Ở bậc THCS, GVCN là người thay mặt hiệu trưởng, hộiđồng nhà trường và cha mẹ học sinh quản lý tập thể học sinhHS, tổ chức điềuhành và kiểm tra mọi hoạt động về các quan hệ ứng xử, kĩ năn
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong nhà trường phổ thông nói chung, trường THCS nói riêng, giáo viênchủ nhiệm(GVCN) có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự hình thành phát triểnnhân cách của học sinh Ở bậc THCS, GVCN là người thay mặt hiệu trưởng, hộiđồng nhà trường và cha mẹ học sinh quản lý tập thể học sinh(HS), tổ chức điềuhành và kiểm tra mọi hoạt động về các quan hệ ứng xử, kĩ năng sống của HS lớpmình phụ trách, giúp các em phấn đấu học tập và rèn luyện theo mục tiêu chungcủa nhà trường GVCN là người phụ trách chính ở lớp mình đồng thời tổ chức,lãnh đạo, điều hành, kiểm tra, đánh giá mọi hoạt động và mối quan hệ ứng xử của
HS lớp mình chủ nhiệm
Nề nếp, phong trào của một tập thể cũng như quá trình rèn luyện tu dưỡngcủa mỗi HS phụ thuộc rất lớn vào vai trò của GVCN Là một GVCN, việc đưa lớptiến lên vừa là trách nhiệm vừa là bổn phận đối với HS, với nhà trường, đồng thờicũng là khẳng định mình về năng lực và lương tâm nghề nghiệp Mỗi tập thể lớptốt là nền tảng vững chắc để xây dựng nhà trường vững mạnh Một tập thể lớp tốtchắc chắn sẽ có những HS tốt, những con người vừa có đủ cả “đức” lẫn “tài” Vìvậy khi GVCN thực sự quan tâm, đầu tư cho công tác chủ nhiệm một cách nghiêmtúc, khoa học thì chất lượng, nề nếp học tập cũng như phẩm chất nhân cách của HStrong tập thể đó sẽ chuyển biến tích cực Ngược lại, nếu GVCN quá dễ dãi, buônglỏng quản lý, thiếu trách nhiệm với lớp hoặc với những việc làm mang tính chiếu
lệ, đối phó của GVCN sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành các thói quen tốtcủa các em Hơn thế nữa, phong trào học tập của tập thể cũng bị suy yếu đi
Trong thực tế ở trường tôi, hàng năm sáng kiến kinh nghiệm và đề tài khoahọc về nâng cao chất lượng học tập của HS hoặc một số biện pháp nâng cao chấtlượng giảng dạy của GV… ngày càng tăng lên về số lượng Song việc nghiên cứu
để tìm ra các biện pháp thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế HS của nhà trường
Trang 2nhằm tạo sự chuyển biến trong công tác chủ nhiệm lại ít được các giáo viên quantâm đến Bởi vì, chủ nhiệm lớp là công tác vô cùng khó khăn, phức tạp, vui ít, buồn nhiều, thành công cũng có, thất bại chua cay cũng không phải là hiếm gặp.Mỗi tập thể lớp đều có những đặc thù riêng: nào là học sinh cá biệt về học tập, vềđạo đức, HS có hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế, con mồ côi…… Các emsống và học tập ở nhiều hoàn cảnh khác nhau Hơn nữa việc dạy học hiện nay vớinhững quy định nghiêm ngặt về quy chế chuyên môn đã chi phối rất nhiều sự đầu
tư của người giáo viên đối với công tác chủ nhiệm Giáo viên chỉ tập trung vào dạyvăn hóa, họ phải ưu tiên lo chu toàn, bảo đảm khối lượng kiến thức của phân phốichương trình theo chuẩn kiến thức kĩ năng và đúng kế hoạch của ngành
Xuất phát từ vai trò, đặc điểm công tác của người GVCN ở trường THCS,qua thực tế công tác chủ nhiệm ở trường THCS Chu Văn An – Ya xiêr – Sa Thầy,
bản than tôi xin mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp trong công tác chủ nhiệm nhằm tạo sự chuyển biến tích cực ở tập thể học sinh lớp 9A trường THCS Chu Văn An” để nghiên cứu Với quan điểm trao đổi cùng các đồng
nghiệp những việc làm mà bản thân đã làm có hiệu quả trong công tác chủ nhiệm.Đây cũng là sự vận dụng từng bước lí luận về công tác chủ nhiệm vào thực tiễn,phù hợp với từng tập thể HS ở các trường THCS
2 Mục đích nghiên cứu.
Đề tài này được nghiên cứu với mục đích nhằm tìm ra một số biện pháp tạođược sự chuyển biến tích cực ở tập thể học sinh lớp 9A trường THCS Chu Văn Antrong công tác chủ nhiệm, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường
3.Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp trong công tác chủ nhiệm nhằm tạo ra sự chuyển biến tích cực
ở tập thể học sinh lớp 9A trường THCS Chu Văn An
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 34.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, so sánh, phân loại các tài liệu khoa học, các kiến thức bộ môn có liên quan … Nhằm tìm hiểu, xây dựng
cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho vấn đề cần nghiên cứu
4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Gồm phương pháp đàm thoại, quan sát, phỏng vấn, phối hợp giữa nhà
trường và GVBM, trưng cầu ý kiến, tổng kết kinh nghiệm trong công tác chủ
nhiệm, khảo nghiệm …
5 P hạm vi và thời gian nghiên cứu:
5.1 Phạn vi nghiên cứu:
Tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số biện pháp để áp dụng ở tập thể họcsinh lớp 9A trường THCS Chu Văn An với 28 HS, và đây cũng là lớp tôi đượcphân công chủ nhiệm
5.2 Thời gian nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: 5 tháng
+ Thời gian bắt đầu : 15/09/2018
+ Thời gian kết thúc : 15/02/2019
II NỘI DUNG 1.Cơ sở lí luận.
Trang 41.1 Chức năng của người GVCN ở THCS.
Theo điều lệ trường THCS(Thông tư số:12/2011/TT-BGDĐT ngày28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) GVCN làm chức năng tổ chức,quản lí thực hiện các quá trình dạy học và giáo dục trong phạm vi lớp mình phụtrách, cụ thể là:
- Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm HS, với hoàn cảnh
và điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng HS
- Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạc đã xây dựng
- Phối hợp chặt chẽ với gia đình HS, với các giáo viên bộ môn, Đoàn TNCS HồChí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh , các tổ chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trơ,giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của HS lớp mình chủ nhiệm
Trong quá trình giáo dục và quản lí lớp học GVCN còn vận dụng cácnguyên tắc, phương pháp theo lí luận giáo dục
1.2 N hiệm vụ của người GVCN ở TH CS
- Dựa vào tình hình thực tế, vạch kế hoạch giúp lớp tổ chức thực hiện
chương trình học tập, rèn luyện trong từng tháng, học kỳ và năm học
- Cùng cán bộ lớp theo dõi, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của lớp chủnhiệm theo từng tháng, học kỳ và năm học đồng thời báo cáo kết quả đó với bangiám hiệu
- Liên hệ với gia đình HS để phối hợp giáo dục HS khi cần thiết
1.3 Nội dung công tác của người GVCN ở THCS:
1.3.1 Làm việc với H S: Đây là một nội dung rất quan trọng của người GVCN,
bao gồm:
- Tìm hiểu để nắm vững đối tượng giáo dục
- Xây dựng và phát triển tập thể lớp đúng với yêu cầu hoạt động dạy học vàgiáo dục
Trang 5- Tổ chức cỏc hoạt động giỏo dục ngoài giờ lờn lớp, tạo điều kiện để HS tớchcực hoạt động.
1.3.2 Tổ chức tốt các hoạt động giáo dục :
- Tổ chức quản lý việc học tập của HS nhằm hình thành tích cực, tự lập, tựgiác hoàn thành nhiệm vụ học tập
- Phối hợp với các lực lợng giáo dục trong và ngoài nhà trờng tổ chức cáchoạt động ngoài giờ lên lớp nh: sinh hoạt tập thể, tham quan, du lịch, phù hợp vớitrình độ và đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
- Tổ chức các hoạt động về văn học, nghệ thuật, thể thao
1.3.3 Kết hợp với cỏc GV trong trường, trong khối:
Để cựng nhau phối hợp cỏc hoạt động tạo ra sự đồng bộ, nhịp nhàng trong
quỏ trỡnh giỏo dục
1.3.4 Tổ chức kết hợp với giỏo dục gia đỡnh:
Nhằm xõy dựng cỏc mối quan hệ tốt đẹp, phối hợp cựng nhau tạo điều kiện
thuận lợi cho việc học tập và rốn luyện của HS
1.4 Quan niệm về sự chuyển biến tớch cực của một tập thể:
Theo từ điển Tiếng Việt, chuyển biến là sự biến đổi từ trạng thỏi này sangtrạng thỏi khỏc, thường là tốt hơn
- Chuyển biến tớch cực là sự biến đổi một cỏch chủ động nhằm tạo ra sựthay đổi, phỏt triển phự hợp với yờu cầu chuẩn mực của xó hội
- Từ quan niệm trờn, sự chuyển biến tớch cực của một tập thể học sinh đượchiểu là: Sự thay đổi trạng thỏi của một tập thể HS, từ thụ động trước tỏc động của
GV, cỏc em chủ động hưởng ứng, tự giỏc thực hiện cỏc yờu cầu của thầy cụ Từchỗ tập thể cũn thiếu sút trong quỏ trỡnh thực hiện nhiệm vụ, chưa đỏp ứng đượcyờu cầu của GV, từng bước đó hoàn thành được cỏc yờu cầu đú và cú xu hướngvươn lờn tốt hơn Cỏc cỏ nhõn trong tập thể ngày càng ý thức đầy đủ về mục đớchhọc tập và rốn luyện, độc lập, tự giỏc hơn trong cụng việc Cú thể nhỡn thấy ở cỏcdấu hiệu sau:
+ Tập thể thống nhất, thương yờu, đựm bọc nhau
+ Cỏn sự lớp phỏt huy được chức năng của mỡnh trong cụng tỏc quản lý tậpthể
Trang 6+ Nề nếp của lớp ổn định, phát triển Tập thể đạt những thành tích cao trongphong trào thi đua của nhà trường.
+ Chất lượng học tập ngày càng được nâng cao
2 Thực trạng tình hình lớp 9A – Năm học 2018 - 2019
2.1 Vài nét về trường THCS THCS Chu Văn An – Ya xiêr – Sa Thầy
Trường THCS Chu Văn An là một trường vùng sâu vùng xa đóng trên địa
bàn xã Ya xiêr – Sa Thầy Giáo viên của nhà trường hầu như còn rất trẻ, tận tụy
với công việc Trong năm học 2018 – 2019 trường có tổng số 06 phòng học vàđang được đầu tư xây dựng thêm 02 phòng học mới Học sinh của trường chủ yếutập trung ở tại 3 thôn của xã với số lượng mỗi năm khoảng hơn 150 HS Trongphong trào thi đua 2 tốt nhiều GV nhà trường đã đạt GV giỏi các cấp, hàng nămkết quả HS được xét tốt nghiệp lớp 9 đạt 100% Năm học 2018 -2019 trường có 05lớp, trong đó khối 6 gồm 2 lớp; khối 7 gồm 1 lớp; khối 8 gồm 1 lớp; khối 9 gồm 1lớp
Những năm học trước và năm học vừa qua trường tiếp nhận HS ở tại 3 thôn làchủ yếu, phụ huynh học(PHHS) phần lớn là người dân tộc thiểu số và làm nông, dokinh tế còn khó khăn nên PHHS phải đi làm thuê nhiều, làm rẫy xa nhà (Ba, bốnngày có khi một tuần mới về nhà một lần) Phần lớn các em được sinh ra trong cácgia đình rấtđông con (từ 4-5 người con/một gia đình) Vì vậy, ngay cả khi có bố
mẹ ở nhà thì các em cũng nhận được không nhiều sự quan tâm từ phía gia đình, sựquan tâm đối với việc học tập và rèn luyện của con em còn nhiều hạn chế Không
vì thế mà người GVCN lớp ở trường THCS Chu Văn An thờ ơ với công tác trọngtâm của mình mà ngược lại chính vì lí do đó GVCN lớp càng nổ lực hơn trongcông tác giảng dạy và giáo dục HS Trong những năm học gần đây, nhất là nămhọc 2018 -2019 hầu hết 100% HS trong độ tuổi đều tham gia học tại trường Điềunày như một minh chứng cho sự phát triển và khẳng định chất lượng của nhàtrường trước nhiệm vụ của ngành đề ra cũng như trước xã hội
2.2 Thực trạng tình hình lớp 9A năm học 2018 - 2019
Trang 7- Theo kế hoạch của nhà trường, lớp 9A được tổ chức học 2 buổi trên ngày,đây cũng là mặt thuận lợi về thời gian để GVCN bám lớp, có nhiều thời gian đểrèn luyện, xây dựng các nề nếp học tập và sinh hoạt cho các em.
- Ban cán sự (BCS) chưa có nhiều kinh nghiệm cũng là điểm khó khăn chocông tác chủ nhiệm vào thời điểm đầu năm
2.2.2 Nề nếp sinh hoạt và học tập của lớp 9A.
- Nề nếp được hiểu là những thói quen đã được hình thành một cách chắcchắn, có tính quy củ, kỷ luật, tổ chức
- Vào đầu năm học, nề nếp sinh hoạt và học tập của tập thể HS lớp 9A cònrất chểnh chảng, thậm chí một số nề nếp, thói quen cơ bản trong học tập và sinhhoạt tập thể cũng bị mai một đi Đó cũng là đặc điểm chung của các tập thể HS sau
kỳ nghỉ hè Điều này thể hiện ở những điểm sau:
+ HS thiếu tính kỷ luật, tự giác trong việc chấp hành nội quy trường như: đihọc trễ, cúp học, nghỉ học không lí do, không đeo khăn quàng, mang dép lê… + Ít có sự chuẩn bị bài ở nhà, không mang đầy đủ sách vở và dụng cụ họctập
+ Chia rẽ nội bộ, thiếu sự đoàn kết trong tập thể
+ Nói tục, chửi thề, đánh nhau trong và ngoài nhà trường
Trang 8B ng 1 ảng 1 : T ng h p nh ng vi ph m n n p c a l p 9A(T 20/8/2018 - ổng hợp những vi phạm nề nếp của lớp 9A(Từ 20/8/2018 - ợp những vi phạm nề nếp của lớp 9A(Từ 20/8/2018 - ững vi phạm nề nếp của lớp 9A(Từ 20/8/2018 - ạm nề nếp của lớp 9A(Từ 20/8/2018 - ề nếp của lớp 9A(Từ 20/8/2018 - ếp của lớp 9A(Từ 20/8/2018 - ủa lớp 9A(Từ 20/8/2018 - ớp 9A(Từ 20/8/2018 - ừ 20/8/2018 1/9/2018)
-Mặt vi
phạm
Vắng không phép
Đánh nhau Đi trễ
Nói chuyện riêng, chửi thề
Tác phong
Không chuẩn bị bài
Tổng cộng
TB /1HS
Số lần vi
* Nhận xét: Qua một tuần theo dõi đầu năm học, với số liệu tổng hợp từ Đội
cờ đỏ của nhà trường, sổ ghi chép theo dõi của BCS lớp và sổ chủ nhiệm Số lần viphạm của HS lớp 9A trên 6 mặt đặc trưng về nề nếp học tập và sinh hoạt trong nhàtrường là 100/2 tuần, bình quân 1 học sinh vi phạm 3,57 lần/2 tuần Đây thực sự làmột số liệu đáng cảnh báo về thực trạng nề nếp của một tập thể HS
- Trong những vi phạm của các em thì vi phạm chiếm nhiều nhất là “Nóichuyện riêng, chửi thề”(30 lần/2tuần), tiếp theo là “Không chuẩn bị bài” (30lần/2tuần), vi phạm về tác phong (18 lần/2tuần), tiếp đến là đi trễ và vắng họckhông có lí do Những vi phạm phổ biến này thường do sau thời gian nghỉ hè cácthói quen không được củng cố, hơn thế nữa đội tự quản của lớp chưa có nhiều kinhnghiệm với công tác quản lí lớp, chưa kịp thời đôn đốc nhắc nhở các bạn, lời nóicủa ban cán sự lớp không có trọng lượng đối với một số HS “cá biệt”
- Ngoài các vi phạm đề cập ở trên, HS trong lớp còn mắc một số vi phạmkhác như: hút thuốc lá, sử dụng điện thoại trong giờ học, ham chơi điện tử, khôngghi bài… nhưng các nội dung vi phạm này là không đáng kể, chỉ nằm trong chừngmực cho phép đối với một tập thể lớp trong giai đoạn đầu năm
2.2.3 Kết quả xếp loại hạnh kiểm cuối năm 2017 - 2018 và kết quả khảo sát chất lượng đầu năm học 2018 - 2019.
- Để có nhận định chung về việc rèn luyện của HS, tôi đã thu thập, tổng hợp
số liệu từ học bạ trong năm học trước của các em:
Bảng 2: Kết quả xếp loại hạnh kiểm
Loại khá - tốt Loại trung bình
Trang 9SL % SL %
- Để đánh giá thực trạng trình độ học tập của HS lớp 9A, tôi đã kết hợp vớigiáo viên bộ môn nhờ khảo sát chất lượng đầu năm của 5 môn Toán, Văn, TiếngAnh, Lý, Hóa kết hợp với việc trực tiếp kiểm tra học sinh qua giờ dạy và các tiết
- Qua bảng 2 cho thấy rằng mặt hạnh kiểm, đạo đức cuối năm học
2017-2018 của 28 HS lớp 9A như sau: Loại khá - tốt: 24 em chiếm tỷ lệ 85,7%; loạitrung bình 04 em chiếm 14,3% chứng tỏ ý thức rèn luyện của các em nghiêm túc,các vi phạm không đáng kể Song qua số liệu điều tra ở tuần thứ ba thì mức độ viphạm của các em khá cao, điều này cho thấy nếu các thói quen không được củng
cố thường xuyên thì khả năng vi phạm nội qui sẽ và có xu hướng tăng lên
- Nhìn vào bảng 3 cho thấy về học tập, kết quả khảo sát 5 môn ở đầu nămhọc của lớp 9A thì môn Toán, Văn các em học tốt hơn môn Hóa, Lý, Ngoại ngữ
Tỷ lệ HS đạt trung bình trở lên ở môn Toán là 18 em(Trong đó có 02 em đạt loạigiỏi), môn Văn có 21 em(Trong đó có 01 em đạt loại giỏi), môn Hóa là 19em(Trong đó không có em nào đạt loại giỏi), môn Lý 18 em(Trong đó không có
em nào đạt loại giỏi), môn Ngoại ngữ 16 em(Trong đó không có em nào đạt loạigiỏi)
Trang 102.2.4 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên:
Qua trò chuyện, trao đổi với các em và PHHS, bản thân tôi tổng hợp lại có nhữngnguyên nhân sau:
- Sau một thời gian nghỉ hè khá dài, rất ít HS tự củng cố kiến thức của mìnhbằng việc tự học ở nhà HS ở địa bàn này chủ yếu vui chơi tự do, các nề nếp họctập và rèn luyện không được củng cố nên có chiều hướng suy yếu đi, thậm chí một
số kiến thức cơ bản cũng bị rơi rớt
- PHHS thiếu sự quan tâm đến việc học tập và rèn luyện của con em mộtcách nghiêm túc Một bộ phận sự quan tâm chưa thực đúng mực, một bộ phận kháctập trung kiếm sống nên không có thời gian để quan tâm đến việc học tập, rènluyện của con em mình
- Qua nghiên cứu học bạ của các em, một số có kết quả học ở năm học trướcđạt loại trung bình hoặc trung bình khá nhưng qua kiểm tra, khảo sát trực tiếp tronggiờ dạy và các tiết dự giờ đồng nghiệp tôi nhận thấy các em có nhiều kiến thức cơbản bị mai một, hạn chế Đó cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả rènluyện của các em
2.3 Một số phương pháp thực hiện:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu kĩ điều lệ trườngTHCS(Thông tư số:12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo) GVCN làm chức năng tổ chức, quản lí thực hiện các quá trình dạyhọc và giáo dục trong phạm vi lớp mình phụ trách
- Phương pháp quan sát các hoạt động học tập của học sinh qua các tiết dựgiờ và sinh hoạt tập thể của học sinh
- Phương pháp điều tra để nắm chất lượng học tập và rèn luyện hạnh kiểmcủa học sinh
- Phương pháp thu thập thông tin qua lắng nghe ý kiến của học sinh, đồngnghiệp, phụ huynh học sinh
- Phương pháp trò chuyện
Trang 11- Việc phân loại hoàn cảnh HS lớp 9A được chia thành 3 mức độ sau:
* Loại có hoàn cảnh thuận lợi: Gồm những em được gia đình thực sự quantâm đến việc học tập và rèn luyện Ở nhà các em thường xuyên được quan tâm,nhắc nhở, kiểm tra, đôn đốc việc học, được trang bị đầy đủ điều kiện, phương tiệnhọc tập
* Loại có hoàn cảnh bình thường: Gồm những em được gia đình tạo điều kiệntrong việc rèn luyện, có sự đôn đốc nhắc nhở việc học tập và sinh hoạt ở nhà Được giađình trang bị những đồ dùng, phương tiện tối thiểu
* Loại có hoàn cảnh khó khăn: Gồm những em gia đình ít quan tâm hoặckhông quan tâm đến việc học tập và rèn luyện của các em, khoán trắng cho thầy cô
và nhà trường Thiếu sự nhắc nhở của gia đình, thiếu điều kiện học tập và sinhhoạt
- Để phân loại HS sát với hoàn cảnh sống, ngoài việc trao đổi với GVCN cũcủa lớp năm học 2017 - 2018 GVCN đã tiến hành khảo sát để nắm được nhữngthông tin có liên quan đến hoàn cảnh, đời sống gia đình của các em Qua đó giúpGVCN biết được hoàn cảnh từng đối tượng học sinh, trong số đó dễ dàng nhận rađược những học sinh nào sẽ rơi vào trường hợp hoàn cảnh khó khăn để kịp thờigiúp đỡ Tôi đã thiết kế phiếu khảo sát học sinh như sau: Phụ lục 1
- Sau khi nắm được những thông tin của học sinh, GVCN sẽ phân luồnghoàn cảnh của học sinh để hiểu rõ hoàn cảnh của từng em
Bảng 4: Phân loại hoàn cảnh học sinh lớp 9A
Phân loại Thuận lợi Bình thường Khó khăn
Trang 12Sĩ số 28 SL % SL % SL %
Tên HS Giang,Phương Bích, Đạt, Đông ,Phùng Hưng,Văn
Hưng, Phúc, Sang, Tâm, Tây, Thái,
Thiện, Hà Thủy, Tới, Hà Việt.
Hòa , Đồng, Hợp ,Nghiệp, Lê Thủy,
Phượng, Mong, Chiến, Dũng, Điệp
Lương Việt, Duyên.
Sau khi tiến hành phân loại hoàn cảnh học sinh trong lớp, dựa trên cơ sở đóđối với mỗi HS tôi sẽ có định hướng giúp đỡ phù hợp nhất với từng hoàn cảnh củacác em Cụ thể:
thường có những yêu cầu cao hơn so với những em khác Kích thích ở các em tinhthần đoàn kết, tương thân tương ái giúp đỡ bạn bè trong lớp Báo cáo cho gia đìnhbiết những ưu điểm về hạnh kiểm và học tập Cố vấn cho gia đình trong việc lựachọn tài liệu tham khảo và phương pháp giúp các em học tập, xây dựng thời gianbiểu sinh hoạt khoa học cho các em
nhắc nhở, kiểm tra những công việc các em phải thực hiện ở nhà, ở trường Kíchthích vai trò người anh (chị) lớp 9 trong trường để yêu cầu các em phải gươngmẫu Hướng các em tham gia tích cực vào các hoạt động của lớp Cố vấn cho giađình HS những việc cần làm nhằm giúp các em rèn luyện tốt hơn
nhất trong tập thể Với đối tượng này tôi ưu tiên dành sự quan tâm đặc biệt trongcông tác chủ nhiệm cũng như trong dạy học để khích lệ, hướng dẫn kịp thời nhữngsai sót vướng mắc của các em Tăng cường những biện pháp giáo dục bằng thuyếtphục và tình cảm Bản thân tôi cũng đã có những việc làm thiết thực để kích thíchcác em để học tập, rèn luyện như:
+ Đặt mình vào vai trò là một người anh, người chị mà các em có thể tintưởng và nhờ cậy được Cho các em biết là các em có thể điện thoại cho cô để hỏichuyện bài vở hoặc tư vấn một số tình huống khó khăn xảy ra trong, ngoài lớp học
Trang 13+ Phát động trong tập thể quyên góp những vật dụng cần thiết như vở, bút,dụng cụ học tập để ủng hộ cho các bạn nghèo trong lớp: Trong năm học này lớp tôi
đã quyên góp, ủng hộ và thăm hỏi các em có hoàn cảnh khó khăn, số tiền ủng hộlên đến 550.000đ để tổ chức tết trung thu cho các em
Trang 14
+ Tặng quà khi các em đạt được những thành tích trong học tập hoặc rènluyện Số tiền này được trích từ quỹ hoạt động của lớp do phụ huynh tự nguyệnđóng góp
Trang 15+ Tham mưu với nhà trường cùng hội phụ huynh và các tổ chức khác giảmtối đa số tiền phải đóng góp của mỗi học sinh trong năm
+ Tư vấn với phụ huynh để giúp họ nhận thức đầy đủ hơn về trách nhiệmcủa mình đối với con em họ
+ Đặc biệt trong năm học này, để khuyến khích các em cố gắng hơn tronghọc tập và rèn luyện, tôi cùng lớp đã tổ chức sinh nhật cho các em tại lớp Tôi lêndanh sách những em có ngày sinh cùng tháng với nhau rồi tổ chức chung 1 lần chotất cả các em trong tiết hoạt động ngoài giờ của tuần thứ 2 trong tháng đó Tuybuổi sinh nhật không “hoàn hảo” và cũng không hoành tráng, mà chỉ đơn giảnnhưng ngày sinh nhật của mình được cô giáo và các bạn tặng quà, được mọi ngườiquan tâm tôi thấy các em rất phấn khởi, từ đó có sự chuyển biến rất tích cực trongmọi hoạt động, quan trọng hơn là tất cả các em đều được tổ chức sinh nhật dù hoàncảnh riêng có khó khăn đến đâu, việc làm này tuy bình thường nhưng tôi nghĩ phần
Trang 16nào có thể giảm bớt sự chạnh lòng, tủi thân của một số em không có điều kiện tổchức sinh nhật tại gia đình
3.2 Biện pháp 2: Cần có sự phối hợp giữa GVCN với giáo viên bộ môn
và PHHS để theo dõi và quản lí HS một cách chặt chẽ
Việc giáo dục học sinh trong nhà trường là sự kết hợp nhà trường với đoàn thể,địa phương, gia đình…Trong đó, mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường nhất làđối với giáo viên chủ nhiệm là hết sức cần thiết Chính vì vậy, công tác chủ nhiệmcủa một giáo viên thành công hay không đừng bao giờ quên gia đình học sinh làyếu tố quan trọng
* Với PHHS
- Trong cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm GVCN phải cố gắng nắm được
số điện thoại liên lạc của PHHS và công khai số điện thoại của GVCN trước phụhuynh, đây là điều kiện thuận lợi giúp GVCN trao đổi gián tiếp với cha mẹ họcsinh khi cần thiết Đây là điều rất cần thiết, không thể thiếu đối với giáo viên làmcông tác chủ nhiệm Thông qua công việc này giúp giáo viên biết được các thóiquen, sở thích, thái độ của học sinh thường biểu hiện ở gia đình Qua đó giúp cha
mẹ học sinh biết được tình hình học tập, những dấu hiệu sa sút của các em đồngthời giúp cha mẹ học sinh thấy được sự quan tâm của nhà trường đối với gia đình