1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN dạy hoc tich cưc toán 5

26 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 214,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình dạy học, giáo viên là người tổ chức và hướng dẫn hoạtđộng của học sinh, mọi học sinh đều được tham gia hoạt động học tập để pháttriển năng lực cá nhân.Với quan điểm“ lấy

Trang 1

về khoa học và cuộc sống Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồidưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh, đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây là bậchọc mang tính chất nền móng để các em học tiếp các bậc học cao hơn.

Việc đổi mới dạy học theo chuẩn kiến thức- kĩ năng ở bậc tiểu học, việcđổi mới phương pháp dạy học ở các môn học nói chung trong đó có môn Toánnói riêng là một yêu cầu tất yếu không thể thiếu được

Trong quá trình dạy học, giáo viên là người tổ chức và hướng dẫn hoạtđộng của học sinh, mọi học sinh đều được tham gia hoạt động học tập để pháttriển năng lực cá nhân.Với quan điểm“ lấy học sinh làm trung tâm”, thầy thiết

kế - trò thi công , Nhiều giáo viên đã cố gắng đầu tư suy nghĩ để tổ chức tốt cáchoạt động dạy học trên lớp nhằm phát huy cao độ khả năng tự học, tự nghiêncứu để chiếm lĩnh kiến thức góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung,chất lượng học tập môn Toán nói riêng một cách vững chắc

Môn toán không chỉ giúp học sinh có những kiến thức cơ bản, hình thànhnhững kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải các bài toán có những ứng dụngthiết thực trong cuộc sống,… mà còn góp phần bước đầu phát triển năng lực tưduy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện vàcách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trítưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần bước đầu hình thành phươngpháp học tập và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo

Với mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất

Trang 2

lượng dạy học môn Toán ở trường PTDTBT Tiểu học Na Phát , tôi đã chọn đềtài: “ Một số giải pháp dạy học sinh tích cực môn toán lớp 5 ở trường PTDTBTTiểu học Na Phát” làm đề tài nghiên cứu.

Các em chưa xác định được tầm quan trọng của việc học nên không hamhọc Là một người đứng trong ngành nghề dạy học tôi luôn băn khoăn là làm thếnào để phát huy tính tích cực , chủ động, tự giác của học sinh trong học tập Đây làmột vấn đề nóng bỏng cần phải thực hiện nhanh và đúng cách để những thế hệ dochúng ta đào tạo là những người làm chủ tương lai, đất nước, biết xây dựng quêhương và đưa trình độ hiểu biết của toàn dân đi lên sánh được với các nước pháttriển trên thế giới Đặc biệt là giáo dục ở các vùng miền nông thôn và miền núi.Qua đổi mới các phương pháp dạy học sẽ giúp các em học sinh nông thôn, dân tộcmạnh dạn, tự tin hơn trước đám đông, biết cách tự đánh giá việc học của mình cũngnhư biết đánh giá kết quả học tập của các bạn khác Từ đó các em có tính chủ độnghơn trong học tập và biết phấn đấu thi đua nhau để việc học có kết quả cao hơn

Đó cũng chính là lí do tôi chọn sáng kiến “Một số giải pháp dạy học sinh tíchcực môn toán lớp 5 ở trường PTDTBT Tiểu học Na Phát”

+ Khơi dậy khả năng tư duy sáng tạo, tích cực chủ động của học sinh, trang

bị, cung cấp cho học sinh những biện pháp, kĩ năng học tốt môn Toán để các emhiểu và yêu thích môn học này

Trang 3

+ Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán lớp 5

2.Giới hạn đề tài

- Học sinh lớp 5A2 - trường PTDTBT Tiểu học Na Phát

- Giáo viên dạy khối lớp 5 - trường PTDTBT Tiểu học Na Phát

* Đối với giáo viên

- Nhà trường thường xuyên kiểm tra, dự giờ, có kế hoạch lên chuyên đề

để giáo viên được học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, đưa ra những biện pháp dạyhọc hay nhất giúp các em học sinh tiếp thu bài được tốt nhất

- Giáo viên đã quen dần với việc đổi mới phương pháp và hình thức dạyhọc theo hướng tích cực hóa các hoạt động của học sinh

- Bản thân là giáo viên nhiều năm liền giảng dạy lớp 5, yêu nghề, nhiệttình, tâm huyết với nghề mà mình đã chọn

- Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, ham học hỏi nắm vững cácbước cơ bản và quy trình dạy một toán

* Đối với học sinh

- Đa số học sinh trong lớp có ý thức ham học hỏi, ngoan, biết vâng lời, có ý thức tìm tòi, nghiên cứu

- Đa số học sinh có ý thức học tập tốt, nhà trường trang bị tương đối đầy

đủ đồ dùng cho dạy học Học sinh có đầy đủ phương tiện học tập

b Khó khăn:

* Đối với giáo viên

- Tuy đến lớp giáo viên vẫn trang bị cho mình giáo án đầy đủ nhưng chỉgiảng bài dựa theo sách giáo khoa mà không tìm ra một phương pháp dạy thíchhợp cho học sinh mình

Trang 4

- Bên cạnh đó một số giáo viên áp dụng các phương pháp, hình thức tổchức dạy học môn Toán còn khá máy móc, đơn điệu chủ yếu hướng tới việchoàn thành mục tiêu bài học, môn học chứ chưa chú ý đến việc học sinh có hứngthú học hay không.

- Việc chấm, chữa bài đôi khi còn chưa tỉ mỉ

* Đối với học sinh

- Phần lớn học sinh chưa hứng thú với bài toán có nhiều phép tính, bàitoán có lời văn, nó đòi hỏi sự sáng tạo và kĩ năng của các em

- Vốn từ của các em còn nghèo nên khi xác định dạng toán, yêu cầu bàitoán hay bị nhầm lẫn

- Vẫn còn một số phụ huynh chưa thực sự quan tân đến việc học của conmình Một phần vì cuộc sống khó khăn phải lo bươn chải kiếm sống, mặt khác

họ xem nhẹ việc học vì các em còn ở lớp nhỏ chưa cần thực sự quan tâm sâu sắc

c Thực trạng

- Năm học này cũng là năm thứ tư trường PTDTBT TH Na Phát thực hiện

chương trình VNEN Với mô hình dạy học này cả giáo viên và học sinh

phải chuyển đổi từ lối truyền thụ một chiều của giáo viên thầy giải trò nghesang thầy đọc trò chép sang dạy học hợp tác học sinh học tập chủ động khámphá kiến thức Bên cạnh đó giáo viên vẫn sử dụng phương pháp chủ yếu là giảnggiải, vấn đáp chính vì thế giờ học trở nên khô khan, nhàm trán với những con số

vô hồn ít đọng lại kiến thức trong tâm trí các em

-Học sinh ít tìm tòi tài liệu về môn toán mà chỉ dùng đơn thuần là cuốnsách giáo khoa dẫn đến tâm lí một số em sợ học môn này vì cho rằng nó khô vàkhó Khô vì giờ học tẻ nhạt, đơn điệu và nhàm chán Khó vì phải nhớ quá nhiềughi nhớ, công thức Từ đó học sinh không hướng thú, học vẹt, học chỉ để trả bài,

để qua các lần kiểm tra chứ không hiểu và yêu thích môn Toán thì rất ít

-Năm học 2018-2019 tôi được Nhà trường phân công chủ nhiệm và dạylớp 5A2, lớp có 24 em là người dân tộc Thái, Hmông, nhiều em gia đình rất khókhăn, bố mẹ đi làm ăn xa không quan tâm được đến việc học hành của con cái

Ở lớp 5, khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan sát, khái quát các vấn

Trang 5

đề còn yếu, khả năng ghi nhớ còn chậm nên các em chỉ có thể ghi nhớ một cáchmáy móc Kĩ năng đọc và phân tích đề toán chưa nhanh do đó ảnh hưởng đếnthời gian và tiến trình chung của môn học; Tinh thần hợp tác chưa cao, nhiều emchưa tự tin hợp tác trong nhóm, một số em còn học tập thụ động Chính nhữngđiều đó tạo nên những khó khăn trong quá trình dạy và học

- Qua thực trạng nói trên cho thấy việc giải toán của học sinh lớp 5 nóiriêng và học sinh cấp Tiểu học nói chung là vô cùng cần thiết vì đây là một mônhọc liên quan đến chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh giúp học sinhphát huy tính tích cực, chủ động trong học tập đó là “Học mà chơi – chơi màhọc” và đem lại chất lượng rất cao Đối với tôi đây chính là việc “Tự học – Tựrèn” cho bản thân để nâng cao cả về kiến thức cũng như chuyên môn nghiệp vụ,cách sử dụng công nghệ thông tin

- Từ những vấn đề trên, tôi cũng như mọi giáo viên khác cần có sự thốngnhất cao đó là luôn quan tâm, theo dõi giúp đỡ các em trong quá trình học củahọc sinh

d Nguyên nhân của thực trạng

* Về phía giáo viên

- Giáo viên chưa linh hoạt, chủ động, sáng tạo khi tổ chức dạy trên lớp, một

số giáo viên áp dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học môn Toán cònkhá máy móc, đơn điệu chủ yếu hướng tới việc hoàn thành mục tiêu bài học,môn học chứ chưa chú ý đến việc học sinh có hứng thú học hay không

* Về phía học sinh

- Khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan sát, khái quát các vấn đề cònyếu, khả năng ghi nhớ còn chậm nên các em chỉ có thể ghi nhớ một cách máymóc Kĩ năng đọc và phân tích đề toán chưa nhanh do đó ảnh hưởng đến thờigian và tiến trình chung của môn học; Tinh thần hợp tác chưa cao, nhiều emchưa tự tin hợp tác trong nhóm, một số em còn học tập thụ động Chính nhữngđiều đó tạo nên những khó khăn trong quá trình dạy và học

- Vốn từ của các em còn nghèo nên khi xác định dạng toán, yêu cầu bàitoán hay bị nhầm lẫn

Trang 6

Để giải quyết được vấn đề này, tôi đã tìm hiểu và nắm rõ tình hình họcsinh lớp 5 ngay từ đầu năm học Tôi tìm hiểu chất lượng học sinh năm học trướcđồng thời tiến hành khảo sát chất lượng môn toán của học sinh ngay đầu nămhọc 2018- 2019 qua hai bài toán như sau:

* Bài toán 1: Người ta dùng gỗ để lát sàn một căn phòng hình chữ nhật cóchiều dài 6m, chiều rộng 4m Hỏi phải tốn bao nhiêu tiền mua gỗ để lát sàn cảcăn phòng đó, biết giá tiền 1m2 gỗ sàn là 280.000 đồng?

* Bài toán 2: Theo dự định, một xưởng mộc phải làm trong 30 ngày, mỗingày đóng được 12 bộ bàn nghế thì mới hoàn thành kế hoạch Do cải tiến kĩthuật nên mỗi ngày xưởng đó đóng được 18 bộ bàn nghế Hỏi xưởng mộc làmtrong bao nhiêu ngày thì hoàn thành kế hoạch?

Sau khi chấm bài, tôi thu được kết quả như sau:

9 - 10

Tỷ

lệ %

Số họcsinhđạtđiểm

7 - 8

Tỷ

lệ %

Số họcsinhđạtđiểm

5 - 6

Tỷ lệ

%

Số họcsinhđạtđiểmdưới 5

* Trước hết ta hiểu phương pháp dạy học tích cực là gì ?

- Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học nhằm phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng cá nhân học sinh trong quá trình họctập để tiếp thu kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Trang 7

- Với quan niệm trên phương pháp dạy học có ba đặc điểm:

Hoạt động: Hình thức tổ chức, đánh giá, kích thích học sinh xử lí tìnhhuống giao tiếp

- Dấu hiệu nhận biết phương pháp dạy học tích cực:

Kích thích nhu cầu hứng thú học tập của học sinh, tạo cho học sinh tựgiác học tập Việc cùng hoạt động cá thể với nhóm nhỏ

Kết hợp với đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh cho hợp lí Giáo viên có hệ thống câu hỏi phỏng vấn, có nghệ thuật ứng xử sư phạmthích hợp, biết tạo tình huống có vấn đề và tạo cho học sinh giải quyết vấn đề

Tiết học diễn ra nhẹ nhàng hiệu quả, học sinh tiếp thu được những yêucầu của bài

-Trong quá trình dạy học có rất nhiều phương pháp như: phương pháptrực quan, phương pháp gợi mở vấn đáp, Nhưng hiện nay các phương phápdạy học tích cực đang được khuyến khích sử dụng rộng rãi là phương pháp dạyhọc phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm(nhóm tương tác); phương pháp vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học,phương pháp luyện tập một số dạng bài tập để có kĩ năng

2.1 Phương pháp luyện tập một số dạng bài tập để có kĩ năng

Như chúng ta đã biết, thời gian lên lớp cho mỗi tiết dạy tại ở lớp có giớihạn do đó để tránh mất nhiều thời gian, tùy theo mục tiêu kiến thức, kĩ năng cầnđạt cho mỗi tiết học, cho mỗi đơn vị kiến thức mà giáo viên dự kiến đề ra bài tập

để rèn kĩ năng cho học sinh sao cho phù hợp Vấn đề này đòi hỏi giáo viên phảinghiên cứu kĩ bài dạy, chuẩn bị sẵn bài tập rèn kĩ năng và nên chọn bài nào làmtại lớp, bài nào nên cho về nhà; phần nào của bài tập thì cho học sinh trả lờingay tại lớp, phần nào của bài tập thì cho học sinh luyện làm ở nhà Có làm

Trang 8

được như vậy thì hiệu quả tiết học mới cao, học sinh không bị dồn ép bởi lượngbài tập giáo viên đề ra Cụ thể tôi xin nêu ra một số dạng bài tập để rèn kĩ năngcho học sinh như sau:

* Tìm chỗ sai lầm trong cách giải của các bài toán sau

Để tiến hành việc giúp học sinh nhận xét và phát hiện chỗ sai lầm trong bàigiải (bài giải có chỗ sai lầm mà GV đã chuẩn bị) có thể thực hiện các bước sau:+ GV nêu nội dung bài toán và đính lên bảng lớp bài giải (bài giải có chỗsai lầm nhưng giáo viên không báo cho học sinh biết có sai lầm – trường hợpcần thiết giáo viên mới báo trước để học sinh tìm lỗi sai ) đã chuẩn bị ở bảng

phụ - một số bài giải có chỗ sai lầm nêu dưới đây là các bài tôi thu thập được từ

Bài 1 : Bài toán : Một tấm bìa hình chữ nhật có chiều dài

2

1m; chiều rộng3

1

m Chia tấm bìa đó thành 3 phần bằng nhau Tính diện tích mỗi phần

Diện tích của miếng bìa đó là :

1 (m)Khi chia miếng bìa đó thành 3 phần

Đáp số :

18

1m

Diện tích của miếng bìa đã cho là :

2

1

x 3

1 = 6

1 (m2)Khi chia miếng bìa đó thành 3 phầnbằng nhau thì diện tích mỗi phần là :

6

1 : 3 =

18

1 (m2)

Đáp số :

18

1

m2

Khi chia tấm bìa đó thành 3 phần thì

chiều dài mới là :

1 (m2)

Khi chia tấm bìa đó thành 3 phần bằngnhau thì chiều rộng mỗi phần là :

3

1 : 3 =

9

1 (m)Diện tích của một phần miếng bìa là :

2

1

x 9

1 = 18

1 (m2)

Đáp số :

18 1

m2

Trang 9

Trong bài giải 1a có lỗi sai ở chỗ : đơn vị kèm theo kết quả tính diện tích

phải là mét vuông, trong bài giải chỉ ghi là mét

Trong bài giải 2a có lỗi sai ở chỗ: người làm bài không hình dung được

cách chia Vì vậy đã cho rằng khi chia miếng bìa thành 3 phần thì tức là cả chiều

dài và chiều rộng bị chia thành 3 phần( như vậy thực sự người làm bài đã chia

miếng bìa thành 9 phần bằng nhau).

Ta có thể có các cách chia phù hợp như sau:

+ Chỉ quan tâm chia số đo diện tích, không cần hình dung về hình học.Vậy ta đi tính diện tích rồi chia ( như cách trình bày bài giải đúng 1b nêu trên)

+ Hình dung ra cách chia trong thực tế, ta vẽ thêm hình để minh họa cáchchia:

S =?

Cách 1 Cách 2 Cách 3

Bài 2 : Cho bài toán: Một mảnh đất có hình vẽ trên bản đồ tỉ lệ 1 : 1000 là

hình chữ nhật với chiều dài 5cm, chiều rộng 3cm Tính diện tích mảnh đất đóngoài thực tế với đơn vị đo là mét vuông

Bài giải có chỗ sai lầm Bài giải đúng

Bài giải

Theo tỉ lệ 1: 1000 nên chiều dàicủa mảnh đất đó ở trên thực tế là:

5 X 1000 = 5000 (cm) 5000cm = 50m Theo tỉ lệ 1:1000 nên chiều rộngcủa mảnh đất đó ở trên thực tế là:

3 x 1000 = 3000(cm) 3000cm = 30mVậy diện tích của mảnh đất đó trênthực tế là: 50 x 30 = 1500 (m2)

Đáp số: 1500 m2

Trả lời:

Trong bài giải có 3 lỗi sai:

Trang 10

+ Lỗi sai thứ nhất là: Tính diện tích của mảnh đất trên bản đồ đã ghi đơn

vị kèm theo số đo là xăng-ti-mét Ghi đúng phải là xăng-ti-mét vuông,

+ Lỗi sai thứ hai là: Đã coi tỉ lệ về diện tích trên bản đồ với diện tích

ngoài thực tế cũng bằng tỉ lệ độ dài Thực chất tỉ lệ về diện tích trên bản đồ vớidiện tích ngoài thực tế là rất khác với tỉ lệ độ dài

+ Lỗi sai thứ ba là: Sai lầm khi đổi đơn vị đo 15000 cm2 = 150m2 , ở đâynhầm lẫn ở chỗ đổi đơn vị đo diện tích lại nhớ sang quan hệ đo độ dài

Bài 3: Bài toán: Một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài là a và chiều

rộng là b ( a > b ; a và b cùng đơn vị đo ) Hỏi nếu giảm chiều dài đi 20% vàtăng chiều rộng lên 20% thì diện tích của thửa ruộng đó lớn hơn hay nhỏ hơnhay bằng diện tích ban đầu ? ( Bài toán dành cho học sinh khá, giỏi)

Bài giải

Diện tích thửa ruộng lúc đầu là :

S1 = a x b (1)Khi giảm chiều dài đi 20% ta có chiều

dài mới là

% 20

a

Khi tăng chiều rộng thêm 20% ta có

chiều rộng mới là : b x 20%

Vậy diện tích của thửa ruộng sau khi

giảm chiều dài và tăng chiều rộng ta

% 20

= a x b (2)

Từ (1) và (2) ta thấy sau khi giảm chiều

dài 20%, và tăng chiều rộng 20% thì

diện tích của thửa ruộng không thay

đổi

Trả lời : Diện tích không đổi.

Bài giảiDiện tích thửa ruộng lúc đầu là :

S1 = a x b (1)Khi giảm chiều dài đi 20% ta có chiềudài mới là

100

80

x aKhi tăng chiều rộng thêm 20% ta cóchiều rộng mới là :

100

120

x bVậy diện tích của thửa ruộng sau khigiảm chiều dài 20% và tăng chiều rộng20% ta có :

100

96 (2)

Từ (1) và (2) ta thấy sau khi giảmchiều dài 20%, và tăng chiều rộng 20%thì diện tích mới nhỏ hơn diện tích củathửa ruộng lúc ban đầu

Trả lời : Diện tích nhỏ hơn lúc đầu

Trả lời:

Trong bài giải trên đã có sai lầm ở chỗ: coi việc giảm chiều dài đi 20% làlấy chiều dài chia cho 20%, và tăng chiều rộng lên 20% là nhân chiều rộng với20% Vì vậy đã đi tới kết luận diện tích không đổi là sai Làm đúng thì phải trừ

đi 20% chiều dài và cộng thêm 20% chiều rộng để có chiều dài và chiều rộng

mới rồi nhận xét ( Tham khảo bài giải đúng đã trình bày ở trên)

* Hãy vẽ hình và tóm tắt các bài toán nêu dưới đây rồi giải

Trang 11

Đối với dạng bài tập này nhằm củng cố kĩ năng vẽ hình và giúp học sinhnhớ các yếu tố, các đặc điểm cơ bản của các hình đã học, đồng thời thông quagiải bài toán rèn kĩ năng nhớ công thức, kĩ năng trừu tượng, tư duy suy luận,phân tích, tổng hợp hoặc liên hệ thực tiễn…

Bài 7 : Vẽ hình và tóm tắt bài 1 ; 2 ( đã cho ở trên mục 2.1) rồi trình bày

cách giải đúng

a)Vẽ hình và tóm tắt bài 1

1/2m 1/2m 1/2m

1/3m 1/3m 1/3m 1/3 x S=? 1/3x S=? 1/3 x S=?

Cách 1 Cách 2 Cách 3

* Phần trình bày cách giải đúng đã thể hiện ở mục 2.1 nêu trên.

(Lưu ý: cách 3 dựa vào hình vẽ, học sinh tự làm )

b) Vẽ hình và tóm tắt bài 2 như sau:

Tỉ lệ 1:1000

S = m2 3cm

5cm

Phần trình bày cách giải đúng đã thể hiện ở mục 4.1 nêu trên.

2.6.3 Trình bày bài giải của các bài toán sau.

Dạng bài tập này giáo viên có thể cho học sinh làm ở nhà và kiểm tra vàonhững tiết học sau hoặc vào thời gian thích hợp Mục đích của việc giao một số bàitập dạng này là nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học để luyện tập , thôngqua đó các em biết liên hệ một số tình huống thực tiễn để giải quyết được bài tập,hoặc các em có điều kiện, thời gian tìm được nhiều cách giải của một bài toán

Bài 4 : Một vườn rau hình chữ nhật có chiều dài 18m và chiều rộng bằng

3 2

chiều dài Người ta dự tính sẽ cắm cọc rào cách đều nhau 1,5m để đựng các tấmphên cọc rào cho đủ, biết rằng để cổng vào vườn rộng 3m, các góc vườn đều có cọc

Chiều rộng của mảnh vườn đó là:

18x 3

2 =12 (m)Chu vi mảnh vườn đó là

( 18 + 12) x 2 = 60(m)

Trang 12

Nếu không để cổng mà cứ cắm cọc cách đều 1,5m thì cần tất cả số cọc rào là:

Bài 5 : Cho tam giác ABC có AC = 35 cm, AB = 28cm Trên cạnh BC

người ta lấy điểm M Nối AM ta có 2 tam giác ABM và ACM Chu vi của tamgiác ABC là 105cm Hiệu giữa chu vi của tam giác ACM và ABM là 13cm

a) Vẽ hình tóm tắt bài toán

b) Tính tỉ số độ dài của 2 đoạn MC và MB

Bài giải:

a)Ta có hình vẽ tóm tắt bài toán như hình bên

Chu vi kí hiệu là C CABC = 105m

CACM – CABM = 13m, MC :MB = ?

b) Độ dài cạnh BC là:

105 - (35+28) = 42(cm)

Vì hai tam giác ACM và ABM có

chung cạnh AM nên hiệu giữa hai chu vi

của tam giác ACM và ABM chính bằng hiệu sau

Đáp số :

3 4

2.2 phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Muốn nâng cao chất lượng dạy học thì cần thiết phải quan tâm nhiều tớimặt bên trong của phương pháp, tới hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo củangười học với tư cách là chủ thể trong quá trình học tập Đòi hỏi này xuất phát

A 28cm 35cm

B ?cm M ?cm C

Trang 13

từ yêu cầu xã hội đối với sự phát triển nhân cách của thế hệ trẻ Từ những đặcđiểm của nội dung mới và bản chất của quá trình học tập Vì vậy, phải giúp họcsinh phát hiện và giải quyết vấn đề của bài học

Vấn đề: Là một yêu cầu đặt ra cho học sinh những khó khăn về mặt líluận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vượt qua nhưng khôngphải là ngay tức khắc nhờ một quy tắc có tính thuật toán mà phải trải qua mộtquá trình trực tiếp suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặcđiều chỉnh kiến thức sẵn có Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn

đề là phương pháp dạy học trong đó giáo viên là người đưa ra các tình huống sưphạm có vấn đề và tổ chức cho học sinh các hoạt động khám phá, phát hiện vàtìm cách giải quyết vấn đề trên cơ sở những kiến thức và những kinh nghiệm đãbiết “Vấn đề” được chứa đựng trong “tình huống” mà học sinh mong muốnđược giải quyết

Nhưng để giải quyết phải vượt qua những khó khăn bằng sự cố gắng

tự lực của bản thân một cách tự giác và hi vọng sẽ giải quyết được vấn đề đó Quá trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có thể mô tả như sau:

ra Học sinh là người tìm cách học, biết cách huy động kiến thức, kĩ năng vàkinh nghiệm đã có bằng nỗ lực của chính mình, tự phát hiện và giải quyết vấn

đề, tự chiếm lĩnh tri thức và sắp xếp nó vào hệ thống kiến thức sẵn có

Dạy học toán phát hiện và giải quyết vấn đề là một định hướng xuyênsuốt quá trình dạy học toán ở tiểu học Do đặc điểm và nhận thức của học sinhtiểu học trong học tập toán, vấn đề được hướng tới thường đơn giản, việc pháthiện và giải quyết vấn đề không cần một quá trình suy luận dài

Ngày đăng: 18/08/2019, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w