Phân tích kỹ thuật là phương pháp nghiên cứu hành động của thị trường, chủ yếu thông qua việc sử dụng các đồ thị nhằm mục đích dự đoán xu thế giá cả trong tương lai. Thuật ngữ hành động của thị trường (market action) bao gồm 3 nguồn thông tin cơ bản sẵn có đối với nhà phân tích kỹ thuật giá, khối lượng và lượng dư mua bán (open interest). (Open interest chỉ được sử dụng trong thị trường hợp đồng tương lai và quyền chọn). Thuật ngữ hành động giá (Price action) cũng thường được sử dụng tuy nhiên nghĩa của nó hơi hẹp bởi vì hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật còn sử dụng khối lượng và Open interest như một bộ phận không thể thiếu trong các phân tích thị trường của mình. Tuy nhiên trong cuốn sách này 2 thuật ngữ trên được sử dụng thay thế lẫn nhau.
Trang 1CHƯƠNG I: NGUYÊN LÝ CỦA PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
LỜI MỞ ĐẦU
Trước khi tìm hiểu xem các bí kíp cũng như các công cụ của phân tích kỹ thuật thực
sự được sử dụng như thế nào, trước tiên chúng ta cần phải hiểu được khái niệm cũng như những cơ sở triết lý xây dựng nên phân tích kỹ thuật, phân biệt được phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản, và cuối cùng là nắm bắt được những phê phán chỉ trích xung quanh phương pháp phân tích này
Tác giả thực sự tin rằng muốn có được một đánh giá đầy đủ về phương pháp phân tích
kỹ thuật thì người nghiên cứu phải có hiểu biết thông suốt xem các kết luận rút ra từ phân tích
kỹ thuật có thể sử dụng làm gì và quan trọng hơn là cơ sở hợp lý nào đưa ra các kết luận đó
Trước tiên, chúng ta cùng định nghĩa đối tượng nghiên cứu của cuốn sách Phân tích
kỹ thuật là phương pháp nghiên cứu "hành động của thị trường", chủ yếu thông qua việc
sử dụng các đồ thị nhằm mục đích dự đoán xu thế giá cả trong tương lai Thuật ngữ "hành
động của thị trường" (market action) bao gồm 3 nguồn thông tin cơ bản sẵn có đối với nhà
phân tích kỹ thuật - giá, khối lượng và lượng dư mua bán (open interest) (Open interest chỉ được sử dụng trong thị trường hợp đồng tương lai và quyền chọn) Thuật ngữ "hành động giá" (Price action) cũng thường được sử dụng tuy nhiên nghĩa của nó hơi hẹp bởi vì hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật còn sử dụng khối lượng và Open interest như một bộ phận không thể thiếu trong các phân tích thị trường của mình Tuy nhiên trong cuốn sách này 2 thuật ngữ trên được sử dụng thay thế lẫn nhau
NGUYÊN LÝ HAY TÍNH LOGIC
Có 3 cơ sở xây dựng nên phương pháp phân tích kỹ thuật:
1 Hành động thị trường phản ánh tất cả các thông tin (Market action discounts everything)
2 Giá cả biến động theo xu thế
3 Lịch sử luôn lặp lại
Hành động thị trường phản ánh tất cả các thông tin
Lời nhận định "Hành động thị trường phản ánh tất cả các thông tin" có thể coi là giả thuyết hình thành nên cơ sở của phương pháp phân tích kỹ thuật Chỉ khi bạn đã hiểu đầy đủ
và chấp nhận hoàn toàn ý nghĩa của giả thuyết thứ nhất này thì những giả thuyết sau mới có ý nghĩa Các nhà phân tích kỹ thuật tin rằng bất cứ cái gì mà có thể ảnh hưởng tới giá cả - kết quả kinh doanh, chính trị, tâm lý hoặc những cái khác - trên thực tế đều được phản ánh trong giá cả của thị trường đó Vì thế nó dẫn tới chỉ cần nghiên cứu hành động giá là đủ Lời nhận định này dường như hơi mang tính giả định nhưng khó mà phản bác lại nếu như người ta bỏ thời gian để nghiên cứu ý nghĩa thực sự của nó
Tất cả các nhà phân tích kỹ thuật đều tuyên bố rằng hành động/biến động của giá cả phản ánh sự thay đổi cung và cầu Nếu cầu vượt cung giá sẽ tăng, nếu cung vượt cầu thì giá giảm Đây là nguyên lý cơ bản trong việc dự đoán các vấn đề kinh tế cũng như các hệ số cơ bản khác Từ đó các nhà phân tích kỹ thuật đi đến kết luận rằng nếu giá đang tăng cho dù vì
lý do gì thì cầu nhất định phải vượt cung và các hệ số cơ bản phải tăng Nếu giá giảm thì các
hệ số cơ bản nhất định giảm Trong điều kiện bàn luận về phân tích kỹ thuật thì cũng không nên ngạc nhiên về nhận định cuối cùng này vì suy cho cùng, có thể nói rằng các nhà phân tích
kỹ thuật đang nghiên cứu một cách gián tiếp các hệ số cơ bản Hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật đồng ý rằng chính những nhân tố kinh tế cơ bản của thị trường là lực lượng tiềm ẩn ảnh
Trang 2hưởng tới cung cầu và gây ra thị trường con bò hay con gấu Bản thân đồ thị không khiến cho thị trường đi lên hay đi xuống mà đơn giản chúng chỉ phản ánh tâm lý tăng hay giảm trên thị trường
Theo quy luật, các nhà phân tích đồ thị không bận tâm tại sao giá tăng hay giảm Thường thường khởi đầu một xu thế giá hoặc tại các thời điểm đảo chiều quan trọng dường như không ai biết chính xác nguyên nhân tại sao thị trường lại diễn ra theo cách đó Trong khi phương pháp phân tích kỹ thuật đôi khi có vẻ quá đơn giản khi đưa ra các kết luận nhưng nhà đầu tư càng có kinh nghiệm càng thấy logíc đằng sau nó là giả thuyết đầu tiên - thị trường phản ánh tất cả -rất hấp dẫn Theo đó nếu mọi thứ ảnh hưởng tới giá thị trường mà cuối cùng cũng được phản ánh vào giá thị trường thì chỉ cần nghiên cứu giá thị trường là đủ Bằng cách nghiên cứu đồ thị giá và hàng loạt các chỉ số kỹ thuật hỗ trợ, trên thực tế nhà phân tích đồ thị
đã khiến thị trường nói cho anh ta biết nó rất có thể vận động theo hướng nào Nhà phân tích
đồ thị không nhất thiết phải thông minh hay láu cá hơn thị trường bởi tất cả các công cụ kỹ thuật được bàn luận sau đây là các bí quyết đơn giản giúp đỡ họ nghiên cứu các biến động thị trường Các nhà phân tích đồ thị biết rằng có những lý do khiến cho giá tăng giảm nhưng họ tin rằng biết các lý do đó cũng không cần thiết trong việc dự đoán xu hướng giá
Giá biến động theo xu thế
Khái niệm xu thế hoàn toàn quan trọng đối với phương pháp phân tích kỹ thuật Phải nhắc lại một lần nữa rằng nếu bạn không chấp nhận nguyên lý là thị trường biến đông theo xu thế thì không có lý do gì để tiếp tục đọc thêm nữa Toàn bộ mục tiêu chính của việc vẽ đồ thị biến động giá là để có thể nhận ra sớm nhất xu thế đang bắt đầu hình thành để giao dịch theo
xu thế đó Thực tế thì tất cả các kỹ thuật phân tích được sử dụng đều mang tính chất chạy theo xu thế, có nghĩa là mục đích của chúng là nhận biết và làm theo xu thế hiện có (hình 1.1)
Hệ quả của nguyên lý giá cả biến động theo xu thế là một xu thế đang vận động có quán tính duy trì xu thế đó hơn là vận động ngược lại.Tất nhiên, hệ quả này là sự áp dụng qui luật đầu tiên của Newton về sự vận động Nói theo cách khác, một xu thế sẽ tiếp tục diễn tiến theo một xu hướng cho tới khi nó đảo chiều
Lịch sử tự lặp lại
Phần lớn các công cụ của phân tích kỹ thuật và nghiên cứu biến động thị trường là nghiên cứu tâm lý con người Ví dụ như các mô hình đồ thị đã được nhận biết và phân loại
Trang 3hơn 100 năm qua phản ánh một vài bức tranh về tình hình thị trường xuất hiện trên đồ thị giá Những bức tranh này cho biết bầu tâm lý nóng hay lạnh của thị trường Bởi vì những mô hình này đã hoạt động hiệu quả trong quá khứ, người ta có thể giả định rằng nó sẽ tiếp tục hoạt động tốt trong tương lai Những mô hình này đúc rút từ việc nghiên cứu tâm lý con người - một thứ vốn khó thay đổi Nói cách khác thì nguyên lý cuối cùng này nói rằng muốn hiểu được tương lai thì điểm mấu chốt là phải nghiên cứu quá khứ hoặc tương lai chỉ là sự lặp lại quá khứ
Dự báo dựa vào phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản
Trong khi phân tích kỹ thuật tập trung vào việc nghiên cứu hành động thị trường, phân tích cơ bản lại chú trọng đến lực lượng kinh tế cung cầu trên thị trường ảnh hưởng tới
sự tăng, giảm hay không thay đổi giá Phân tích cơ bản xem xét tất cả các yếu tố liên quan ảnh hưởng tới giá để xác định giá trị nội tại của cổ phiếu đó Giá trị nội tại là giá trị thực tính
từ các chỉ số cơ bản và dựa trên qui luật cung cầu Nếu giá trị nội tại thấp hơn giá thị trường hiện tại thì khi đó thị trường đã định giá quá cao và nên bán cổ phiếu Ngược lại nếu giá trị nội tại cao hơn giá thị trường thì có nghĩa là thị trường đang định giá thấp cổ phiếu và nên mua vào
Cả 2 cách tiếp cận này thực ra đều nhằm giải quyết cùng một vấn đề đó là xác định
xu hướng giá cả Họ chỉ tiếp cận vấn đề theo các cách khác nhau Nhà phân tích cơ bản thì nghiên cứu nguyên nhân, gốc rễ của biến động thị trường trong khi các nhà phân tích kỹ thuật lại nghiên cứu hiệu ứng Tất nhiên nhà phân tích kỹ thuật tin rằng tất cả những gì anh ta cần
là ảnh hưởng còn nguyên nhân gây ra thì không cần thiết Các nhà phân tích cơ bản luôn luôn phải biết lý do tại sao
Hầu hết các nhà đầu tư tự cho mình hoặc là nhà phân tích cơ bản hoặc là nhà phân tích kỹ thuật nhưng trên thực tế có sự đan xen chồng chéo Rất nhiều nhà phân tích cơ bản có hiểu biết về các nguyên lý cơ bản của phân tích đồ thị đồng thời rất nhiều nhà phân tích kỹ thuật cũng có hiểu biết sơ lược về phân tích cơ bản Tuy nhiên vấn đề là ở chỗ phân tích đồ thị và phân tích cơ bản luôn có mâu thuẫn với nhau Thông thường khi thị trường bắt đầu một giai đoạn chuyển biến quan trọng thì phân tích cơ bản không lý giải hay khẳng định được
điều gì Chính tại thời điểm được coi là quan trọng của một xu thế thì 2 cách phân tích này dường như khác nhau nhiều nhất Thường thì chúng sẽ giống nhau ở một số thời điểm nào đó nhưng thường là quá muộn để có thể hành động
Một cách lý giải cho sự khác biệt này là giá cả thị trường có xu hướng đi trước những chỉ số tài chính cơ bản mà người ta đã biết Nói theo cách khác, giá cả thị trường chính là chỉ
số tiên phong cho các chỉ số cơ bản hoặc những sự biến động người ta thường biết Trong khi các chỉ số cơ bản đã được biết được bao hàm trong giá cả thị trường, thì giá cả nay lại đang tính đến những chỉ số cơ bản mà người ta chưa biết Một số các thị trường con bò hoặc con gấu đáng chú ý trong lịch sử đã bắt đầu mà hầu như người ta chẳng nhận thấy có sự thay đổi các chỉ số cơ bản nào Vào lúc những thay đổi này được biết đến thì xu hướng mới đã xảy ra lâu rồi
Sau một thời gian, các nhà phân tích kỹ thuật ngày càng tin vào khả năng đọc và hiểu các đồ thị của mình Họ học cách bình tâm trong những trường hợp mà thị trường không hành động giống như thường lệ Nhà phân tích kỹ thuật bắt đầu cảm thấy sung sướng khi là một trong số ít người nhận ra được hành động đó Anh ta biết rằng cuối cùng thì lý do khiến thị trường hành động như vậy cũng phải lộ ra chẳng qua nhà phân tích kỹ thuật không muốn đợi tới khi có sự xác nhận đó
Khi chấp nhận các nguyên lý cơ sở của phân tích kỹ thuật, người ta có thể thấy tại sao các nhà phân tích kỹ thuật lại tin tưởng cách tiếp cận của họ hay hơn nhà phân tích cơ bản Nếu một nhà đầu tư chỉ được lựa chọn một trong 2 các tiếp cận, sự lựa chọn có lý phải là phân tích kỹ thuật Bời vì theo định nghĩa phân tích kỹ thuật bao gồm cả phân tích cơ bản Nếu như các chỉ số cơ bản được phản ánh trong giá thị trường thì khi đó việc nghiên cứu
Trang 4chúng không cần thiết nữa Đọc biểu đồ là một phương pháp nghiên cứu cơ bản rút gọn Tuy nhiên, điều ngược lại thì không đúng vì phân tích cơ bản không bao gồm việc nghiên cứu biến động giá Hoàn toàn có thể giao dịch trên thị trường tài chính mà chỉ sử dụng phân tích
kỹ thuật nhưng nếu một người chỉ sử dụng các chỉ số cơ bản để mua bán mà không tính đến khía cạnh kỹ thuật của thị trường thì còn phải bàn cãi
Phân tích và thời điểm
Nếu như chia quá trình ra quyết định thành 2 giai đoạn riêng biệt- phân tích và thời
điểm thì đây là vấn đề cuối cùng cần phải làm rõ Do yếu tố đòn bẩy cao trên thị trường tương lai, thời điểm là đóng vai trò cực kỳ quan trọng trên thị trường này Bạn hoàn toàn có thể đúng theo xu hướng chung của thị trường nhưng vẫn mất tiền bởi vì lợi nhuận biên yêu cầu quá thấp trong các giao dịch tương lai (thường ít hơn 10%), chỉ cần một sự biến động giá tương đối nhỏ theo hướng ngược lại có thể khiến nhà đầu tư bật ra khỏi thị trường và kết quả
là mất gần hết hoặc tòan bộ phần lợi nhuận đó Giao dịch trên thị trường chứng khoán lại khác, nhà đầu tư nhận thấy rằng mình đang ở phía bất lợi có thể quyết định nắm giữ và hi vọng rằng thị trường sẽ quay ngược lại tại thời điểm nào đó
Các nhà đầu tư hợp đồng tương lai không có được sự xa xỉ đó Chiến lược "mua và nắm giữ" không áp dụng được trên thị trường mua bán hợp đồng tương lai Cả 2 cách tiếp cận
cơ bản và kỹ thuật đều có thể được sử dụng trong giai đoạn đầu tiên- quá trình dự đoán Tuy nhiên, để trả lời cho câu hỏi thời điểm, xác định thời điểm nhảy vào và thoát ra khỏi thị trường một cách cụ thể hầu như chỉ có phân tích kỹ thuật mới làm được Vì vậy khi xem xét các bước mà một nhà đầu tư phải trải qua trước khi quyết định tham gia vào thị trường, người
ta thấy rằng ở một số bước việc ứng dụng đúng đắn các nguyên tắc của phân tích kỹ thuật là không thể thiếu thậm chí ngay cả khi phân tích cơ bản được sử dụng ở những bước đầu tiên Thời điểm đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn từng cổ phiếu riêng biệt và trong việc mua bán theo lĩnh vực và nhóm ngành công nghiệp
Tính linh hoạt và khả năng thích ứng của phân tích kỹ thuật
Một trong những sức mạnh của phân tích kỹ thuật là khả năng thích ứng với hầu hết các phương tiện giao dịch và đơn vị thời gian (time dimension) Không có phạm vi giao dịch nào trên thị trường cổ phiếu hay hợp đồng tương lai mà những nguyên lý này không thể áp dụng
Các nhà phân tích đồ thị có thể dễ dàng áp dụng các nguyên lý vào bao nhiêu thị trường tùy theo họ muốn nhưng điều này nhìn chung không đúng với các nhà phân tích cơ bản Bởi vì nhà phân tích cơ bản phải giải quyết hàng đống số liệu khiến cho họ có xu hướng chuyên môn hóa Lợi thế này của phân tích đồ thị không nên bị bỏ qua
Thêm một điều nữa, các thị trường trải qua các giai đoạn sôi động hoặc ảm đạm, theo
xu thế hoặc lừng khừng Nhà phân tích kỹ thuật tập trung chú ý và các nguồn lực vào những thị trường mà biểu hiện xu thế rõ ràng và bỏ qua thị trường còn lại Kết quả là các nhà phân tích đồ thị có thể xoay chuyển sự chú ý và nguồn vốn của mình để tận dụng lợi thế từ tính biến động của thị trường Tại các thời điểm khác nhau, một số thị trường nhất định trở nên nóng và trải qua các xu thế quan trọng Thường thường, sau các giai đoạn sôi động này là các giai đoạn yên ắng và hầu như không theo xu thế nào, khi đó lại có một thị trường khác hay nhóm thị trường khác vào giai đoạn nóng Nhà phân tích kỹ thuật tự do lựa chọn thâm nhập vào thị trường nào Tuy nhiên các nhà phân tích cơ bản, có xu hướng chuyên sâu vào một nhóm, không có tính linh hoạt này Thậm chí nếu anh ta tự do chuyển sang nhóm khác thì các nhà phân tích cơ bản cũng gặp khó khăn hơn các nhà phân tích kỹ thuật
Một ưu điểm khác của nhà phân tích kỹ thuật là có được tầm nhìn rộng ("big picture") Bằng cách theo dõi toàn bộ thị trường, anh ta có được cảm nhận chung về điều thị trường đang làm và tránh được tầm nhìn vụn vặt (tunnel vision) xuất phát từ việc chỉ theo dõi một nhóm trên thị trường Cũng vậy, bởi vì rất nhiều các chủ thể trên thị trường có các mối quan hệ kinh tế đã xác lập và phản ứng với các nhân tố kinh tế tương tự nhau, hành động giá
Trang 5của một thị trường hay một nhóm có thể là những đầu mối có giá trị về xu hướng tương lai của thị trường khác hay nhóm khác của thị trường
Phân tích kỹ thuật áp dụng cho các phương tiện giao dịch khác nhau
Nguyên tắc của phân tích đồ thị có thể áp dụng cho cả cổ phiếu và hợp đồng tương lai Thực ra, phân tích kỹ thuật được áp dụng đầu tiên cho thị trường cổ phiếu sau đó mới áp dụng vào thị trường tương lai Với sự ra đời của hợp đồng tương lai mua bán chỉ số cổ phiếu (stock index furtures), ranh giới giữa 2 thị trường này nhanh chóng biến mất Người ta cũng biểu diễn biến động của thị trường cổ phiếu quốc tế và phân tích theo những nguyên tắc của phân tích kỹ thuật (Hình 1.2)
Hợp đồng tương lai tài chính, bao gồm thị trường lãi suất và ngoại hối, đã trở nên cực
kỳ phổ biến trong 2 thập kỷ qua và được chứng minh là mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích đồ thị
Các nguyên tắc phân tích kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong giao dịch quyền chọn Dự báo kỹ thuật cũng rất hữu ích trong quá trình tự bảo hiểm
Phân tích kỹ thuật được sử dụng cho các khoảng thời gian khác nhau
Một thế mạnh khác của phân tích đồ thị kỹ thuật là khả năng phân tích được thị trường trong các khoảng thời gian khác nhau Cho dù người ta sử dụng đồ thị để giao dịch theo những thay đổi nhỏ diễn ra trong ngày hay giao dịch theo xu thế trung hạn thì đều áp dụng cùng một nguyên tắc Dự báo kỹ thuật dài hạn (longer range technical forecasting) thường rất hay bị bỏ qua Quan điểm cho rằng phân tích đồ thị chỉ có ích trong ngắn hạn là không đúng Một số người cho rằng phân tích cơ bản được sử dụng cho dài hạn còn phân tích
kỹ thuật chỉ giới hạn trong ngắn hạn Thực tế là người ta có thể sử dụng đồ thị tuần hoặc tháng mà biểu diễn được thị trường trong 1 vài năm trước đó để dự báo dài hạn, đây chính là một ứng dụng cực kỳ hữu ích của phân tích kỹ thuật
Một khi bạn đã hiểu cặn kẽ các nguyên tắc phân tích kỹ thuật được bàn luận đến trong quyển sách này thì chúng sẽ đem lại cho bạn khả năng ứng dụng vô cùng linh hoạt, cho mọi phương tiện được phân tích và mọi khoảng thời gian được nghiên cứu
Trang 6Dự báo kinh tế
Phân tích kỹ thuật có thể đóng 1 vai trò trong dự báo kinh tế Ví dụ như xu hướng của giá cả hàng hóa cho chúng ta biết đôi điều về xu hướng của lạm phát Chúng cũng là manh mối cho biết về điểm mạnh hay điểm yếu của nền kinh tế Nhìn chung nếu giá cả hàng hóa tăng thì nền kinh tế mạnh hơn và áp lực lạm phát gia tăng Giảm giá hàng hóa thường cảnh báo rằng nền kinh tế đang trì trệ cùng với lạm phát giảm Xu hướng của lãi suất cũng bị ảnh hưởng bởi xu thế của hàng hóa Kết quả là đồ thị diễn biến thị trường hàng hóa như vàng và dầu lửa, cùng với Trái phiếu Kho bạc có thể nói cho chúng ta biết rất nhiều về sức mạnh hay
điểm yếu của nền kinh tế cũng như tình hình lạm phát Xu hướng của đồng Đô la Mỹ và hợp đồng tương lai ngoại hối cũng cung cấp chỉ dẫn ban đầu về sức mạnh hay yếu của nền kinh tế
Mỹ và triển vọng kinh tế toàn cầu Thậm chí ấn tượng hơn là các xu thế trên các thị trường tương lai này thường xuất hiện rất sớm trước khi chúng được phản ánh trong các chỉ số kinh
tế truyền thống được công bố hàng tháng hoặc hàng quý mà thường chỉ cho chúng ta thấy cái
gì đã xảy ra Như tên gọi của nó, thị trường tương lai thường đem lại cho chúng ta cái nhìn thấu vào tương lai Chỉ số thị trường cổ phiếu S&P 500 từ lâu đã được coi là chỉ số kinh tế chính thức hàng đầu Cuốn sách "Leading Indicators for the 1990s" (Những chỉ số hàng đầu của những năm 1990) do một trong những chuyên gia hàng đầu trong giới doanh nhân của
Mỹ (Moore) viết, đưa ra một trường hợp khá thuyết phục về vai trò quan trọng của xu thế hàng hóa, trái phiếu và cổ phiếu như là các chỉ số kinh tế Cả 3 thị trường trên đều có thể được nghiên cứu bằng cách sử dụng phân tích kỹ thuật Chúng ta sẽ nói nhiều về chủ đề này trong chương 17: "Mối quan hệ giữa cổ phiếu và hợp đồng tương lai"
Nhà phân tích kỹ thuật hay nhà phân tích đồ thị
Nhà đầu tư sử dụng các tiếp cận phân tích kỹ thuật được gọi với nhiều tên khác nhau: nhà phân tích kỹ thuật, nhà phân tích đồ thị, nhà phân tích thị trường, và nhà phân tích hình ảnh (visual analyst) Tất cả các tên gọi này vẫn có ý nghĩa gần như nhau cho đến gần đây, tuy nhiên cùng với sự chuyên môn hóa ngày càng sâu trong lĩnh vực này, chúng ta cần phải phân biệt và định nghĩa các thuật ngữ này cẩn thận hơn một chút Bởi vì cho tới tận thập kỷ vừa qua người ta vẫn coi phân tích kỹ thuật là dựa trên việc sử dụng đồ thị, thuật ngữ "nhà phân tích kỹ thuật" và "nhà phân tích đồ thị" có cùng một ý nghĩa tuy nhiên điều này không còn
đúng nữa
Với phạm vi nghiên cứu ngày càng rộng, người ta đã phân chia người phân tích kỹ thuật thành 2 loại: nhà phân tích đồ thị truyền thống và nhà phân tích kỹ thuật Phải thừa nhận rằng có rất nhiều sự chồng chéo và hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật kết hợp cả 2 loại đồ thị
và thống kê ở một mức độ nào đó
Cho dù nhà phân tích đồ thị truyền thống có sử dụng các nghiên cứu thống kê để bổ sung cho phân tích của mình hay không thì đồ thị vẫn là công cụ làm việc cơ bản hàng đầu, mọi thứ khác chỉ là thứ yếu Đồ thị vẫn cần có cái gì đó mang tính chủ quan Sự thành công của việc phân tích phần lớn phụ thuộc vào kỹ năng của mỗi nhà phân tích đồ thị Thuật ngữ
"nghệ thuật đồ thị" (art charting) đã được sử dụng cho loại phân tích này vì đọc đồ thị chủ yếu vẫn là một nghệ thuật
Ngược lại, phân tích kỹ thuật sử dụng các nguyên tắc mang tính chủ quan này, lượng hóa, thử nghiệm và tối đa hóa với mục đích phát triển hệ thống giao dịch một cách máy móc
Hệ thống này đi từ đơn giản tới phức tạp Tuy nhiên, mục đích là giảm bớt hoặc loại bỏ hoàn toàn nhân tố chủ quan của con người trong giao dịch, khiến cho nó khoa học hơn Các nhà phân tích kỹ thuật này có thể hoặc không sử dụng đồ thị giá nhưng họ được coi là nhà phân tích kỹ thuật miễn là công việc của họ hạn chế ở việc nghiên cứu hành động thị trường
Thậm chí các nhà phân tích kỹ thuật sử dụng máy tính có thể được chia nhỏ hơn nữa thành những người thích hệ thống máy móc hay còn gọi là cách tiếp cận "hộp đen", và những người sử dụng công nghệ máy tính để phát triển thêm các chỉ số kỹ thuật tốt hơn Nhóm thứ 2 này vẫn là nhóm đưa ra ý nghĩa của các chỉ số và cả quá trình ra quyết định
Trang 7Một cách khác để phân biệt giữa nhà phân tích đồ thị và nhà phân tích kỹ thuật là có thể nói rằng tất cả các nhà phân tích đồ thị đều là nhà phân tích kỹ thuật nhưng không phải mọi nhà phân tích kỹ thuật là nhà phân tích đồ thị Mặc dù được sử dụng thay thế nhau trong quyển sách này, bạn nên nhớ rằng đồ thị chỉ thể hiện một phần trong đối tượng nghiên cứu rất rộng của phân tích kỹ thuật
So sánh ngắn gọn giữa phân tích kỹ thuật cổ phiếu và hợp đồng tương lai
Một câu hỏi khá quen thuộc mà người ta thường đặt ra là liệu phân tích kỹ thuật áp dụng cho hợp đồng tương lai có giống như áp dụng cho thị trường cổ phiếu Câu trả lời là vừa
có vừa không Nguyên lý cơ bản thì giống nhưng vẫn có một số khác biệt lớn Các nguyên lý của phân tích kỹ thuật trước tiên được áp dụng trong việc dự báo thị trường cổ phiếu, chỉ sau
đó mới được áp dụng vào hợp đồng tương lai Hầu hết các công cụ cơ bản -đồ thị que, đồ thị
điểm và hình, mô hình giá, khối lượng, đường xu thế, đường bình quân động và máy tạo dao động - được sử dụng trong cả 2 thị trường Bất kỳ ai mà biết đến những khái niệm này dù từ thị trường cổ phiếu hay hợp đồng tương lai đều không gặp khó khăn trong việc điều chỉnh cho phù hợp với thị trường còn lại Tuy nhiên điều khác biệt xuất phát từ sự khác nhau về bản chất của cổ phiếu và hợp đồng tương lai chứ không phải do chính các công cụ phân tích
Cấu trúc giá
Cấu trúc giá trên thị trường hợp đồng tương lai phức tạp hơn nhiều so với cổ phiếu Mỗi hàng hóa được niêm yết theo các đơn vị tiền tệ và khối lượng khác nhau Ví dụ như thị trường ngũ cốc niêm yết bằng cent cho mỗi bao, thị trường gia súc gia cầm yết bằng cent cho một Pound, vàng và bạc bằng đô la trên một ounce, lãi suất thì bằng các điểm cơ bản Người đầu tư phải biết chi tiết về hợp đồng trên mỗi thị trường: hợp đồng được giao dịch trên trung tâm giao dịch nào, mỗi hợp đồng được yết như thế nào và price increment tối đa và tối thiểu
là bao nhiêu, và mỗi price increment trị giá bao nhiêu
Vòng đời ngắn
Không giống như cổ phiếu, hợp đồng tương lai có ngày đáo hạn ví dụ một hợp đồng trái phiếu chính phủ tháng 3 năm 1999 sẽ đáo hạn vào tháng 3 năm 1999 Hợp đồng tương lai
điển hình giao dịch trong thời gian 1 năm rưỡi trứoc khi đáo hạn Vì thế tại bất kỳ một thời
điẻm nào luôn có ít nhất nửa tá khác nhau các hợp đồng tương lai tháng giao dịch cùng một loại hàng hóa Nhà đầu tư phải biết hợp đồng nào nên và không nên giao dịch Đặc điểm hữu hạn về thời gian này gây khó khăn cho việc dự báo trong dài hạn Nó bắt buộc phải liên tục
vẽ mới các đồ thị khi các hợp đồng cũ ngừng giao dịch vì đồ thị của các hợp đồng đã đáo hạn không có giá trị sử dụng nhiều Các hợp đồng mới với các thông số kỹ thuật của nó phải được
vẽ lại trên đồ thị Việc vẽ liên tục các đồ thị mới khiến việc lưu trữ các dữ liệu đồ thị gặp nhiều khó khăn Thậm chí đối với những người sử dụng máy tính thì cập nhật số liệu mới khi các hợp đồng đáo hạn cũng cần nhiều thời gian và chi phí
Yêu cầu lợi nhuận biên thấp hơn (Lower Margin Requirements)
Đây có lẽ là điểm khác biệt nhất giữa cổ phiếu và hợp đồng tương lai Tất cả các hợp đồng tương lai đều được giao dịch theo các biên độ lợi nhuận, thường ít hơn 10% giá trị hợp đồng (phần này chưa hiểu rõ bỏ lại)
Khung thời gian ngắn hơn rất nhiều
Do nhân tố đòn bẩy cao và yêu cầu kiếm soát vị thế trên thị trường nên thời gian giao dịch của hàng hóa cũng ngắn hơn Các nhà phân tích kỹ thuật thị trường cổ phiếu có xu hướng quan sát và bàn luận thời kỳ dài hơn mà vượt ngoài mối quan tâm của các nhà đầu tư hàng hóa thông thường Nhà phân tích cổ phiếu có thẻ bàn luận xem 3 hay 6 tháng tới cổ phiếu sẽ ra sao trong khi các nhà đầu tư trên thị trường tương lai chỉ muốn biết giá cả trong tuần tới, ngày mai hay thậm chí ngay trong buổi chiều Do đó cần phải chọn lọc những công
cụ xác định thời điểm ngắn hạn Một ví dụ đó là đường bình quân động Số ngày theo dõi bình quân thường là 50-200 ngày đối với cổ phiếu Trong thị trường hàng hóa thì ngày bình
Trang 8quân dịch chuyển thường dưới 40 ngày Các đường bình quân động trên thị trường tương lai thường là 4, 9 hoặc 18 ngày
Phụ thuộc nhiều hơn vào thời điểm
Thời điểm là tất cả trên thị trường hợp đồng tương lai Xác định chính xác xu thế của thị trường chỉ giải quyết một phần của vấn đề giao dịch Nếu thời điểm gia nhập bị bỏ qua 1 ngày hoặc đôi lúc chỉ vài phút, bạn có thể trở thành người chiến thắng hay kẻ bại trận Nếu ở
vị trí ngược lại với xu thế của thị trường và mất tiền đã là tồi tệ thì việc theo đúng xu thế thị trường và vẫn mất tiền là một trong những điều làm cho các nhà đầu tư trên thị trường hợp đồng tương lai đau đầu và nản nòng nhất Thời điểm tự thân nó đã mang tính kỹ thuật bởi vì phân tích cơ bản hiếm khi phụ thuộc vào các thay đổi hàng ngày
Ít phụ thuộc vào số bình quân thị trường và các chỉ số khác
Phân tích thị trường cổ phiếu dựa rất nhiều vào các chỉ số bình quân của thị trường - như chỉ số bình quân ngành công nghiệp Dow Jones hay chỉ số S&P500 Hơn nữa các chỉ số
kỹ thuật mà đo lường sức mạnh hay điểm yếu của thị trường rộng lớn hơn -như đường giảm NYSE hay danh mục các điểm đỉnh và đáy mới- cũng được sử dụng rất nhiều Trong khi đó có thể theo dõi thị trường hàng hóa chỉ thông qua các chỉ số như Chỉ số giá hợp đồng tương lai Sở nghiên cứu hàng hóa, người ta ít sử dụng đến chỉ số nghiên cứu thị trường rộng lớn hơn Nhà phân tích thị trường hàng hóa tập trung nhiều hơn vào các hành động thị trường riêng lẻ Cũng như vậy, các chỉ số kỹ thuật mà đo lường xu thế thị trường hàng hóa rộng không được sử dụng nhiều Chỉ cần khoảng 20 hoặc tương đương vậy…
tăng-Các công cụ phân tích kỹ thuật cụ thể
Trong khi hầu hết các công cụ phân tích kỹ thuật ban đầu được phát triển trên thị trường cổ phiếu sau đó có một vài ứng dụng vào thị trường hàng hóa nhưng chúng không được sử dụng y hệt như vậy Ví dụ, mô hình đồ thị trên thị trường hợp đồng tương lai không
có xu hướng hình thành một cách đầy đủ như trên thị trường cổ phiếu
Các nhà đầu tư hợp đồng tương lai phụ thuộc nhìều vào các chỉ số ngắn hạn và tập trung vào các dấu hiệu giao dịch chính xác Những điểm khác nhau này sẽ được bàn luận sau trong cuốn sách
Cuối cùng, có một lĩnh vực khác nhau cơ bản giữa cổ phiếu và hợp đồng tương lai là Phân tích kỹ thuật cổ phiếu dựa chủ yếu vào việc sử dụng các chỉ số tâm lý và phân tích dòng vốn quỹ Các chỉ số tâm lý kiểm soát sự hoạt động của các nhóm khác nhau như odd lotters,quỹ tương hỗ và các chuyên gia trên sàn Vai trò vô cùng quan trọng của chỉ số tâm lý
là đo lường tòan bộ tâm lý tăng hay giảm của thị trường theo lý thuyết là quan điểm chung thường sai Phân tích dòng vốn quỹ đề cập đến vị thế dòng tiền của các nhóm khác nhau, như quỹ tương hỗ hay các tài khỏan của các tổ chức lớn Quan điểm ở đây là càng nhiều tiền thì càng nhiều vốn để mua cổ phiếu
Phân tích kỹ thuật trên thị trường hợp đồng tương lai là dạng phân tích giá sơ khai hơn Trong khi những quan điểm trái ngược cũng được sử dụng ở mức độ nào đó, người ta vẫn tập trung vào phân tích xu thế cơ bản và ứng dụng của các chỉ số truyền thống
Một số phê phán xung quanh phân tích kỹ thuật
Có một số câu hỏi thường nổi lên xung quanh phân tích kỹ thuật, trước hết đó là sự tự
kỷ ám thị (self-fulfilling phrophercy) Một vấn đề khác đó là liệu số liệu quá khứ có dùng để tiên đoán tương lai không Những người phê phán phân tích kỹ thuật thường nói rằng : "đồ thị chỉ cho chúng ta biết nơi thị trường đã đi qua chứ không cho biết nơi nó sẽ đến" Hiện tại chúng ta sẽ gạt tạm câu trả lời rất rõ ràng sang 1 bên rằng đồ thị không thể nói cho ta biết
điều gì nếu bạn không biết cách đọc nó Lý thuyết tản bộ ngẫu cũng đặt ra câu hỏi liệu giá cả
có theo xu hướng và nghi ngờ rằng các kỹ thuật dự báo có thể chiến thắng chiến lược mua và nắm giữ Những câu hỏi này xứng đáng phải trả lời
Trang 9Sự tự kỷ ám thị
Sự nghi ngờ liệu có sự tự kỷ ám thị trên thị trường khiến cho nhiều người bực mình nhất vì nó là câu hỏi thường xuyên được nêu ra Đây là một băn khoăn hợp lý tuy nhiên nó không quan trọng bởi hầu hết mọi người đã giải đáp được Tuy nhiên cách tốt nhất để giải quyết thắc mắc này là trích dẫn đoạn trích mà bàn luận một số nhược điểm của v iệc sử dụng
mô hình đò thị:
a Việc sử dụng mô hình đồ thị được phổ biến rộng rãi trong một vài năm gần
đây Rất nhiều nhà đầu tư rất quen với mô hình này và giao dịch theo tín hiệu của chúng Điều này tạo ra tâm lý "tự kỷ ám thị" vì làn sóng mua bán thực chất chỉ để phản ứng trước mô hình tăng giảm giá trên thị trường…
b Mô hình giá hòan toàn mang tính chủ quan Không một nghiên cứu nào
thành công trong việc lượng hóa toán học các mô hình đồ thị đó Chúng rõ ràng chỉ có trong tâm trí của người phân tích…
Hai cách phê phán trên rõ ràng là mâu thuẫn với nhau, cái sau phủ định cái trước Nếu
mô hình đồ thị hoàn toàn chủ quan và chỉ có trong tâm trí của mỗi người thì thật khó mà tưởng tượng làm sao mọi người có thể nhìn thấy một điều hòan toàn giống nhau tại cùng một thời điểm-điều tạo nên sự tự kỷ ám thị Việc phê phán phân tích đồ thị theo 2 cách trên là hoàn toàn không thể Một mặt họ không thể phê phán phân tích đồ thị quá khách quan và rõ ràng khiến mọi người sẽ hành động giống nhau cùng một lúc (vì thế khiến cho mô hình giá trở thành sự thật), và sau đó lại phê phán đồ thị là quá mang tính chủ quan
Sự thật của vấn đề là đồ thị rất mang tính chủ quan và việc đọc đồ thị là một nghệ thuật (có lẽ từ “kỹ năng”thì chính xác hơn) Các mô hình giá hiếm khi thể hiện một cachs rõ ràng đến nỗi thậm chí các nhà phân tích đồ thị có kinh nghiệm cũng đôi khi không đồng ý với cách diễn giải của chính họ Luôn luôn có sự hoài nghi và bất đồng quan điểm nổi lên Như quyển sách này đã trình bày, có rất nhiều cách tiếp cận phân tích kỹ thuật mà thường mâu thuân với nhau
Thậm chí nếu hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật cùng dự đoán giống nhau về thị trường, họ cũng không nhất thiết phải nhảy vào thị trường cùng một lúc và cùng một cách như nhau Một số có thể cố gắng tiên đoán dấu hiệu của đồ thị và tham gia thị trường từ sớm
Số còn lại có thể mua tại khoảng trống “breakout” từ việc xem xét một mô hình hoặc chỉ số sẵn có Cũng có thể số khác đợi cho đến khi thị trường sụt giảm sau khi tăng giá sau đó mới hành động Một số nhà đầu tư quá nôn nóng trong khi số còn lại bảo thủ Một số dùng lệnh dừng (stops) để mua bán, trong khi số nhà đầu tư khác lại thích sử dụng lệnh thị trường hay lệnh giới hạn nghỉ (resting limit orders) Một số mua bán dài hạn số khác chỉ mua bán trong ngày Chính vì thế khả năng mà các nhà phân tích kỹ thuật hành động cùng lúc và cùng thời
điểm thực tế còn lâu mới xảy ra
Thậm chí nếu sự tự kỷ ám thị là mối bận tâm hàng đầu, nó cũng có thể tự sửa chữa theo bản chất tự nhiên Nói cách khác, các nhà đầu tư có thể dựa chủ yếu vào đồ thị cho đến khi hành động phối hợp của họ bắt đầu ảnh hưởng hay bóp méo thị trường Một khi họ nhận
ra điều này hoặc là họ sẽ dừng sử dụng đồ thị hoặc là sẽ điều chỉnh chiến lược mua bán của mình Ví dụ họ có thể có gắng hành động trước đám đông hoặc là đợi chờ sự xác nhận chắc chắn hơn Vì thế, thậm chí nếu có sự tự kỷ ám thị trong ngắn hạn nó sẽ có xu hướng tự điều chỉnh
Bạn phải luôn tâm niệm rằng thị trường con gấu hay con bò chỉ diễn ra và được duy trì khi chúng được điều chỉnh bởi quy luật cung cầu Các nhà phân tích kỹ thuật không có khả năng tạo ra một xu thế thị trường lớn chỉ bằng chính sức mua và bán của họ Nếu điều này xảy ra hẳn là tất cả các nhà phân tích kỹ thuật đều trở nên giàu có vô cùng nhanh chóng
Một trong số những mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích đồ thị đó là sự tăng trưởng mạnh mẽ việc sử dụng hệ thống giao dịch kỹ thuật máy tính hóa tại thị trường hợp đồng tương lai Hệ thống này về bản chất là mang tính xu thế nghĩa là chúng được lập trình
Trang 10để nhận diện và mua bán theo các xu thế chính Với sự gia tăng số tiền được quản lý chuyên nghiệp trong lĩnh vực hợp đồng tương lai, và sự sinh sôi nảy nở các quỹ công chúng và tư nhân trị giá hàng triệu đô la, mà hầu hết chúng đều sử dụng hệ thống kỹ thuật này, khiến cho một luồng tiền lớn chỉ tập trung theo đuổi một số ít các xu thế hiện có Bởi vì tính toàn cầu của thị trường hợp đồng tương lai vẫn còn khá nhỏ, khả năng bóp méo biến động giá trong ngắn hạn của hệ thống này ngày càng tăng Tuy nhiên, thậm chí cả trong truờng hợp có xảy
ra sự bóp méo thị trường thì việc này nhìn chung chỉ diễn ra trong ngắn hạn và không gây ra được các xu thế chủ đạo
Nhắc lại một lần nữa thậm chí nếu có vấn đề một số lượng tiền lớn được mua bán theo
hệ thống kỹ thuật này thì sự điều chỉnh có thể xảy ra Và nếu tất cả hệ thống này bắt đầu giống nhau tại cùng một thời điểm thì các nhà đầu tư có thể điều chỉnh bằng cách điều chỉnh
hệ thống của mình hoặc nhạy cảm hơn hoặc kém nhạy cảm hơn
Sự tự kỷ ám thị thường được coi là những phê phán kỹ thuật đồ thị tuy nhiên hợp lý hơn nếu coi nó là lời ca tụng Sau cùng, đối với bất kỳ kỹ thuật dự báo nào khi trở nên phổ biến và bắt đầu ảnh hưởng tới thị trường thì nó phải có điểm tốt Chúng ta chỉ tự hỏi là tại sao
điều này hiếm khi đặt ra đối với phân tích cơ bản
Liệu qúa khứ có thể dùng để tiên đoán tương lai?
Một câu hỏi khác cũng được chú ý là tính tin cậy của việc sử dụng số liệu giá cả quá khứ để tiên đoán tương lai Thật đáng ngạc nhiên khi các nhà phê phán phân tích kỹ thuật rất thường xuyên đưa ra câu hỏi này bởi vì mọi phương pháp dự báo đã biết, từ dự báo thời tiết cho tới phân tích cơ bản, đều hòan toàn dựa trên cơ sở nghiên cứu số liệu quá khứ Liệu còn
có loại dữ liệu nào khác để dự báo?
Trong khoa học thống kê ngừơi ta phân biệt thống kê mô tả và thống kê quy nạp Thống kê mô tả là sự biểu diễn số liệu theo đồ thị như các số liệu giá theo các đồ thị tiêu chuẩn Thống kê quy nạp là sự tổng quát hóa, sự dự báo, hay phép ngoại suy rút ra từ số liệu
đã cho Vì thế, đồ thị giá chính bản thân nó chỉ là sự mô tả trong khi đó nhà phân tích kỹ thuật phân tích trên số liệu giá đó lại được xếp vào loại quy nạp
Theo 1 văn bản thống kê: “bước đầu tiên trong việc dự báo công việc kinh doanh hay kinh tế bao gồm việc tập hợp các số liệu quan sát từ quá khứ” (Freund và Williams) Phân tích
đồ thị chỉ là một dạng khác của phân tích chuỗi thời gian, dựa trên việc nghiên cứu quá khứ Loại số liệu duy nhất mà bất kỳ ai cũng phải sử dụng đến đó là số liệu quá khứ Chúng ta chỉ
có thể dự báo tương lai bằng cách dựa trên các kinh nghiệm quá khứ
Vì thế dường như việc sử dụng số liệu quá khứ để tiên đóan tương lai trong phân tích
kỹ thuật dựa trên cơ sở các khái niệm thống kê mang tính logic Nếu bất kỳ ai nghi ngờ vấn
đề này của dự báo trong phân tích kỹ thuật thì anh ta cũng phải nghi ngờ tính chắc chắn của mọi loại dự đoán khác dựa trên số liệu quá khứ, chúng cũng bao gồm cả dự báo kinh tế và phân tích cơ bản
Lý thuyết tản bộ ngẫu nhiên
Lý thuyết tản bộ ngẫu được phát triển và nuôi nấng trong một cộng đồng học thuật tuyên bố rằng các thay đổi giá cả "độc lập theo từng kỳ" và rằng lịch sử giá cả không phải là một chỉ số tin cậy về xu hướng giá cả trong tương lai Tóm lại biến động giá là ngẫu nhiên và không dự đoán trước được Lý thuyết này dựa trên lý thuyết thị trường hiệu quả, cho rằng giá
cả biến động ngẫu nhiên quanh giá trị nội tại của nó Lý thuyết này cũng cho rằng chiến lược thị trường tốt nhất là chiến lược "mua và nắm giữ" ngược lại với nỗ lực "đánh bại thị trường"
Trong khi người ta rất ít nghi ngờ là có một số sự ngẫu nhiên hoặc "noise" tồn tại trên tất cả các thị trường thế nhưng thật không thực tế khi tin rằng tất cả biến động giá đều ngẫu nhiên Về mặt này sự quan sát theo kinh nghiệm và kinh nghiệm thực hành chứng minh là có ích hơn là những kỹ thuật thống kê phức tạp, điều mà dường như có khả năng chứng minh mọi thứ người ta nghĩ hoặc chẳng thể chứng minh điều gì Có thể hữu ích khi bạn tâm niệm rằng sự ngẫu nhiên chỉ có thể được định nghĩa theo nghĩa tiêu cực là không có khả năng
Trang 11khám phá ra mô hình có tính hệ thống của hành động giá Thực tế rất nhiều nghiên cứu học thuật không thể khám phá ra sự hiện diện của các mô hình giá này không chứng minh được rằng chúng không tồn tại
Tranh cãi của các nhà học thuật về việc liệu có xu thế thị trường là một trong những
điều ít được quan tâm nhất bởi các nhà phân tích thị trường bình thường và các nhà đầu tư người mà buộc phải kinh doanh trong thế giới thực nơi mà xu thế thị trường hiển hiện rõ ràng Nếu người đọc có bất kỳ nghi ngờ gì về điểm này, hãy nhìn một cách bình thường vào bất kỳ quyển sách đồ thị nào (lựa chọn một cách ngẫu nhiên) sẽ chỉ cho bạn thấy sự hiện diện của các xu thế theo đồ thị hình học Làm thế nào "những người đi bộ lang thang" giải thích được sự duy trì các xu thế này nếu giá cả độc lập theo từng thời kỳ, có nghĩa là cái gì xảy ra ngày hôm qua, tuần qua không có ảnh hưởng gì tới cái gì có thể xảy ra ngày hôm nay hoặc ngày mai? Làm thế nào họ có thể lý giải được kỳ tích lợi nhuận của rất nhiều hệ thống phân tích theo xu thế?
Ví dụ làm thế nào một chiến lược mua và nắm giữ có thể tồn tại trên thị trường hàng hóa tương lai nơi mà thời điểm đóng vai trò tối quan trọng? Liệu vị thế trường này có thể được nắm giữ trong thị trường con gấu? Thậm chí làm thế nào nhà đầu tư có thể biết sự khác biệt giữa thị trường con bò và con gấu nếu giá không thể lường trước được và không theo xu thế? Thực tế làm thế nào một thị trường con gấu có thể tồn tại trước tiên bởi vì điều đó có thể ngụ ý một xu thế? (Hình 1.3.)
Các bằng chứng thống kê sẽ chứng minh hoặc không chứng minh hòan tòan Lý thuyết
đi bộ ngẫu nhiên là điều còn phải hoài nghi Tuy nhiên ý tưởng cho rằng thị trường hoạt động ngẫu nhiên hòan toàn bị từ chối bởi cộng đồng các nhà phân tích kỹ thuật Nếu thị trường thực sự ngẫu nhiên thì không có kỹ thuật dự báo nào hoạt động hiệu quả cả Không hề bác bỏ tính tin cậy của cách tiếp cận phân tích kỹ thuật, lý thuyết thị trường hiệu quả rất gần với một nguyên lý của phân tích kỹ thuật là thị trường phản ánh mọi thứ Tuy nhiên, các nhà học giả cảm thấy rằng bởi vì thị trường nhanh chóng phản ánh mọi thông tin nên chẳng có cách nào kiếm lợi từ thông tin đó Nền tảng cơ bản của dự báo kỹ thuật là những thông tin thị trường quan trọng được phản ánh vào giá cả thị trường rất lâu trước khi nó được biết đến Không cần
đả động gì đến ý nghĩa, các nhà học giả tuyên bố rất hùng hồn cần phải giám sát hành động giá cả một cách chặt chẽ và vô ích khi cố gắng kiếm lợi nhuận từ những thông tin cơ bản, ít nhất là trong ngắn hạn
Trang 12Cuối cùng, công bằng mà nói thì với những người mà họ không hiểu quy luật bên dưới các quá trình thì các quá trình đó dường như ngẫu nhiên và không đoán trước được Ví
dụ như một bản in điện tâm đồ có thể có rất nhiều cách diễn giải ngẫu nhiên đối với một người không chuyên môn còn với người được đào tạo về y khoa tất cả các tín hiệu sáng này đều có rất nhiều ý nghĩa và tất nhiên là không ngẫu nhiên Sự hoạt động của thị trường có thể ngẫu nhiên với những người mà không bỏ thời gian để nghiên cứu các hành vi của thị trường
Ảo tưởng về sự ngẫu nhiên dần dần biến mất khi kỹ năng đọc đồ thị được nâng cao Hi vọng rằng đó chính là điều sẽ xảy ra khi người đọc tiến bộ dần dần qua từng phần khác nhau của quyển sách này
Cũng hi vọng như vậy đối với giới học thuật Rất nhiều các trường đại học hàng đầu của Mỹ đã bắt đầu khám phá ra cách "cư xử tài chính" mà tâm lý con người và định giá chứng khoán tác động qua lại lẫn nhau Đương nhiên đó chính là nền tảng đầu tiên của phân tích kỹ thuật
Các nguyên tắc mang tính tòan cầu
Khi phiên bản đầu tiên của cuốn sách này được xuất bản cách đây 12 năm, rất nhiều các công cụ xác đinhj thời điểm của phân tích kỹ thuật được sử dụng chủ yếu trên thị trường hợp đồng tương lai Tuy nhiên trong suốt thập kỷ qua, các công cụ này được vận dụng rộng rãi trong việc phân tích xu thế thị trường cổ phiếu Các nguyên tắc phân tích kỹ thuật được bàn luận trong cuốn sách có thể ứng dụng tại mọi thị trường trên toàn cầu - thậm chí cả các quỹ tương hỗ Một đặc điểm nữa của giao dịch thị trường cổ phiếu mà đã nhận được sự ưa thích rộng rãi trong thập kỷ qua là đầu tư vào ngành, đầu tiên là qua quyền chọn các chỉ số và quỹ tương hỗ Sau đó trong cuốn sách chúng tôi sẽ chỉ ra làm cách nào để xác định ngành nào
đang "hot" và ngành nào không bằng cách áp dụng các công cụ phân tích thời điểm
Trang 13CHƯƠNG II: Lý thuyết Dow Lời giới thiệu
Charles Dow và đồng nghiệp của anh ta Edward Jones thành lập công ty Down Jones
& Company vào năm 1882 Hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật và các sinh viên của thị trường đều đồng tình rằng hầu hết những công cụ mà chúng ta gọi là phân tích kỹ thuật ngày nay có nguồn gốc từ những lý thuyết lần đầu được Dow đưa ra vào khoảng đầu thế kỷ này Dow xuất bản những ý tưởng của mình trong một seri các bài báo ông viết cho cho Tạp chí Wall Street Hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật ngày nay công nhận và sử dụng các ý tưởng
cơ bản của Dow, cho dù có hay không công nhận nguồn gốc Lý thuyết Dow vẫn tạo nên nền tảng cơ bản của nghiên cứu phân tích kỹ thuật, thậm chí theo công nghệ máy tính tinh vi ngày nay và sự ra đời ngày càng nhiều các chỉ số kỹ thuật mới hơn và được cho là tốt hơn
Vào 3/7/1884, Dow xuất bản chỉ số bình quân thị trường cổ phiếu đầu tiên bao gồm giá đóng cửa của 11 cổ phiếu: 9 công ty đường sắt và 2 công ty chế tạo Dow cảm thấy rằng
11 cổ phiếu này đại diện tốt cho sự hưng suy của nền kinh tế Vào năm 1897, Dow xác định rằng 2 chỉ số riêng biệt đại diện tốt hơn cho sức khỏe của nền kinh tế và ông tạo ra chỉ số ngành công nghiệp gồm 12 cổ phiếu và chỉ số đường sắt gồm 20 cổ phiếu Đến năm 1928 chỉ
số ngành công nghiệp tăng thêm thành 30 cổ phiếu, là con số vẫn dùng ngày nay Các biên tập viên của tạp chí Wall Street đã cập nhật danh sách rất nhiều lần vào các năm kế tiếp, gộp thành một chỉ số hữu ích vào năm 1929 Năm 1984, nhân dịp kỷ niệm 100 năm lần xuất bản
lý thuyết Dow lần đầu, Hiệp hội các nhà phân tích kỹ thuật thị trường đã tặng công ty Dow Jones & Co một chén bạc Gorham Theo hiệp hội MTA (Market Technicians Association), giải thưởng trên công nhận sự đóng góp lâu dài mà Charle Dow đã cống hiến cho lĩnh vực phân tích đầu tư Chỉ số do ông tạo ra, tiền thân của chỉ số ngày nay, được coi như phong vũ biểu quan trọng cho các hoạt động của thị trường cổ phiếu, và 80 năm sau khi ông mất nó vẫn
là một công cụ cần thiết cho các nhà phân tích kỹ thuật
Không may cho chúng ta Dow không hề viết một cuốn sách nào về lý thuyết của mình Thay vào đó ông đã thể hiện tư tưởng về cách ứng xử của thị trường thông qua một loạt các ấn phẩm mà tạp chí Wall Street xuất bản đầu thế kỷ.Vào năm 1903, năm sau khi
Dow mất, S.A.Nelson tập hợp các bài luận này trong một cuốn sách có tựa đề The ABC of Stock Speculation Trong cuốn sách đó, Nelson lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Lý thuyết
Dow” Richard Russell, người viết phần giới thiệu cho lần tái bản năm 1978, đã so sánh đóng góp của Dow cho lý thuyết thị trường cổ phiếu với đóng góp của Freud cho ngành tâm thần học Năm 1922, William Peter Hamilton (Đồng nghiệp và là người kế nhiệm Dow tại tạp chí
WS) đã phân loại và xuất bản những nguyên lý của Dow trong cuốn The Stock Market Barometer Robert Rhea phát triển lý thuyết hơn nữa trong cuốn Dow theory (New York:
Barron’s), được xuất bản năm 1932
Dow đã ứng dụng tư tưởng của mình vào các chỉ số thị trường mà ông tạo ra, gọi là chỉ số ngành công nghiệp và đường sắt Tuy nhiên, hầu hết các tư tưởng mang tính phân tích của ông cũng áp dụng tốt cho tất cả các chỉ số bình quân khác Chương này sẽ mô tả 6 nguyên lý cơ bản của Lý thuyết Dow và sẽ bàn luận xem các tư tưởng này phù hợp với việc nghiên cứu phân tích kỹ thuật hiện đại ra sao Chúng ta cũng sẽ phân tích lần lượt từng nguyên lý trong các chương tiếp theo
Những nguyên lý cơ bản
1 Các chỉ số trung bình phản ánh tất cả các thông tin liên quan
Kết quả tổng hợp cũng như xu hướng của các giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán phản ánh toàn bộ những hiểu biết của Phố Wall về quá khứ, ngay tức thì hay còn xa xôi, được sử dụng để phản ánh tương lai Không cần thiết phải cầu kỳ thêm vào chỉ số bình quân bất kỳ chỉ số giá cả hàng hóa, việc thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng, biến động tỷ
Trang 14giá, giá trị thương mại trong và ngoài nước hay các thứ khác như một số nhà thống kê thường làm Phố Wall đã cân nhắc tất cả những chỉ số đó (Hamilton, trang 40-41)
Quan điểm cho rằng thị trường phản ánh toàn bộ các nhân tố có thể biết mà có tác động tới tổng cung tổng cầu trên thị trường là một trong những nguyên lý cơ bản của lý thuyết về phân tích kỹ thuật, như đề cập trong chương 1 Trong khi thị trường không thể dự
đoán trước được động đất, thiên tai và các tai họa thiên nhiên khác, nó lại rất nhanh chóng tính toán được những sự kiện này và hầu như ngay lập tức phản ánh hậu quả của chúng vào giá cả
2 Thị trường có 3 xu thế
Trước khi bàn luận xem các xu hướng hành xử như thế nào thì cần phải hiểu rõ quan niệm về xu thế của Dow như thế nào Dow định nghĩa xu thế tăng giá là xu thế mà trong đó mỗi đợt tăng giá sau đạt mức cao hơn đợt tăng giá trước và mỗi đợt điều chỉnh giảm vẫn đạt mức giá cao hơn đợt giảm trước Nói cách khác, xu thế tăng giá có hình đồ thị các điểm đỉnh
và đáy hướng chếch lên Xu thế ngược lại, có các đỉnh và đáy ngày càng chếch xuống, được xem là xu thế giảm giá Định nghĩa của Dow đã đứng vững trước thử thách thời gian và vẫn đặt nền tảng cho trường phái phân tích xu thế thị trường
Dow tin rằng những qui luật về “Hành động và Phản ứng” phát huy tác động trên thị trường cũng giống như trong thế giới vật chất Theo Dow: "các kết quả giao dịch quá khứ cho thấy trong nhiều trường hợp khi một cổ phiếu đạt đến đỉnh, giá sẽ giảm nhẹ và sau đó tăng trở lại gần tới ngưỡng này Sau những biến động như vậy, giá cổ phiếu lại giảm và rất có thể giảm nhiều"
Dow coi một xu thế có 3 cấp: cấp 1, cấp 2 và cấp 3 được ông so sánh như thủy triều, sóng và gợn sóng của biển Xu thế cấp 1 ví như thủy triều, xu thế cấp 2 ví như những con sóng tạo nên thủy triều, và xu thế cấp 3 giống như những gợn sóng nhỏ
Một người quan sát có thể xác định được phương hướng của thủy triều bằng cách chú
ý đến điểm xa nhất mà những con sóng nối tiếp nhau vươn vào trong bờ Nếu mỗi con sóng
kế tiếp sau tiến sâu vào bờ hơn con sóng trước thì thủy triều đang lên Ngược lại thì thủy triều
đang rút xuống Tuy nhiên không giống như thủy triều chỉ diễn ra trong vài giờ đồng hồ, Dow mường tượng "thủy triều" của thị trường có thể kéo dài hơn 1 năm hoặc có thể vài năm
Xu thế cấp 2 thể hiện sự điều chỉnh xu thế cấp 1 và thường kéo dài 3 tuần cho tới 3 tháng Xu thế này thường đi ngược chiều với xu thế cấp 1 trước đó một nửa giá trị và nhìn chung là từ 1/3 tới 2/3
Theo Dow, xu thế cấp 3 hay còn gọi là xu thế ngắn hạn thường diễn ra dưới 3 tuần xu thế ngắn hạn này biểu thị dao động của xu thế cấp 2
3 Những xu thế chủ đạo gồm 3 giai đoạn
Dow tập trung chú ý vào xu thế cơ bản cấp 1 mà theo ông thường diễn ra theo 3 giai
đoạn riêng biệt: giai đoạn tích lũy, giai đoạn tăng trưởng và giai đoạn phân phối Trong giai
đoạn tích lũy các nhà đầu tư nhạy bén nhận thấy rằng giá cả thị trường đã phản ánh hết các tin tức được coi là xấu và có dấu hiệu đảo chiều do vậy họ bắt đầu mua Giai đoạn tăng trưởng là giai đoạn hầu hết các nhà đầu tư phân tích xu thế bắt đầu tham gia vào thị trường khi mà các tin tức về tình hình kinh doanh được cải thiện và giá tăng chóng mặt Trong giai
đoạn phân phối, báo chí bắt đầu đăng tải ngày càng nhiều các tin tức về tình hình tăng trưởng của các công ty, thông tin kinh tế tốt hơn bao giờ hết cũng như khối lượng đầu cơ và công chúng đầu tư tăng lên Trong giai đoạn cuối này, những nhà đầu tư nhanh nhạy đã mua cổ phiếu gần đáy của thị trường con gấu (khi mà không ai muốn mua cổ phiếu) lại bắt đầu “phân phối” ra trước khi những nhà đầu tư khác bán
4 Các chỉ số bình quân phải xác nhận lẫn nhau
Các chỉ số bình quân mà Dow muốn đề cập đến ở đây chính là chỉ số bình quân ngành công nghiệp và đường sắt Ông cho rằng dù có những dấu hiệu của thị trường con bò hay thị trường con gấu thì điều đó không mấy quan trọng trừ khi 2 chỉ số trên cùng cho thấy cùng
Trang 15một xu thế và do đó xác nhận lẫn nhau Theo cảm nhận của Dow thì cả 2 chỉ số trên phải tăng vượt đỉnh giá cấp 2 trước đó mới xác nhận sự bắt đầu hay tiếp tục xu thế của thị trường con
bò Tuy nhiên, dấu hiệu trên không nhất thiết phải xảy ra đồng thời ở cả 2 chỉ số mà chỉ cần thời điểm xảy ra chúng càng gần nhau càng tốt Khi 2 chỉ số này khác biệt nhau thì rất có thể
xu hướng trước đó vẫn duy trì (theo lý thuyết sóng Elliott chỉ cần các dấu hiệu xảy ra ở 1 chỉ
số bình quân riêng biệt)
5 Khối lượng giao dịch phải xác nhận xu thế
Dow coi khối lượng giao dịch như là yếu tố thứ yếu nhưng không kém phần quan
trọng trong việc xác nhận xu thế giá cả Nói một cách đơn giản: "khối lượng giao dịch ngày càng tăng theo xu thế chủ đạo của giá cả" Trong xu thế tăng giá, khối lượng phải tăng khi
giá cả tăng và giảm khi giá giảm Ngược lại khi thị trường đi xuống, khối lượng phải tăng khi giá cả giảm và giảm khi giá hồi phục Thực sự Dow chỉ coi khối lượng giao dịch như là chỉ
số thứ cấp và hoàn tòan căn cứ vào giá đóng cửa để nhận diện các dấu hiệu mua-bán của mình Trong chương 7, "khối lượng và Open interest", sẽ đề cập đến khối lượng và những thứ được xây dựng trên tư tưởng của Dow Những chỉ số về khối lượng tinh vi ngày nay giúp nhà đầu tư có thể quyết định được liệu khối lượng đang tăng hay đang giảm Các nhà đầu tư có hiểu biết sau đó có thể so sánh thông tin này với diễn biến giá cả xem liệu chúng có xác định lẫn nhau không
Quan sát lý thuyết Dow trong khoảng thời gian dài trên thực tế Để một xu hướng tăng giá cấp 1 tiếp diễn, cả chỉ số ngành công nghiệp Dow và chỉ số ngành vận tải Dow phải cùng tăng
6 Một xu hướng được coi là thực sự xảy ra cho đến khi nó có những biểu hiện xác định rằng nó đã đảo chiều
Nguyên lý này là nền tảng chủ yếu hình thành nên các cách phân tích xu hướng hiện đại Bằng cách liên hệ giữa quy luật của thế giới vật chất với biến động của thị trường, nguyên lý tuyên bố như sau: một thực thể đang chuyển động (trong trường hợp này là một xu thế) có quán tính tiếp tục chuyển động cho đến khi có ngoại lực nào đó tác động làm thay đổi hướng đi Hiện nay có rất nhiều công cụ phân tích kỹ thuật trợ giúp cho nhà đầu tư tìm ra những dấu hiệu đảo chiều của thị trường, bao gồm các nghiên cứu về mức hỗ trợ và kháng
cự, mô hình giá, đường xu thế và đường bình quân động Thậm chí một số chỉ số có thể cung cấp những dấu hiệu cảnh báo rất sớm về khả năng thay đổi xu hướng hiện tại Tất cả chúng không thống nhất với nhau thì nhiều khả năng xu thế hiện tại sẽ tiếp tục
Trang 16Ví dụ về sự xác nhận lẫn nhau của 2 chỉ số theo lý thuyết Dow Vào đầu năm 1997 (điểm 1), chỉ số ngành vận tải Dow xác nhận trước sự tăng trưởng đầu tiên của chỉ số ngành công nghiệp Tháng 5 sau đó (điểm 2), chỉ số công nghiệp Dow xác nhận sự tăng giá mới của chỉ số ngành vận tải
Việc khó khăn nhất đối với các nhà lý thuyết Dow là có thể phân biệt được giữa xu thế điều chỉnh cấp 2 thông thường với thời kỳ bắt đầu của một xu hướng mới ngược chiều Các nhà lý thuyết Dow thường bất đồng quan điểm về vấn đề khi nào thị trường đưa ra các dấu hiệu đảo chiều thực sự Hình minh họa 2.3a và 2.3b bộc lộ sự bất đồng này như thế nào
Hình 2.3a và 2.3b minh họa 2 viễn cảnh thị trường khác hẳn nhau Trong hình 2.3a, chú ý rằng sự tăng giá đến điểm C thấp hơn đỉnh giá trước đó tại A Sau đó giá giảm xuống dưới điểm B Sự hiện diện của 2 đỉnh thấp hơn và 2 điểm đáy thấp hơn cho thấy dấu hiệu bán
rõ ràng tại điểm phá vỡ đáy B (điểm S) Mô hình đảo chiều này đôi khi được coi như "cú nhảy hụt""failure swing"
Trang 17Trong hình 2.3b, giá tăng đến đỉnh C cao hơn đỉnh trước tại A Sau đó giá giảm xuống dưới điểm B Một số nhà phân tích kỹ thuật không coi việc giá giảm xuống dưới mức S1 là một dấu hiệu nên bán ra chắc chắn Trong trường hợp này, họ có thể lý luận rằng đó chỉ là những điểm đáy thấp hơn nhưng có thể giá lại tăng lên đỉnh cao hơn Dấu hiệu bán chắc chắn phải là giá tăng tới điểm E thấp hơn điểm C và sau đó xu thế giá giảm xuống thấp hơn điểm
D Đối với các nhà phân tích kỹ thuật, S2 chỉ ra dấu hiệu bán thực sự
Mô hình thay đảo chiều được chỉ ra trong hình 2.3a được gọi là "nonfailure swing" A failure swing là mô hình yếu hơn mô hình chỉ ra trong hình 2.3b Hình minh họa 2.4a và 2.4b biểu thị những trường hợp tương tự trong thị trường giá xuống
CÁCH SỬ DỤNG GIÁ ĐÓNG CỦA VÀ HÌNH DẠNG CỦA ĐƯỜNG GIÁ
Dow hoàn toàn dựa vào giá đóng cửa Ông tin rằng các chỉ số bình quân phải có giá
đóng cửa cao hơn đỉnh trước và thấp hơn đáy trước thì mới có nhiều ý nghĩa Dow không coi những biến động trong ngày có nhiều giá trị
Khi các nhà đầu tư nói về các đường giá, họ ám chỉ đến những đường chân trời thỉnh thoảng xuất hiện trên đồ thị Những đường mua bán này thường đóng vai trò trong giai đoạn
điều chỉnh và thường được coi là sự củng cố thị trường Theo thuật ngữ hiện đại hơn, chúng
ta có thể gọi những mô hình bên lề như vậy là "hình chữ nhật"
MỘT SỐ PHÊ PHÁN LÝ THUYẾT DOW
Qua nhiều năm Lý thuyết Dow đã ứng dụng khá tốt trong việc nhận diện xu thế thị trường con bò hay con gấu, tuy nhiên nó cũng không tránh khỏi bị phê phán Tính bình quân thì xu thế diễn ra được từ 1/5 tới ¼ thì Lý thuyết Dow mới chỉ ra dấu hiệu Nhiều nhà đầu tư cho rằng như vậy là quá muộn Dấu hiệu để mua vào theo Lý thuyết Dow thường xảy ra trong giai đoạn thứ 2 của xu thế tăng giá khi giá đã tăng trở lại sau khi đã thiết lập một đỉnh giá trung gian trước đó Tình cờ, đây cũng là thời điểm mà hầu hết các hệ thống phân tích kỹ thuật về xu thế của thị trường bắt đầu nhận diện được và tham gia vào xu thế hiện tại
Bác lại những phê phán này, các nhà đầu tư nên nhớ rằng Dow không hề có ý định dự
đoán xu thế, thay vào đó ông muốn tìm cách nhận diện sự xuất hiện của thị trường con bò hoặc con gấu và nắm bắt được giai đoạn giữa khá dài của các xu thế thị trường quan trọng Những ghi chép hiện có cho thấy rằng Lý thuyết Dow đã thực hiện mục tiêu đó khá tốt Từ năm 1920 đến năm 1975, những dấu hiệu theo Lý thuyết Dow nhận diện được 68% những biến động của chỉ số bình quân ngành công nghiệp và ngành giao thông vận tải và 67% biến động của chỉ số tổng hợp S&P 500 (nguồn: Barron's) Những người cho rằng Lý thuyết Dow thất bại trong việc nắm bắt được những điểm đỉnh và đáy thực sự của thị trường là những người thiếu những hiểu biết căn bản về triết lý của phân tích xu hướng
CÁC CỔ PHIẾU ĐƯỢC COI LÀ NHỮNG CHỈ SỐ KINH TẾ
Rõ ràng là Dow không hề có ý định sử dụng lý thuyết của mình để dự đoán xu thế thị trường chứng khoán Ông chỉ cảm thấy rằng giá trị thực tế của lý thuyết của ông là sử dụng
xu thế của thị trường chứng khoán làm thước đo điều kiện kinh tế nói chung Chúng ta chỉ có
Trang 18thể ngạc nhiên trước tầm nhìn và tài năng của Dow Ngoài việc góp phần xây dựng nên phần lớn phương pháp dự báo giá ngày nay, ông còn là một trong số những người đầu tiên nhận ra tính hữu ích của chỉ số bình quân thị trường chứng khoán như là một chỉ số dự báo kinh tế
LÝ THUYẾT DOW ĐƯỢC ÁP DỤNG CHO CÁC GIAO DỊCH TƯƠNG LAI
Lý thuyết Dow đã nghiên cứu hành vi của chỉ số bình quân thị trường cổ phiếu Trong khi hầu hết các nghiên cứu ban đầu có ứng dụng quan trọng cho hợp đồng tương lai hàng hóa thì vẫn có một số khác biệt quan trọng giữa giao dịch cổ phiếu và giao dịch hợp đồng tương lai Trước hết, Dow giả định rằng hầu hết các nhà đầu tư chỉ quan tâm tới xu thế chính và chỉ
sử dụng xu thế điều chỉnh trung gian cho mục đích xác định thời điểm Ông coi xu thế cấp 3 hay xu thế ngắn hạn không quan trọng Rõ ràng, điều này không đúng trong giao dịch các hợp đồng tương lai tại đó các nhà đầu tư theo xu thế mua bán theo các xu thế trung gian hơn
là theo các xu thế chính Các nhà đầu tư này phải chú trọng rất nhiều vào các dao động nhỏ với mục đích tìm kiếm thời điểm thích hợp Nếu một nhà giao dịch hợp đồng tương lai dự
đoán có một xu thế cấp 2 tăng giá diễn ra trong 2 tháng, anh ta sẽ tìm kiếm cơ hội mua trong ngắn hạn Trong xu thế cấp 2 điều chỉnh giảm, các nhà đầu tư sẽ sử dụng các đợt tăng giá nhỏ
để thực hiện các nghiệp vụ bán khống Vì thế, xu thế cấp 3 trở nên cực kỳ quan trọng trong giao dịch hợp đồng tương lai
KẾT LUẬN
Chương này trình bày một cái nhìn tương đối ngắn gọn về những khía cạnh quan trọng hơn của Lý thuyết Dow Vấn đề này sẽ rõ ràng hơn khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu toàn bộ cuốn sách để thấy rằng Lý thuyết Dow đem lại nền tảng vững chắc cho bất cứ nghiên cứu nào Trường phái phân tích kỹ thuật Rất nhiều trong số đó sẽ được bàn luận trong các chương tiếp theo chỉ ra những ứng dụng của lý thuyết nguyên thủy của Dow Định nghĩa chuẩn thế nào là một xu hướng, việc phân chia một xu hướng thành 3 loại và 3 giai đoạn, nguyên tắc xác nhận lẫn nhau và không xác nhận nhau, ý nghĩa của khối lượng và việc sử dụng tỷ lệ điểu chỉnh ngược chiều, tất cả đều được rút ra từ Lý thuyết Dow các này hay cách khác
Những cách thức mới để giao dịch các chỉ số bình quân Dow
Chỉ số bình quân ngành công nghiệp Dow Jones chỉ được sử dụng như là
một chỉ số thị trường trong 100 năm tồn tại đầu tiên của mình Tất cả đã
thay đổi vào ngày 6 tháng 10 năm 1997 khi hợp đồng tương lai và quyền
chọn bắt đầu mua bán dựa trên chỉ số bình quân đáng kính của Dow lần
đầu tiên Sở giao dịch Chicago đã giao dịch hợp đồng tương lai về chỉ số
bình quân ngành công nghiệp DJ và Sở giao dịch quyền chọn chứng khoán
bắt đầu mua bán các quyền chọn chỉ số Dow (mã DJX) Bên cạnh đó, các
quyền chọn liên quan tới chỉ số bình quân ngành giao thông vận tải DJ (mã
DJTA) và chỉ số Tiêu dùng DJ (mã DJUA) cũng ra đời Vào tháng 2 năm
1998, Sở giao dịch chứng khoán Mỹ bắt đầu giao dịch Quỹ tín thác
Diamonds, một đơn vị quỹ tín thác đầu tư bắt chước theo 30 chỉ số công
nghiệp của Dow (The 30 Dow Industrials) Thêm vào đó, 2 quỹ tương hỗ
chào bán dựa trên cơ sở the 30 Dow benchmark Ngài Dow có lẽ rất vui
mừng khi biết rằng một thế kỷ sau khi ông tạo ra các chỉ số, người ta có thể
mua bán chúng và thực sự đã áp dụng Lý thuyết Dow vào thực tiễn
Trang 19CHƯƠNG III: CẤU TRÚC BIỂU ĐỒ CÁC LOẠI BIỂU ĐỒ HIỆN NAY
Biểu đồ hình que hàng ngày đã được công nhận là loại biểu đồ được sử dụng rộng rãi nhất trong phân tích kỹ thuật Tuy nhiên, cũng có rất nhiều loại biểu đồ khác cũng được các nhà phân tích kỹ thuật sử dụng như biểu đồ đường, biểu đồ điểm hình và gần đây là biểu đồ hình ống Hình minh họa 3.1 minh họa biểu đồ que giao dịch hàng ngày chuẩn mực Biểu đồ que biểu diễn biến động mỗi ngày bằng một cột đứng, trong đó cho biết giá mở cửa, giá cao nhất, giá thấp nhất và giá đóng cửa Nhánh bên phải của mỗi cột là giá đóng cửa, và nhánh bên trái là giá mở cửa
Hình 3.2 minh họa cùng một biến động thị trường trên nhưng ở dạng đồ thị đường Trên đồ thị này, chỉ có giá đóng cửa được biểu thị cho các ngày kế tiếp nhau Nhiều nhà phân tích đồ thị tin rằng vì giá đóng cửa là mức giá quan trọng nhất mỗi ngày giao dịch cho nên một đồ thị đường là một thước đo rất đáng tin cậy về diễn biến giá
Một loại đồ thị thứ 3, đồ thị điểm và hình, được minh họa trong hình 3.3 Lưu ý rằng
đồ thị điểm và hình vẽ này cũng biểu diễn cùng một biến động giá cả như trên nhưng được
Trang 20định dạng nén Chú ý các cột x's và o's khác nhau Cột x chỉ giá lên và cột o chỉ giá xuống Các dấu hiệu mua bán chính xác và dễ vẽ hơn trên đồ thị que
BIỂU ĐỒ ỐNG
Biểu đồ ống là phiên bản của đồ thị hình que của người Nhật Bản và ngày càng được các nhà phân tích đồ thị phương tây ưa thích trong những năm gần đây Đồ thị ống của người Nhật ghi lại 4 mức giá như đồ thị que truyền thống - giá mở cửa, cao nhất, thấp nhất và giá
đóng cửa Tuy nhiên hình dáng thì khác rất nhiều Đối với biểu đồ này, một nét mảnh (gọi là bóng) biểu diễn phạm vi giá trong ngày giao dịch từ cao đến thấp Phần phình to của que (gọi
là Thân chính) đo khoảng cách chênh lệch giữa giá mở cửa và đóng cửa Nếu giá đóng cửa cao hơn giá mở cửa thì Thân chính màu trắng (dương) Nếu giá đóng cửa thấp hơn giá mở cửa thì Thân chính màu đen (âm) (Hình 3.4)
Điểm mấu chốt của đồ thị ống là mối quan hệ giữa giá mở cửa và đóng cửa Có lẽ một phần do sự ưa thích ngày càng tăng đối với đồ thị ống, các nhà phân tích đồ thị phương tây ngày càng quan tâm tới opening tic trong đồ thị hình que Bạn có thể sử dụng đồ thị hình ống như sử dụng sử dụng đồ thị que Nói cách khác, tất cả các công cụ phân tích kỹ thuật và các chỉ số mà chúng tôi đưa ra từ đồ thị hình que cũng có thể được sử dụng trên đồ thị ống Trong chương này chúng tôi sẽ chỉ cho các bạn thấy cách xây dựng một đồ thị que theo hàng tuần hoặc hàng tháng Bạn cũng có thể thực hiện giống như vậy với đồ thị ống
Trang 21THANG GIÁ SỐ HỌC VÀ LOGARIT (ARITHMETIC VERSUS LOGARITHMETIC SCALE)
Có thể sử dụng thang giá số học hoặc logarit để vẽ các đồ thị Đối với một số loại phân tích, cụ thể là phân tích xu hướng dài hạn, sử dụng biểu đồ logarit có một số ưu điểm (xem hình 3.5 và 3.6) Hình3.5 biểu diễn sự khác biệt giữa các thang giá khác nhau Với thang giá số học, trên trục thẳng đứng khoảng cách giữa các mức giá bằng nhau Tuy nhiên, với thang giá logarit chú ý rằng sự tăng trưởng phần trăm ngày càng nhỏ khi mức giá tăng lên Khoảng cách từ điểm 1 đến 2 bằng với khoảng cách từ điểm 5 đến 10 bởi vì chúng đều biểu thị sự tăng giá gấp đôi Ví dụ, khoảng cách giữa mức giá 5 và 10 bằng với khoảng cách
từ 50 đến 55 trên thang giá số học mặc dù khoảng cách thứ nhất biểu thị sự tăng giá gấp đôi
và khoảng cách sau chỉ biểu thị giá tăng 10% Giá cả được biểu thị theo thang giá tỷ lệ hoặc logarit, thì các tỷ lệ biến đổi giá bằng nhau có khoảng cách bằng nhau Ví dụ, khi giá biến động từ 10 đến 20 (tăng 100%) khoảng cách được biểu diễn trên đồ thị log bằng với khoảng cách giữa mức giá 20 đến 40 hoặc từ 40 đến 80 Phân tích chứng khoán người ta thường sử dụng biểu đồ log, còn mua bán hợp đồng tương lai thì biểu đồ số học được ưa chuộng hơn Các phần mềm vẽ biểu đồ cho phép sử dụng cả 2 loại thang giá này (hình 3.6)
XÂY DỰNG BIỂU ĐỒ CỘT THEO NGÀY
Trang 22Việc xây dựng biểu đồ cột hàng ngày là công việc cực kỳ đơn giản Biểu đồ cột thể hiện cả giá và thời gian Trục tung y biểu thị giá còn trục hoành x biểu thị ngày giao dịch Tất cả công việc mà người sử dụng đồ thị phải thực hiện là vẽ cột biểu diễn giá mỗi ngày từ mức giá cao nhất đến mức giá thấp nhất (biên độ) Đoạn chắn bên phải biểu thị giá đóng cửa,
đoạn chắn bên trái biểu thị mức giá mở cửa Diễn biến giá của các ngày kế tiếp được vẽ sang bên phải ngày liền trước đó Đồ thị chỉ biểu thị những ngày giao dịch trong tuần, trường hợp không giao dịch thì vị trí của ngày đó bị bỏ trống Những thanh ở đáy của biểu đồ thể hiện khối lượng giao dịch (3.7)
KHỐI LƯỢNG (VOLUME)
Một phần thông tin không kém quan trọng cần thể hiện trong biểu đồ que là khối lượng giao dịch Khối lượng giao dịch là tổng số các hợp đồng tương lai hoặc các cổ phiếu
Trang 23phổ thông được chuyển nhượng trên thị trường trong một ngày giao dịch - được biểu thị bởi
độ dài của các thanh ở đáy biểu đồ
FUTURES OPEN INTEREST (nhớ xem lại)
Open interest là tổng số hợp đồng tương lai còn tồn chưa giao dịch vào thời điểm cuối ngày Lượng còn tồn này có thể do người bán hoặc người mua nắm giữ, nhưng không phải cả hai (Lưu ý rằng, trong giao dịch hợp đồng tương lai, mỗi một giao dịch mua phải luôn có một giao dịch bán tương ứng.) Chính vì vậy, chúng ta chỉ cần biết số lượng của một bên Open interest được biểu thị bằng một đường liền nét phía dưới đường biểu thị giá và trên đường khối lượng (3.8)
Tổng khối lượng, khối lượng cá biệt và số open interest của hợp đồng tương lai
Phân tích kỹ thuật về hợp đồng tương lai chỉ sử dụng tổng khối lượng giao dịch và tổng số open interest mặc dù số liệu của các giao dịch riêng lẻ hàng tháng sẵn có Lý do hợp
lý cho điều này như sau
Ở đầu kỳ hạn của hợp đồng tương lai, khối lượng và open interest rất nhỏ sau đó tăng dần, khoảng 2 tháng trước khi hợp đồng đáo hạn thì số lượng lại giảm Rõ ràng là nhà đầu tư phải thoát khỏi vị trí mở của mình khi hợp đồng gần đáo hạn Vì vậy, sự tăng khối lượng trong mấy tháng đầu và giảm khi gần đáo hạn hợp đồng không có ý nghĩa phản ánh xu hướng của thị trường mà đơn giản là do đặc điểm của hợp đồng tương lai hàng hóa có kỳ hạn nhất định Để xác định khối lượng có tăng không và đưa ra được dự báo về giá trị của các hợp đồng người ta thường sử dụng tổng khối lượng (biểu đồ cổ phiếu chỉ biểu diễn tổng khối lượng chứ không bao gồm cả lượng dư mua bán)
KHỐI LƯỢNG GIAO DỊCH VÀ DƯ MUA BÁN CỦA HĐ TƯƠNG LAI ĐƯỢC CÔNG BỐ CHẬM
Khối lượng giao dịch và dư mua bán của hợp đồng tương lai mỗi ngày được thông báo muộn vì vậy nhà phân tích phải hài lòng với việc có số liệu muộn để tiến hành phân tích Trong giờ giao dịch ngày hôm sau các số liệu mới được công bố nhưng quá muộn không kịp
để đăng trên các báo tài chính trong ngày hôm đó mà thông thường báo buổi sáng chỉ đăng tải
Trang 24các thông tin ước lượng sau khi thị trường đóng cửa Số liệu chính thức chỉ được cống bố trên
các báo ngày sau nữa Tuy nhiên các số liệu ước tính cũng phần nào cho nhà phân tích hợp
đồng tương lai một cái nhìn tổng quan về tình hình giao dịch Đối với các nhà phân tích biểu
đồ cổ phiếu thì họ không gặp phải vấn đề này bởi số liệu được tổng hợp ngay tức thì
GIÁ TRỊ GIAO DỊCH VÀ CÒN DƯ CỦA MỖI HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI
Số lượng còn dư của mỗi hợp đồng tương lai cung cấp một thông tin vô cùng có giá
trị Chúng ta biết hợp đồng nào có tính thanh khỏan nhất để giao dịch Theo quy luật thông
thường, hoạt động giao dịch phải được giới hạn trong số tháng giao hàng với số OI cao nhất
Các tháng mà có số OI thấp thì nên tránh giao dịch Như thuật ngữ đã ngụ ý thfi OI càng cao
càng có nhiều lợi nhuận trong một số tháng giao hàng nhất định
BIỂU ĐỒ QUE HÀNG TUẦN VÀ HÀNG THÁNG
Từ đầu tới giờ chúng ta chủ yếu sử dụng biểu đồ hình que hàng ngày tuy nhiên cần
nhớ rằng biểu đồ này có thể xây dựng theo bất cứ đơn vị thời gian nào Biểu đồ hình que
trong ngày có thể xây dựng theo đơn vị thời gian là 5 phút với đầy đủ mức giá cao nhất, thấp
nhất và giá kết thúc 5 phút trước Biểu đồ hình que theo ngày trung bình có thể biểu diễn
được biến động giá trong khoảng thời gian 6 đến 9 tháng Tuy nhiên để có thể phân tích xu hướng giá trong khoảng thời gian dài hơn thì phải sử dụng
biểu đồ theo tuần hoặc tháng Tính hữu ích khi sử dụng biểu đồ có thời gian dài hơn được
phân tích trong chương 8 Nhưng phương pháp xây dựng và cập nhật biểu đồ về cơ bản giống
nhau (hình 3.9 và 3.10)
Trang 25Biểu đồ theo tuần thì mỗi thanh biểu thị hành vi giá của cả tuần đó và tương tự như vậy biểu đồ theo tháng thì mỗi que biểu thị biến động giá trong toàn bộ tháng đó Rõ ràng là biểu đồ theo tuần hoặc tháng cô đọng biến động giá cho phép phân tích xu hướng giá với thời gian dài hơn Biểu đồ theo tuần có thể biểu thị một khoảng thời gian 5 năm và biểu đồ tháng có thể biểu thị tới 20 năm 2 loại đồ thị này giúp cho người nghiên cứu có một tầm nhìn dài hơi mà không thể thấy được khi nghiên cứu đồ thị theo ngày
Trang 26CHƯƠNG IV: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ XU THẾ
ĐỊNH NGHĨA VỀ XU THẾ
Khái niệm xu thế đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phân tích kỹ thuật biến động của thị trường Tất cả các công cụ được các nhà phân tích kỹ thuật sử dụng như: ngưỡng kháng cự hay hỗ trợ, mô hình giá, trung bình động, đường xu thế… đều có chung một mục
đích tính toán xu thế của thị trường để tham gia vào Chúng ta vẫn thường nghe những câu châm ngôn "luôn luôn mua bán theo xu hướng thị trường" hay "xu hướng là bạn" Do đó, cần phải hiểu thế nào một xu thế và tiến hành phân loại chúng
Theo cách hiểu thông thường, xu thế là một hướng đi của thị trường Tuy nhiên chính xác hơn thì trước hết cần phải biết rằng thị trường không biến động theo một đường thẳng theo bất kỳ hướng nào Biến động thị trường được miêu tả bằng các đường ziczắc Chúng tạo thành hàng loạt các con sóng với các đỉnh và đáy khá rõ ràng Chính hướng đi của các đỉnh
và đáy này tạo nên xu thế thị trường Xu thế đi lên được mô tả bằng hàng loạt các đỉnh và đáy sau cao hơn đỉnh và đáy trước; xu thế đi xuống ngược lại có các đỉnh và đáy sau thấp hơn đỉnh và đáy trước; đỉnh và đáy nằm ngang cho thấy xu thế giá đi ngang (Hình 4.1a-d)
Trang 27MỘT XU THẾ CÓ 3 HƯỚNG
Hầu hết mọi người nghĩ rằng thị trường chỉ hoặc là đi lên hoặc là đi xuống nhưng trên thực tế thị trường biến động theo 3 hướng : lên, xuống hoặc là đi ngang Nhận thức được điều này rất quan trọng bởi theo những ước tính tương đối thì ít nhất 1/3 thời gian, giá cả biến động ổn định theo mô hình đường chân trời được coi là phạm vi giao dịch Mô hình biến động này phản ánh thời kỳ cân bằng giá cả khi mà các lực lượng cung cầu tương đối cân bằng nhau Mặc dù chúng ta đã định nghĩa thị trường ít biến động là có xu thế nằm ngang nhưng thông thường nó được coi như là không có xu thế
Hầu hết các công cụ và hệ thống phân tích kỹ thuật về bản chất đều để phân tích xu hướng, tức là ban đầu được thiết kế sử dụng cho thị trường lên hoặc xuống Chúng không có tác dụng hoặc kém hiệu quả khi thị trường bước vào giai đoạn "không xu thế" Chính trong giai đoạn này các nhà đầu tư phân tích kỹ thuật và systems trader chịu thua lỗ nặng nề nhất Theo đúng như định nghĩa của nó, hệ thống phân tích xu thế cần phải có xu thế mới có thể phát huy tác dụng Sự thất bại ở đây không phải do hệ thống phân tích mà là nhà đầu tư đã cố gắng áp dụng một hệ thống được tạo ra cho thị trường có xu thế vào một thị trường không có
xu thế
Nhà đầu tư luôn phải đối mặt với 3 quyết định- nên mua (vị thế trường), nên bán (vị thế đoản), hay không làm gì cả (đứng ngoài cuộc) Khi thị trường tăng giá, chiến lược mua được ưa chuộng hơn; khi thị trường giảm giá, chiến lược thứ 2 lại chiếm ưu thế Tuy nhiên, khi thị trường đi ngang thì quyết định thứ 3, đúng ngòai cuộc, lại là lựa chọn sáng suốt nhất
MỘT XU THẾ CÓ 3 LOẠI
Ngòai việc có 3 hướng, một xu thế thường có 3 loại đã được đề cập trong chương trước, đó là xu thế cấp một, cấp 2 và cấp 3 Trên thực tế, có vô số các xu thế kết hợp với nhau, từ xu thế rất ngắn hạn chỉ diễn ra trong vài phút, vài giờ tới xu thế siêu dài diễn ra 50 hoặc 100 năm Tuy nhiên, hầu như các nhà phân tích chỉ giới hạn các xu thế trong 3 loại, và các nhà phân tích khác nhau cũng có cách định nghĩa xu thế không giống nhau
Ví dụ theo Lý thuyết Dow thì xu thế cấp 1 diễn ra dài hơn 1 năm Bởi vì các nhà đầu
tư hợp đồng tương lai mua bán theo các khoảng thời gian ngắn hơn nhà đầu tư cổ phiếu nên
Trang 28tạm coi một xu hướng cấp 1 kéo dài hơn 6 tháng trong thị trường hàng hóa Dow định nghĩa
xu thế cấp 2 hay cấp trung kéo dài 3 tuần cho tới nhiều tháng, điều này cũng đúng đối với thị trường hợp đồng tương lai Xu thế cấp 3 thường kéo dài không quá 2 hoặc 3 tuần
Mỗi xu thế trở thành một bộ phận của xu thế lớn hơn tiếp sau nó và bản thân nó cũng bao gồm những những xu thế nhỏ hơn Ví như xu thế cấp 2 chỉ là một sự điểu chỉnh xu thế cấp 1 Trong một xu thế đi lên dài hạn, có lúc thị trường ngừng lại để điều chỉnh khoảng 2 tháng trước khi trở lại xu thế cũ Bản thân xu thế cấp 2 điều chỉnh này cũng bao gồm những đợt sóng nhỏ chính là xu thế cấp 3 lên xuống trong ngắn hạn (Hình 4.2a-b)
Trong hình 4.2a, xu thế cấp 1 đi lên được mô tả bởi các đỉnh và đáy cao dần (điểm 1,
2, 3, 4) Đánh dấu bởi điểm 2-3 là giai đoạn điều chỉnh trong xu thế cấp 1 đi lên Nhưng chú ý rằng đoạn sóng 2-3 cũng bị chia nhỏ thành các đoạn nhỏ hơn A, B, C Tại điểm C các nhà phân tích có thể phát biểu rằng xu thế cấp 1 vẫn là đi lên nhưng xu thế cấp 2 và 3 thì đi xuống Tại điểm 4, cả 3 xu thế đều đi lên Hiểu được sự khác biệt giữa các cấp độ khác nhau của 1 xu thế là vô cùng quan trọng Khi một ai đó hỏi bạn xu thế trong một thị trường nhất định là gì thì thật khó để trả lời nếu không muốn nói là không thể cho đến khi bạn biết được người hỏi đang quan tâm đến xu thế nào Bạn có thể trả lời bằng cách phân biệt sự khác nhau giữa 3 loại xu thế
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau xoay quanh khái niệm thế nào là một xu thế giữa các nhà đầu tư Đối với nhà đầu tư dài hạn thì biến động giá trong vài ngày hay vài tuần chẳng có nghĩa lý gì Ngược lại, đối với nhà đầu tư ngắn hạn sự tăng giá 2 hoặc 3 ngày có thể được coi là hình thành nên xu thế cấp 1 đi lên Khi đó điều cực kỳ quan trọng là hiểu rõ các cấp độ khác nhau của 1 xu thế và phải đảm bảo rằng tất cả các nhân tố liên quan đến một giao dịch đều cùng phản ánh một xu thế
Trang 29Nói chung thì hầu hết các cách tiếp cận xu thế thị trường đều tập trung vào xu thế cấp
2 - có thể diễn ra trong vài tháng Xu thế cấp 3 được sử dụng trước tiên cho mục đích lựa chọn thời điểm Trong xu thế cấp 2 đi lên, xu thế cấp 3 điều chỉnh giảm được coi là tín hiệu mua vào
HỖ TRỢ VÀ KHÁNG CỰ
Trong chương trước chúng ta đã nói rằng: giá cả biến động theo đường ziczắc và rằng
xu hướng của các đỉnh và đáy này lại tạo nên xu thế thị trường Bây giờ chúng ta sẽ đặt tên cho các đỉnh và đáy đó và đồng thời giới thiệu các khái niệm hỗ trợ và kháng cự
Các điểm đáy, hay còn gọi là các điểm đáy đảo chiều (reaction lows), được gọi là
điểm hỗ trợ Bản thân thuật ngữ đó đã chỉ ra rằng hỗ trợ là mức hoặc phạm vi trên đồ thị dưới một thị trường nơi mà ham muốn mua vào chiến thắng áp lực bán ra Kết quả là giá ngừng
giảm và tăng trở lại Thông thường thì ngưỡng hỗ trợ được nhận ra trước bởi một điểm đáy đảo chiều Trong hình 4.3a, điểm 2 và 4 biểu thị ngưỡng hỗ trợ trong một xu thế đi lên (Hình 4.3a-b)
Kháng cự thì ngược lại với hỗ trợ biểu thị một mức giá hoặc phạm vi trên một thị trường nơi mà áp lực bán ra lớn hơn áp lực mua vào và giá giảm xuống
Trang 30Thường thì một mức kháng cự được nhận diện bởi một đỉnh trước đó Minh họa trong hình 4.3a, điểm 1 và 3 là 2 mức kháng cự trong một xu thế đi lên Trong xu thế đi lên, các ngưỡng hỗ trợ và kháng cự cho thấy một mô hình tăng tiến, còn xu thế đi xuống như trong hình 4.3b thì các đỉnh và đáy ngày càng giảm xuống Với xu thế đi xuống, các điểm 1
và 3 là ngưỡng hỗ trợ dưới thị trường và điểm 2 và 4 là ngưỡng kháng cự trên thị trường
Trong xu thế đi lên, ngưỡng kháng cự biểu thị quãng ngưng và thường bị vượt qua ở một điểm nào đó Trong xu thế đi xuống, ngưỡng hỗ trợ là ngưỡng mà chỉ có thể tạm thời chặn đứng giảm giá
Nắm chắc được khái niệm thế nào là ngưỡng hỗ trợ và kháng cự sẽ giúp hiểu được đầy đủ khái niệm về xu thế Để đảm bảo rằng xu thế thị trường tiếp tục đi lên thì mỗi đáy sau (ngưỡng hỗ trợ) phải cao hơn đáy trước, và mỗi đỉnh giá mới (ngưỡng kháng cự) phải cao hơn đỉnh trước đó Nếu giá điều chỉnh giảm thấp hơn đáy trước thì đây có thể là một cảnh báo sớm rằng thị trường con bò đang kết thúc hoặc ít nhất là chuyển sang xu thế đi ngang Nếu ngưỡng hỗ trợ bị phá vỡ thì một xu thế đảo chiều từ trên xuống dưới rất có thể xảy ra
Mỗi khi thị trường tăng giá đạt tới mức bằng đỉnh giá trước là lúc thị trường ở giai
đoạn tối quan trọng Nếu giá không vượt qua đỉnh giá trước trong xu thế đi lên hoặc là giá có khả năng bật ngược lại khi chạm tới mức giá bằng đáy trước trong xu thế đi xuống thì thường được coi là tín hiệu đầu tiên về sự đảo chiều của xu thế hiện tại Chương 5 và 6 bàn về mô hình giá sẽ chỉ rõ việc giá đạt đến ngưỡng kháng cự hay hỗ trợ trên đồ thị như thế nào thì được xem là đảo chiều hay chỉ đơn giản là việc tạm thời điều chỉnh của thị trường theo xu thế hiện tại Tuy nhiên nền tảng cơ bản tạo nên mô hình giá vẫn chính là ngưỡng kháng cự và hỗ trợ
Hình 4.4a-c là một ví dụ kinh điển về sự đảo chiều xu thế Để ý rằng, tại điểm 5 giá không vượt qua được đỉnh trước đó (đỉnh 3) trước khi giảm xuống phá vỡ đáy trước tại điểm
4 Việc đảo chiều xu thế này được nhận diện chỉ thông qua quan sát ngưỡng hỗ trợ và kháng
cự, và được gọi là "đỉnh đôi" (double top)
MỨC KHÁNG CỰ VÀ HỖ TRỢ LÀM THÉ NÀO ĐỂ ĐỔI ĐƯỢC VAI TRÒ CHO NHAU
Chúng ta đã biết mức hỗ trợ là mức đáy trước đó, và mức kháng cự là mức đỉnh trước
đó tuy nhiên điều này không phải lúc nào cũng đúng Điều này dẫn chúng ta tới một mặt ít biết tới nhưng thú vị hơn rất nhiều về mức hỗ trợ và kháng cự đó là sự đảo vị của chúng
Trang 31Bất cứ khi nào một mức hỗ trợ hay kháng cự bị phá vỡ (is penetrated by a sicnificant amount) thì chúng hoán vị và trở thành vị trí đối nghịch Nói cách khác, mức kháng cự trở thành mức hỗ trợ và ngược lại Để hiểu được tại sao lại xảy ra điều này cần phải nghiên cứu tâm lý thị trường đằng sau việc thiết lập ngưỡng hỗ trợ hay kháng cự của thị trường
TÂM LÝ THỊ TRƯỜNG KHI XẢY RA NGƯỠNG KHÁNG CỰ VÀ HỖ TRỢ
Trang 32Để tiện mô tả, người ta chia lực lượng tham gia thị trường thành 3 loại - người mua (the longs), người bán (the shorts), và người lưỡng lự (uncommitted) Người lưỡng lự là những người mà vừa ra khỏi thị trường hoặc vẫn chưa quyết định đứng về phía nào
Giả định rằng thị trường bắt đầu đi lên từ một ngưỡng hỗ trợ khi mà giá cả biến động thất thường trong một thời gian Người ở vị thế trường (là người đã mua cổ phiếu tại gần mức
hỗ trợ ) rất phấn khởi nhưng lại tiếc nuối vì mình đã không mua nhiều hơn Nếu thị trường lại sụt xuống gần mức hỗ trợ một lần nữa, họ sẽ mua thêm vào Những người ở vị thế đoản ( hay hoài nghi) giờ đây nhận ra rằng họ đi chệch hướng thị trường (Việc thị trường tăng bao nhiêu
kể từ ngưỡng hỗ trợ sẽ gây ra tâm lý này sẽ được bàn luận sau) Những người ở vị thế đoản
đang hi vọng (và cầu nguyện) cho giá giảm về mức mà họ bán để họ có thể ra khỏi thị trường
ở mức mà họ vào (tức là hòa vốn)
Những người đứng ngoài thị trường lại được chia thành 2 nhóm - nhóm những người không bao giờ đứng ở vị thế nào và nhóm những người mà vì lý do này hay lý do khác giải thoát khỏi vị thế trường trước đó trong phạm vi hỗ trợ Tất nhiên nhóm thứ 2 này tự nguyền rủa mình vì đã bán quá sớm và hi vọng có cơ hội khác để mua lại ở gần mức mà họ đã bán ra
Nhóm cuối cùng, nhóm chưa quyết định gì, bây giờ cũng nhận ra rằng giá cả đang tăng và quyết định tham gia vào thị trường ở vị thế trường nếu có cơ hội mua tốt sắp tới Cả 4 nhóm đều quyết định "mua ở đáy tiếp theo" Tất cả các nhà đầu tư đều mong được lợi từ mức
hỗ trợ này dưới thị trường Một cách tự nhiên, nếu giá cả giảm gần ngưỡng hỗ trợ, nhu cầu mua sẽ tăng lên bởi cả 4 nhóm kích cho giá tăng trở lại
Càng nhiều giao dịch diễn ra trong phạm vi hỗ trợ thì phạm vi này càng trở nên ý nghĩa vì càng nhiều nhà đầu tư tham gia có lợi ích từ nó Khối lượng giao dịch trong phạm vi
hỗ trợ hay kháng cự có thể được xác định theo 3 cách : thời gian diễn ra, khối lượng và giao dịch diễn ra lúc nào gần đây
Giá giao dịch quanh ngưỡng kháng cự hoặc hỗ trợ càng lâu thì ngưỡng đó càng trở nên quan trọng Ví dụ, nếu giá cả giao động quanh một ngưỡng nhất định trong khoảng 3
tuần thì rõ ràng nó có vai trò quan trọng hơn là chỉ diễn ra trong 3 tuần
Khối lượng cũng là một tiêu chí khác để đánh giá vai trò của ngưỡng kháng cự hay
hỗ trợ Nếu tại một ngưỡng hỗ trợ khối lượng giao dịch lớn chứng tỏ rất nhiều cổ phiếu đã
được trao tay và cho thấy mức hỗ trợ đó đáng quan tâm hơn là chỉ có ít giao dịch diễn ra Đồ thị điểm và hình biểu diễn hoạt động nội trong một ngày rất hữu ích trong việc xác định các mức giá mà có nhiều giao dịch xảy ra và vì thế mà xác định được ngưỡng kháng cự hay hỗ trợ quan trọng nhất
Cách thứ 3 để xác định ý nghĩa của 1 phạm vi hỗ trợ hay kháng cự là ngưỡng đó xảy
ra gần nhất là khi nào Bởi vì chúng ta đang nghiên cứu phản ứng của nhà đầu tư với biến động của thị trường và với vị thế mà họ mới đạt được hay không đạt được, cho nên quy luật khá hợp lý là cái gì vừa mới xảy ra càng có xu hướng lặp lại hơn
Giờ hãy xoay ngược bảng và tưởng tượng rằng thay vì đi lên giá cả sẽ giảm xuống Trong ví dụ trên, bởi vì đợt tăng giá trước đó phản ứng tổng hợp của các chủ thể tham gia thị trường khiến cho mỗi lần giá giảm là họ lại tăng mua (vì thế tạo ra một mức hỗ trợ mới) Tuy nhiên nếu giá bắt đầu giảm và tụt dưới ngưỡng hỗ trợ trước đó thì phản ứng hòan tòan ngược lại Tất cả những người mà mua tại ngưỡng hỗ trợ giờ đây nhận ra rằng họ đã mắc sai lầm Đối với những nhà đầu tư hợp đồng tương lai, các nhà môi giới giờ đây lại gọi điện liên tục cho họ để đòi đặt cọc thêm Bởi vì bản chất đòn bẩy cao của giao dịch hợp đồng tương lai, các nhà đầu tư không thể chịu được cảnh lỗ lâu Họ phải nộp thêm tiền đặt cọc hoặc giải thoát khỏi vị thế thua lỗ của mình
Trước tiên, cái tạo ra ngưỡng hỗ trợ trước đó là cầu về cổ phiếu cao dưới thị trường
Tuy nhiên, bây giờ tất cả các lệnh đặt mua dưới thị trường trước đây trở thành lệnh bán trên
thị trường Hỗ trợ trở thành kháng cự Và ngưỡng hỗ trợ trước đó càng quan trọng, tức là
ngưỡng xảy ra gần nhất với khối lượng nhiều nhất, càng có tiềm năng nó trở thành ngưỡng
Trang 33kháng cự Tất cả các nhân tố do 3 nhóm chủ thể tác động tạo ra ngưỡng hỗ trợ , người ở vị thế trường, vị thế đoản và người lưỡng lự, giờ đây lại tác động tạo ra mức trần giá cho lần tăng giá tiếp theo
Rất hữu ích khi chúng ta nên tạm dừng và ngẫm nghĩ thêm tại sao các nhà phân tích kỹ thuật lại sử dụng mô hình giá và các thuật ngữ như hỗ trợ hay kháng cự thực tế phát huy hiệu quả Không phải bởi vì sự diệu kỳ do biểu đồ tạo ra Các mô hình này phát huy tác dụng bởi vì chúng cung cấp toàn cảnh về hoạt động của các chủ thể tham gia thị trường và khiến cho chúng ta có thể xác định được phản ứng của họ trước các sự kiện xảy ra trên thị trường Các nhà phân tích đồ thị thực tế là nhà nghiên cứu tâm lý con người và phản ứng của các nhà đầu
tư trước các thay đổi của điều kiện thị trường Thật không may, bởi vì chúng ta sống trong một thị trường tài chính đầy biến động (fast-paced), chúng ta có xu hướng phụ thuộc nặng nề vào kết quả của đồ thị và kết luận ngắn gọn mà bỏ qua các nguyên nhân bên dưới Có những
lý do về mặt tâm lý khá logic tại sao ngưỡng hỗ trợ hay kháng cự có thể được nhận diện trên
đồ thị giá và tại sao chúng có thể được sử dụng để dự đoán biến động thị trường
HỖ TRỢ TRỞ THÀNH KHÁNG CỰ VÀ NGƯỢC LẠI: MỨC ĐỘ THÂM NHẬP
Một ngưỡng hỗ trợ, bị phá vỡ khá nhiều, trở thành một mức kháng cự và ngược lại Hình 4.5a-c tương tự Hình 4.3a và b nhưng có một sự cải tiến Để ý rằng trong hình 4.5a trong xu thế giá tăng, sự điều chỉnh giảm dừng lại tại điểm 4 bằng hoặc cao hơn đỉnh 1 trước
đó Đỉnh 1 là ngưỡng kháng cự nhưng một khi nó bị phá vỡ bởi con sóng thứ 3 thì ngưỡng kháng cự trước đó trở thành ngưỡng hỗ trợ Tất cả những người bán gần đỉnh của sóng 1 (tạo
ra ngưỡng kháng cư) bây giờ lại quay sang mua dưới thị trường Hình 4.5b, biểu diễn giá giảm, điểm 1 (ngưỡng hỗ trợ dưới thị trường) giờ đây lại trở thành ngưỡng kháng cự trên thị trường hoạt động như một mức trần tại điểm 4
Như đã đề cập ở trên, giá càng biến động xa khỏi ngưỡng hỗ trợ hay kháng cự thì càng tăng ý nghĩa của ngưỡng đó Điều này càng đúng khi các ngưỡng này bị phá vỡ và đảo
vị trí Ví như chúng ta vẫn tuyên bố rằng ngưỡng hỗ trợ hay kháng cự chỉ đảo ngược vai trò sau khi chúng bị phá vỡ rất nhiều Nhưng cái gì tạo nên sự phá vỡ lớn này? Có rất nhiều tính chủ quan liên quan đến việc xác định liệu sự phá vỡ là nhiều hay ít Một số nhà phân tích đồ thị sử dụng mốc phá vỡ 3% thì được coi là nhiều, đặc biệt là đối với ngưỡng hỗ trợ và kháng
cự cấp 1 Ngưỡng hỗ trợ và kháng cự ngắn hạn hơn có thể chỉ cần 1% Trên thực tế, mỗi nhà đầu tư phải tự quyết định như thế nào mức phá vỡ nhiều Tuy nhiên điều quan trọng là phải nhớ rằng ngưỡng kháng cự hay hỗ trợ chỉ đảo vị trí khi thị trường biến động rất xa khỏi các ngưỡng đó đủ thuyết phục các chủ thể tham gia thị trường rằng họ đã mắc sai lầm Thị trường biến động càng xa mức kháng cự và hỗ trợ, các nhà đầu tư càng bị thuyết phục
VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA CÁC SỐ CHẴN ĐỐI VỚI NGƯỠNG HỖ TRỢ VÀ KHÁNG CỰ
Có một xu hướng cho rằng các số chẵn có duyên trong việc ngừng việc tăng giá hay giảm giá Các nhà đầu tư thường nghĩ rằng giá cổ phiếu nhắm đến các con số chẵn 10, 20, 25,
50, 75, 100 (và các hệ số của 1000) và hành động theo đó Vì thế, những con số chẵn này thường là những ngưỡng kháng cự hoặc hỗ trợ mang tính tâm lý Một nhà đầu tư có thể sử dụng thông tin này để bắt đầu kiếm lời khi giá cả gần đạt tới số chẵn
Trang 34Thị trường vàng là một ví dụ điển hình về hiện tượng này Năm 1982 đáy của thị trường con gấu đúng 300$, sau đó tăng lên vừa trên 500$ trong quí đầu năm 1983 trước khi
Trang 35rớt xuống 400$ Cơn sốt tăng giá trong năm 1987 cũng đạt đỉnh tại mức 500$ một lần nữa
Từ năm 1990 đến năm 1997, giá vàng không tăng vượt được ngưỡng 400$ Hệ số bình quân ngành công nghiệp Dow Jones cũng cho thấy xu hướng dừng lại tại các điểm là hệ số của
1000
Một cách ứng dụng nguyên tắc này trong giao dịch là tránh đặt các lệnh tại đúng các giá chẵn này Ví dụ, nếu một nhà đầu tư đang cố gắng mua trong giai đoạn điều chỉnh giảm ngắn hạn của một xu thế đi lên, thì nên đặt giá cao nhất trên mức giá chẵn đó Bởi vì những người khác đang cố gắng mua tại mức giá chẵn đó nên thị trường có thể không bao giờ lên tới giá nhà đầu tư đặt mua Các nhà đầu tư muốn bán khi thị trường tăng nên đặt giá bán dưới các mức giá chẵn, điều này có thể đúng khi đặt lệnh "dừng bảo vệ" (protective stops) vị thế hiện tại Theo nguyên tắc thông thường, tránh đặt các lệnh dừng bảo vệ tại các mức giá chẵn
Nói cách khác, nếu muốn thoát khỏi vị trí trường một cách an toàn nên đặt giá dưới mức giá chẵn và thoát khỏi vị thế đoản thì đặt trên Thị trường ngày càng có xu hướng lưu tâm đến các mức giá chẵn và đặc biệt quan trọng hơn là số chẵn trước đó thể hiện điều gì là một trong những đặc tính đặc biệt của thị trường mà có thể chứng minh được là hữu ích trong giao dịch và các nhà phân tích kỹ thuật nên ghi nhớ
là một đường thẳng xiên xuống bên phải đi qua các đỉnh giá như trong hình 4.6b
Trang 36VẼ MỘT ĐƯỜNG XU THẾ
Việc vẽ đúng được đường xu thế cũng rất giống việc vẽ các đồ thị khác và một vài phép thử cần thiết các đường khác nhau để tìm ra đường đúng nhất Đôi khi một đường xu thế trông có vẻ đúng nhưng lại phải vẽ lại tuy nhiên cũng có những hướng dẫn hữu ích trong việc tìm kiếm một đường xu thế đúng
Trước tiên, mỗi đường xu thế đều có biểu hiện rõ ràng Điều này có nghĩa là nếu đối với một đường xu thế đi lên phải có ít nhất 2 đáy với đáy sau cao hơn đáy trước Đương nhiên là để vẽ được một đường thẳng bao giờ cũng cần có 2 điểm Trong hình 4.6a chỉ sau khi giá tăng cao từ điểm 3 thì nhà phân tích đồ thị mới biết tin rằng một phiên điều chỉnh giảm đã hình thành., và chỉ khi đó một đường xu thế đi lên có thể được manh nha tạo nên từ 2
điểm 1 và 3
Một số nhà phân tích đồ thị đòi hỏi rằng đỉnh 2 phải bị phá vỡ để xác nhận xu thế đi lên trước khi nên vẽ một đường xu thế Những người khác chỉ đòi hỏi việc đi ngược chiều sóng cấp 2 và 3 khoảng 50% hoặc là giá chạm tới đỉnh 2 Trong khi mỗi người lựa chọn tiêu chí theo cách khác nhau thì nhà phân tích muốn chắc chắn rằng một đợt giảm giá điều chỉnh giảm phải hình thành trước khi nhận diện một đáy giá có tính tin cậy cao Một khi 2 đáy tăng dần được hình thành thì có thể vẽ một đường thẳng nối 2 đáy và chếch lên tay phải
ĐƯỜNG XU THẾ MƠ HỒ HAY ĐÁNG TIN CẬY
Trang 37Cho tới nay, tất cả các đường mà chúng ta có là đường xu thế mơ hồ (manh nha) Tuy nhiên, để xác nhận tính tin cậy của một đường xu thế thì đường đó phải đi qua 3 điểm đỉnh hoặc đáy Vì thế, trong hình 4.6a, tính tin cậy của đường xu thế đi lên được khẳng định chắc chắn khi đi qua điểm 5 Hình 4.6b cho thấy xu thế đi xuống cũng theo nguyên tắc như vậy Phép thử thành công một đường xu thế xảy ra tại điểm 5 Tóm lại, cần 2 điểm để vẽ một đường xu thế và điểm thứ 3 để xác nhận tính tin cậy
SỬ DỤNG ĐƯỜNG XU THẾ NHƯ THẾ NÀO?
Khi điểm thứ 3 đã xác nhận đường xu thế và xu thế vẫn tiến triển theo hướng ban đầu thì xu thế đó trở nên rất hữu ích về nhiều mặt Một trong những hiểu biết cơ bản về một xu thế là một xu thế đang vận động sẽ tiếp tục vận động Hệ quả là một xu thế giả định theo một
độ dốc nhất định và tốc độ nhất định thể hiện qua đường xu thế sẽ luôn luôn duy trì độ dốc
đó Khi đó đường xu thế giúp nhà phân tích không chỉ xác định được các điểm cực đỉnh của các giai đoạn điều chỉnh mà có lẽ quan trọng hơn còn nói cho chúng ta biết khi nào xu thế đó thay đổi
Ví dụ, trong xu thế đi lên, không thể tránh khỏi việc liên tục có các đoạn điều chỉnh giảm chạm hoặc chỉ tiến tới gần đường xu thế Bởi vì các nhà đầu tư có xu hướng mua tại các
điểm đáy trong xu thế đi lên nên xu thế đó cung cấp các ngưỡng hỗ trợ dưới thị trường mà được sử dụng làm phạm vi mua vào Một xu thế đi xuống có thể được sử dụng các mức kháng cự cho mục đích bán ra (hình 4.7a - b)
Miễn là đường xu thế không bị phá vỡ, đường này có thể được sử dụng để xác định ngưỡng mua và bán Tuy nhiên, tại điểm 9 trong hình 4.7a-b, việc phá vỡ đường xu thế cho thấy dấu hiệu thay đổi xu thế, kích thích các nhà đầu tư thoát khỏi vị thế của mình trong xu thế trước Thông thường, việc phá vỡ đường xu thế là một trong những cảnh báo tốt nhất về
sự thay đổi xu thế
Trang 38Làm thế nào để xác định tầm quan trọng của một xu thế
Hãy tính toán một số sự cải tiến/cái hay cái đẹp của đường xu thế Trước tiên, cái gì quyết định tầm quan trọng của một đường xu thế? Câu trả lời bao gồm 2 mặt - thời gian xu thế đó bị phá vỡ và số lần nó được khẳng định Một đường xu thế đi qua 8 điểm liên tục rõ ràng là một đường xu thế có tầm quan trọng và ý nghĩa hơn đường chỉ đi qua 3 điểm Cũng vậy, một đường xu thế mà đã diễn ra trong 9 tháng quan trọng hơn đường chỉ mới diễn ra trong 9 tháng hoặc 9 ngày Đường xu thế càng quan trọng, nó càng đem lại niềm tin cho nhà đầu tư và sự thâm nhập của nó càng quan trọng
ĐƯỜNG XU THẾ NÊN BAO GỒM TẤT CẢ CÁC BIẾN ĐỘNG GIÁ
Đường xu thế trên biểu đồ hình que nên được biểu diễn trên hoặc dưới toàn bộ phạm
vi giá của ngày Một số nhà phân tích đồ thị thích vẽ đường xu thế bằng cách nối các mức giá
đóng cửa, nhưng đó không phải là một qui trình chuẩn hơn Giá đóng cửa có thể là mức quan trọng nhất của một ngày nhưng nó vẫn chỉ thể hiện một phần hoạt động của ngày đó Việc bao gồm toàn bộ biến động giá của một ngày được sử dụng phổ biến hơn (hình 4.8)
Làm thế nào để kiểm soát được ……
Đôi khi giá cả có thể phá vỡ một đường xu thế khi biến động giá trong một ngày, nhưng sau đó đóng cửa vẫn theo xu huớng của xu thế ban đầu, khiến cho các nhà đầu tư chút hoài nghi liệu đường xu thế đã thực sự bị phá vỡ hay chưa? (hình 4.9) Hình 4.9 mô tả tình huống trên Giá giảm xuống dưới đường xu thế trong 1 ngày nhưng sau đó đóng cửa ở giá cao hơn đường xu thế Liệu có phải vẽ lại đường xu thế không?
Thật không may là chẳng có nguyên tắc ngắn gọn và đúng để tuân theo trong trường hợp như vậy Đôi khi tốt nhất là bỏ qua trường hợp này, đặc biệt nếu hành động của thị trường sau đó chứng tỏ rằng đường xu thế ban đầu vẫn có giá trị
Điều gì được coi là phá vỡ một đường xu thế một cách chắc chắn
Trang 39Theo nguyên tắc thông thường, giá đóng cửa cao hơn đường xu thế quan trọng hơn là việc phá vỡ đường xu thế trong một ngày Chặt chẽ hơn, đôi khi thậm chí giá đóng cửa phá
vỡ đường xu thế không đủ mà hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật sử dụng các thông tin về giá
cả và thời gian cố gắng tách biệt hóa được sự phá vỡ nào là chắc chắn và loại bỏ những dấu hiệu sai lệch Một ví dụ sử dụng cách lọc thông tin giá là tiêu chuẩn phá vỡ giá 3%, tiêu chuẩn này thường được sử dụng cho xu thế dài hạn (nguyên tắc 3% không áp dụng cho một
số hợp đồng tài chính tương lai như thị trường lãi suất)
Ví dụ, nếu giá vàng phá vỡ xu thế đi lên tại mức giá 400$ thì xu thế có thể coi là bị phá vỡ nếu giá đóng cửa tiếp tục giảm xuống dưới mức đó 3% tức là 12$ dưới đường xu thế tại mức 388$ Rõ ràng là mức 12$ không phù hợp cho giao dịch ngắn hạn, có lẽ tiêu chuẩn 1% phù hợp hơn trong trường hợp đó Việc sử dụng tiêu chuẩn % chỉ là một cách lọc thông tin giá Nhà phân tích đồ thị giá cổ phiếu có thể chỉ xem xét những biến động 1% và bỏ qua phần lẻ Có sự đánh đổi giữa các cách lọc thông tin được sử dụng Nếu tiêu chuẩn quá nhỏ nó
sẽ không hữu ích trong việc giảm ảnh hưởng của thông tin nhiễu Nếu tiêu chuẩn đó quá lớn thì rất nhiều biến động ban đầu sẽ bị bỏ lỡ trước khi đưa ra được dấu hiệu chắc chắn Lại một lần nữa, các nhà đầu tư phải quyết định loại tiêu chuẩn lọc thông tin nào phù hợp nhất với cấp
độ của xu thế đang quan sát, luôn luôn phải sử dụng các loại khác nhau cho từng thị trường riêng biệt
Một cách khác để lọc thông tin giá (đòi hỏi một đường xu thế phải bị phá vỡ tại một mức giá xác định trước hay tỷ lệ phần trăm nào đó) là lọc bằng thời gian Cách thông thường hay sử dụng là nguyên tắc 2 ngày, nói cách khác là để có sự chắc chắn rằng đường xu thế bị phá vỡ thì giá phải đóng cửa trên đường xu thế trong 2 ngày liên tiếp Còn trường hợp phá vỡ đường xu thế đi lên thì giá phải đóng cửa dưói đường xu thế 2 ngày liên tiếp Việc phá vỡ đường xu thế trong 1 ngày thì không tính Qui tắc 1-3% và 2 ngày cũng áp dụng vào trường hợp phá vỡ ngưỡng kháng cự hay hỗ trợ chứ không chỉ riêng đường xu thế Một cách lọc thông tin khác là đòi hỏi là giá đóng cửa ngày thứ 6 cao hơn điểm phá vỡ chủ đạo mới đảm bảo dấu hiệu của cả tuần
Đường xu thế đảo vai trò như thế nào?
Đã từng đề cập ngưỡng kháng cự và hỗ trợ đảo ngược vai trò khi bị phá vỡ, nguyên tắc này cũng đúng với đường xu thế (hình 4.10a-c) Nói cách khác, Đường xu thế đi lên (đường hỗ trợ) sẽ luôn luôn trở thành đường kháng cự một khi nó bị phá vỡ Đường xu thế đi xuống (đường kháng cự) sẽ trở thành đường hỗ trợ một khi nó bị phá vỡ dứt khoát Đây là lý
do giải thích tại sao nên dự đoán tất cả các đường xu thế càng xa về bên phải càng tốt thậm chí sau khi chúng vừa bị phá vỡ Thật đáng ngạc nhiên là thông thường các đường xu thế cũ hay đóng vai trò là đường hỗ trợ hay kháng cự trong tương lai nhưng với vai trò ngược lại
Xác định các ẩn ý từ đường xu thế
Đường xu thế có thể sử dụng để xác định các mức giá mục tiêu Chúng ta sẽ nói rõ hơn về vấn đề này trong 2 chương tiếp theo về mô hình giá Thực tế, một số giá mục tiêu được nói đến mà được rút ra từ các mô hình giá khác nhau tương tự với cái mà chúng ta đề cập ở đây với đường xu thế Nói một cách ngắn gọn, một khi đường xu thế bị phá vỡ, giá sẽ biến động tăng trên đường xu thế một đoạn bằng với đoạn mà nó đạt được theo chiều ngược lại trước khi xu thế đảo chiều
Trang 40Nói cách khác, nếu trong xu thế đi lên trước đó, giá tăng 50$ trên đường xu thế (tính theo chiều thẳng đứng) thì giá có thể tụt cũng 50$ dưới đường đường xu thế sau khi nó bị phá
vỡ Ví dụ, trong chương tiếp theo chúng ta sẽ thấy rằng quy tắc xác định sử dụng đường xu