MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Đề xuất, đưa ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các bài tập về danh từ, động từ, tính từ qua những kinh nghiệm dạy học của bản thân được tíchlũy trong n
Trang 12.3.1 Giúp học sinh phân chia ranh giới từ chính xác 6
2.3.3 Giúp học sinh làm tốt bài tập từ loại dựa vào khả năng kết hợp của từ 10
2.3.4 Khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của từng từ loại 13 2.3.4.1 Khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của danh từ 13 2.3.4.2 Khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của động từ và tính từ 14 2.4 Hiệu quả của những kinh nghiệm giúp học sinh làm tốt các bài tập về từ loại 14
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“ Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, câu nói của Thân Nhân Trung dưới thời
nhà Lê cho đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị Để có được những bậc hiền tài làmcho đất nước ta giàu mạnh phải có một nền giáo dục vững chắc Giáo dục là mộtlĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và ởmọi thời đại Giáo dục góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhântài cho đất nước đồng thời góp phần bảo vệ chế độ chính trị, cung cấp nguồn nhânlực có trình độ góp phần phát triển kinh tế đất nước, trong đó phát triển khoa họccông nghệ là yếu tố quyết định nền kinh tế tri thức Trong xu thế phát triển kinh tếđất nước và hội nhập hiện nay, giáo dục đào tạo được Đảng, Nhà nước ta xem là “ quốc sách hàng đầu” và được chọn là xương sống cho sự phát triển bền vững đấtnước Với những vai trò quan trọng ấy, giáo dục cần đổi mới căn bản và toàn diện,đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như nghị quyết số 29 Banchấp hành trung ương Đảng đã khẳng định
Là một giáo viên hàng ngày đứng trên bục giảng, bản thân tôi nhận thức rõvai trò, trách nhiệm của người giáo viên trước những yêu cầu đổi mới của ngành vàluôn đặt ra yêu cầu nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học Việc đổi mới, nâng caochất lượng dạy học phải xuất phát từ những việc làm cụ thể, từ những bài học, mônhọc Ở bậc Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học có vai trò rất quan trọng nhằmmục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng tiếng Việt ( đọc, nghe, nói,viết), góp phần rèn luyện các thao tác tư duy, cung cấp những kiến thức sơ giản vềTiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, văn hóa, văn học, bồidưỡng tình yêu Tiếng Việt, thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, hìnhthành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Từ loại Tiếng Việt là một nội dung kiến thức được sắp xếp trong chươngtrình phân môn luyện từ và câu lớp 4 Những năm trực tiếp dạy lớp 4, tôi nhận ramột thực tế, học sinh lớp 4 vẫn còn nhầm lẫn danh từ, động từ, tính từ, chưa làm tốtcác bài tập liên quan đến từ loại Để giúp học sinh khắc phục sự những tồn tại đó,tôi đã tích lũy một số kinh nghiệm và vận dụng trong thực tế giảng dạy ở các năm
học Đó chính là “ Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các bài tập về từ loại.”
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất, đưa ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các bài tập về
danh từ, động từ, tính từ qua những kinh nghiệm dạy học của bản thân được tíchlũy trong những năm qua
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Từ loại Tiếng Việt
- Các biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 phân biệt danh từ, động từ, tính từ
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 3- Nghiên cứu các tài liệu về từ loại Tiếng Việt
- Nghiên cứu thực tiễn dạy học trên lớp qua các năm học, các đối tượng học
sinh lớp 4 khi học từ loại danh từ, động từ, tính từ
- Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin, dữ liệu về các từ loại nghiêncứu
- Thống kê toán học, xử lí số liệu về kết quả vận dụng thực hành xác định
danh từ, động từ, tính từ và các bài tập vận dụng
- Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa một số vấn đề về danh từ, động từ, tính
từ trong Tiếng Việt
Trang 42 NỘI DUNG 2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1.1 Căn cứ để phân biệt danh từ, động từ, tính từ:
Để tạo thành một đoạn văn cần có những câu văn Để tạo thành một câu văncần có từ Từ biểu thị sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan đồng thời xácđịnh mối quan hệ của chúng với các thành phần khác trong câu Bằng các cách thứckhác nhau, từ đảm nhiệm các chức năng nói trên Dựa vào các đặc điểm ngữ pháp,các từ được phân chia ra thành từng loại nên ta gọi là từ loại Mỗi từ loại đều cóchung ý nghĩa khái quát và đặc điểm ngữ pháp Các từ đó có cùng một hoặc nhiềuđặc điểm giống nhau tạo thành nhóm từ Đó cũng là cơ sở để phân loại từ vựngthành các nhóm từ hay phân chia từ vựng thành các từ loại Từ loại là những lớpkhái niệm khái quát nhất của các từ có liên quan đến các chức năng cú pháp nhấtđịnh Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp của từ rất quan trọng Khả năng
đó giúp chúng ta biết có thể kết hợp các từ lại với nhau như thế nào là phù hợp, từ
2.1.2 Các cách phân chia từ loại danh từ, động từ, tính từ
Trong vốn từ vựng Tiếng Việt, chúng ta có thể dựa vào ngữ nghĩa và cú pháp
để phân chia vốn từ vựng thành từ loại
Theo tiêu chí ngữ nghĩa, từ vựng được phân chia thành thực từ và hư từ.Thực từ chính là những từ mang ý nghĩa cụ thể, có ý nghĩa từ vựng, thường gọi têncác sự vật, sự việc, hiện tượng, gọi tên các hoạt động, trạng thái, đặc điểm của sựvật được gọi là nhóm từ định danh Như vậy, danh từ, động từ, tính từ có ý nghĩa
từ vựng cụ thể nên chúng thuộc nhóm thực từ Bên cạnh đó, thực từ còn có các từthuộc nhóm chỉ định và các từ thuộc nhóm liệt kê, xếp dãy Hư từ là những từkhông mang ý nghĩa từ vựng, không rõ nghĩa từ vựng Hư từ chỉ mang ý nghĩa ngữpháp, chỉ có chức năng ngữ pháp trong câu, đảm nhiệm một số chức năng trongcâu
Theo tiêu chí cú pháp, chúng ta phân biệt từ vựng dựa vào khả năng kết hợpvới những từ khác Vì vậy, căn cứ vào khả năng kết hợp và đảm nhiệm các chức vụngữ pháp trong câu, chúng ta sẽ biết đó là từ loại gì? Dựa vào tiêu chí này, nhóm từđịnh danh sẽ bao gồm danh từ, động từ, tính từ còn các từ khác được coi như làcông cụ hay những hình vị ngữ pháp có vai trò làm cho câu văn, đoạn văn đượcliên kết chặt chẽ với nhau, logic, giúp câu văn mang ý nghĩa trọn vẹn Cũng trên cơ
sở dựa vào ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức vụ ngữ pháp, chúng ta đãphân chia từ vựng thành nhiều lớp cụ thể với các đặc trưng xác định
Trang 52.2 THỰC TRẠNG
2.2.1 Nội dung dạy danh từ, động từ, tính từ ở Tiểu học:
Trong chương trình phân môn luyện từ và câu ở bậc Tiểu học, danh từ, động
từ và tính từ được học từ lớp 2 đến lớp 5 nhưng các lớp 2 và 3 chưa xuất hiện kháiniệm danh từ, động từ, tính từ Ở các lớp này, chủ yếu học sinh được luyện tậpnhiều lần qua các bài tập với yêu cầu tìm từ chỉ sự vật hoặc hoạt động, đặc điểm,dùng từ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm để viết câu Lên lớp 4, các em bắt đầu đượclàm quen với nhiều khái niệm trong đó có khái niệm danh từ, động từ, tính từ Ởmỗi bài học khái niệm này, học sinh được lĩnh hội kiến thức theo phương pháp quynạp - diễn dịch, nghĩa là học sinh thông qua tìm hiểu, phân tích các ngữ liệu ở cácbài tập phần nhận xét rút ra nội dung ghi nhớ và tiếp tục vận dụng nội dung cần ghinhớ đó vào giải quyết các bài tập cụ thể ở phần luyện tập Đến lớp 5, học sinh được
ôn tập, củng cố lại các khái niệm về từ loại đã học ở lớp 4 và tiếp tục thực hành giảiquyết các bài tập nhận diện từ, đặt câu, viết câu văn, đoạn văn Hệ thống các bài tập
về từ loại được sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó
Tay em chải tócTóc ngời ánh mai
Lớp 4: Tìm các danh từ chung và danh từ riêng trong đoạn văn sau:
“ Chúng tôi đứng trên núi Chung giữa hai dãy núi là nhà Bác Hồ”
Bài tập vận dụng:
Lớp 2: Tìm các từ:
- Chỉ đồ dùng học tập M: bút
- Chỉ hoạt động của học sinh M: đọc
- Chỉ tính nết của học sinh M: chăm chỉ
Lớp 3: Đặt câu theo mẫu Ai thế nào? để miêu tả:
a Một bác nông dân
b Một bông hoa trong vườn
c Một buổi sớm mùa đông
Lớp 4: - Hãy tìm những từ ngữ miêu tả mức độ khác nhau của các đặc điểm
sau: đỏ, cao, vui.
- Đặt câu với mỗi từ ngữ em vừa tìm được ở bài tập 2
Lớp 5: Dựa vào ý khổ thơ 2 trong bài “ Hạt gạo làng ta” của Trần Đăng
Khoa, viết một đoạn văn ngắn tả người mẹ cấy lúa giữa trưa tháng sáu nóng bức.Chỉ ra một động từ, một tính từ và một quan hệ từ em đã dùng trong đoạn văn ấy
Trang 6Đối với chương trình học cơ bản, việc sắp xếp mạch kiến thức về từ loạiTiếng Việt và hệ thống bài tập đưa ra như vậy là tương đối hơp lí Một số kiến thức
từ loại mang tính trừu tượng đã được giảm tải đảm bảo mức độ chuẩn kiến thức kĩnăng như danh từ chỉ khái niệm và danh từ chỉ đơn vị đã được lược bỏ trongchương trình LTVC lớp 4 Việc học và giải quyết các bài tập về danh từ, động từ,tính từ trở nên nhẹ nhàng hơn Song ngoài những nội dung được luyện tập trongSGK, các em có những lúc còn luyện tập thêm một số dạng bài khác nhằm củng cố,khắc sâu kiến thức đã học Qua một số bài tập khác dạng đó, các em bộc lộ rõnhững hạn chế trong việc nắm kiến thức, vận dụng giải quyết bài tập
2.2.2 Thực trạng học từ loại danh từ, động từ, tính từ của học sinh lớp 4.
Mặc dù ở lớp 2, 3 các em đã được làm quen với các bài tập nhận diện các từchỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm nhưng lên lớp 4, việc giải quyết các bài tập về từloại vẫn còn nhầm lẫn Thực tế các bài tập học sinh mắc nhiều lỗi khác nhau như:xác định thiếu từ loại theo yêu cầu (VD: Đoạn thơ có 5 danh từ, chỉ xác định được
4 danh từ), nhầm lẫn giữa từ loại này với từ loại khác, nhất là trong một số trườnghợp chuyển loại từ ( VD: nhầm lẫn danh từ với đại từ, nhầm lẫn động từ chỉ trạngthái với tính từ), việc đặt câu hoặc viết đoạn văn có mẫu câu chứa các từ loại đã
học chưa đạt yêu cầu đề bài ( VD: Đề yêu cầu viết câu mẫu Ai làm gì ? có em lại viết câu mẫu Ai thế nào?), có em nhầm lẫn từ loại với từ chia theo cấu tạo ( VD:
Đề yêu cầu xác định danh từ, động từ, tính từ thì lại xác định từ đơn, từ ghép, từláy), có em không phân chia được danh giới từ nên nhầm lẫn xác định cụm từ làmột từ hoặc ghép 1 tiếng của từ phức đứng trước với một tiếng của từ phức đứngsau để tạo thành một từ loại một cách tối nghĩa, nhầm lẫn giữa danh từ chung vớidanh từ riêng Bên cạnh đó cũng có một số học sinh còn mơ hồ về các từ loạidanh từ, động từ, tính từ Để xác định chính xác mức đạt được của học sinh, sau khihọc xong tuần 24, tôi đã tiến hành tổ chức cho các em học sinh lớp 4B, năm học
2017 – 2018 làm một bài kiểm tra như sau:
Đề bài:
1 Tìm danh từ chung, danh từ riêng trong đoạn thơ sau:
Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Vượn hót, chim kêu suốt cả ngày Khách đến thì mời ngô nếp nướng Săn về thường chén thịt rừng quay.
2 Xác định chủ ngữ, vị ngữ của các câu sau và nói rõ vị ngữ do từ ngữ nàotạo thành?
a Màu vàng trên lưng chú lấp lánh.
b Cánh hoa nhỏ như vảy cá, hao hao giống cánh sen con, lác đác vài nhụy
li ti giữa những cánh hoa.
Đáp án:
Trang 7Danh từ riêng: Việt Bắc
Danh từ chung: cảnh, rừng, vượn, chim, ngày, khách, ngô nếp, thịt rừng.
Vị ngữ ở câu a do tính từ tạo thành, vị ngữ ở câu b do cụm tính từ tạo thành.
Kết quả sau khi học sinh làm bài là:
học sinh
Điểm 9, 10
Điểm 7, 8 Điểm 5, 6 Điểm dưới
5
2017 – 2018 34 2 = 5,8 % 11= 32,3 % 14=41,4 % 7 = 20,5 %
Qua nhiều năm dạy các em học sinh lớp 4, tôi nhận thấy từ loại trong chươngtrình phân môn luyện từ và câu chỉ chiếm 6 tiết nhưng đây là một nội dung học tậpquan trọng, cơ bản và trọng tâm Trong các đề kiểm tra giữa kì, cuối kì, các câu hỏi
về từ loại thường xuyên xuất hiện Chất lượng làm các bài tập có liên quan đến từloại của học sinh chưa đạt như mong muốn Xuất phát từ mục tiêu nâng cao hơnnữa việc nhận diện các từ loại danh từ, động từ, tính từ và vận dụng kiến thức đãhọc giải quyết các bài tập liên quan, tôi đã nghiên cứu một số biện pháp giúp họcsinh làm tốt các bài tập về từ loại
2.3 CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
2.3.1 Giúp học sinh phân chia ranh giới từ chính xác
Việc phân chia ranh giới từ đúng sẽ giúp học sinh xác định đúng từ loại.Trong thực tế, nhiều bài làm của học sinh do không phân chia đúng ranh giới từ đãdẫn đến xác định cả cụm từ là một từ hoặc khó xác định từ loại
Ví dụ: Xác định danh từ, động từ, tính từ trong các câu sau:
“ Xe chúng tôi leo chênh vênh trên dốc cao của con đường xuyên tỉnh Hoàng Liên Sơn Những đám mây trắng nhỏ sà xuống cửa kính ô tô tạo nên một cảm giác bồng bềnh, huyền ảo.”
Do vạch danh giới từ chưa đúng, một số học sinh đã xác định “ dốc cao” là một từ và đó là danh từ, “ mây trắng nhỏ” là một tính từ Để xác định đúng các từ
loại trong đoạn văn, trước hết, giáo viên cần cho học sinh vạch ranh giới từ nhưsau:
Trang 8“ Xe/ chúng tôi/ leo/ chênh vênh/ trên/ dốc/ cao/ của/ con/ đường/ xuyên/ tỉnh/ Hoàng Liên Sơn/ Những/ đám/ mây trắng/ nhỏ/ sà/ xuống/ cửa kính/ ô tô/ tạo nên/ một/ cảm giác/ bồng bềnh/, huyền ảo/.”
Việc phân chia được danh giới từ cần có những kiến thức vững chắc về cấutạo từ Vì vậy, khi học sinh học cấu tạo từ, giáo viên yêu cầu học sinh nắm chắckhái niệm từ đơn, từ phức ( bao gồm từ ghép và từ láy), khắc sâu nội dung ghi nhớ:
Từ đơn chỉ gồm một tiếng có nghĩa, từ phức gồm hai hay nhiều tiếng ( nếu ghépcác tiếng lại với nhau thành nghĩa chung là từ ghép, nếu phối hợp những tiếng có
âm đầu hoặc vần hoặc cả âm đầu và vần giống nhau là từ láy), đồng thời luyện tậpnhiều bài tập về cấu tạo từ trong đó có bài tập vạch danh giới từ
Trong tiếng Việt, có những trường hợp từ “lưỡng tính”, học sinh có các cách
phân tích khác nhau Chẳng hạn: cụm từ“ những đám mây trắng” có thể phân tích
thành
những/ đám/ mây/ trắng/ nhỏ/ (1) những /đám/ mây trắng / nhỏ/(2) những /đám mây trắng/nhỏ (3)
những /đám/ mây trắng nhỏ (4)
Trong trường hợp học sinh có những phân tích như trên, giáo viên nên đưa ramột sự nhất quán trong phân tích các cụm từ tương tự để học sinh nắm chắc cáchphân tích cấu tạo Từ dó, các em sẽ làm đúng các bài tập tương tự Trong ba cách
phân tích trên, giáo viên khẳng định cách phân tích (2) là phù hợp trong đó
“đám”là từ đơn và là một danh từ đơn vị, “mây trắng” là từ ghép và là danh từ chỉ
sự vật, “nhỏ” là tính từ.
Ở những bài tập nhận diện từ loại trong một dữ liệu ( đoạn văn, đoạn thơ, câuvăn, câu thơ), đối với những học sinh có kĩ năng nhận định ranh giới từ tốt thìkhông cần thiết yêu cầu học sinh vạch ranh giới từ, đối với những học sinh nhậnđịnh còn nhầm lẫn, giáo viên cần cho các em dùng bút vạch rõ ranh giới các từ Từ
đó, các em có cơ sở xác định đúng danh từ, động từ, tính từ
2.3.2 Nắm vững khái niệm từng từ loại
Các từ loại được học trong chương trình luyện từ và câu lớp 4 bao gồm danh
từ, động từ, tính từ
2.3.2.1 Danh từ:
Phần ghi nhớ SGK Tiếng Việt 4, tập 1, trang 53 có viết: Danh từ là những
từ chỉ sự vật ( người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặc đơn vị) Trong đó, danh từ
chỉ người như : ông, cha, học sinh, giáo viên ; danh từ chỉ vật như: sông, hồ, bàn,ghế, mũ, nón ; danh từ chỉ hiện tượng như: mưa, nắng, giông bão; danh từ chỉ kháiniệm như: cuộc sống, đạo đức, kinh nghiệm, danh từ chỉ đơn vị như: con, cái,chiếc, mảnh, tấm, tấn, tạ, ki- lô - gam, xăng - ti –mét, thôn, xóm, tỉnh huyện
Để giúp học sinh mở rộng kiến thức về khái niệm danh từ, trong bài học,giáo viên có thể lồng thêm một số kiến thức về danh từ Chẳng hạn, ngoài các danh
Trang 9từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm, đơn vị, trong nhiều văn cảnh còn có danh
từ chỉ sự việc như: lễ chào cờ, cuộc họp, giáng sinh, sinh nhật Từ đó, có thể khái
quát để học sinh hiểu rộng hơn: Danh từ là những từ chỉ sự vật, sự việc Sau khi
học sinh nắm được khái niệm danh từ, ở mỗi loại danh từ, giáo viên nên cho học sinh tự lấy ví dụ để khắc sâu kiến thức một lần nữa và vận dụng làm các bài tập Đối với bài tập 1, 2 trong SKG Tiếng Việt 4 trang 53, do đã được giảm tải nên giáo viên có thể thay thế bằng hai bài tập khác Trong các năm dạy lớp 4, tôi đã thay thế bằng hai bài tập sau:
Bài 1: Xếp những từ sau đây thành hai nhóm và đặt tên cho mỗi nhóm:
sách, cô giáo, bút, mẹ, cha, vở, anh chị, quần áo, bộ đội, khăn đỏ.
chỉ
Nhóm 2: Từ chỉ
Các từ:
-Các từ:
-
-
-Bài 2: Viết tiếp vào chỗ trống 5 từ ngữ chỉ người theo nghề nghiệp: Giáo viên, thợ xây,
-Sau khi học sinh nắm vững khái niệm danh từ, giáo viên tiếp tục cho học sinh phân biệt danh từ riêng, danh từ chung Danh từ riêng là tên riêng của một sự vật, danh từ riêng luôn luôn được viết hoa như: Cửu Long ( dòng sông lớn nhất chảy qua nhiều tỉnh phía Nam nước ta), Lê Lợi ( vị vua có công đánh đuổi giặc Minh, lập ra nhà Lê ở nước ta) Danh từ chung là tên chung của một loại sự vật như: sông ( dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được), vua ( người đứng đầu nhà nước phong kiến) Để học sinh hiểu và nhận diện đúng các danh từ chung, giáo viên giới thiệu danh từ chung có thể chia thành hai loại: Danh từ cụ thể và danh từ trừu tượng Những danh từ cụ thể thường chỉ sự vật mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng các giác quan như: quần áo, mưa, nắng, bác sĩ, bảo vệ , còn những danh từ trừu tượng thường chỉ các sự vật mà ta không cảm nhận được bằng giác quan, chỉ cảm nhận được nhờ những suy nghĩ, tưởng tượng, nhận thức của mỗi người như: tâm hồn, tính cách, niềm tin
Trang 10Việc xác định danh từ cần được luyện tập thêm giúp học sinh chắc chắn hơnkhi giải quyết các bài tập Vì vậy, ngoài các buổi chính khóa, giáo viên có thể tổchức cho học sinh làm thêm một số bài tập khác Chẳng hạn những bài tập yêu cầuhọc sinh viết tên địa chỉ nơi mình ở hoặc viết tên các danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử, giáo viên giúp học sinh vừa nắm được quy tắc viết tên người, tên địa líViệt Nam, vừa nhận biết đúng danh từ chung, danh từ riêng:
VD: Viết địa chỉ của gia đình em:
làng Cao Thắng, xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
các từ: làng, xã, huyện, tỉnh là danh từ chung nên viết thường; các từ Cao Thắng,Cao Thịnh, Ngọc Lặc, Thanh Hóa là danh từ riêng nên viết hoa
2.3.2.2 Động từ
Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật ( Ghi nhớ - SGK
Tiếng Việt 4, trang 94) Khi dạy đến bài học về động từ, giáo viên giúp học sinhhiểu rõ bản chất của từ, nắm chắc kiến thức về động từ, biết lấy ví dụ về các trườnghợp của động từ Các động từ chỉ hoạt động thường thể hiện sự tác động giữa các
sự vật với nhau như: đánh, chơi, ăn, chạy, học, viết giúp học sinh dễ nhận diện.Tuy nhiên, các động từ chỉ trạng thái thường thể hiện những diễn biến bên trong sựvật như: còn, mất, biến thành, biến mất, vui, buồn, hốt hoảng học sinh khó pháthiện hoặc nhầm lẫn với tính từ Để giúp học sinh nhận diện được các động từ chỉtrạng thái, giáo viên có thể giới thiệu thêm cho các em một số loại động từ chỉ trạng
thái như động từ chỉ trạng thái tâm lí: vui, buồn, giận dỗi, lo lắng, băn khoăn , động từ chỉ trạng thái biến hóa: biến thành, biến, hóa, hóa thành , động từ chỉ
sự tồn tại: còn, mất, có, hết, động từ chỉ trạng thái so sánh: hơn, kém, thua, bằng, là động từ chỉ trạng thái tiếp nhận: bị, được, chịu, phải
Động từ chỉ trạng thái còn được gọi là động từ nội động, thường chỉ tìnhtrạng của con người hoặc các sự vật khác tồn tại trong hiện thực Nó mang tínhtrung gian giữa động từ và tính từ nên có nhiều động từ trạng thái vẫn được xácđịnh là tính từ Để giúp học sinh tiểu học không nhẫm lẫn, giáo viên nhấn mạnh các
từ chỉ trạng thái là động từ và cho các em thực hành một số bài tập nhận diện động
từ chỉ trạng thái để khắc sâu kiến thức
VD: Gạch dưới động từ trong các câu sau:
a Chiếc bút của em đã bị mất.
b Tre bần thần nhớ gió.
c Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
Ngoài ra, trong nhiều văn cảnh ta còn gặp những từ “gần nghĩa khác âm”
( còn gọi là hiện tượng chuyển nghĩa) và được xem như là một động từ chỉ trạngthái
Trang 11VD: Ông cụ đã đi cách đây hai ngày ( đi cùng nghĩa với từ trần, quá cố, mất, chết, qua đời là hiện tượng chuyển nghĩa từ động từ hoạt động“đi” (chỉ sự di chuyển bằng chân) sang động từ trạng thái “đi” ( chỉ sự không tồn tại )
Trong Tiếng Việt, những trường hợp khi là động từ chỉ sự hoạt động, khi làđộng từ chỉ trạng thái như trên ta gặp rất nhiều Chẳng hạn:
Mặt trời đã đứng bóng ( Từ đứng chỉ trạng thái)
Tôi đang đứng trên bờ đê con sông Mã (Từ đứng chỉ hoạt động)
Khi gặp những câu văn như trên, giáo viên lưu ý học sinh dựa vào văn cảnh
để xác định đúng từ loại động từ
Có một số động từ chỉ trạng thái rất dễ nhầm lẫn với tính từ như: vui, buồn,yêu, ghét Trong những văn cảnh có các động từ này, đối với học sinh Tiểu học,chúng ta đều cho các em xác định là động từ
2.3.2.3 Tính từ
Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạt động, trạng thái ( Phần ghi nhớ SGK Tiếng Việt 4, trang 111 ) Trong tiết dạy về
tính từ, sau khi cho học sinh tìm hiểu và giải quyết các bài tập ở phần nhận xét, rút
ra nội dung cần ghi nhớ trên đây, giáo viên nên phân tích mở rộng thêm về nội
dung ghi nhớ, nhấn mạnh và khắc sâu các ý trong phần ghi nhớ: miêu tả đặc điểm
hoặc tính chất của sự vât, đặc điểm hoặc tính chất của hoạt động, đặc điểm hoặc tính chất của trạng thái, đồng thời lấy thêm ví dụ minh họa thêm cho mỗi ý.
VD: Mặt đường phẳng lì (Tính từ phẳng lì miêu tả đặc điểm sự vật)
Nước mía ngọt lịm (Tính từ ngọt lịm miêu tả tính chất của sự vật) Cậu bé chạy nhanh thoăn thoắt ( Tính từ thoăn thoắt miêu tả đặc điểm của hoạt động nhanh)
Chị ấy đang buồn rười rượi ( Tính từ rười rượi miêu tả đặc điểm của
trạng thái buồn).
Đặc điểm hoặc tính chất của sự vật có thể là màu sắc, hình dáng, kích thước,
âm thanh, hình khối và phẩm chất, tư chất, tính tình của con người Từ chỉ đặcđiểm của con người, đồ vật cây cối, con vật là những từ chỉ vẻ riêng, nét riêng bênngoài chúng ta có thể tri giác được, quan sát được như: to, nhỏ, cao, thấp, béo, gầy,xanh, đỏ hoặc những đặc điểm bên trong chúng ta cảm nhận được qua sự phântích, khái quát, nhìn nhận như: trung thực, hiền lành, thông minh, tốt, xấu Nhữngtính từ chỉ các đặc điểm bên trong sự vật là những tính từ chỉ tính chất, tư chất,phẩm chất
Khi dạy về tính từ, ngoài giúp học sinh hiểu thấu đáo các ý trong nội dungphần ghi nhớ, giáo viên cần giúp các em nắm được các mức độ của tính từ baogồm: tính từ không có mức độ, tính từ có mức độ và tính từ chỉ mức độ cao nhất
VD: cao, đỏ, béo, dài, xa, lạ là những tính từ không có mức độ, thường chỉtính chất chung ( thường do các từ đơn tạo thành)
cao cao, đo đỏ, dài dài, xa xa, là lạ là những tính từ chỉ mức độ thấp