phân tích kỹ thuật chứng khoán
Trang 1Chương 1: Tổng quan về phân tích kĩ thuật
I Lịch sử ra đời, định nghĩa và giả định :
Đây có thể coi là chương nhập môn phân tích kỹ thuật, nó sẽ cho bạn thấy được bức tranh tổng quan về trường phái phân tích chứng khoán này.Trong khuôn khổ cuốn giáo trình, chúng tôi sẽ cố gắng đưa đến những khái niệm, những vấn đề chung nhất và dễ hiểu nhất về phân tích kỹ thuật.
Lịch sử hình thành
Lịch sử của Phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ cách đây hơn 100 năm.Sau nhiều năm nghiên
cứu, năm 1884, Charles H.Dow,người đã sáng lập lên
“Tạp chí phố Wall”(The Wall Street Journal)đã giới thiệu chỉ số bình quân giá đóng cửa 11 cổ phiếu quan trọng nhất của thị trường nước Mỹ thời gian đó Ông là người đã đặt viên gạch đầu tiên cho việc hình thành một
cơ sở lý luận: Lý thuyết Dow – nền tảng của PTKT Sau khi C.H.Dow chết, năm 1902, người kế tục ônglàm biên tập cho tờ nhật báo, William P Hamilton, đã tiếp tục nghiên cứu và phát triển những lý thuyết trên Ông xuất bản cuốn sách “The Stock Market Barometer”(Phong vũ biểu thị trường chứng khoán) vào năm 1922 Suốt những năm 1920 và 1930, Richard W
Schabacker là người đã đã đi sâu vào việc hoàn thiện những nghiên cứu của Dow và Hamilton, Schabacker chính là người đã đưa ra khái niệm đầu tiên về Phân tích kỹ thuật Ông chỉ ra rằng những dấu hiệu mà lý thuyết Dow đưa ra được với chỉ số bình quân thị trườngvẫn giữ nguyên giá trị và tầm quan trọng khi áp dụng vào đồ thị của từng cổ phiếu riêng lẻ Điều này đã được ông thể hiện và chứng minh trong cuốn sách của mình: “Stock Market Theory and Practice, Technical Market Analysis and Stock Market Profit”
Như vậy những cơ sở đầu tiên của Phân tích kỹ thuật đã xuất hiện từ trong lý thuyết Dow, nhưng phải đến Schabacker – người cha của Phân tích kỹ thuật hiện đại tiếp đó là Edward và Magee với “Technical Analysis of Stock Trend” và ngày nay là John Murphy, Jack Schwager, Martin Pring, … thì mới thực sự ra đời cái tên “Phân tích kỹ thuật ” và được nâng
Trang 2cao, tổng kết thành một hệ thống lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung.
Định nghĩa về phân tích kỹ thuật:
Mỗi nhà phân tích kỹ thuật có một định nghĩa, quan điểm riêng của mình về vấn đề ‘Thế nào là phân tích kỹ thuật?’ Tổng hợp những điểm chung nhất, xin mạn phép đưa ra định nghĩa ngắn gọn về phân tích kỹ thuật như sau:
“Phân tích kỹ thuật là việc nghiên cứu các biến động của thị trường trong quá khứ và hiện tại, chủ yếu thông qua việc sử dụng các biểu đồ, đồ thị nhằm mục đích dựbáo xu hướng giá trong tương lai.”
PTKT có thể áp dụng trong nghiên cứu, phân tích giá các loại hàng hóa (vàng, dầu, cà phê, gạo, ), giá các loại cổ phiếu, tỷ giá các loại tiền tệ và các công cụ tài chính khác.Cuốn giáo trìnhnày giới hạn trong phân tích kỹ thuật chứng khoán
Thuật ngữ “biến động của thị trường” ám chỉsự thay đổi về giá và khối lượng giao dịch của
chứng khoán trên thị trường
Trong định nghĩa trên đã hàm ý mục đích của phân tích kỹ thuật.Nó là công cụ hỗ trợ cho các nhà đầu tư đưa ra những dự đoán của mình về xu thế biến động của giá chứng khoán trong tươnglai Phân tích kỹ thuật có 3 chức năng cơ bản:
+ Báo động: Cảnh báo sự xuyên phá các mức giá an toàn cũ để lập các mức giá an toàn mới
+ Xác nhận: Xác nhận xu thế giá tăng , giảm hoặc không tăng không giảm
+ Dự đoán: Bằng các chỉ số và các kết quả phân tích kỹ thuật, dự đoán giá cả trong tương lai
Vẫn biết, giá chứng khoán trên thị trường là do cung – cầu quyết định Tuy nhiên, cung – cầu lại được xác lập bởi quyết định của các nhà đầu tư, mà quyết định này, trên thực tế, chịu tác động của vô vàn yếu tố khác nhau, đó có thể là những thông tin kinh tế vĩ mô, vi mô, ảnh hưởng của chính trị hay các yếu tố vô hình khó có thể đo lường như tâm lý con người,…Chính chúng đã tạo
ra mức độ rủi ro cho nhà đầu tư khi mà không ai có thể dự đoán chính xác được giá cả của chứngkhoán sẽ biến động như thế nào Vì vậy, khi tiến hành phân tích kỹ thuật cần phải tuân thủ nhữnggiả định cơ sở sau để đảm bảo độ tin cậy cũng như nâng cao tính chính xác của phương pháp này
Giả định 1: Biến động thị trường phản ánh tất cả
Đây có thể coi là nền tảng của Phân tích kỹ thuật Mọi lý thuyết, phân tích khác muốn được
chấp nhận thì trước tiên phải hiểu và chấp nhận giả định này Các nhà phân tích kỹ thuật cho rằng bất cứ yếu tố nào có khả năng ảnh hưởng đến giá đều được phản ánh rõ trong sự biến
Trang 3động của giá thị trường Khi giá tăng, điều đó chứng tỏ cầu đã vượt cung, các yếu tố tác động đến nhà đầu tư đã kích thích họ mua nhiều hơn lượng chúng khoán được bán.
Giả định 2: Giá vận động theo xu thế
Các nhà phân tích chứng khoán cho rằng có 3 xu thế: giá tăng ( uptrend ), giá giảm ( downtrend )
và đi ngang, không rõ xu hướng ( side way ) Mục đích của việc xác lập đồ thị mô tả những biến động giá trên thị trường là nhằm xác định được sớm những xu thế giá, từ đó sẽ tham gia giao dịch trên cơ sở những xu thế này Trên thực tế những phân tích kĩ thuật đều chỉ ra những xu thế giá có từ trước Mục đích của phân tích kỹ thuật là nhằm xác định sự lặp lại của những dạng biếnđộng của giá đã xuất hiện trong quá khứ để có thể tận dụng kinh nghiệm và đưa ra những quyết định phù hợp
Giả định 3: Lịch sử sẽ tự lặp lại
Phân tích kỹ thuật là nghiên cứu sự biến động giá cả mà giá cả là docon người quyết định, nên về bản chất giá cả phản ánh tâm lý đầu tưcủa con người Các nhà phân tích kĩ thuật cho rằng các nhà đầu tư
sẽ lặp lại những hành vi đã từng xảy ra trong quá khứ của mình Chẳng hạn như những mô hình giá, những mô hình này đã được xácđịnh và chứng minh từ hơn 100 năm nay, chúng chỉ ra tâm lý của thị trường đang là lên giá hay xuống giá Việc áp dụng những mô hình này đã phát huy hiệu quả trong quá khứ và được giả định rằng
sẽ vẫn tiếp tục có hiệu quả trong tương lai bởi chúng dựa trên phân
tích nghiên cứu tâm lý con người mà tâm lý con người thì thường không thay đổi
II Lý thuyết Dow – nền tảng của PTKT
Lý thuyết Dow là cơ sở đầu tiên cho mọi nghiên cứu kĩ thuật trên thị trường Mặc dù nó thường bị coi là trễ so với thị trường và bị những người chống đối dựa vào đó để chỉ trích nhưng nó vẫn được đông đảo những người có quan tâm đến và tôn trọng Cha đẻ của lý thuyết Dow chính là Charles H.Dow (1851 – 1902 ).Trong những ghi chép của người đầu tiên đề ra lý thuyết này, có rất nhiều điều chứng tỏ rằng tác giả không hề nghĩ lý thuyết của mình sẽ trở thành một công cụ dùng cho dự báo thị trường chứng khoán hay thậm chí nó đã trở thành một hướng dẫn chung cho các nhà đầu tư Những ghi chép ấy chỉ nói lên rằng ông muốn lý thuyết của mình thành một thước đo biến động chung của thị trường Sau khi Dow qua đời, William P Hamilton, đã tiếp tục việc nghiên cứu lý thuyết này, sau 27 năm nghiến cứu và viết các bài báo, ông đã tổ chức và câu trúc lại thành Lý thuyết Dow như ngày nay
Trang 4Giả định của thuyết:
• Những biến động thị trường với mọi xu hướng đều có thể được dự đoán trước trên cơ
sở biến động giá trên các biểu đồ
• Phần lớn các chứng khoán tuân theo xu hướng cơ bản của thị trường
• Xu hướng cơ bản của thị trường được hiểu là “chỉ số giá bình quân” - phản ánh xu thếchung của một số cổ phiếu đại diện cho thị trường
Khi nghiên cứu lý thuyết Dow có 6 nguyên lý cơ bản sau ( có bài viết chia thành 12 nguyên lý):
NGUYÊN LÝ 1: Chỉ số bình quân thị trường phản ánh tất cả (trừ hành động của Chúa)
Bởi vì nó phản ánh những hoạt động có liên kết với nhau của hàng nghìn nhà đầu tư, gồm cả những người có kinh nghiệm dự đoán thị trường giỏi nhất, có những thông tin tốt nhất về xu hướng và các sự kiện, những gì có thể nhận thấy trước và tất cả những gì có thể ảnh hưởng đến cung và cầu của các loại chứng khoán Thậm chí cả những thiên tai hay thảm họa không dự tính được thì ngay khi xảy ra chúng đã được thị trường phản ánh ngay vào giá của các loại chứng khoán
Xu thế cấp 2 ( xu thế trung gian): Chuyển động theo xu thế cấp 1 sẽ bị ngắt quãng bởi các bởi
sự xen vào của các dao động cấp 2 theo hướng đối nghịch - gọi là những phản ứng hay điều chỉnh của thị trường Ví dụ trong xu thế cấp 1 tăng giá, xu thế cấp 2 là những biến động giảmgiá của thị trường Thường thì những biến động trung gian này kéo dài từ 3
tuần đến nhiều tháng, thông thường là 3 tháng Chúng thường sẽ kéo ngược lại khoảng 1/3 đến 2/3 mức tăng (hay giảm tùy loại thị trường) của giá theo xu thế cấp 1 Mặc dù đã có
Trang 5những tiêu chí để xác định một xu thế cấp 2 nhưng vẫn có những khó khăn trong việc xác định thời điểm hình thành và thời gian tồn tại của xu thế.
Xu thế cấp 3: Xu thế nhỏ (Minor), đây là những dao động trong thời gian ngắn (dài tối đa 3 tuần, thường chỉ dưới 6 ngày) mà theo như thuyết Dow đã nói đến, bản thân chúng không thực sự có ý nghĩa nhưng chúng góp phần tạo nên các xu thế trung gian Thông thường thì một biến động trung gian dù là một xu thế cấp 2 hay là một phần của xu thế cấp 1 xen giữa hai xu thế cấp 2 liên tiếp, đều được tạo thành từ một dãy gồm 3 hoặc nhiều hơn những dao động nhỏ khác nhau Xu thế nhỏ là dạng duy nhất trong 3 loại xu thế có thể bị “lôi kéo” (bị tác động) Để tác động vào xu thế cấp 1 và 2 thì cần những giao dịch với khối lượng rất lớn
và điều này hầu như là không thể
Thông thường, về lý thuyết thì xu thế cấp 1 chỉ là một trong 3 loại xu thế mà một nhà đầu
tư dài hạn quan tâm Nhà đầu tư hiểu rằng họ có thể bỏ qua một cách an toàn tất cả những sự xen vào của các điều chỉnh cấp 2 và các dao động nhỏ vì họ đầu tư dài hạn theo xu thế chính của thị trường Tuy nhiên với một nhà kinh doanh chứng khoán ngắn hạn thì những biến động của xu thế cấp 2 lại có vai trò quan trọng bởi họ kiếm lợi nhuận dựa trên những biến động ngắn hạn của thị trường
NGUYÊN LÝ 3:mỗi xu thế cấp 1 ( xu thế chính ) có 3 giai đoạn:
Trong thị trường giá tăng – Bull Market:
+ Giai đoạn tích lũy: Trong khi công chúng cảm thấy thất vọng khi tham gia vào thị trường chứng khoán, báo cáo kinh doanh của các doanh nghiệp không tốt, nhiều chứng khoán được bán ra trên thị trường với tâm lý chán nản của nhà đầu tư thì các nhà đầu tư tinh tường lại nhìn ra tiềm lực của một vài công ty có thể vực dậy và phục hội nhanh chóng Vào cuối giai đoạn này, trong hoạt động của công ty và trong những biến động trên thị trường đã có những biến chuyển tuy mới chỉ ở mức hạn chế, bắt đầu xuất hiện những đợt tăng giá nhỏ
+ Giai đoạn tăng giá mạnh: đây là giai đoạn tăng trưởng khá vững chắc, xảy ra khi các mức giá bắt đầu gia tăng một cách nhanh chóng và những tin tức kinh doanh được cải thiện, doanh nghiệp làm ăn có lãi
+ Giai đoạn đầu cơ sôi động: khi những tin tức kinh tế trở nên tốt hơn, doanh nghiệp liên tục làm ăn sinh lời cao, thị trường chứng khoán trở nên hấp dẫn và nóng hơn bao giờ hết,
các nhà đầu tư nhảy vào thị trường một cách ồ ạt, chứng khoán được mua quá nhiều, cầu vượt cung, đẩy giá lên cao nhưng lúc này đã có một số nhà đầu tư mua ở giai đoạn tích lũy ban đầu bán ra nhằm chốt lợi nhuận
Trang 6Trong thị trường giá giảm ( Bear Market ) cũng có 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn phân bổ: thời kỳ này thực sự bắt đầu ở giai đoạn cuối của Bull Market trước đó.Những nhà đầu tư có tầm nhìn xa muốn nhanh chóng thoát khỏi thị trường Khối lượng giao dịch vẫn rất cao, xuất hiện những dấu hiệu của xu hướng giảm; công chúng vẫn rất
“năng động”, bắt đầu có dấu hiệu lo lắng và không còn nhiều kỳ vọng kiếm lợi nhuận
+ Giai đoạn hoảng loạn: Số lượng người mua giảm dần và những người bán bắt đầu trở lên vội vã bán đi những chứng khoán mình đang nắm giữ Xu thế giảm bắt đầu tăng mạnh, đồ thịgiá gần như dốc thẳng xuống và KLGD đạt đến mức đỉnh điểm Sự sụt giảm thường xảy ra rất trầm trọng thậm chí là thái quá Sau giai đoạn hỗn loạn có thể có giai đoạn hồi phục hoặc dao động ngang thể hiện tâm lý chán nản của một bộ phận nhà đầu tư, họ cũng chính là những người đã cố gắng nắm giữ cổ phiếu qua thời kỳ hỗn loạn trước đó hoặc cũng có thể là những người đã mua cổ phiếu trong thời kỳ đó bởi vì lúc đó giá của cổ phiếu rõ ràng là rẻ hơn rất nhiều so với trước đó vài tháng Thông tin về các doanh nghiệp ngày càng xấu đi Kếtthúc giai đoạn này mới bước vào thời kỳ thứ ba
+ Giai đoạn bán bắt buộc: xu thế đi xuống trên thị trường đã yếu dần, nhưng lại được duy trì bởi những lệnh bán nhiều và liên tục thể hiện “nỗi buồn” và sự lo lắng của những nhà đầu tư đang rất cần tiền cho những nhu cầu riêng của họ Các cổ phiếu đều giảm đến mức thấp nhất,thậm chí gần như mất hoàn toàn giá trị Những cổ phiếu có chất lượng cao hầu như không được giao dịch vì những người sở hữu chúng đều muốn nắm giữ đến cùng Ở giai đoạn cuối của thị trường giá xuống, cả thị trường chỉ tập trung vào giao dịch một số loại cổ phiếu Thị trường giá xuống kết thúc với những tin xấu về các doanh nghiệp, về thị trường ở mức có thểcoi là tồi tệ nhất đã thể hiện ra và có thể đến
NGUYÊN LÝ 4: Mối quan hệ giá và khối lượng tạo ra nền tảng cơ bản
+Với thị trường giá tăng, khối lượng giao dịch sẽ tăng nếu giá tăng, và sẽ thu lại nếu giá giảm;
+Với thị trường giá giảm, giá trị giao dịch sẽ tăng nếu giá giảm và ít khi giá có dấu hiệu phụchồi
Dựa trên những phân tích về giá mới có thể đưa ra được những dấu hiệu mang tính quyết định về xu thế thị trường, còn khối lượng giao dịch chỉ có thể cung cấp thêm những
chứng cứ phụ để giải thích rõ hơn biến động của thị trường và sử dụng vào những tình huốngkhi dấu hiệu chính tỏ ra còn nhiều nghi ngờ
NGUYÊN LÝ 5:chỉ sử dụng giá đóng cửa để nghiên cứu, hành động giá xác định xu thế:
Trang 7Lý thuyết Dow không quan tâm và ít đề cao đến các mức biến động giá (thậm chí là cả mức giá cao nhất và thấp nhất) trong ngày mà chỉ quan tâm đến những số liệu cuối ngày giaodịch, chẳng hạn như mức bình quân giá bán cuối cùng trong ngày Bởi vì lý thuyết Dow cho rằng chỉ có giá đóng cửa mới phản ánh chân thực nhất tâm lý của các nhà đầu tư.
Một xu thế vẫn đang tiếp tục cho đến khi có một dấu hiệu thực sự về sự đảo chiều của xu thế
đó được xác định Tức là: Xu thế tăng giá vẫn còn tồn tại khi sự tăng giá liên tiếp tạo ra các đỉnh cao hơn và sự giảm giá xen vào tạo thành các đáy cao hơn.Xu thế giảm giá vẫn còn tồn tại khi sự giảm giá liên tiếp tạo ra các đáy thấp hơn và sự tăng giá xen vào tạo thành các đỉnh thấp hơn.Bull Market không thể lên giá mãi và Bear Market thì sớm muộn cũng đạt đến đáy của nó
Khi đã có những dấu hiệu về sự thay đổi của xu thế thị trường thì sự thay đổi đó có thể xảy rabất cứ lúc nào
NGUYÊN LÝ 6: Hai đường chỉ số bình quân của thị trường phải cùng xác nhận xu thế của
thị trường:
Đây là câu hỏi thường xuyên đặt ra nhất và cũng khó giải thích nhất đối với hệ thống các nguyên lý của lý thuyết Dow Tuy nhiên từ khi được đưa ra cho đến nay nó đã được thời gianchứng minh tính đúng đắn và nó vẫn được vận dụng cho đến ngày nay và bất kì một ai đã xem xét những số liệu ghi lại thì đều không thể có ý kiến phản đối với nguyên lý này Điều nguyên lý này muốn nói đến là không thể có một dấu hiệu chính xác nào về sự thay đổi xu thế thị trường có thể được khẳng định chỉ thông qua xem xét biến động của duy nhất một loạichỉ số bình quân Thường thì cả hai chỉ số này sẽ cùng chuyển động đến cùng một khoảng đỉnh hoặc đáy mới, nhưng có nhiều trường hợp mà một trong hai chỉ số sẽ trễ hơn chỉ số kia vài ngày, vài tuần, thậm chí là một đến hai tháng Trong những tình huống như vậy thì nhà đầu tư phải giữ kiên nhẫn và đợi cho đến khi thị trường thật sự thể hiện ra bản chất xu hướng của nó
Những hạn chế:
+ Lý thuyết Dow quá trễ: Đây là ý phê bình đúng Đôi khi người ta còn thậm chí cho rằng nếu mỗi biến động lớn của thị trường được chia thành ba phần thì Lý thuyết Dow sẽ làm người tuân theo nó mất đi cơ hội kiếm lời ở phần đầu và cuối của biến động này, có khi là mất đi toàn bộ cơ hội
+ Lý thuyết Dow không phải là luôn đúng: Điều này hoàn toàn rõ ràng Việc áp dụng Lý thuyết Dow hoàn toàn dựa vào khả năng giải thích tình hình thị trường và chịu sự rủi ro đối với tính chính xác của những giải thích này Dẵu sao cũng cần nhắc lại rằng lịch sử đã chứng minh nếu tuân thủ đúng theo lý thuyết Dow thì lợi nhuận sẽ rất cao
Trang 8+ Lý thuyết Dow thường làm cho nhà đầu tư phải băn khoăn: Bất cứ lúc nào Lý thuyết Dow cũng có thể đưa ra những câu trả lời dựa trên cơ sở hợp lý về tình hình thực tế của thị trường.Câu trả lời có thể sai nhưng chỉ là trong một thời gian ngắn tương đối ở giai đoạn đầu của xu thế cấp 1 mới hình thành, hoặc có thể trong nhiều tuần hay nhiều tháng (điển hình là với thị trường đang xuất hiện mô hình đường ngang) Lý thuyết Dow không thể đưa ra một nhận định cụ thể nào Khi đó nếu một nhà đầu tư “ưa họat động” phản ứng lại thì điều đó là hoàn toàn dễ hiểu Nhưng tính kiên nhẫn là một phẩm chất không thể thiếu trên bất kì thị trường chứng khoán nào bởi nó sẽ giúp nhà đầu tư tránh được những sai lầm nghiêm trọng
+ Lý thuyết Dow không giúp gì được cho những nhà đầu tư theo các biến động trung gian:
Họ là những người đầu tư trong ngắn hạn Lý thuyết Dow hầu như không đưa ra (nếu có thì chỉ rất ít) những dấu hiệu về sự thay đổi trong các xu thế trung gian Tuy nhiên nếu có thể có được những dấu hiệu này thì rõ ràng lợi nhuận sẽ cao hơn nhiều so với chỉ đầu tư theo nhữngbiến động của xu thế cấp một Một số nhà kinh doanh chứng khoán đã dựa trên Lý thuyết Dow để đưa ra những nguyên lý phụ áp dụng cho các biến động trung gian Nhưng nhìn chung chưa có một nguyên lý nào loại này họat động thực sự có hiệu quả Lý thuyết Dow chỉ
là một công cụ - một chiếc máy để khi ta đưa dữ liệu vào thì nó đưa ra những kết quả về xu thế cấp 1 - xu thế chính của thị trường Điều này có ý nghĩa rất quan trọng bởi hầu hết các cổ phiếu trên thị trường đều vận động theo xu thế đó Lý thuyết Dow không thể chỉ ra, không thể giúp bạn xác định nên mua hay bán loại cổ phiếu nào
III Một số khái niệm và công cụ thường dùng
1 Biểu đồ giá & khối lượng
Hiện nay nhà đầu tư cũng như các nhà phân tích kỹ thuật sử dụng nhiều loại biểu đồ khác nhau để phân tích, trong đó có 3 loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất đó là: biểu đồ dạng đường (Line chart), biểu đồ dạng thanh (Bar chart), biểu đồ dạng nến Nhật (Candlestick chart).
Biểu đồ dạng đường
Dạng biểu đồ này từ trước tới nay thường được sử dụng trên thị trường chứng khoán, và cũng là loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất trong các ngành khoa học khác nhưng hiện nay trên thị trường chứng khoán do khoa học kỹ thuật phát triển, diễn biến của thị trường
Trang 9chứng khoán ngày càng phức tạp cho nên loại biểu đồ này ngày càng ít được sử dụng hơn
Biểu đồ dạng đường được tạo thành bằng cách nỗi một chuỗi các dữ liệu giá quá khứ với nhau bằng một đường kẽ Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ sử dụng vì nó chỉ theo dõi giá đóng cửa của công cụ tài chính trong một khung thời gian xác định
Biểu đồ dạng thanh (Bar Chart)
Biểu đồ dạng thanh là một dạng biểu đồ phản ánh biến động giá của chứng khoán, theo đó phần đỉnh của đường kẽ dọc chỉ mức giá cao nhất trong phiên giao dịch và phần đáy của đường kẽ dọcnày chỉ mức giá thấp nhất trong phiên giao dịch; giá đóng cửa được biểu thị ở bên phải và giá
mở cửa được biểu thị ở bên trái của thanh (bar) Một thanh đơn lẻ tượng trưng cho một phiên giao dịch
Trang 10Biểu đồ dạng nến Nhật
Biểu đồ dạng nến Nhật (Candlestick Chart) là dạng biểu đồ cải tiến của biểu đồ dạng then chắn (Bar chart) Nó được người Nhật khám phá và áp dụng lần đầu tiên trên thị trường gạo và qua thời gian phát triển nó trở thành công cụ phân tích khá phổ biến
Theo biểu đồ này thì mỗi thanh nến thể hiện biên độ dao động giá của chứng khoán qua một khoảng thời gian xác định, thường là trong 1 phiên
Trang 112 Xu thế, đường xu thế, đường kênh
Xu hướng (xu thế) thị trường (Market Trend):
+ Xu hướng thị trường là một khoảng thời gian kéo dài khi giá trong một thị trường chứng khoán đang tăng lên hoặc đang giảm xuống nhanh hơn mức trung bình lịch sử Xu hướng thị trường bao gồm xu hướng đầu cơ giá lên (xu hướng tăng giá, bullish trend) và
xu hướng đầu cơ giá xuống (xu hướng giảm giá, bearish trend)
+ Xu hướng tăng giá bao gồm liên tiếp những đỉnh giá (high) cao dần và đáy giá (low) cao dần (đỉnh trước cao hơn đỉnh sau và đáy trước cao hơn đáy sau) Một xu hướng tăng giá sẽ được coi là vẫn duy trì cho đến khi xuất hiện một đáy mới thấp hơn đáy trước nó Ngược lại xu hướng giảm giá cũng sẽ được coi là vẫn đang tiếp diễn cho đến khi xuất hiện một đỉnh mới cao hơn đỉnh trước nó
Trang 12 Đường xu hướng (Trendline):
+ Xu hướng tăng giá và xu hướng giảm giá cũng được nghiên cứu dưới dạng các đường xu hướng Với xu hướng tăng giá thì có đường có xu hướng tăng giá (upside trendline), đây là đường nối các điểm đáy cao dần lên Với xu hướng giảm giá thì có đường xu hướng giảm giá
và đây là đường nối các đỉnh thấp dần Đường xu hướng có thể kéo dài thậm chí nhiều năm +Cách vẽ đường xu hướng:
Qui trình vẽ một đường xu hướng khá đơn giản nhưng cũng rất dễ nhầm lẫn Điều căn bản là phải có những dấu hiệu chắc chắn về sự xuất hiện một xu hướng giá Khi muốn vẽ một đường xu hướng tăng giá, cần phải có ít nhất hai điểm đáy mà đáy sau cao hơn đáy trước Tấtnhiên điều kiện cần và đủ để có thể vẽ được một đường thẳng là phải có hai điểm, tuy nhiên người ta thường đợi cho đến khi xuất hiện một đáy thứ ba cao hơn hai đáy trước và đường xuhướng chuẩn thường đi qua cả 3 đáy (một cách tương đối)
Điều này có nghĩa là đường xu hướng tăng giá này có thể không đi qua đáy thứ ba mà chỉ đi sát, nhìn chung như thế là đạt yêu cầu Nhưng một đường xu hướng tăng giá đi qua cả ba đáybao giờ cũng được coi là một đường xu thế chính xác và có độ tin cậy cao
Trang 13+ Ý nghĩa của đường xu hướng:
Khi một đường xu hướng đã được xác nhận về độ chính xác thì nó sẽ trở nên rất hữu ích bởi tính chính xác ấy đảm bảo chắc chắn hướng chuyển động ổn định của giá Với xu hướng tănggiá, sau mỗi đợt tăng biến động điều chỉnh xuất hiện sẽ kéo giá xuống sát hoặc đến đúng đường
xu hướng nhưng sẽ không xuống thấp hơn nếu xu hướng thị trường vẫn đang ổn định Đường xu hướng lúc này là biên thấp nhất của dao động giá.Tương tự, với thị trường đang có xu hướng giảm giá thì đường xu hướng giảm giá sẽ là biên cao nhất cho mọi dao động giá Như thế, các đường xu hướng chính xác của thị trường sẽ là các biên dao động cơ sở để xác định mức giá mua
và bán tối đa và tối thiểu hợp lý Nếu chuyển động của đồ thị vượt lên đường xu hướng giảm giá hoặc xuống dưới đường xu hướng tăng giá thì đây là dấu hiệu, có thể nói là sớm nhất, cho sự thay đổi trong xu hướng thị trường
Kênh giá (Price Channel), đường kênh(channel line):
+Kênh giá là khoảng dao động của giá, nếu giá sẽ dao động trong một dải thì dải đó gọi là kênh giá Dải dao động đó được xác định bởi hai đường biên là đường xu hướng (trendline) và đường kênh (channel line), hai đường này song song với nhau
Trang 14+ Cách vẽ kênh giá:
Sau khi đã xác định được xu hướng thị trường và tiến hành vẽ đường xu hướng như trên, ta vẽ đường kênh là một đường song song (đường nét đứt) với đường xu hướng và đi qua đỉnh giá rõ nhất đầu tiên
+ ý nghĩa của đường kênh:
Nếu ở lần tăng giá tiếp theo giá tăng đến gần hoặc chạm vào đường kênh rồi lại giảm xuống đến gần đường xu hướng thì khả năng có thể tồn tại một kênh dao động của giá Với xu hướng giảm giá, mỗi lần giá chạm vào hoặc đến gần đường kênh rồi quay trở lại xuống đến đường xu thế là một lần kênh được kiểm tra thành công Kênh tồn tại càng lâu với càng nhiều lần thử thành công thì vai trò cũng như độ tin cậy của nó càng lớn Kênh có thể sử dụng để đầu tư kiếm lời trong ngắn hạn và thậm chí một số nhà đầu tư táo bạo còn sử dụng đường kênh để tiến hành những giao dịch ngược hướng với xu hướng thị trường nhằm tìm kiếm những khoản lợi lớn hơn cho dù giao dịch ngược hướng thị trường có thể là một chiến thuật nguy hiểm và phải trả giá đắt
Khi chuyển động của giá trên thị trường phá vỡ đường xu hướng thì có thể gây ra sự đảo chiều của xu hướng thị trường, nhưng nếu đường kênh bị chuyển động của giá phá vỡ (khi giá vượt ra ngoài đường kênh) thì tác động lại hoàn toàn ngược lại: đây là dấu hiệu cho sự gia tăng sức mạnhcủa xu hướng hiện tại, thậm chí một số nhà đầu tư tin tưởng rằng việc giá chuyển động làm mất
đi đường kênh sẽ xác nhận cho một xu thế ổn định trong thời gian dài và là cơ hội cho những nhàđầu tư thực hiện những hợp đồng dài hạn
Ngược lại, khi giá không lên được đến đường kênh mà quay ngược trở lại quá sớm thì đây lại
Trang 15là dấu hiệu dự báo sớm sự suy giảm của xu hướng hiện tại và là dấu hiệu cho thấy có thể chuyển động của giá sẽ phá vỡ đường xu hướng.
Nói chung việc chuyển động của giá không thể đạt đến sát một trong hai đường biên của kênh giá có
thể là một dấu hiệu sớm cho thấy xu hướng giá có thể thay đổi và khả năng chuyển động của giá
có khả năng sẽ phá vỡ đường biên còn lại của kênh giá Với xu hướng tăng giá, có thể có hai trường hợp (trong các hình vẽ ở hai trường hợp này ta giả định ban đầu kênh giá đang có xu thế hướng lên- xu thế tăng giá, hoàn toàn tương tự nếu muốn xem xét đối với xu hướng giá giảm)
Nếu chuyển động của giá vượt qua đường kênh một khoảng lớn thì đây là dấu hiệu cho thấy xu hướng đầu cơ giá lên đang mạnh dần, thường ta sẽ phải vẽ một đường xu hướng mới dốc hơn từ điểm đáy cuối cùng song song với đường kênh mới Thực tế cho thấy đường xu hướng mới này hoạt động tốt hơn đường cũ
Trang 16Nếu giá không đạt được đến đường kênh và chuyển động phá vỡ đường xu hướng thì điều này chỉ ra rằng xu hướng thị trường đổi chiều thành xu hướng giảm giá Hai đỉnh mới xuất hiện (đỉnh
5 và 7) sẽ là cơ sở để vẽ đường xu hướng giảm giá, tương tự ta sẽ vẽ đường kênh song song với đường xu hướng và đi qua đáy 4 Chú ý là ở đây có sự đổi vai trò đường xu hướng ban đầu trở thành đường kênh và ngược lại
Ngoài ra kênh và các đường kênh còn mang một ý nghĩa khác: Khi giá chuyển động phá vỡ xu hướng hiện tại thì xuất hiện điểm phá vỡ (breakout) từ kênh hiện tại, giá thường sẽ chuyển động một khoảng bằng với độ rộng của kênh đó
Như thế, để xác định điểm dừng của chuyển động này ta có thể tính tương đối chính xác bằng cách đo
độ rộng của kênh vừa bị phá vỡ và dự kiến điểm dừng từ điểm giá vượt ra ngoài kênh (Tuy nhiêncần luôn luôn lưu ý rằng trong hai đường biên của kênh thì đường xu hướng luôn có vai trò quan trọng và đáng tin cậy hơn, đường kênh chỉ là một công cụ kĩ thuật xuất phát từ đường xu hướng)
3 Mức hoàn lại, khung giao dịch
Mức hoàn lại (Retracement):
Trong bất kì một đồ thị nào ta đều thấy sau một giai đoạn giá chuyển động theo xu hướng củathị trường thì giá sẽ hoàn lại một chút trước khi quay trở lại chuyển động theo xu hướng cũ Những chuyển động ngược xu hướng này thường có độ lớn ở vào những khoảng có thể dự đoán được và được gọi là mức hoàn lại Mức hoàn lại trung bình thường gặp nhất là 50% Bên cạnh đócòn có các mức hoàn lại thường thấy khác đó là các mức 1/3 và 2/3
Trang 17Nói cách khác, nếu chia một xu hướng giá thành ba phần thì nói mức hoàn lại thấp nhất là 33%
và cao
nhất là 66%, có nghĩa là ở giai đoạn điều chỉnh của xu hướng đó giá sẽ hoàn lại ít nhất 1/3 mức tăng (hay giảm) mà nó đạt được trong xu hướng trước đó và mức hoàn lại đó không vượt quá 2/3mức tăng (hay giảm) trước đó đạt được Nếu mức hoàn lại cao hơn thì khả năng sẽ xảy ra sự đảo chiều thị trường tức là giá sẽ chuyển động theo xu hướng đảo ngược xu hướng trước mà không quay lại chuyển động theo xu hướng đó
Khung Giao Dịch (Trading Range):
+ Thị trường có thể ở một trong 3 xu hướng là xu hướng tăng giá (untrend), xu hướng giảm giá (downtrend) và xu hướng dập dềnh (sideways) Nhiều người cho rằng thị trường chỉ có thể tăng giá hoặc giảm giá, nhưng thực tế có đến 1/3 thời gian giá chuyển động theo một hình
Trang 18mẫu dạng ‘phẳng’ (flat) nằm ngang gọi là khung giao dịch Khung giao dịch là một dải nằm ngang trên đồ thị trong đó bao gồm các dao động của giá trong một giai đoạn dài Nói chung
hầu hết các biến động của thị trường sẽ diễn ra bên trong khung giao dịch Tuy nhiên khi thị trường có biến động dạng khung giao dịch thì lại rất khó kiếm được lợi nhuận
+ Ý nghĩa của khung giao dịch
Khung giao dịch phản ánh thời kỳ mà áp lực cung cầu là tương đối cân bằng và giá duy trì ở mức cân bằng thị trường Đôi khi người ta còn gọi thời kỳ mà giá biến động theo khung giao dịch là thời kỳ không có xu hướng thị trường (non-trend martket) Hầu hết các công cụ phân tích
kỹ thuật đều được tạo ra để có thể áp dụng vào các thị trường có xu hướng tăng giá hoặc giảm giá rõ rệt còn khi thị trường ở dạng không có xu hướng rõ rệt thì các công cụ này nhìn chung hoạt động kém hiệu quả, thậm chí là không thể áp dụng Đây cũng chính là thời kỳ gây khó chịu nhất cho những người đi theo Phân tích kỹ thuật và gây ra nhiều mức lỗ nhất Trong những tình huống ấy nhà đầu tư luôn phải đối mặt với một trong ba quyết định là mua, bán hay đứng ngoài không tham gia vào thị trường và thông thường thì quyết định không tham gia vào thị trường luôn là quyết định sáng suốt nhất
Trang 19Thực tế cũng có một số phương pháp có thể áp dụng để kiếm lời khi thị trường xuất hiện dạng khung giao dịch, chẳng hạn như sử dụng các chỉ số dao động thị trường (Oscillators) mà ta sẽ nghiên cứu ở phần sau Nhìn chung rất khó có thể dự đoán sự xuất hiện trong tương lai của mô hình khung giao dịch Mô hình này cũng có thể kéo dài trong nhiều tháng, một năm hay nhiều năm Cũng giống như kênh giá, khung giao dịch cũng có các đường biên bên trên và bên dưới, đây chính là các đường kháng cự và hỗ trợ của khung Những “điểm phá vỡ” (breakout) ra ngoài khung có thể là các dấu hiệu quan trọng để tiến hành các giao dịch Tuy nhiên cũng cần lưu ý bởigiá cũng thường dao động vượt ra ngoài khung nhưng chỉ với một lượng nhỏ, sau đó quay trở lại bên trong khung Đôi khi nguyên nhân của hiện tượng này là do những lệnh dừng mà nhà đầu tư
đã đặt và những lệnh này tác động đến những vùng giá nằm ngoài khung Khi những lệnh này kết thúc thì giá sẽ trở lại dao động bên trong khung giao dịch nếu không có những lý do liên quan đến những yếu tố tài chính cơ bản hay có sự xuất hiện khối lượng giao dịch lớn duy trì sự vượt ra ấy Nhìn chung nhà đầu tư không nên đi theo ngay những “breakout” mới xuất hiện mà nên chờ thêm một dao động tiếp theo xác nhận “breakout” này cho dù điều này có thể làm chậm lại một chút nhưng sẽ tránh được rất nhiều dấu hiệu sai và tránh được những khoản lỗ
4 Hỗ trợ và kháng cự:
Việc nghiên cứu về mức hỗ trợ và kháng cự là một trong những vấn đề khá quan trọng đối với Phân tích kỹ thuật Nó cho phép người nghiên cứu có thêm những cơ sở mới trong dự đoán các biến động
tiềm năng, trong việc chỉ ra những thời điểm mà thị trường có thể gây ra rắc rối cho nhà đầu tư Mức kháng cự và hỗ trợ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu phân tích các hình mẫu
kỹ thuật Những kiến thức cơ bản về mức kháng cự và hỗ trợ sẽ giúp người nghiên cứu dễ dàng hiểu bản chất và các ứng dụng của các hình mẫu đó.Trên thực tế, nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm đã xây dựng cho họ một “hệ thống đầu tư” riêng dựa hầu hết vào những nguyên lý về mức kháng cự và hỗ trợ
Trang 20Mức hỗ trợ là mức giá ở đó mức cầu cho một công cụ tài chính đủ để, ít nhất là, làm dừng xu hướng giảm giá của thị trường và cũng có thể đổi chiều xu hướng đó, tức là làm xu hướng giá đi xuống quay ngược đi lên Từ đó ta có định nghĩa về mức kháng cự, đó là mức giá mà ở đó lượng cung đủ để giá sẽ ngừng không tăng thêm và có thể chuyển động ngược lại đi xuống
Theo lý thuyết thì mỗi mức giá có một lượng cung và cầu nhất định Nhưng khoản hỗ trợ thể hiện sự tập trung của cầu còn khoảng kháng cự thể hiện sự tập trung của cung
Một nguyên tắc cần chú ý là mức hỗ trợ có thể chuyển thành mức kháng cự và ngược lại Một khi giá phá vỡ xuống dưới mức hỗ trợ thì mức hỗ trợ bị phá vỡ có thể trở thành mức kháng cự mới Sự phá vỡ hỗ trợ báo hiệu rằng lượng cung đã vượt qua lượng cầu Do đó nếu giá trở lại mức này thì có thể có sự gia tăng về cung và do đó mà trở thành mức kháng cự Ngược lại khi giá tăng trên mức kháng cự thì nó báo hiệu sự thay đổi về cung và cầu Sự phá vỡ trên mức kháng cự chứng tỏ rằng lượng cầu đã vượt qua lượng cung Nếu giá trở lại mức này thì có thể có
sự gia tăng về cung và do đó mà trở thành mức hỗ trợ
4 Phần mềm hỗ trợ PTKT
Metastock
Amibrocker
Trang 21Chương 2: Các chỉ số thường dùng trong PTKT
1 Chỉ báo về dao động (Volatility Indicators)
Được dùng để xét đoán sức mạnh của xu thế và các điểm phá vỡ (breakout).1.1 Bollinger Bands
* Commodity Channel Index
* ODDS Probability Cones
* Relative Volatility Index
Trang 22* Standard Deviation
* Standard Error Bands
Trong bài viết này sẽ nói rõ về chỉ báo sau :
Về tính toán và vẽ đồ thị, dải băng Bollinger sử dụng độ lệch chuẩn và được vẽ bởi 2 đường
đồ thị trên cùng đồ thị giá của cổ phiếu: 1 đường gọi là băng trên (upper band) và 1 đường gọi làbăng dưới (lower band) biến động dựa vào đường trung bình trượt đơn giản (SMA) Thực chấtđường băng trên và băng dưới có được khi ta cộng thêm 1 tỷ lệ độ lệch chuẩn vào đồ thị đườngSMA Độ lệch chuẩn được nhân với tỷ lệ bao nhiêu là tùy thuộc vào quan điểm của mỗi nhàphân tích
Băng trên và băng dưới của Bollinger Bands α ngày, với tỷ lệ độ lệch chuẩn là ε (hay còn gọi
là độ rộng (width) của bands) sẽ được tính toán như sau:
Băng trên¿ SMA α ngày + ε (độ lệch chuẩn của giá α ngày)
Băng dưới SMA α ngày ε (độ lệch chuẩn của giá α ngày)
Tính toán độ lệch chuẩn
Nếu gọi X là giá trị của cổ phiếu,
E(X) là trung bình động của X, S là phương sai, d là độ lệch chuẩn Độ lệch chuẩn sẽ được tính toán như sau:
S = E[(X – EX)2] = E(X2) – [E(X)]2
d = Căn bậc hai của S
Ý nghĩa độ lệch chuẩn
Trong thống kê độ lệch chuẩn xác định mức độ ổn định của số liệu thống kê xoay quanh giá trị trung bình Giá trị của độ lệch chuẩn càng thấp thì mức độ ổn định của số liệu càng lớn, dao động quanh giá trị trung bình càng nhỏ Giá trị độ lệch chuẩn càng cao thì mức độ ổn định của sốliệu càng nhỏ, dao động quanh giá trị trung bình càng lớn Như vậy nếu giá của cổ phiếu có độ
Trang 23lệch chuẩn nhỏ, mức độ biến thiên giá của cổ phiếu này quanh trung bình động thấp, nếu độ lệch chuẩn lớn, mức độ biến thiên giá của cổ phiếu quanh trung bình động cao Hãy hình dung trong
ví dụ sau: vào cuối học kỳ người ta lấy hai học sinh cùng có điểm trung bình 5,0 để xét cho đi thihọc sinh giỏi Học sinh thứ nhất có độ lệch chuẩn là 0 vì điểm trong học kỳ của học sinh này toàn điểm 5; học sinh thứ 2 có độ lệch chuẩn lớn hơn 0 vì điểm trong học kỳ của học sinh này có
cả hai loại điểm 10 và điểm 0 Người ta nói học sinh thứ nhất học đều và ổn định hơn học sinh thứ hai Nếu cử học sinh thứ nhất đi thi thì sẽ an toàn hơn vì không sợ bị điểm liệt và mang tiếng xấu về cho trường, nhưng cử học sinh thứ hai sẽ có khả năng sinh lợi lớn hơn vì có thể đoạt giải nhất mặc dù rủi ro bị liệt là tương đương Điều này cũng có ý nghĩa tương tự về mức độ sinh lời
và rùi ro trong chứng khoán, càng chấp nhận rủi ro cao thì sinh lời càng lớn
Trong xác xuất thống kê, nếu gọi X là giá cổ phiếu với trung bình là a, theo mô hình phân phối chuẩn có các xác suất sau:
ý
Sự cài đặt các thông số của dải Bollinger có thể được điều chỉnh để phù hợp nhất với từng loạichứng khoán và phong cách đầu tư Bolinger khuyến cáo rằng nên có những sự điều chỉnh nhỏđối với hệ số nhân của độ lệch chuẩn để so sánh tìm ra được mẫu hình dải Bollinger phù hợpnhất Sự thay đổi số chu kỳ của đường trung bình trượt cũng ảnh hưởng tới việc tính toán độ lệchchuẩn, do vậy chỉ nên có những sự điều chỉnh thật nhỏ đối với hệ số nhân của độ lệch chuẩn Vớiđường SMA của 20 ngày và độ lệch chuẩn của 20 ngày, hệ số nhân của độ lệch chuẩn thườngđược đặt là 2 Bollinger cũng đề xuất là với đường SMA chu kì 50 nên đặt hệ số độ lệch chuẩn là2.1 và với đường SMA chu kì 10 thì hệ số độ lệch chuẩn là 1.9
Tính toán chỉ ra rằng các đường biên có khuynh hướng bao quát hết các biến động về giá, xácsuất giá cổ phiếu nằm trong dải băng Bollinger là xấp xỉ 70% Nếu giá cổ phiếu không nằm trongdải băng Bollinger, tức là thuộc về phần xác suất 30% còn lại thì các tín hiệu này cần phải chú ý
Khi sức tăng của giá quá mạnh, cầu lớn hơn cung nhiều, giá cổ phiếu sẽ vượt quábăng trên Nếu giá cổ phiếu liên tục nằm trên dải băng trên thì điều này có nghĩa làsức tăng giá của cổ phiếu vẫn rất mạnh và được khẳng định chắc chắn
Khi sức giảm của giá quá mạnh, cung lớn hơn cầu nhiều, giá cổ phiếu sẽ đi thấphơn băng dưới (lower band) Nếu giá cổ phiếu liên tục nằm dưới dải băng dưới thìđiều này có nghĩa là sức giảm giá của cổ phiếu vẫn rất mạnh và được khẳng định chắcchắn
Trang 24Nếu giá cổ phiếu vượt ra ngoài dải băng bollinger rồi trở lại vào trong dải băng ngay sau đóthì đây là tín hiệu cảnh báo về sự suy giảm sức mạnh của tăng hoặc giảm giá khi sự tăng hoặcgiảm giá đã đạt đến sự căng thẳng quá mức Điều này giống như sự bùng phát cuối cùng rồi lịmdần của sự sống vào thời điểm hấp hối.
Khi mức độ dao động của thị trường giảm, dải Bollinger Bands sẽ thu hẹp lại và có thể sẽ diễn
ra 1 sự giãn ra theo biến động mạnh cùng với đó là sự đổi chiều của đường giá
Cách sử dụng:
Dựa vào giá vượt ra ngoài dải bollinger: khi giá cổ phiếu vượt ra ngoài dải Bollinger và tiếp
tục nằm ở ngoài dải thì xu thế tăng hoặc giảm giá hiện tại sẽ tiếp tục Dải trên và dải dưới là giámục tiêu Nếu giá thoát ra ra khỏi dải dưới và vượt trên đường SMA thì dải trên trở thành giámục tiêu Tương tự, nếu giá rơi khỏi dải trên và xuống dưới đường SMA thì dải dưới trở thànhgiá
- Nếu giá nằm quá dải trên (upper band) và kéo dài liên tục thì tín hiệu này khẳng định xu thếtăng sẽ tiếp tục tăng mạnh
Trang 25- Nếu giá nằm dưới dải dưới (lower band) và kéo dài liên tục thì tín hiệu này khẳng định xu thếgiảm sẽ tiếp tục giảm mạnh.
Trang 26 Dựa vào giá vượt ra ngoài dải bollinger rồi quay trở lại nằm trong dải:
- Nếu giá cổ phiếu vượt quá dải trên (upper band) rồi sau đó thiết lập một đỉnh giá khác nằmtrong dài bollinger thì tín hiệu này cảnh báo sự chấm dứt xu thế tăng giá hiện tại và chuyển sang
xu thế giảm hoặc dập dềnh Tín hiệu này sẽ là cảnh báo đảo chiều sang giảm và được khẳng địnhchắc chắn hơn nếu sau đó giá cổ phiếu rớt xuống dưới đường trung bình động (MA) tương ứngcủa dải băng Bollinger Band
Trang 27- Nếu giá cổ phiếu xuống dưới dải dưới (lower band) rồi sau đó thiết lập một đáy giá khác nằmtrong dài bollinger thì tín hiệu này cảnh báo sự chấm dứt xu thế giảm giá hiện tại và chuyển sang
xu thế tăng hoặc dập dềnh Tín hiệu này sẽ là cảnh báo đảo chiều sang tăng và được khẳng địnhchắc chắn hơn nếu sau đó giá cổ phiếu vượt lên trên dưới đường trung bình động (MA) tươngứng của dải băng Bollinger Band
Trang 28 Dựa vào độ rộng của dải băng Bollinger Bands:
Phương pháp này lấy giá trị dải trên trừ cho giá trị của dải dưới của dải băng Bollinger để lấykhoảng cách giữa hai dải Theo công thức phổ biến để tính băng trên và băng dưới thì khoảngcách này bằng 2 lần độ lệch chuẩn
Độ lệch chuẩn phản ánh mức độ biến đổi đồng đều của giá Nếu độ rộng của dải BollingerBands lớn thể hiện giá cả có sự biến động đột biến Nếu độ rộng của dải Bollinger Bands nhỏ thểhiện giá cả có sự biến động đồng đều và ổn định Độ rộng của dải Bollinger Bands càng nhỏ thểhiện mức độ biến động giá càng nhỏ
Trong thị trường tăng trưởng, khi độ rộng của dải Bollinger đạt đến mức cực đại tạo thành 1đỉnh, giá cả trên thị trường sẽ có chiều hướng đi vào ổn định trong ngắn hạn, những ngày nàyđược gọi là những ngày phân phối, một chu kỳ tăng trưởng sẽ có một số ngày phân phối – thôngthường từ 3 đến 5 ngày phân phối Khi độ rộng dải Bollinger đạt đến mức rất lớn, thể hiện thịtrường đang ở trạng thái phấn khích với giá cả tăng vọt rất nhanh, lúc này khả năng thị trường đivào suy thoái rất cao và khi độ rộng dải Bollinger đạt đến cực đại với giá trị rất lớn và bắt đầu đixuống chính là lúc báo hiệu về một thị trường suy thoái đang bắt đầu
Trang 29Khi thị trường suy thoái và bắt đầu đi vào ổn định trong trung hạn, độ rộng dải Bollinger sẽ cógiá trị nhỏ và kéo dài, khi độ rộng của Bollinger Bands tăng trở lại sẽ là tín hiệu cảnh báo về khảnăng thị trường sẽ có một xu thế mới hình thành – tăng hoặc giảm giá.
Trang 30Mặc dù Bollinger Bands có thể giúp đưa ra những tín hiệu mua/bán nhưng không thể thiết kế
để xác định xu thế giá Do vậy, cần kết hợp sử dụng nó cùng với 1 số chỉ số xác định xu thếkhác
2 Chỉ báo về khối lượng giao dịch ( cường độ) (Volume Indicators)
Được dùng để xác nhận sức mạnh xu thế
Bao gồm các chỉ số chính :
1 Money Flow Index
2 On Balance Volume (OBV)
3 Chaikin Oscillator
4 Volume Oscillator
5 Compare Range and Volume
Ngoài ra còn có các chỉ số: Accumulation-Distribution , Chaikin Money Flow, Chaikin A/D Oscillator, Demand Index, Ease of Movement, Herrick Payoff Index, Klingler Oscillator,
Moving Average (Volume Adjusted), Negative Volume Index, Open Interest, Positive Volume Index, Price Volume Trend, Trade Volume Index, Volume, Volume Oscillator, Volume Rate-Of-
Change
Sự phỏng đoán và xác nhận về giá cả trong tương lai không chỉ phụ thuộc vào giá của cổ phiếu tại mỗi phiên mà còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác trong đó có khối lượng giao dịch trong ngày Do đó ta sẽ đề cập đến các vấn đề về khối lượng giao dịch trên thị trường và nguyên tắc chung của các phương pháp phân tích dựa trên khối lượng giao dịch
Như đã biết, giá cả trên thị trường được quyết định bằng cuộc đấu giữa cung và cầu theo nguyên tắc thuận mua và bán Sự thuận mua vừa bán này được phản ánh không chỉ qua mức giá cân đối cung cầu mà qua cả khối lượng khớp thành công giữa hai bên: nói cách khác bán phải có người mua Mua mà không có người bán hoặc bán không có người mua là những trạng thái cần phải chú ý trên thị trường, phản ánh mức cung cầu mất cân đối nghiêm trọng Hãy xem xét các tình huống sau đây: Không ai mua mà cũng chẳng ai bán: đây là trường hợp thị trường đóng băng, haiphe mua bán lừng chừng thăm dò, hàng hóa không được giao dịch hoặc giao dịch với số lượng rất ít trên thị trường Mua mà không ai bán: số lượng mua vào rất lớn nhưng số lượng bán ra nhỏ,khối lượng giao dịch thành công rất ít hoặc không có giao dịch thành công Tình huống này xảy
ra khi hàng hoá khan hiếm, rất nhiều người muốn mua, nhưng không có hàng bán trên thị trường,những người có hàng thì ôm chặt không bán ra để chờ giá lên cao hơn Lúc này cầu lấn át cung Bán mà không ai mua: số lượng bán ra rất lớn nhưng số lượng mua vào nhỏ Khối lượng giao dịch thành công là không có hoặc rất nhỏ Tình huống này xảy ra khi hàng hóa bị coi rẻ, người
có hàng thì bán tống bán tháo tìm cách rút lui khỏi thị trường, người chưa có hàng thì chẳng muốn mua vào Lúc này cung lấn át cầu Mua và bán đều thỏa mãn: khối lượng giao dịch trao đổi trên thị trường lớn, bên mua và bán gặp nhau và đều thỏa mãn Cung cầu lúc này ở trạng thái cân bằng
Trang 31Dòng chảy tiền tệ
Một số phương pháp dựa trên khối lượng thường được đặt tên goi là dòng chảy tiền tệ (money flow) hàm ý chỉ lượng tiền được rút ra hoặc đưa vào thị trường đối với một loại cổ phiếu Lượng tiền này thực chất là kết quả của khối lượng giao dịch thành công trên thị trường và giá cả của cổphiếu trên thị trường Nếu giá cả tăng thì tương ứng với khối lượng là một lượng tiền được đổ vào thị trường: giá càng tăng cao, khối lượng giao dịch càng lớn thì lượng tiền đổ vào càng lớn Nếu giá giảm thì tương ứng với khối lượng là một lượng tiền được rút ra khỏi thị trường: giá càng giảm mạnh, khối lượng giao dịch càng lớn thì tiền rút ra càng lớn
Ý nghĩa chung
Khi giá cả đang tăng, khối lượng giao dịch ít phản ánh tình trạng hàng hóa trên thị trường khan hiếm Khi đến một mức giá nào đó hoặc đến một giai đoạn mùa vụ nào đó, khi những người nắmgiữ cổ phiếu cảm thấy được giá thì họ sẽ tìm cách bán ra, sự bán ra của họ gặp đúng nhu cầu hàng của phe mua khiến cho khối lượng giao dịch thành công tăng cao, tốc độ tăng giá sẽ hãm lãihoặc giảm giá Một trường hợp khác là phe mua vào cảm thấy nếu tiếp tục mua vào với giá cao
sẽ nguy hiểm nên họ chấm dứt việc mua vào, lượng cầu giảm khiến cho khối lượng khớp thành công không có sự biến đổi tăng đột biến Khi giá cả đang giảm, khối lượng giao dịch ít phản ánh tình trạng hàng hóa trên thị trường bị coi rẻ Khi đến một mức giá nào đó hoặc đến một giai đoạnmùa vụ nào đó, một số nhà đầu tư cảm thấy được giá hời và muốn mua vào Nhu cầu của họ gặp lượng cung bán ra lớn trên thị trường khiến cho khối lượng khớp thành công tăng cao, tốc độ giảm giá chậm lại hoặc tăng giá Một trường hợp khác là phe bán ra cảm thấy nếu tiếp tục bán ra
sẽ bị hớ nên họ chấm dứt bán ra, lượng cung giảm khiến cho khối lượng khớp thành công không
có sự biến đổi tăng đột biến Khi giá cả “dập dềnh” với khối lượng giao dịch nhỏ, thị trường ở trạng thái đóng băng Lúc này không dễ đoán trước được điều gì Khi giá cả “dập dềnh” với khối lượng giao dịch lớn tiềm ẩn một khả năng về sự thay đổi xu thế trong tương lai gần nhưng khó
dự đoán Trong trạng thái này cần theo dõi liên tục và thường xuyên các biến động trạng thái củathị trường dựa trên sự kết hợp với các phương pháp phân tích khác
Cách sử dụng chung
Khối lượng giao dịch thành công, khối lượng đặt mua hoặc đặt bán được coi là nhiều hay ít còn tùy thuộc vào số lượng của cổ phiếu được phát hành trên thị trường và phụ thuộc vào tương quanvới khối lượng giao dịch trong các phiên giao dịch của cổ phiếu đó Một khối lượng có thể được coi là nhiều đối với cổ phiếu này những cũng có thể ít với khối lượng khác Hơn nữa sự biến đổi của khối lượng giao dịch mới tạo thành ý nghĩa nếu dựa vào khối lượng để phân tích, Vì vậy, thông thường, các phương pháp phân tích dựa trên khối lượng đều dựa vào sự biến đổi khối lượng giao dịch trên thị trường chứ không phụ thuộc vào một giá trị cụ thể của phân tích Điều
đó có nghĩa là các phương pháp này nhìn nhận vào chiều, hướng của đồ thị mà không chú ý đến giá trị hiện tại trên đồ thị hoặc nếu có thì giá trị này phải được quy chuẩn Dựa theo xu thế của đồthị, các phương pháp phân tích theo khối lượng sử dụng hai yếu tố trên đồ thị là sự xuất hiện của các phân kỳ dương/phân kỳ âm và tốc thay đổi đột biến về khối lượng giao dịch trên thị trường: Theo đó một phân kỳ dương xuất hiện thì phỏng đoán và xác nhận về một xu thế tăng giá trên thịtrường, một phân kỳ âm xuất hiện thì phỏng đoán và xác nhận về một xu thế giảm giá trên thị trường Một sự biến động đột biến về khối lượng giao dịch sẽ phỏng đoán và xác nhận về sự thay
Trang 32đổi xu thế trên thị trường Các phương pháp phân tích về khối lượng cần kết hợp với các phương pháp phân tích khác nhằm tăng cường tính chính xác, giảm độ trễ trong phỏng đoán và xác nhận
về sự xu thế giá cả trên thị trường
Trong bài viết này sẽ nói rõ hơn về các chỉ báo sau :
2.1 Money Flow Index.
Chỉ số dòng tiền MFI là một chỉ số động lượng được tạo nên bởi Gene Quong và AvrumSoudack, sử dụng cả giá và khối lượng để đo áp lực mua bán MFI được xem như là chỉ số RSI
về sức nặng của khối lượng MFI bắt đầu với giá điển hình của mỗi thời kỳ Dòng tiền dương khigiá điển hình tăng (do áp lực mua), và giảm khi giá điển hình giảm (do áp lực bán) Chỉ số dòngtiền MFI thích hợp để nhận biết sự đảo chiều của đường giá hay giá cực đại với các tín hiệu đadạng Giống như RSI, MFI cũng là một chỉ báo dao động theo đà biến thiên từ 0 – 100 MFIthường được tính toán theo chu kỳ 14 ngày
Cách thiết lập:
Việc tính toán chỉ số dòng tiền MFI là không phức tạp, tuy nó phải trải qua một số bước nhưsau:
1 Giá điển hình = ¿
2 Dòng tiền thô = Giá điển hình Khối lượng
3 Dòng tiền dương = Tổng dòng tiền thô dương trong 14 ngày của chu kỳ
4 Dòng tiền âm = Tổng dòng tiền thô âm trong 14 ngày của chu kỳ
5 Tỷ số dòng tiền = D `o ng ti `ê nth ô d ươ ng
D `o ng ti `ê n th ô â m
6 Chỉ số dòng tiền MFI = 100 −¿ 100
1+ T ´y s ´ô d `o ng ti ề n
*Lưu ý: Dòng tiền thô được gọi là dương nếu giá điển hình của hôm nay cao hơn hôm trước,
và ngược lại, dòng tiền thô được gọi là âm khi giá điển hình của hôm nay thấp hơn hômtrước
MFI có thể được hiểu gần như RSI, sự khác nhau nhỏ giữa chúng là do công thức của MFIđược thêm vào nhân tố khối lượng
Cách sử dụng (khá giống với RSI):
Dựa vào ngưỡng quá bán, quá mua:
- Khi MFI vượt trên ngưỡng 80, các nhà đầu tư đang trong trạng thái quá mua, thị trường cóthể đảo chiều, nên bán khi MFI xuống dưới ngưỡng quá mua
- Khi MFI rớt xuống dưới đường 20, thị trường trong trạng thái quá bán, sự đảo chiều có thểxảy ra trong tương lai, nên bán khi MFI vượt lên trên ngưỡng quá bán
Tuy nhiên, trong những xu hướng mạnh thì việc thiết lập ngưỡng quá mua, quá bán ở mức 80
và 20 đôi khi không đem lại tính chính xác cao Do vậy, Quong và Soudack cho rằng nên mởrộng ngưỡng quá mua ở mốc 90 và ngưỡng quá bán ở mốc 10 để thu được những tín hiệu chuẩnxác hơn Tuy nhiên, cũng xin nói thêm rằng việc thiết lập ngưỡng quá mua, quá bán tại đâu chohiệu quả nhất còn phụ thuộc vào tính chất của loại cổ phiếu được phân tích
Trang 33 Dựa vào sự phân kỳ giữa chỉ báo MFI và đường giá:
- Nếu xu hướng đường giá ngày càng tăng trong khi đường MFI ngày càng giảm thì sự đảochiều sắp xảy ra Xu thế giảm càng được khẳng định nếu sau đó MFI vượt qua đáy cũ của nó
Trang 34- Nếu đường giá ngày càng giảm trong khi đường MFI ngày càng tăng cao, điều đó báo hiệu
sự đảo chiểu tăng có thể xảy ra trong tương lai Xu thế tăng càng được củng cố nếu sau đó MFIvượt qua được đỉnh cũ của nó
Trang 35Mặc dù chỉ số dòng tiền MFI được xem như chỉ số RSI đối với khối lượng nhưng việc sửdụng đường 0 để xác định xu hướng tăng giảm dường như là không hiệu quả Thay vào đó,
MFI phù hợp hơn để xác định những sự đảo chiều tiềm năng nhờ vào các ngưỡng quá bán, quámua, sự phân kỳ Cũng giống như các chỉ báo khác, MFI không nên được sử dụng một mình mànên kết hợp với chỉ báo RSI, hay các mẫu hình phân tích kỹ thuật để thu được những tín hiệuchính xác nhất
2.2 On Balance Volume (OBV )
OBV (On Balance Volume) được tạo nên bởi Joseph Granville, là một chỉ báo theo đà mà ýtưởng chính của nó là dựa trên sự thay đổi về khối lượng sẽ đi trước sự thay đổi về giá OBV đo
áp lực mua và bán như là một chỉ số tích lũy, cộng thêm khối lượng trong những ngày tăng vàtrừ đi khối lượng trong những ngày giảm Nó gần như là chỉ số đầu tiên để đo luồng khối lượngtích cực và tiêu cực Các nhà phân tích cũng có thể dựa vào sự phân kì giữa OBV và đường gia
để dự đoán sự chuyển động của giá hay sử dụng OBV để khẳng định một xu hướng giá
Cách thiết lập:
Sự tính toán chỉ số OBV dựa trên việc so sánh giá đóng cửa của ngày hiện tại với ngày hômtrước:
OBVhôm nay = OBVhôm trước + Khối lượng ngày hôm nay (Nếu giá đóng của tăng)
OBVhôm nay = OBVhôm trước Khối lượng ngày hôm nay (Nếu giá đóng cửa giảm)
Nếu giá đóng cửa giữ nguyên thì OBV cũng không thay đổi
Granville đưa ra ý kiến rằng khối lượng đi trước giá Theo đó, đường OBV tăng phản ánh áplực khối lượng tích cực, điều này có thể dẫn tới một sự tăng lên về giá Ngược lại, đường OBV
Trang 36giảm phản ánh áp lực khối lượng tiêu cực, có thể báo trước về sự giảm giá Granville cũng ghichú trong nghiên cứu của ông rằng, OBV có thường khuynh hướng dịch chuyển trước đường giá.Giá trị tuyệt đối của OBV là không quan trọng Thay vào đó, các nhà phân tích nên tập trung
sự chú ý vào tính chất của đường OBV Đầu tiên là xác định khuynh hướng của OBV, sau đó xácđịnh xem xu hướng hiện tại của OBV có tương ứng với xu hướng của đường giá không Bướcthứ 3 là tìm các ngưỡng hỗ trợ hoặc kháng cự Một khi các mốc này bị phá vỡ, xu hướng củaOBV sẽ thay đổi và nhà phân tích có thể dựa vào đây để nhận biết các tín hiệu
Cách sử dụng:
Ta dựa vào sự phân kì giữa OBV và đường giá để xác định xu hướng
- Khi đường giá ngày một dịch chuyển lên trên trong khi đường OBV ngày càng rớt xuốngthấp hơn thì một sự đảo chiều là có thể xảy ra trong tương lai
- Khi đường giá ngày một dịch chuyển xuống dưới trong khi đường OBV ngày càng tăngcao thì một sự đảo chiều tăng được dự báo có thể xảy ra
Trang 37
OBV còn có thể được sử dụng để khẳng định một xu hướng giá Nếu xu hướng của OBV
và của đường giá tương ứng với nhua thì xu hướng đang diễn ra là một xu hướng mạnh Một khi
xu hướng giá và xu hướng OBV lệch nhau, điều đó báo hiệu một sự đảo chiều có thể sắp xảy ra
Trang 38OBV là một chỉ báo đơn giản sử dụng khối lượng và giá để đo áp lực mua bán Áp lực muavào là hiển nhiên khi khối lượng tích cực vượt quá khối lượng tiêu cực (nói cách khác là lượngmua lớn hơn lượng bán) và đường OBV tăng lên Áp lực bán ra tồn tại khi khối lượng tiêu cựcvượt quá khối lượng tích cực và đường OBV giảm Các nhà phân tích có thể sử dụng chỉ báoOBV để khẳng dịnh một xu hướng hoặc đưa ra những dự báo về sự dịch chuyển giá Giống nhưtất cả các chỉ báo kỹ thuật khác, OBV không thể đạt hiệu quả tối đa khi được sử dụng riêng biệt,
mà phải kết hợp với các loại hình khác của phân tích kỹ thuật
3 Chỉ báo xung lượng (Momentum Indicators)
Được dùng để xác định tốc độ thay đổi của giá
Bao gồm các chỉ số chính :
1 Relative Strength Index (RSI)
2 Rate of Change (Price)
Trong bài viết này sẽ nói rõ hơn về các chỉ báo sau :
3.1 Relative Strength Index (RSI).
Được phát triển bởi J Welles Wilder từ năm 1978, RSI là 1 trong những chỉ số đơn giản nhất
và được ưua chuộng nhất trên thị trường Nó là công cụ đo dao động theo đà đo tốc độ và sự thay
đổi của biến động giá RSI dao động từ 0 – 100 Theo Wilder thì RSI được coi là quá mua khi
nó vượt qua mốc 70, và được coi là quá bán khi nó xuống dưới mức 30.
Chỉ số RSI được xác định theo công thức sau:
RSI¿100 −100
RS
RS Trung b `inh gi ´a đ ´o ng c ´ư a gi ´a mc ´u a x ngày Trung b `inh gi ´a đ ´o ng c ´ư a t ă ng c ´u a x ngày
Số ngày được sử dụng trong tính toán là 14 ngày theo đồ thị hàng ngày; sử dụng đồ thị tuần,
số ngày sẽ là 14 tuần Để xác định được các giá trị trung bình đi lên, chúng ta cộng tổng số điểmđạt được trong các ngày giá tăng trong 14 ngày và chia tổng đó cho 14 Để xác định giá trị trungbình đi xuống, chúng ta cộng tổng số điểm bị mất trong 14 ngày giá giảm và chia lại cho 14 Sau
đó “cường độ tương đối – RS” được xác định bằng cách chia trung bình giá tăng cho trung bình
Trang 39giá giảm Giá trị RS này sau đó được đưa vào công thức tính RSI Số lượng ngày có thể thay đổibằng cách thay đổi giá trị của x.
Biểu đồ RSI có các đường chính đáng chú ý sau:
Đường 50 ở giữa, là một dấu hiệu nhận biết chứng khoán sắp tăng giá hay giảm giá Nếu
đường RSI tăng vượt qua đường này, đó là dấu hiệu giá của loại chứng khoán đó có kỳ vọng tănggiá Ngược lại, nếu đường RSI giảm xuống dưới đường này, đó là dấu hiệu giá của loại chứngkhoán đó có kỳ vọng giảm giá Ở đây ta nhấn mạnh là kỳ vọng vì biểu đồ thể hiện quá khứ của
cổ phiếu Khi xác lập xu thế mới sẽ làm cho các nhà đầu tư tin tưởng tăng (hoặc giảm)
Đường 70 phía trên được coi là ngưỡng lỗ mua (overbought) nghĩa là đã mua lỗ quá nhiều so
với mức cân bằng của thị trường Khi đó, nhà đầu tư sẽ bán bớt ra để trở về mức cân bằng làmcho giá giảm xuống) Thường khi đường RSI rớt xuống dưới ngưỡng 70, đó là dấu hiệu giáchứng khoán đó sắp giảm
Trang 40Đường 30 ở dưới được coi là ngưỡng lỗ bán (oversold) nghĩa là lượng bán ra quá nhiều làm
giá giảm xuống thấp hơn so với giá cân bằng Nhà đàu tư sẽ mua thêm để đẩy giá lên) Thườngkhi đường RSI từ dưới lên và vượt ngưỡng 30, đó là dấu hiệu giá chứng khoán đó sắp tăng
Chu kì mặc định của RSI được đặt là 14 Tuy nhiên, nó có thể thấp hơn để tăng độ nhạy, hoặccao hơn để giảm độ nhạy RSI 10 ngày dễ chạm ngưỡng quá mua/quá bán hơn so với RSI 20ngày Các nhà đầu tư nên nghiên cứu kĩ lưỡng để chọn được 1 tham số ứng dụng tốt nhất vàoloại chứng khoán mình theo dõi Theo Wilder, ngưỡng quá mua là 70 và quá bán là 30 Tuynhiên, việc xác định ngưỡng quá mua/quá bán cũng có thể được thay đổi để phù hợp hơn với loạichứng khoán và yêu cầu phân tích Một cách phổ biến khác là tăng ngưỡng quá mua lên 80 vàgiảm ngưỡng quá bán xuống 20, việc này sẽ làm giảm số điểm quá mua, quá bán, tức là có độchắc chắn cao hơn, những đồng thời cũng có thể làm giảm lợi nhuận do cơ hội bị bỏ lỡ
Cách sử dụng:
Xác định điểm mua, điểm bán dựa vào ngưỡng quá bán, quá mua :
- RSI trên 70 (hay 80 tùy theo quan điểm của mỗi người) tức là các nhà đầu tư đang mua
quá nhiều, thị trường có thể đảo chiều, nên bán khi RSI giảm xuống dưới 70
- RSI dưới 30 (hay 20 tùy theo quan điểm của mỗi người) tức là đang trong trạng thái bán
quá mức, thị trường có thể đổi chiều, nên mua khi RSI vượt lên trên ngưỡng 30