn bản học ở lớp 7
Trang 4giá trị của việc dùng từ đồng nghĩa,
từ trái nghĩa và chơi chữ bằng từ
đồng âm trong văn bản-Biết cách sử dụng từ đồng nghĩa,trái nghĩa phù hợp với tình huống
và yêu cầu giao tiếp-Biết sửa lỗi dùng từ
toàn và đồng nghĩa không hoàn toàn
từ trong khi nói, viết-Biết các loại lỗi thờng gặp và cáchsửa các lỗi về đại từ và quan hệ từ
-Nhận biết đại từ và các loại đại từ: đại từ đểtrỏ, đại từ để hỏi
- Cụm từ -Hiểu thế nào là thành ngữ
-Hiểu nghĩa và bớc đầu phân tích
đ-ợc giá trị của việc dùng thành ngữ
trong văn bản-Biết cách sử dụng thành ngữ trongnói, viết
-Nhớ đặc điểm của thành ngữ, lấy đợc ví dụminh hoạ
- Các loại câu -Hiểu thế nào là câu rút gọn và câu
đặc biệt-Nhận biết và bớc đầu phân tích đợcgiá trị của việc dùng câu rút gọn vàcâu đặc biệt trong văn bản
-Biết cách sử dụng câu rút gọn vàcâu đặc biệt trong nói, viết
-Hiểu thế nào là câu chủ động vàcâu bị động
-Biết cách chuyển đổi câu chủ động
và câu bị động theo mục đích giaotiếp
-Nhớ đặc điểm của câu rút gọn và câu đặcbiệt
-Nhớ đặc điểm của câu chủ động và câu bị
động-Nhận biết câu chủ động và câu bị động trongcác văn bản
-Hiểu thế nào là dùng cụm chủ - vị
để mở rộng câu-Biết mở rộng câu bằng cáchchuyển các thành phần nòng cốtcâu thành cụm chủ - vị
-Nhớ đặc điểm và công dụng của trạng ngữ-Nhận biết trạng ngữ trong câu
-Nhận biết các cụm chủ – vị làm thành phầncâu trong văn bản
- Dấu câu -Hiểu công dụng của một số dấu
câu: dấu chấm phẩy, dấu chấmlửng, dấu gạch ngang
-Biết sử dụng các dấu câu phục vụyêu cầu biểu đạt, biểu cảm
-Biết các loại lỗi thờng gặp về dấucâu và cách sửa chữa
-Giải thích đợc cách sử dụng dấu chấm phẩy,dấu chấm lửng, dấu gạch ngang trong văn bản
-Biết cách vận dụng các biện pháp
tu từ trên vào thực tiễn nói, viết
-Nhận biết và hiểu giá trị của các biện pháp tu
từ chơi chữ, điệp ngữ, liệt kê trong văn bản
Trang 5xuất hiện nhiều trong các văn bản học ở lớp 8
- Trờng từ
vựng
-Hiểu thế nào là trờng từ vựng-Biết cách sử dụng các từ cùng tr-ờng từ vựng để nâng cao hiệu quả
từ -Hiểu thế nào là cấp độ khái quátcủa nghĩa từ ngữ
-Hiểu thế nào là từ tợng thanh và từtợng hình
-Nhận biết từ tợng thanh, từ tợnghình và giá trị của chúng trong vănbản miêu tả
-Biết cách sử dụng từ tợng thanh, từtợng hình
-Biết so sánh nghĩa của từ ngữ về cấp độ kháiquát
-Nhớ đặc điểm, công dụng của từ tợng thanh
và từ tợng hình
Ngữ pháp
- Từ loại -Hiểu thế nào là tình thái từ, trợ từvà thán từ
-Nhận biết các từ loại trên và tácdụng của chúng trong văn bản-Biết sử dụng các từ loại trên trongnói, viết
-Nhớ đặc điểm và chức năng ngữ pháp củatình thái từ, trợ từ và thán từ
- Các loại câu -Hiểu thế nào là câu ghép; phân biệt
đợc câu đơn và câu ghép-Biết cách nối các vế câu ghép-Biết nói và viết đúng các kiểu câughép đã đợc học
-Hiểu thế nào là câu trần thuật, câucảm thán, câu cầu khiến, câu nghivấn
-Nhận biết và bớc đầu phân tích đợcgiá trị biểu đạt, biểu cảm của cácloại câu trên trong văn bản
-Biết cách nói, viết các loại câuphục vụ những mục đích nói khácnhau
-Hiểu thế nào là câu phủ định-Nhận biết và bớc đầu phân tích đợcgiá trị biểu đạt, biểu cảm của câuphủ định trong văn bản
-Biết cách nói và viết câu phủ định
-Nhận biết các loại câu ghép, các phơng tiệnliên kết các vế câu ghép trong văn bản
-Nhận biết quan hệ ý nghĩa giữa các vế câughép và các phơng tiện liên kết các vế câughép: quan hệ nguyên nhân, điều kiện, tăngtiến, tơng phản, nối tiếp, giải thích
-Nhớ đặc điểm hình thức và các chức năngcủa câu trần thuật, câu cảm thán, câu cầukhiến, câu nghi vấn
-Nhớ đặc điểm và chức năng của câu phủ định
- Dấu câu -Hiểu công dụng của các loại dấu
ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu haichấm
-Biết cách sử dụng các dấu trên khiviết câu
-Biết các lỗi và cách sửa khi sửdụng các dấu trên
-Giải thích đợc cách sử dụng các loại dấungoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu hai chấmtrong văn bản
-Nhận biết và bớc đầu phân tích đợcgiá trị của các biện pháp tu từ trêntrong văn bản
-Biết cách sử dụng các biện pháp tu
từ trên trong những tình huống nói,viết cụ thể
-Nhận biết đợc câu thể hiện hành động nói vàmục đích của hành động nói ấy trong văn bản
Trang 6- Hội thoại
xúc-Biết cách thực hiện mỗi hành độngnói bằng kiểu câu phù hợp
-Hiểu thế nào là vai xã hội tronghội thoại
-Hiểu thế nào là lợt lời và cách sửdụng lợt lời trong giao tiếp
-Xác định đợc vai xã hội, chọn cách nói phùhợp với vai xã hội trong khi tham gia hộithoại
-Biết tôn trọng lợt lời ngời khác, biết dùng lợtlời hợp lí khi tham gia hội thoại
Lớp 9
Từ vựng
- Các lớp từ -Hiểu thế nào là thuật ngữ-Biết cách sử dụng thuật ngữ, đặc
biệt trong văn bản khoa học-Biết các lỗi thờng gặp và cách sửalỗi dùng thuật ngữ
-Hiểu nghĩa và biết cách sử dụng từHán Việt thông dụng
-Nhớ đặc điểm và chức năng của thuật ngữ-Biết vai trò của các từ mợn trong việc tạo cácthuật ngữ tiếng Việt
-Nhận biết và biết cách tìm nghĩa của thuậtngữ đợc sử dụng trong các văn bản
-Hiểu nghĩa, cách sử dụng các từ Hán Việt
đ-ợc chú thích trong các văn bản-Biết nghĩa 50 yếu tố Hán Việt thông dụngxuất hiện nhiều trong các văn bản học ở lớp 9
từ cơ bản của tiếng Việt: phát triểnnghĩa của từ trên cơ sở nghĩa gốc,phơng thức ẩn dụ và phơng thứchoán dụ, mợn từ ngữ nớc ngoài, tạo
từ ngữ mới-Biết cách trau dồi vốn từ-Biết các lỗi thờng gặp và cách sửalỗi dùng từ trong nói, viết
-Hiểu rõ nghĩa của từ và biết cách sử dụng từ
đúng ý nghĩa, đúng phong cách, phù hợp với
đối tợng giao tiếp, mục đích giao tiếp
-Nhận biết và hiểu tác dụng củakhởi ngữ và các thành phần biệt lậptrong văn bản
-Biết cách sử dụng khởi ngữ và cácthành phần biệt lập trong nói, viết
-Nắm đợc điểm, tác dụng duy trì quan hệ giaotiếp trong hội thoại của khởi ngữ và các thànhphần biệt lập
-Biết cách tạo câu có khởi ngữ và các thànhphần biệt lập
-Nhận biết và hiểu tác dụng của nghĩa tờngminh và hàm ý trong văn bản
-Biết điều kiện sử dụng hàm ý liên quan đếnngời nói (viết), ngời nghe (đọc)
Hoạt động
giao tiếp -Hiểu thế nào là các phơng châmhội thoại
-Biết vận dụng các phơng châm hộithoại vào thực tiễn giao tiếp
-Biết cách xng hô trong hội thoại-Hiểu thế nào là cách dẫn trực tiếp
và cách dẫn gián tiếp-Nhận biết và hiểu tác dụng củacách dẫn trực tiếp, gián tiếp trongcác văn bản
-Biết chuyển đổi câu theo lối dẫntrực tiếp và gián tiếp
-Biết tuân thủ các phơng châm hội thoại-Nhận biết và sửa đợc các lỗi vi phạm các ph-
ơng châm hội thoại-Biết các từ ngữ xng hô và sử dụng chúng phùhợp với đối tợng và tình huống giao tiếp
II Định hớng dạy kiểu bài LTNN
I Kiểu bài từ ngữ
1 Mục đích:
- Chính xác hoá vốn từ: sử dụng vốn từ đã có một cách chính xác trong những ngữ cảnh giao tiếp
cụ thể (bức xúc/bức tử, quá độ/quá bộ, hồn nhiên/thản nhiên…).)
Trang 7- Phong phú hoá vốn từ: làm giàu vốn từ (văn: văn hoá, văn minh, văn vật, văn hiến, văn minh, văn
nghiệm sống và tâm t ớc vọng của nhân dân ta (Đây là chỗ dễ nhầm lẫn thành ngữ với tục ngữ, tức
là ranh giới giữa chúng khá mơ hồ, mong manh)
a Về lí thuyết:
- Tục ngữ là những phán đoán tơng đối hoàn chỉnh (câu hoàn chỉnh) Ví dụ: Một con ngựa đau cảtàu bỏ cỏ/Tốt gỗ hơn tốt nớc sơn/Một trăm gầu tát không bằng một bát nớc ma/Buôn tàu bán bèkhông bằng ăn dè để dụm/Một nghìn tiền công không bằng một đồng tiền thởng/Đợc tiếng khen
ho hen chẳng còn/Uống nớc nhớ nguồn/Ăn quả nhớ kẻ trồng cây…)
- Thành ngữ là những cụm từ cố định tơng đơng với từ, đợc dùng nh một từ có sẵn trong kho từvựng Ví dụ: Mẹ tròn con vuông/Đem con bỏ chợ/Ăn cháo đá bát/Mèo mả gà đồng/Chuột chạycùng sào/Chó cắn áo rách/Đầu voi đuôi chuột/Tay xách nách mang/Mặt xanh nanh vàng/Tát nớctheo ma/ Trộm nhảy qua rào/Múa tay trong bị…)
b Trong thực tế:
Có hiện tợng nhập nhằng, khó xếp vào tục ngữ hay thành ngữ Ví dụ: Lời nói đọi máu/Lờinói gói vàng/Chị ngã em nâng/Lá lành đùm lá rách/Hàng thịt nguýt hàng cá/Chó tha đi mèo thalại/Ông nói gà bà nói vịt/Đủng đỉnh nh chĩnh trôi sông/Lừ đừ nh ông từ vào đền/Rau nào sâuấy/Giỏ nhà ai quai nhà nấy…)
c Giải pháp: Phải căn cứ vào ngữ cảnh sử dụng: dùng trong câu nh một đơn vị tơng đơng với từ làthành ngữ, dùng độc lập nh một câu là tục ngữ
2 Cách dạy:
a Đối với nhóm bài về cấu tạo từ (từ đơn, từ phức):
- Dựa vào đơn vị “tiếng” để hớng dẫn HS hình thành khái niệm từ đơn, từ phức
- Dựa vào quan hệ ngữ nghĩa giữa các “tiếng” để hớng dẫn HS hình thành khái niệm từ ghép
- Dựa vào quan hệ ngữ âm giữa các “tiếng” để hớng dẫn HS hình thành khái niệm từ láy
- Dựa vào tổ chức ý nghĩa của từ ghép để hớng dẫn HS nhận diện từ ghép đẳng lập và từ ghépchính phụ
- Dựa vào tổ chức ý nghĩa của từ láy để hớng dẫn HS phân biệt từ láy tăng nghĩa và từ láy giảmnghĩa Ngoài ra còn rất nhiều từ láy có ý nghĩa biểu trng chỉ có thể hiểu bằng trực cảm ngôn ngữ,rất khó cắt nghĩa một cách thật gẫy gọn
b Đối với nhóm bài về nghĩa của từ ngữ:
- Dựa vào mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của từ để hớng dẫn HS hiểu nghĩa của từ có 3
đặc điểm là: tính qui ớc, tính sẵn có, tính bắt buộc
- Dựa vào ngữ cảnh để hớng dẫn HS nhận biết tính nhiều nghĩa và hiện tợng chuyển nghĩa của từ
- Dựa vào mối quan hệ so sánh về ý nghĩa để hớng dẫn HS nhận biết các hiện tợng đồng âm, đồngnghĩa, trái nghĩa
- Dựa vào phạm vi sử dụng để giúp HS nhận biết các lớp từ: toàn dân, địa phơng, biệt ngữ xã hội,thuật ngữ
- Dựa vào khả năng định danh và tính hình tợng của thành ngữ để hớng dẫn HS thấy đợc giá trịthẩm mĩ của thành ngữ
- Dựa vào mối quan hệ liên tởng giữa nhận thức với đời sống để hớng dẫn HS nhận biết từ tợngthanh, từ tợng hình
c Đối với nhóm bài về tính hệ thống của từ ngữ:
- Dựa vào mối quan hệ giữa t duy (nhận thức) với ngôn ngữ để hớng dẫn HS hiểu bản chất về “Cấp
độ khái quát của nghĩa từ ngữ”
- Dựa vào tính hệ thống của ngôn ngữ để hớng dẫn HS hiểu bản chất về “Trờng từ vựng”
- Dựa vào mối quan hệ giữa sự phát triển của xã hội, sự phát triển của nhận thức để hớng dẫn HSthấy đợc sự phát triển của từ vựng là một qui luật tất yếu; do đó muốn tồn tại, mỗi cá nhân cầnphải thờng xuyên trau dồi vốn từ cho bản thân
II Kiểu bài ngữ pháp
1 Mục đích:
Trang 8- Bớc đầu rèn luyện năng lực t duy trừu tợng cho HS thông qua việc tổ chức các đơn vị ngôn ngữ(cụ thể) thành các đơn vị ngữ pháp (trừu tợng).
- Bớc đầu giúp HS thấy đợc khả năng hoạt động vô tận của các đơn vị ngôn ngữ trong những môhình có hạn của ngữ pháp
- Bớc đầu giúp HS thấy đợc mối quan hệ giữa cái “bất biến” (mẫu chuẩn) với cái khả biến (nhữngbiến thể) của ngữ pháp – Tức là vợt qua nguyên tắc ngữ pháp “trật tự từ và h từ” của tiếng Việt
2 Nhiệm vụ:
Cung cấp các hiểu biết về các hình thái chức năng của từ (từ loại) và các mô hình cấu trúcngôn ngữ (cụm từ, câu, các thành phần chính và các thành phần phụ của câu) Các kiến thức vềchức năng và mô hình ngữ pháp có đặc điểm:
- Dựa vào chức năng và khả năng kết hợp của từ để hớng dẫn HS nhận biết về cụm từ
- Dựa vào mối quan hệ giữa nhận thức và giao tiếp để hớng dẫn HS nhận biết các mô hình về câu.III Kiểu bài về các biện pháp tu từ:
1 Mục đích:
- Thấy đợc mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ giao tiếp và ngôn ngữ hình tợng
- Tờng minh hoá quan niệm “tiếng là bộ mặt của văn” qua các biện pháp tu từ về từ và tu từ về câu
- Thấy đợc sự phát tiển tơng tác giữa ngôn ngữ giao tiếp và ngôn ngữ nghệ thuật (tín hiệu giao tiếp
- Hớng dẫn HS phân tích và khai thác triệt để các ngữ liệu trong sách giáo khoa
- Chuẩn bị thêm một hệ thống bài tập thực hành bổ trợ phong phú và có giá trị nghệ thuật cao
IV Kiểu bài ngữ dụng:
1 Mục đích:
- Thấy đợc ý nghĩa và tầm quan trọng của hiệu quả giao tiếp bằng ngôn ngữ đối với con ngời
- Thấy đợc khả năng biểu đạt phong phú và khả năng thuyết phục của hoạt động giao tiếp bằngngôn ngữ
- Hớng dẫn HS phân tích và khai thác triệt để các ngữ liệu trong sách giáo khoa
- Chuẩn bị thêm một hệ thống bài tập thực hành phong phú và gần gũi với đời sống hằng ngày củahọc sinh nh: chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi…)
Có một số em học sinh thắc mắc rằng trong ví dụ trên thì “hàng râm bụt” mà “thắp” lên
đ-ợc “lửa hồng” phải là “nhân hoá”, chứ không thể là “ẩn dụ” đđ-ợc! Không ít giáo viên đã lúng túngtrong trờng hợp này Theo chúng tôi, đây là hiện tợng “liên tởng kép” mà giáo viên cần giải thíchcho học sinh biết để các em có một cái nhìn linh hoạt hơn về các biện pháp tu từ ngữ nghĩa; cụthể: “thắp” là ẩn dụ chỉ “hoạt động cách mạng mà khởi đầu là việc ra đi tìm đờng cứu nớc củaBác”, “lửa hồng” là ẩn dụ chỉ “ánh sáng của t tởng Hồ Chí Minh”; đồng thời việc gán cho “hàngrâm bụt” những thuộc tính hoạt động và phẩm chất của con ngời cũng chính là biện pháp nhânhoá Nói cách khác, liên tởng bậc 1 là “ẩn dụ”, bậc 2 là “nhân hoá”; cả hai cộng hởng để tạo nênmột hình tợng “lửa hồng” đa nghĩa: ánh sáng t tởng, ánh sáng lí tởng, ánh sáng chân lí, sự bất tử,ngọn lửa ấm áp của tình đồng chí, tình cảm dân tộc, tình cảm quê hơng, tình bạn, quê hơng cáchmạng, cội nguồn cách mạng, màu hồng của lá quốc kì, màu hồng của máu Giả định nếu chỉ cómột nghĩa duy nhất (đơn nghĩa tuyệt đối) thì ngôn ngữ nghệ thuật liệu có gì khác với ngôn ngữ
giao tiếp? Hơn nữa, trong giao tiếp hằng ngày, chúng ta cũng thờng gặp cách gọi tên kiểu nh: rắn/
Trang 9sọc da, chim/ bạc má, bình gốm/ màu da lơn, chén đất nung/ màu gan gà Thật ra, “rắn sọc da”
là một trong những cách gọi tên theo phơng thức liên tởng kép, cụ thể: so sánh ngầm về sự giống
nhau giữa hình thức của một loại rắn với hình thức của một loại da (ẩn dụ), sau đó dùng đặc điểm
về hình thức của con rắn để gọi tên nó (hoán dụ) Liên tởng kép là một phơng thức tơng đối phổbiến, chính nó đã góp phần tạo nên tính đa nghĩa và tính bất ngờ thú vị cho các hình tợng nghệthuật; nhng ranh giới giữa chúng đôi khi khá mơ hồ và do đó gây không ít khó khăn cho việc phântích những trờng hợp cụ thể, chẳng hạn nh trờng hợp vừa dẫn ở trên
2 Làm thế nào để phân biệt các câu có chứa từ “bị, đợc” là câu bị động hay không phải câu bị
Câu có chứa “bị, đợc” phải thoả mãn đồng thời hai yêu cầu:
+ Sau “bị, đợc” phải có một kết cấu c-v (ngời ta/phá đi, thầy giáo/ khen), trong kết cấu c-v này cóthể lợc bỏ v (Ngôi nhà bị phá đi/Lan đợc khen)
+ Vị ngữ của kết cấu c-v phải là động từ ngoại động (có bổ ngữ đối tợng)
3 SGK Ngữ văn 7, tập 2, trang 64, có nêu ví dụ về cách chuyển đổi câu chủ động thành câu bị
động:
a Cánh màn điều treo ở đầu bàn thờ ông vải đã đợc hạ xuống từ hôm “hoá vàng”.
b Cánh màn điều treo ở đầu bàn thờ ông vải đã (0) hạ xuống từ hôm “hoá vàng”
* Câu (b) là câu bị động lợc bỏ từ “đợc” (vị trí 0), nhng thể bị động không thay đổi Tơng tự, ta có
thể gặp: Cơm đã đợc dọn ra/Cơm đã (0) dọn ra; Pháo đã đợc kéo vào trận địa/Pháo đã (0) kéo vào
trận địa Tuy nhiên cần chú ý:
(1) Không phải trờng hợp nào cũng có thể lợc bỏ từ “đợc” Ví dụ: Lan đợc thầy giáo khen/ Cơm đợc dọn ra/Pháo đợc kéo vào trận địa/Trờng đợc nhà nớc tặng Huân chơng
(2) Cần phân biệt sắc thái ý nghĩa của hai từ “đợc” và “bị” để thấy rằng không phải khinào cũng có thể lợc bỏ hoặc thay thế chúng một cách tuỳ tiện Ví dụ:
- Lan đợc thầy giáo nhắc nhở (sắc thái tích cực)/Lan bị thầy giáo nhắc nhở (sắc thái tiêu cực)
- Cánh màn điều đã bị hạ xuống (Nếu lợc bỏ từ “bị” thì sắc thái của câu sẽ thay đổi, tức là thái
độ của chủ thể phát ngôn cũng thay đổi)
Hoặc với hai câu: Lan đợc thầy giáo khen/Trờng đợc nhà nớc tặng Huân chơng; nếu lợc bỏ
từ đợc, chúng ta có: Lan thầy giáo khen/Trờng nhà nớc tặng Huân chơng; trong trờng hợp này các
ngữ “thầy giáo khen” và “nhà nớc tặng Huân chơng” có thể trở thành định ngữ trong hai câu sau:
- Lan thầy giáo khen // là cán sự Toán của lớp 7A.
- Trờng nhà nớc tặng Huân chơng // là trờng chuẩn Quốc gia.
Tóm lại, trong thực tế, chúng ta có thể gặp dạng câu bị động (b), nhng nên nhớ đó khôngphải là dạng câu bị động điển hình
4 Hiện nay chơng trình, SGK tiếng Việt THCS chọn đơn vị nào làm căn cứ để phân loại từ theo
cấu tạo? Ưu điểm và nhợc điểm của việc lựa chọn đơn vị ấy? Nêu những vấn đề cần lu ý khi dạyphân loại từ theo cấu tạo ở THCS
- Phù hợp với đặc điểm đơn lập của tiếng Việt
- Phù hợp với khả năng nhận biết, ghi nhớ, viết chính tả của ngời bản ngữ
- Phù hợp với đặc điểm t duy cụ thể của HS THCS
(2) Nhợc điểm:
- Gây khó khăn trong việc phân loại một số từ nh: từ vay mợn tiếng ấn-Âu (ra-đi-ô,pê-ni-xê-lin, ma-két-tinh…).), từ ghép ngẫu kết (mặc cả, bồ hóng, bù nhìn, bồ kết, tắc kè,ễnh ơng…).), từ láy giả (ba ba, chuồn chuồn, thuồng luồng, cào cào…).)
(II) Những vấn đề cần lu ý:
Trang 10(1) Không đa các từ ghép ngẫu kết và từ vay mợn làm ngữ liệu để hình thành khái niệm khidạy học Ví dụ: bồ kết, bồ hóng, bù nhìn, mặc cả, tắc kè, ễnh ơng, mắc cọt, ác là, chão chuộc, chèobẻo, bồ các, mồ hôi…)., a-pa-tít, pô-pơ-lin, in-tơ-nét, ma-két-tinh, ra-đi-ô…).
(2) Nếu các tiếng trong từ vừa có quan hệ về âm, vừa có quan hệ về nghĩa thì u tiên nghĩa,gọi là từ ghép Ví dụ: đi đứng, tơi tốt, buôn bán, mặt mũi, hốt hoảng, nhỏ nhẹ, học hỏi, hoa hồng,cá cơm, cá cảnh, đền đài, đất đai, ruộng rẫy, chùa chiền…)
(3) Các từ có quan hệ về âm nhng không xác định đợc hình vị gốc vẫn xếp vào từ láy (bản
chất là các từ đơn đa âm) Ví dụ: chuồn chuồn, cào cào, ba ba, chôm chôm, thuồng luồng…).
(4) Một số từ có quan hệ về âm nhng đợc viết bằng các con chữ khác nhau vẫn gọi là từláy (thực ra là phụ âm /k/ đợc ghi bằng 3 con chữ: c, k, q) Ví dụ: cò kè, ki cóp, keo cú, cao kều,qui củ, quỉ kế, cong queo, cuống quýt, công kênh, cập kênh…)
(5) Một số từ mà các tiếng trong từ không có phụ âm đầu vẫn đợc xếp vào từ láy (chúng cóquan hệ hài thanh, tức là thanh điệu có cùng âm vực cao hoặc thấp Ví dụ: êm ái, êm ả, ấm áp, ấm
ức, ốm o, ầm ĩ, óc ách, inh ỏi, ồn ã, oai oái…)
(6) Không xếp từ Hán Việt vào từ láy Ví dụ: mĩ mãn, lục tục, tinh tú, bao biện, nhũngnhiễu, nhã nhặn, lẫm liệt, hội hoạ, thi th, hải hà, biên niên, bức bách, lí luận, lao lung, lao lí, thấtthố, ban bố…)
5 Tại sao trong tiếng Việt có nhiều hiện tợng nhập nhằng nh vậy? Nêu cách khắc phục hiện tợngấy?
Gợi ý:
Trớc hết cần phải nói rằng, hiện tợng lỡng khả (nhập nhằng: vừa là A, vừa là B hoặc khi là
A, khi là B…).) là một trong những nhân tố làm nên vẻ đẹp của ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nóiriêng Tuy nhiên, đối với học sinh phổ thông (tiểu học và THCS) thì hiện tợng này có gây ra nhữngkhó khăn trở ngại nhất định Chẳng hạn việc phân biệt giữa từ đơn đích thực với từ đơn đa âm, giữa
từ láy đích thực với từ láy giả, giữa từ láy với từ ghép, giữa từ ghép với cụm từ tự do, giữa thực từ(danh từ, động từ, tính từ) với các h từ (trợ từ, thán từ, tình thái từ), giữa thành phần chính với cácthành phần phụ, thành phần biệt lập của câu…) không phải bao giờ cũng tờng minh theo kiểu “hainăm rõ mời”; do đó SGK Ngữ văn luôn nhắc nhở chúng ta là “phải dựa vào văn cảnh và hoàn cảnhgiao tiếp” để xử lí thoả đáng các hiện tợng đó Nói “xử lí thoả đáng” tức là muốn nói đến một “giảipháp s phạm” vận dụng trong một tiết học, bài học, lớp học, bậc học cụ thể; giải pháp s phạm ấy
có thể tạm thời vi phạm “nguyên tắc khoa học”, nhng trớc mắt, nó lách qua tính “hàn lâm” rắc rối
để đạt tới sự giản dị, dễ hiểu, phù hợp với nhận thức của lứa tuổi học sinh Ví dụ: các từ “ba ba,cào cào, chuồn chuồn, chôm chôm, thuồng luồng…).” vốn không phải là từ láy, thậm chí nó rất xalạ với từ láy (thực chất nó chỉ là những từ định danh nh: nhà, xe, biển, trời, tàu, thuyền…).); nhng
“giải pháp s phạm” cho phép coi chúng là từ láy, sau này học cao lên, học sinh sẽ hiểu bản chấtcủa vấn đề Hoặc các tổ hợp “tổ ong”, “tai voi”, “vi tính”…) ợc coi là từ ghép thì cũng phải thừa đnhận các tổ hợp “than tổ ong, quạt tai voi, máy vi tính”…) là từ ghép thôi! Nếu bắt bẻ “tổ ong” chỉ
là cụm từ, trong đó “tổ” là danh từ trung tâm, còn “ong” là định ngữ (giống nh: tổ kiến, tổ chim, tổmối…).) thì chúng ta sẽ đẩy học sinh vào một cái “mê hồn trận hàn lâm” bế tắc tuyệt đối! Hoặc câu
“Khi mặt trời lặn, chúng tôi lên đờng”, chúng ta thừa nhận đây là câu đơn có trạng ngữ nh sau:
a Trạng ngữ “Khi mặt trời lặn” có cấu tạo là một cụm danh từ, trong đó:
- Khi: danh từ trung tâm
- mặt trời lặn: cụm C – V làm định ngữ
b Nòng cốt câu: chúng tôi lên đờng
Nhng lại có ý kiến phản bác và cho rằng đây là câu ghép Giải pháp s phạm coi đây là câu
đơn có trạng ngữ Hoặc một câu khác: “Tiếng suối chảy róc rách” Có hai ý kiến:
a Phân tích câu nh sau: Tiếng suối // chảy róc rách (hai vạch song song phân định thành phần chủngữ và thành phần vị ngữ)
b Phân tích câu nh sau: Tiếng suối chảy // róc rách
Về lí thuyết mà nói thì “trong một ngữ đoạn (tổ hợp từ, cụm từ), khi có động từ và tính từ
đi liền nhau thì bao giờ động từ cũng là trung tâm và tính từ làm bổ ngữ cho động từ”, ví dụ:
- chảy róc rách/róc rách chảy
- trôi lững lờ/lững lờ trôi
- đi thong thả/thong thả đi
- chạy vội vàng/vội vàng chạy
- nói khe khẽ/khe khẽ nói
Trang 11
6 Khi định nghĩa về “từ” và “tiếng”, SGK Ngữ văn 6, tập 1, viết: “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất
dùng để đặt câu Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ Từ chỉ gồm một tiếng là từ đơn Từ gồm hai hoặcnhiều tiếng là từ phức…).”; vậy thì có thể căn cứ vào dấu hiệu nào để phân biệt “tiếng” với “từ
- Từ “bàn” có nghĩa là: sự vật nhân tạo, làm bằng nguyên liệu rắn, có mặt phẳng cách mặt nềnbằng độ cao của chân (bốn chân, hai chân, một chân), dùng để đặt đồ đạc, viết lách, tiếp khách…)./
Về cấu tạo, “bàn” là từ đơn/Về từ loại, “bàn” là danh từ…)
- Từ “ghế” có nghĩa là: sự vật nhân tạo, làm bằng nguyên liệu rắn, có mặt phẳng cách mặt nềnbằng độ cao của chân (bốn chân, hai chân, một chân), có hoặc không có tựa lng và tay ngai, dùng
để ngồi…)./Về cấu tạo, “ghế” là từ đơn/Về từ loại, “ghế” là danh từ…) (Xem thêm câu 9)
* Có tác giả cho rằng trong tiếng Việt có 3 phơng thức cấu tạo từ là:
(1) Phơng thức từ hoá hình vị: Tác động vào một hình vị để biến nó thành một từ mà không cầnphải thêm bớt gì vào hình thức ngữ âm của nó, đó là các từ đơn Ví dụ: nhà, bàn, đi, xanh…)
(2) Phơng thức ghép hình vị: Tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị, làm cho chúng kết hợp vớinhau và mang đầy đủ những đặc điểm về ý nghĩa và ngữ pháp của một từ, đó là các từ ghép Ví dụ:nhà cửa, quần áo, xe đạp, máy khâu, thuốc ho…)
(3) Phơng thức láy hình vị: Tác động vào một hình vị gốc, làm cho hình vị đó sản sinh một hoặchơn một hình vị láy (giống hình vị gốc toàn bộ hoặc bộ phận), cả hình vị gốc và hình vị láy tạothành một chỉnh thể mang đầy đủ những đặc điểm về ý nghĩa và ngữ pháp của một từ, đó là các từláy Ví dụ: xanh xanh, đẹp đẽ, lạnh lùng…)
(Xem Đỗ Hữu Châu: “Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt”
NXB GD HN, 1981)
Nh vậy, nếu coi tiếng = hình vị, ta có hai bậc đơn vị ngôn ngữ là:
a Bậc 1: tiếng (hình vị) là đơn vị gốc để cấu tạo nên từ đơn, từ ghép, từ láy
b Bậc 2: từ, trong đó:
- Từ đơn là sản phẩm của phơng thức từ hoá hình vị
- Từ ghép là sản phẩm của phơng thức ghép hình vị
- Từ láy là sản phẩm của phơng thức láy hình vị
7 Các từ ghép nh “nhà cửa, quần áo, xăng dầu, đi đứng, cời nói, đen trắng, lớn nhỏ…).” có thể nói
là do hai từ đơn có nghĩa ghép lại với nhau đợc không? Tại sao?
Gợi ý:
Không thể nói là do hai từ đơn ghép lại đợc, vì:
- Thứ nhất, tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ
- Thứ hai, khi ghép các từ với nhau sẽ có cụm từ, tức là các từ ghép trên sẽ phải trở về dạng: nhà và cửa, quần và áo, xăng và dầu…).
* Từ đơn là những từ một hình vị Về mặt ngữ nghĩa, chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ.
Đại bộ phận các từ đơn thuần Việt hay đã Việt hoá là từ đơn một âm tiết (âm tiết = tiếng).Các từ đơn một âm tiết tuy có số lợng không lớn lắm song mang những đặc trng ngữ nghĩa chủ yếucủa từ vựng tiếng Việt Với những đặc trng ngữ nghĩa đó, chúng sẽ đợc dùng để cấu tạo hàng loạt
từ phức (dĩ nhiên lúc này chúng là hình vị, không còn t cách từ nữa )
(Đỗ Hữu Châu Sách đã dẫn)
Nh vậy, “tiếng” có thể “từ hoá” thành “từ đơn” và cũng có thể tạm thời từ bỏ “t cách từ
đơn” để trở về làm “tiếng” trong từ ghép, từ láy Quá trình này diễn ra thờng xuyên, liên tục; nhngvô cùng mơ hồ, do đó chúng ta chỉ có thể nhận thức bằng t duy trừu tợng chứ không thể tri giác đ-ợc
8 Nói “Nghĩa của từ là nội dung mà từ biểu thị”, nhng có nhiều từ không biểu thị nội dung nào cả,
nh “và, với, cùng…)., đã, sẽ, đang…).” chẳng hạn thì có gì mâu thuẫn với định nghĩa không?
Gợi ý:
Nh câu trên đã trình bày, ở bậc 1, chúng ta có 3 loại hình vị (tiếng):
a Hình vị có ý nghĩa từ vựng xác định (nhà, bàn, đi, xanh…).)
b Hình vị không có ý nghĩa từ vựng xác định (và, với, cùng, đã, sẽ, đang…).)
Trang 12c Hình vị biên: chỉ kết hợp với một số hình vị nhất định để tạo thành từ ghép và không kết hợp với
các hình vị nào khác nữa (róm trong sâu róm, xít trong bọ xít, nẹt trong bọ nẹt, hâu trong diều hâu, hấu trong da hấu…).)
Khi đi qua cơ chế cấu tạo từ theo phơng thức “từ hoá hình vị”, hai loại hình vị (a) và (b) sẽsản sinh ra các từ đơn có ý nghĩa từ vựng xác định (thực từ) và các từ đơn không có ý nghĩa từvựng xác định (h từ) Các từ đơn không có ý nghĩa từ vựng xác định, nhng vẫn có ý nghĩa ngữ pháp
và chúng đợc coi là các từ công cụ, tức là vẫn có một “nội dung” nào đó nhất định
Ví dụ:
- đã: thờng có dấu hiệu ý nghĩa chỉ “thời quá khứ”: đã đi Hà Nội
- đang: thờng có dấu hiệu ý nghĩa chỉ “thời hiện tại”: đang đi Hà Nội
- sẽ: thờng có dấu hiệu ý nghĩa chỉ “thời tơng lai”: sẽ đi Hà Nội
Nói cách khác, hiểu theo nghĩa rộng, định nghĩa trên không có gì mâu thuẫn cả
9 Khi nói “ẩn dụ chỉ có vế B, còn vế A bị lợc bỏ” thì đối với các ví dụ về “so sánh” có thể lợc bỏ
vế A để gọi là “ẩn dụ” đợc không? Tại sao?
Gợi ý:
Trong Toán học có một “chân lí” xanh rờn tới muôn đời mà ai ai cũng biết là: “Hai góc đối
đỉnh thì bằng nhau, nhng hai góc bằng nhau cha chắc đã đối đỉnh!” Dẫu biết rằng mọi sự so sánh
đều khập khiễng, nhng đôi khi chúng ta chẳng có cách diễn đạt nào có thể hay hơn đợc phép…) sosánh! Chẳng hạn nh câu hỏi trên, có thể nói “ẩn dụ là so sánh đã lợc bỏ vế A, nhng lợc bỏ vế Acủa so sánh cha chắc đã là ẩn dụ!”
Ví dụ về ẩn dụ:
- Thuyền về có nhớ bến chăng / Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
- Con cò ăn bãi rau răm / Đắng cay chịu vậy đãi đằng cùng ai
- Gió đa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu lời đắng cay
…)
Vế B trong các ẩn dụ trên là: thuyền, bến, con cò, rau răm, cây cải, rau răm Thông qua
liên tởng, ngời đọc có thể tìm ra mối liên hệ giữa vế B ấy với một đối tợng hoặc thuộc tính, tâmtrạng nào đó trong đời sống tinh thần của con ngời Các ẩn dụ này xuất hiện và ngay lập tức nó đãmang tính “lịch sử”, nghĩa là không thể sửa chữa, thêm bớt đợc nữa (trừ các dị bản) Tuỳ thuộc vàotrình độ, vốn sống, năng khiếu…) mà mỗi ngời có quyền hiểu cái B ấy là gì? Tại sao?
Ví dụ về so sánh:
- Thân em nh ớt trên cây / Càng tơi ngoài vỏ càng cay trong lòng
- Đôi ta gặp đợc nhau đây / Nh con bò gầy gặp bãi cỏ hoang
- Anh em nh thể chân tay / Dại khôn cũng một mẹ thầy sinh ra
Các so sánh này cũng mang tính “lịch sử”, nghĩa là ta không thể tuỳ tiện bỏ vế A đi và bảorằng đó là ẩn dụ; chẳng hạn nếu bỏ “anh em” đi thì ta phải sáng tác lại sao cho “chân tay” có thểgiúp cho ngời đọc lần ra đợc mối liên hệ giữa “chân tay” với “anh em” và phù hợp với ý nghĩa củadòng thứ hai: “Dại khôn cũng một mẹ thầy sinh ra”! Thêm một so sánh nữa: sinh ra là con trai haycon gái cũng mang tính “lịch sử” rồi, không thể có chuyện con trai nuôi tóc dài chấm gót và mặcquần áo con gái để gọi là con gái đợc; ngợc lại con gái cũng không thể húi cua và mặc com lê đểgọi là con trai đợc!
10 Đề nghị nói thêm về cách phân biệt từ ghép với cụm từ tự do.
Gợi ý:
Từ trong tiếng Việt không biến đổi về hình thái, đó là một đặc điểm cơ bản về loại hình, nhng
đồng thời cũng là một nguyên nhân làm “đau đầu” những ai nghiên cứu và dạy học tiếng Việt.Bình thờng, khi dùng từ để giao tiếp (nói, viết), do “quán tính” về ngữ nghĩa và trong một ngữcảnh xác định, các nhân vật giao tiếp đều thông hiểu những điều cần trao đổi; do đó không mấy ailại căn vặn, chẳng hạn: “cơm rợu” là từ hay cụm từ?! Thế nhng, khi buộc phải “gọi tên” đơn vịngôn ngữ ấy ra thì chúng ta lại không thể trả lời nớc đôi đợc!
So sánh:
(1.a) Đổ cơm rợu vào nồi để nấu rợu/ (cơm rợu: chỉ một sự vật làm nguyên liệu nấu rợu = từ ghép)
(1.b) Dọn cơm rợu để mời khách/ (cơm + rợu = cụm từ)
(2.a) Anh mua bàn gỗ hay bàn đá? (bàn gỗ, bàn đá = từ ghép)
(2.b) Trong phòng học có rất nhiều bàn gỗ/ (bàn gỗ = cụm từ)
(3.a) Hàng trăm nữ sinh mặc áo dài đi đón khách/ (áo dài = từ ghép)
(3.b) áo dài so với chiều cao của cậu/ (áo dài = cụm từ)
(4.a) Năm nghìn một bông hoa hồng/ (hoa hồng = từ ghép)
(4.b) Hoa hồng có thể tạo ra cảm giác ấm cúng hơn hoa trắng/ (hoa hồng = cụm từ)
(5.a) Vua cha, vua con và thần dân trên dới một lòng/ (vua cha = cụm từ)
(5.b) Vua cha truyền ngôi cho Lang Liêu/ (vua cha = từ ghép)
(6.a) Tớng sĩ một lòng phụ tử/ (tớng + sĩ = tớng và sĩ = cụm từ)
Trang 13(6.b) Nếu phải chọn giữa tớng sĩ và thần dân thì ta sẽ chọn thần dân/ (tớng sĩ chỉ một loại
Ranh giới giữa từ ghép và cụm từ thờng khá mơ hồ, do đó khó mà giải thích cho ngời khác
“tâm phục khẩu phục” đợc, đây có thể coi là một trong những “vấn đề muôn thuở” của tiếng Việt.Kinh nghiệm để có một câu trả lời gần đúng là:
- Từ ghép thờng đợc dùng để chỉ một sự vật, sự kiện, hiện tợng nhất định; ý nghĩa của nó có tínhkhái quát, cấu trúc của nó chặt chẽ (không xen vào giữa hai tiếng một tiếng khác đợc) Còn cụm
từ thờng đợc dùng để miêu tả một sự vật, hiện tợng ; ý nghĩa cụ thể hơn; có thể xen các tiếngkhác vào giữa hai tiếng
+ Ví dụ (2.a): Chọn mua một trong hai sự vật cùng loại, cụ thể, có sự khác nhau về nguyênliệu, giá cả
+ Ví dụ (2.b): bàn gỗ = bàn làm bằng gỗ
- Ngoài ra, khi muốn xác định đợc từ ghép trong một văn bản cụ thể, chúng ta còn phải lu ý đếnmối quan hệ giữa chúng với các từ đơn và từ láy Ví dụ: thử “nhận diện” từ đơn, từ ghép, từ láytrong các đoạn văn hoặc văn bản sau:
a Một/ đêm/, chàng/ nằm mộng/ thấy/ thần/ đến/ bảo/:
- Trong/ trời đất/, không gì /quí/ bằng/ hạt gạo/ Chỉ có/ gạo/ mới/ nuôi sống/ con ngời/ và/ ăn/không/ bao giờ/ chán/ Các/ thứ khác/ tuy/ ngon/, nhng/ hiếm/, mà/ ngời/ không/ làm ra/ đợc Còn/lúa gạo/ thì/ mình/ trồng lấy/, trồng nhiều/ đợc nhiều Hãy/ lấy/ gạo/ làm bánh/ mà/ lễ/ Tiên vơng (Bánh chng, bánh giầy)
b Giặc/ đã/ đến/ chân/ núi/ Trâu Thế nớc/ rất/ nguy/, ngời ngời/ hoảng hốt/ Vừa/ lúc/ đó/, sứ giả/
đem/ ngựa sắt/, roi sắt/, áo giáp sắt/ đến Chú/ bé/ vùng dậy/, vơn vai/ một/ cái/ bỗng/ biến thành/một/ tráng sĩ/ mình/ cao/ hơn/ trợng/, oai phong/, lẫm liệt/ Tráng sĩ/ bớc/ lên/ vỗ/ vào/ môngngựa/ Ngựa/ hí/ dài/ mấy/ tiếng/ vang dội/ Tráng sĩ/ mặc/ áo giáp/, cầm/ roi/, nhảy/ lên/ mìnhngựa/ Ngựa/ phun/ lửa/, tráng sĩ/ thúc/ ngựa/ phi/ thẳng/ đến/ nơi/ có/ giặc/, đón đầu/ chúng/ đánhgiết/ hết/ lớp/ này/ đến/ lớp/ khác/, giặc/ chết/ nh/ rạ/ Bỗng/ roi sắt/ gãy/ Tráng sĩ/ bèn/ nhổ/những/ cụm tre/ cạnh đờng/ quật/ vào/ giặc/ Giặc/ tan vỡ/ Đám/ tàn quân/ giẫm đạp/ lên/ nhau/chạy trốn/, tráng sĩ/ đuổi/ đến/ chân/ núi/ Sóc/ (Sóc Sơn) Đến/ đấy/, một mình/ một ngựa/, trángsĩ/ lên/ đỉnh/ núi/, cởi/ giáp sắt/ bỏ lại/, rồi/ cả/ ngời/ lẫn/ ngựa/ từ từ/ bay/ lên/ trời/
(Thánh Gióng)
c Phố/ nhỏ/ Chiều/ nào/ cũng/ vậy/, ngời ta/ thấy/ một/ đôi/ vợ chồng/ già/ đa/ nhau/ đi/ dạo/ Bàcụ/ tóc/ bạc phơ/ ngồi/ trên/ chiếc/ xe lăn/, nét mặt/ vô cảm/, đôi/ chân/ teo tóp/ Ông lão/ đẩy/ xe/nhẹ nhàng/, tấm/ lng/ còng/ xuống/ nh/ đang/ chống chọi/ với/ cả/ gánh nặng/ cuộc đời/!
Cũng/ một/ chiều/ nh/ vậy/, khi/ hoàng hôn/ đã/ rủ/, trời/ se lạnh/ làm/ ta/ có/ cảm giác/
đơn côi/ muốn/ thật/ nhanh/ trở về/ tổ ấm/ Ông lão/ đa/ bà cụ/ đi/ đợc/ mấy/ vòng/ đã/ định/ về/nhà/ kẻo/ lạnh/, chợt/ nghe/ tiếng/ đàn/ bập bùng/ với/ giọng/ hát/ khê nồng/ đang/ tiến/ lại/ gần/.Cha con/ ngời/ hát xẩm/ Ngời cha/ còn/ trẻ/ nhng/ trông/ tàn tạ/, cặp/ kính đen/ trên/ mắt/ đang/
dò dẫm/ từng/ bớc/ theo/ dây dẫn/ của/ đứa/ con gái/ Chiếc/ đàn/ ghi ta/ cũ/, bộ/ loa/ cũ/ và/giọng/ ca/ cũng/ cũ/ “Đi/ về/ đâu/ hỡi/ em/? Khi/ trong/ lòng/ không/ chút/ nắng/! ” Đứa/ congái/ nhỏ gầy/ mặc/ bộ/ đồ/ rộng/ thùng thình/, nhem nhuốc/, chiếc/ loa/ lặc lè/ bên/ hông/ Em/ đi/phía/ trớc/, cha/ đi/ phía/ sau/, dây loa/ cũng/ là/ sợi dây/ để/ dẫn/ cha/ đi theo/ mình/ Vừa/ đi/ em/vừa/ chìa/ mũ/ ra/ để/ xin/ tiền Gặp/ bất kì/ ai/ em/ đều/ xin/ Đến/ bất cứ/ quán/ nào/, em/ cũng/rẽ/ vào/ Nhẫn nhục/ và/ cam chịu/!
Khi/ đến/ trớc/ mặt/ bà lão/, em/ cũng/ chìa/ mũ/ ra/ xin/ theo/ thói quen/, bởi/ trái tim/ nonnớt/ của/ em/ đã/ cảm nhận/ đợc/ gì/ đâu/! Chỉ/ thấy/ bà lão/ bàn tay/ run run/ lần sờ/ trong/ túi
áo/, tìm/ mãi/ đợc/ hai/ tờ/ 500đ/ đã/ cũ nát/, nâng niu/ đặt/ vào/ mũ/ em/ Nét mặt/ bà/ chứa chan/niềm/ thơng cảm/!
Ông lão/ lặng/ đi/ hồi lâu/ Từ/ khoé mắt/ già nua/, hai/ giọt lệ/ rơi/ xuống/ vai áo/ bà! (Xuân Đoàn: “Lòng trắc ẩn” – Viết ngắn Báo GD&TĐ Số 12/ 27.1.2007)
* Vạch chéo (/) là ranh giới giữa các từ
Tuy nhiên, ngay cả khi đã thừa nhận các đơn vị ngôn ngữ nào đó là từ ghép thì chúng ta lại có thểgặp phải một khó khăn khác, đó là tính không ổn định về cấu trúc và ngữ nghĩa của chúng Ví dụ: a
- Nhóm có mẫu “A và B nói chung”: áo quần, sách vở, cây cỏ, điện máy, xăng dầu…)
- Nhóm có mẫu “A giống nh B”: than tổ ong, than quả bàng, mắt lá răm, mũi dọc dừa, mặt chuộtkẹp…)
- Nhóm không có mẫu ổn định: sân bay, mát tay, thối mồm, to đầu, xấu bụng…)
- Nhóm có hình thức giống nhau nhng có thể không cùng một loại: hoa hồng, hoa vàng, hoa đỏ,hoa ban, hoa huệ, hoa cúc, hoa cúc dại, hoa hồng dại, hoa tơi, hoa khô, hoa héo, hoa giả, hoa thật,
Trang 14hoa giấy (hoa giấy tự nhiên , cánh mỏng màu hồng và hoa giả làm bằng giấy), hoa cái, hoa tai,
hoa văn, hoa mĩ, hoa lệ…)
- Nhóm có ý nghĩa ngữ dụng: tính đàn ông (khác nam tính), tính đàn bà (khác nữ tính), thuốc ho
(uống để không ho nữa), thuốc ngủ (uống để ngủ đợc), thuốc đỏ (không phải thuốc màu đỏ, mà làthuốc dùng để sát trùng)…)
- Nhóm có ý nghĩa ớc lệ: trăm năm, nghìn năm (nghĩa là: rất nhiều, suốt đời, muôn thuở…) Ví dụ:
trăm năm, trăm tuổi, trăm chồng/trăm năm quyết với tình em một lòng/nghìn năm vẫn phận má
hồng mong manh…), vài ba, dăm bảy, ba bốn (nghĩa là: rất ít, có giới hạn, không đáng kể Ví…)
dụ: vài ba ngời, vài ba hôm, dăm bảy ngày, ba bốn hôm…).)
- Nhóm có chức năng định danh: mái nhà, mái ngói, mái lá, tờng gạch, tờng đá, tờng hoa, sângạch, sân đất, sân gạch Bát Tràng, sàn nhà, sàn gỗ, sàn bê tông, sân chùa, sân đình, sân bóng, sânquần vợt, bóng trăng, bóng đèn, bóng ma, lá bàng, lá liễu, lá tràm, lá trầu, cây cam, cây chanh,cây mít, cá rô, cá thu, cá chép, chim ri, chim sẻ, chim sâu, thuyền nan, thuyền tôn, thuyền gỗ, nồi
đồng, nồi đất, nồi cơm điện…)
Do ranh giới giữa cụm từ và từ ghép khá mơ hồ, cho nên chúng ta cũng thờng gặp những câu
không thể khẳng định là câu đúng hay câu sai (cụ thể là có mắc lỗi diễn đạt hay không), mà đành
phải gọi là “câu mơ hồ”, chẳng hạn:
- Những em bé đang múa hát rất hay (múa hát/múa, hát?)
- Đó là những ngời viết lách rất giỏi.(viết lách/viết, lách?)
- Họ định đoạt lơng của ngời khác (định đoạt/định, đoạt?)
- Các đồng chí cứ thử thách tôi đi (thử thách/thử, thách?)
- Bác Nam sắp sửa chữa cái máy bơm (sắp sửa chữa/sắp, sửa chữa/sắp sửa, chữa?)
- Những con số không đáng có (con số 0 có ý nghĩa: trong một tập thể không có ai nghiện
hút/con số 0 đáng tiếc: trong một tập thể không có ai hoàn thành nhiệm vụ?)
- Chiếc thuyền không nhẹ lớt trên sông (thuyền không tải/thuyền vận hành ì ạch?)
- Xe không đợc rẽ trái (xe không tải/cấm rẽ trái?)
- Một sinh viên mới đi tới (sinh viên mới/sinh viên, mới?)
- Chúng tôi chỉ trích bài báo (chỉ trích/chỉ, trích?)
- Đây là thứ thuốc độc nhất (thuốc duy nhất/thuốc độc nhất?)
- Xe chuyên chở cá (xe chuyên dụng cho việc chở cá/xe vận tải cá?)
…)
b
Các nhóm từ sau đây là từ đơn, từ ghép hay từ láy? Tại sao?
(1) Nhóm từ: ba ba, chuồn chuồn, cào cào, châu chấu, chôm chôm, thuồng luồng, núc nác, quốc quốc, gia gia, chà là, chích choè, chão chuộc
- Cách 1 (dùng cho học sinh tiểu học): gọi là từ láy
- Cách 2 (ý kiến của đa số): gọi là từ đơn đa âm (hoặc từ láy giả), có chức năng định danh – tức
là gọi tên sự vật
* Bản chất: là các từ láy giả, tức là có hình thức giống nh từ láy nhng không phải từ láy đích thực
(2) Nhóm từ: bồ hóng, bồ kết, bọ nẹt, bọ xít, sâu róm, diều hâu, da hấu, bù nhìn, mặc cả, tre pheo (thực ra pheo có nghĩa), bếp núc ( núc có nghĩa), chó má ( má có“ ” “ ” “ ” nghĩa ), chợ búa, đ” ờng sá, ngời ngợm
- Cách 1 (dùng cho học sinh tiểu học): gọi là từ ghép
- Cách 2 (ý kiến của đa số): gọi là từ đơn đa âm
* Bản chất: là các từ ghép ngẫu hợp (ngẫu nhiên có hai tiếng ghép với nhau và chỉ có một trờnghợp duy nhất, ví dụ “hấu” chỉ ghép với “da”, ngoài ra không ghép với tiếng nào khác, trong khi đó
“da gang” có thể gặp ở “chảo gang, gang thép” – tất nhiên nghĩa của “gang” trong “da gang” và
“chảo gang” là khác nhau), trong đó có một tiếng bị h nghĩa hoặc mờ nghĩa Hoặc cả hai tiếng
đều đã bị h nghĩa nh: bồ hóng, bù nhìn, mặc cả
(3) Nhóm từ: bảo ban, bồng bế, đền đài, đất đai, đấu đá, đèn đuốc, ruộng rẫy, miếu mạo, chùa chiền, làm lẽ, làm lành
- Cách 1 (dùng cho học sinh tiểu học): gọi là từ láy
- Cách 2 (ý kiến của đa số): gọi là từ ghép
* Bản chất: là các từ ghép vì hai tiếng đều có nghĩa, sự trùng hợp về âm thanh giữa hai tiếng chỉmang tính ngẫu nhiên
(4) Nhóm từ: ngày ngày, ngời ngời, tối tối, sáng sáng, chiều chiều, đêm đêm, nhỏ nhỏ, bé bé, tím tím, đỏ đỏ, xanh xanh, đen đen
- Cách 1 (dùng cho học sinh tiểu học): gọi là từ láy
- Cách 2 (ý kiến của đa số): còn nhiều tranh cãi, cha thống nhất, cụ thể:
+ Trờng hợp a: nhỏ nhỏ, bé bé, tím tím, đỏ đỏ, trắng trắng“ ” có thể biến âm thành nho nhỏ“ , be
bé, tim tím, đo đỏ, trăng trắng” và đợc coi là từ láy (nho nhỏ = hơi nhỏ, tim tím = hơi tím…).)
+ Trờng hợp b: ngày ngày, ng“ ời ngời, chiều chiều, đêm đêm, nhà nhà, ngành ngành” đợc coi là
hiện tợng lặp từ (ngày ngày = ngày nào cũng thế, nhà nhà = nhà nào cũng thế…).)
Trang 15+ Trờng hợp c: xanh xanh, đen đen, nâu nâu, vàng vàng“ ” không có khả năng biến âm nh trờng
hợp (a), nhng cũng không hoàn toàn nh trờng hợp (b), chúng đợc coi là các từ láy toàn bộ hoặc từ láy tuyệt đối (xanh xanh = hơi xanh, vàng vàng = hơi vàng)
+ Trờng hợp d: tối tối, sáng sáng“ ” còn phức tạp hơn Khả năng thứ nhất, chúng biến âm thành
tôi tối, sang sáng
“ ” với nghĩa là hơi tối, hơi sáng“ ” (trời đã tôi tối rồi, trời đã sang sáng rồi) Khả năng thứ hai, chúng cũng là hiện tợng lặp từ với nghĩa là tối nào cũng nh“ vậy, sáng nào cũng nh vậy” (tối tối, tôi đi ngủ vào lúc 22 giờ / sáng sáng, tôi dậy vào lúc 6 giờ).
Tham khảo
Danh từ bị mờ nghĩa
* Chùa chiền:
Trong thơ Hồ Xuân Hơng, từ “chiền” còn đợc dùng độc lập:
Chúng dắt díu nhau đến cửa ChiềnCũng đòi học nói, nói không nên
Ai về nhắn nhủ phờng lòi tóiMuốn sống đem vôi quét trả đền+ Từ “lòi tói” gọi tên một loại dây buộc chắc, ở đây ý nói bọn dốt nát có chữ viết loằng ngoằng
* Tuổi tác: “tác” là tiếng Hán cổ, cũng có nghĩa nh “tuổi”
* Tre pheo: “pheo” là một loại tre xấu (giải thích của Phan Khôi)
* Chó má: trong tiếng Tày, “tu ma” là con chó, phải chăng “tu ma” chuyển thành “má” trong từ
“chó má” của tiếng Việt?
* Nâu sồng: “sồng” là một loại cây dùng vỏ nấu thành màu đỏ sẫm dùng để nhuộm vải, thờngnhuộm sồng trớc, sau đó mới nhuộm nâu thì vải mới bền (có nơi gọi “sồng” là “vỏ già”)
* Bếp núc: nhân dân ta gọi “ông núc” hoặc “ông đầu rau”, thờng đắp bằng đất sét để tạo thànhkiềng Ba “ông núc” đứng riêng nhng rất vững nh kiềng ba chân dùng để đun nấu ở nông thôn
* Chợ búa: “chợ” là nơi có lều quán, họp theo phiên (6 phiên hoặc 12 phiên); “búa” thờng họptrên một đám đất rộng, không có lều quán, không có phiên Do vậy, từ “chợ búa” là chỉ “chợ” nóichung, đó là nơi đầu mối giao lu, mua bán, trao đổi hàng hoá
* S ni: Từ này có nguồn gốc ấn Độ, trong đó nam giới đi tu gọi là s”, nữ giới đi tu gọi là s-ni” Khi các từ này nhập vào nớc ta, nó chỉ còn đợc giữ lại các âm tiết cuối là “s, ni” (và sau đónhân dân ta sáng tạo thêm các cách gọi là “s ông, ni cô” – giải thích của cụ Trần Văn Giáp)
“bít-* Đồng áng: “áng” trong tiếng Việt cổ cũng có nghĩa là “đám” (áng mây = đám mây)
áng đào kiểm đâm bông não chúngKhoé thu ba gợn sóng khuynh thành
(Cung oán ngâm khúc)
(áng đào kiểm = má hồng, khoé thu ba: khoé mắt)
Về sau, từ “áng” đợc mở rộng nghĩa để chỉ những lĩnh vực trừu tợng nh: áng công danh,
áng văn chơng
* Súng ống: trong tiếng Thái, “ống” cũng là “súng”
* Gà qué: “qué” là tiếng cổ, cũng có nghĩa là “gà” (nôm na mách qué)
* Kẻ: trong tiếng Việt, từ “kẻ” lúc đầu chỉ có nghĩa là “làng” Ví dụ: kẻ Mọc (làng Mọc), kẻ Noi(làng Cổ Nhuế), kẻ Mơ (các làng Hàng Mai, Thanh Mai, Bạch Mai), kẻ Lủ (làng Lủ) Từ “kẻ” th -ờng chỉ dùng trong ngôn ngữ dân gian Khi đặt tên theo đơn vị hành chính, các làng này thờng đ-
ợc phiên âm bằng từ Hán: Cổ, Khả (kẻ Lủ = Cổ Loa, kẻ Lao = Khả Lao, kẻ Bôn = Cổ Bôn)
Dần dần, từ “kẻ” đợc mở rộng phạm vi biểu vật, dùng để chỉ một địa bàn rộng hơn Ví dụ:
Kẻ Quảng (Quảng Nam, Quảng Ngãi), Kẻ Vĩnh (thành phố Vinh), Kẻ Chợ (kinh thành ThăngLong)
Lời bàn thêm:
Từ “Kẻ Chợ” chỉ kinh thành Thăng Long xa, dần dần về sau, từ “kẻ” có thêm nét nghĩa
“thành thị”, chẳng hạn khi ta nói “ngời Kẻ Chợ” (ngời thành thị Thăng Long) hoặc trong bài cadao sau:
Cụ Hồ ở giữa lòng dânTuy xa xa lắm nhng gần gần ghêMỗi khi th Cụ gửi về
Rộn ràng khắp chợ cùng quê đón mừng
Trang 16Diễn nôm theo nghĩa đen là “mỗi khi nhận đợc th Bác thì khắp cả thành thị (chợ) và nôngthôn (quê) đều vui mừng, phấn khởi” Vì không hiểu nghĩa của từ “chợ” nên có ng ời đã giải thíchrằng “Khi nhận đợc th Bác, ngời ta đã đem th Bác đi đọc ở khắp mọi nơi, từ các vùng nông thôncho đến cả ở những nơi họp chợ đông vui Tuy chợ luôn ồn ào náo nhiệt, nhng mọi ngời vẫn chămchú lắng nghe th Bác để tỏ lòng tôn kính Ngời!?” (HD)
* Quê: nghĩa gốc là nơi mình sinh trởng, nơi gốc rễ của dòng họ mình Dần dần, từ “quê” có thêmnét nghĩa “mộc mạc, kém văn vẻ” trong các cụm từ: quê mùa, quê kệch, nhà quê, lời quê góp nhặtdông dài (Truyện Kiều) Tuy nhiên, để phản ứng lại ý coi thờng “ngời nhà quê”, nhân dân ta cócâu:
Kinh đô cũng có ngời rồ
Thôn quê cũng có sinh đồ, trạng nguyên
* Cánh: từ “cánh” trong tiếng Việt thờng để chỉ những vật có đôi, đối xứng nhau: cánh cửa, cánhtay, cánh đồng (làng ở giữa, có cánh đồng trớc cánh đồng sau, cánh đồng xuôi cánh đồng ngợc)
Từ nghĩa đó, từ “cánh” đợc mở rộng, dùng để chỉ hai phe đối lập nhau: phe cánh, cánh tả, cánhhữu
(Theo Trịnh Mạnh: “Tiếng Việt lí thú”, tập 1 NXB GD HN 2001)
11 Đề nghị giải thích về cấu tạo và ý nghĩa của các nhóm từ ngữ sau:
a thuốc cảm, thuốc ho, thuốc đau dạ dày, thuốc ngủ, thuốc tím…)
b bệnh vảy nến, bệnh tổ đỉa, bệnh ung th, bệnh nan y, bệnh mạn tính, bệnh truyền nhiễm,bệnh hen, bệnh tim, bệnh phổi, bệnh gan…)
c mắt gián nhấm, mắt chuột gặm, mắt ngỡng thiên, mắt treo đèn, mắt chó giấy, mắt cú vọ,mắt bồ câu, mắt huyền, mắt nhung, mắt lá răm, mắt đồng thau, mắt cá chày, mắt rắn dáo, mũi diềuhâu, miệng quai túi, miệng cá ngão, chân vòng kiềng, chân chữ bát, răng hạt na, răng cải mả, mặtlỡi cày, mặt cô hồn, mặt đồng cô, mặt dày, mặt thớt, mặt mâm, mặt mo…)
Gợi ý:
Chúng ta biết có hai phơng thức phát triển từ vựng chủ yếu là: phơng thức ẩn dụ và phơngthức hoán dụ Trong chơng trình Tiếng Việt THCS, “tiếng” đợc coi là đơn vị cấu tạo từ, các “tiếng”lại đợc viết rời nhau và bất biến về hình thái, do đó khi lí giải vấn đề cấu tạo từ (và cả vấn đề ýnghĩa của từ), chúng ta khó tránh khỏi những phân vân, lỡng lự Điều này là bình thờng đối với
“ngời lớn”, nhng sẽ là rắc rối đối với “trẻ em”, cho nên có những cái “biết mà không nên nói làbiết” cũng đợc coi nh là một “giải pháp s phạm” tình thế
Trở lại với ba nhóm từ mà các bạn hỏi, chúng tôi xin đợc phép trao đổi nh sau:
Thứ nhất, về cấu tạo, chúng có một mô hình cấu tạo giống nhau, kiểu: x + y (1 hoặc 2tiếng), cụ thể:
để chữa y) là thuốc dùng để “chữa chứng mất ngủ” hoặc để “sát trùng”
(2) Nhóm (b):
Nhóm này chủ yếu thực hiện chức năng định danh (gọi tên), ý nghĩa có khác nhau chút ít:
- “bệnh vảy nến, bệnh tổ đỉa”: so sánh ngầm (ẩn dụ) dấu hiệu điển hình của bệnh với “vảy nến”,
“tổ đỉa”; sau đó dùng dấu hiệu điển hình ấy (hoán dụ) để gọi tên bệnh
- “bệnh ung th” cùng nhóm với với “bệnh gan, bệnh tim, bệnh phổi…).” (gọi tên bệnh), nhng trongnhững trờng hợp cụ thể nào đó, “bệnh ung th” sẽ đồng nghĩa với “bệnh nan y” (bệnh khó chữa,không thể chữa) và ngợc lại
- “bệnh mạn tính” (bệnh lâu ngày, khó chữa vì quá muộn hoặc bị nhờn thuốc), bệnh này có thểkhông nguy hiểm nh “bệnh ung th”, nhng nói chung bệnh nhân đành phải chấp nhận “sống chungvới bệnh”, do đó nó có thể đồng nghĩa với “bệnh nan y”
- “bệnh truyền nhiễm” nói tới nguy cơ lây lan, phải đề phòng, không gọi tên một bệnh cụ thể màchỉ chung cả nhóm bệnh nào đó
là về hình thức)
Trang 17- mắt đồng thau, mắt cú vọ, mắt chó giấy, mắt rắn dáo…) ngoài gọi tên còn có hàm ý là đáng sợ, cómắt nh mù hoặc hỗn láo (nghiêng về tính chất).
- mắt bồ câu, mắt huyền, mắt nhung…) ngoài gọi tên còn có hàm ý khen đẹp, đáng ngỡng mộ(nghiêng về phẩm chất)
- răng hạt na: gọi tên và có hàm ý khen đẹp
- răng cải mả: gọi tên và có hàm chế xấu, bẩn
- mũi diều hâu: gọi tên và có ý chê hoặc đáng sợ
- chân chữ bát, chân vòng kiềng…).: chủ yếu là gọi tên
- miệng quai túi, miệng cá ngão…).: gọi tên và có hàm ý chê xấu hoặc vô duyên
12 Làm thế nào để phân biệt đợc từ ghép và từ láy?
Gợi ý:
Vốn từ tiếng Việt rất phong phú và phức tạp, trong đó hiện tợng nhập nhằng giữa từ ghép
và từ láy cũng khá phổ biến về cả số lợng lẫn tính chất phức tạp của nó Các nhà ngôn ngữ học
đang tiếp tục công việc tìm kiếm những bằng chứng để góp phần phân định ranh giới giữa hai loại
từ này Tuy nhiên, ngay trong hiện tại, mỗi loại từ cũng đã có những đại diện điển hình cho nó
Nó chắc chắn là từ ghép hoặc từ láy chứ không thể có chuyện nhập nhằng cả gói đợc! Đây chính
là điều mà chúng ta cần phải lu ý khi sử dụng chúng
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu một trong nhiều cách có thể dùng để phân biệt từ ghép và
từ láy; cách này cũng chỉ có giá trị tơng đối bởi những chân lí khoa học nói chung, ngôn ngữ họcnói riêng dờng nh đều đang ở phía trớc!
Cách phân biệt này gồm một tập hợp 6 tiêu chí nh sau:
(1) Đảo các yếu tố trong từ:
Trong từ láy thờng có một yếu tố gốc Yếu tố ấy có thể còn rõ nghĩa hoặc đã mờ nghĩa,nhng nó thờng đứng ở một vị trí nhất định (trớc hoặc sau yếu tố láy), nghĩa là không thể đảo đợctrật tự của các yếu tố trong từ láy Vì thế, nếu một từ phức (gồm 2 yếu tố = 2 tiếng) có thể đảo đợcthì đó là từ ghép
Ví dụ: Các từ sau sẽ là từ ghép:
Lả lơi, thì thầm, ngẩn ngơ, thẫn thờ, mù mịt, đau đớn, đảo điên, hắt hiu, hờ hững, khát khao, khắt khe, lãi lờ, manh mối, ngại ngần, ngào ngạt, ngây ngất, ngấu nghiến, tha thiết
(2) Xem xét ý nghĩa của các yếu tố:
Nếu không đảo đợc, nhng cả hai yếu tố của từ phức đều có nghĩa thì từ phức ấy là từ ghépbởi vì từ láy chỉ có một yếu tố có nghĩa
Ví dụ: Các từ sau đây sẽ là từ ghép:
đền đài, đất đai, ruộng rẫy, chùa chiền (chiền nghĩa là chùa), bợm bãi (bãi: kẻ lừa dối), tơ tởng (tơ: yêu), đồn đại (đại: biến âm từ đãi, cũng có nghĩa là đồn), thành thực, đu đ a, đình đốn, duyên dáng, hài hòa, lê la, hão huyền, vá víu, vân vê
(3) Xem xét khả năng kết hợp của một yếu tố cha rõ nghĩa:
Nếu trong từ phức có một yếu tố cha rõ nghĩa (qui ớc là Y) có khả năng kết hợp với nhiềuyếu tố gốc (qui ớc là X) khác nhau thì từ phức đó thờng là từ ghép
Ví dụ: Các từ sau đợc coi là từ ghép:
X: rạng, rực; Y: rỡ; Từ ghép: rạng rỡ, rực rỡ
X: trọc, khóc, lăn, cóc; Y: lóc; Từ ghép: trọc lóc, khóc lóc, lăn lóc, lóc cóc
X: lê, liếm, lâu, lân, đà ; Y: la; Từ ghép: lê la, la liếm, lâu la, lân la, la đà, la hét, rầy la, kêu la, la lối, la liệt
(4) Xem xét qui luật hài thanh:
Nếu các yếu tố trong một từ phức có thanh điệu không cùng âm vực thì từ phức ấy là từ ghép
- âm vực cao: ngang (không), hỏi, sắc
- âm vực thấp: huyền, ngã, nặng
Ví dụ: Các từ sau đây sẽ là từ ghép:
khít khịt (cao - thấp, không cùng âm vực), phứa phựa, tí tị, tú ụ, chói lọi, cuống cuồng, sóng soài, dúi dụi, thớ lợ, ân cần, nháo nhào
hộc tốc (thấp - cao), cộc lốc, trọc lóc, trật lất, lạng lách, đìu hiu, tạp nham, gọn lỏn
(5) Xem xét qui luật hòa phối nguyên âm:
Nếu các yếu tố trong một từ phức có phụ âm đầu giống nhau, nhng nguyên âm làm âm chính(cả đơn và đôi) không có cùng độ mở thì từ phức ấy là từ ghép
- Hàng (dòng) trớc, không tròn môi: i, iê (độ mở hẹp), ê (hơi hẹp), e (hơi rộng)
- Hàng sau, không tròn môi: , ơ (hẹp), ơ và â (hơi hẹp), a và ă (rộng)
- Hàng sau, tròn môi: u, uô (hẹp), ô (hơi hẹp), o (hơi rộng)
Ví dụ: Các từ sau đây đợc coi là từ ghép:
hể hả, nhuế nhóa, xuề xòa, lúc lắc, tung tăng, vùng vằng, rỉ rả, xí xóa, chỉ trỏ, nguôi ngoai, dối dá, cứng cỏi, phì phạch, chen chúc
(6) Dựa vào nguồn gốc của từ: