+ Nghiên cứu những quan điểm tổng quát những cách tiếp cận đối tượng nhận thức đồng thời xây dựng hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học, với tư cách là con đường, cách t
Trang 1PTS NGUYÊN ĐĂNG BÌNH
PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (GIÁO TRÌNH DÙNG CHO HỌC VIÊN CAO HỌC)
NĂM 1999
Trang 2Bài mở đầu ĐỐI TƯỢNG VÀ Ý NGHĨA CỦA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I Đối tượng và nội dung nghiên cứu của PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC:
Trước đây, hầu như chỉ có triết học mới dành mối quan tâm nghiên cứu về khoa học như một phạm trù triết học nhằm giải thích nguồn gốc của khoa học, các quy luật nội tại của khoa học, quan hệ giữa khoa học với khách thể mà khoa học nghiên cứu, quan hệ giữa khoa học với các hình thái xã hội Đã có một thời triết học được coi là khoa học của các khoa học Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, khoa học dã trở thành bộ máy khổng lồ đang nghiên cứu khám phá tất cả các góc cạnh của thế giới Kết quả nghiên cứu đã tạo ra một hệ thống tri thức đồ sộ và mở ra
kỷ nguyên bùng nổ thông tin Những khám phá mới của khoa học đã làm thay đổi nhiều quan niệm truyền thống trong sản xuất vật chất và trong đời sống tinh thần của
xã hội Vì vậy, khoa học ngày nay không chỉ được xem xét trong quan hệ với khách thể mà khoa học nghiên cứu, mà còn được xem xét trong quan hệ qua lại với hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội
Trước sự phát triển nhanh chóng ấy của khoa học và công nghệ, đến phần mình, bản thân khoa học cũng cần được nghiên cứu một cách khoa học Một mặt phải tổng kết thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học, phân loại và hệ thống hoá toàn hộ những tri thức đã nhận thức được Mặt khác, phải khái quát những lý thuyết về cơ chế và phương pháp sáng tạo khoa học, cũng như tìm tòi các biện pháp tổ chức, quản lý tốt quá trình nghiên cứu khoa học Như vậy là, chính khoa học đã trở thành đối tượng nghiên cứu
Theo hướng đó, trong hơn hai nghìn bộ môn khoa học hiện đại có một số bộ môn
đã đề cập khá sâu sắc tới nhiều khía cạnh khác nhau của khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học như: lịch sử khoa học, tâm lý học sáng tạo, xã hội học khoa học, kinh tế
học khoa học, tổ chức và quản lý khoa học v.v Chúng ta có thể kể đến các bộ môn
quan trọng sau đây:
Bộ môn thứ nhất là Triết học Triết học nghiên cứu tổng kết tất cả các thành tựu
của khoa học, dựa trên đó đã khái quát các qui luật nhận thức chung của loài người Hệ thống quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã trở thành thế giới quan là cơ
sở phương pháp luận chung cho mọi quá trình nhận thức, hướng dẫn các nhà khoa học trên con đường tìm tòi sáng tạo
Bộ môn thứ hai là Lịch sử phát triển khoa học tự nhiên và kỹ thuật đã tổng kết
thực tiễn nghiên cứu khoa học Tự nhiên và Kỹ thuật trong lịch sử thế giới, cho chúng
ta bức tranh chung về quá trình phát triển khoa học nhờ đó mà ta có thể phát hiện ra các qui luật, các xu hướng phát triển khoa học hiện đại
Trang 3Bộ môn thứ ba là Khoa học luận (Epistomology): Khoa học luận là bộ môn khoa
học "Nghiên cứu tổng hợp và tổng kết về mặt lý luận, kinh nghiệm hoạt động của các
hệ khoa học, nhằm dự báo chính sách khoa học - kỹ thuật, củng cố tiềm lực khoa học
và nâng hiệu suất của quá trình khoa họe, thông qua các biện pháp tác động về mặt tổ chức và xã hội Đôbrôv G.M Khoa học về khoa học NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội l976.Tr.31)
Đối tượng của Khoa học luận là bản thân khoa học được xem như một hệ thống nhất thể Phương pháp nghiên cứu của Khoa học luận là phân tích và tổng hợp lý luận
và thực tiễn hoạt động của các hệ khoa học Chính vì vậy Khoa học luận là bộ môn khoa học có ý nghĩa to lớn đối với công tác tổ chức, quản lý và điều hành các hoạt động nghiên cứu khoa học
Bộ môn thứ tư đặc biệt quan trọng là Phương pháp luận nghiên cứu khoa học Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ những tri thức về
các quy luật khách quan dùng để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định
Các phương pháp nhận thức khoa học hiện đại rất da dạng và cách phân loại chúng cũng rất khác nhau Cách thường gặp hơn cả là dựa vào phạm vi tác động của các quy luật khách quan đã được nhận thức và được khái quát dưới hình thức lý luận,
từ đó hình thành hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động của chủ thể Theo cách phân loại này, các phương pháp được chia ra thành phương pháp riêng, phương pháp chung và phương pháp phổ biến Phương pháp riêng chỉ thích hợp cho từng bộ môn khoa học (phương pháp sinh vật học, phương pháp hoá học, phương pháp xã hội học) Phương pháp chung được sử dụng cho nhiều ngành khoa học khác nhau (các phương pháp quan sát thí nghiệm, phương pháp mô hình hoá, phương pháp tối ưu hoá, phương pháp quy hoạch hoá thực nghiệm) Phương pháp phổ biến thích hợp cho mọi ngành khoa học khác nhau cũng như đối với mọi lĩnh vực trong hoạt động thực tiễn Phương pháp biện chứng chính là phương pháp phổ biến và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của khoa học hiện đại
Phương pháp luận ( Methodology) là học thuyết hay lý luận về phương pháp
Đó là hệ thống những quan điểm (nguyên lý) chỉ đạo xây dựng các nguyên tắc hợp thành phương pháp xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng có hiệu quả Trong đó, quan trọng nhất là các nguyên lý có quan hệ trực tiếp với thế giới quan, có tác dụng định hướng việc xác định phương hướng nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp Phương pháp và phương pháp luận là khác nhau
Phương pháp luận là phạm trù rất rộng, cho nên phạm vi bao quát của phương pháp luận rất lớn Phương pháp luận nghiên cứu khoa học đặt ra cho mình hàng loạt những nhiệm vụ quan trọng sau đây:
+ Nghiên cứu làm sáng ló bản chất của khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa
Trang 4học, tổng kết các quy luật phát triển của khoa học hiện đại
+ Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ chế tư duy sáng tạo trong nhận thức của nhà khoa
học và các kỹ năng thực hành sáng tạo của họ
+ Nghiên cứu những quan điểm tổng quát những cách tiếp cận đối tượng nhận
thức đồng thời xây dựng hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học, với
tư cách là con đường, cách thức và kỹ thuật nghiên cứu cụ thể, đây là vấn đề trung tâm của phương pháp luận
+ Phương pháp luận khẳng định phương pháp nghiên cứu khoa học không những
nằm trong lôgíc nhận thức mà còn nằm trong cấu trúc nội dung một cộng trình khoa học Cho nên phương pháp luận nghiên cứu khoa học một mặt xác định các bước đi trong tiến trình nghiên cứu một đề tài mặt khác còn tìm ra cấu trúc lôgic nội dung của các công trình khoa học đó
+ Phương pháp luận nghiên cứu khoa học cũng chú ý đến phương pháp tổ chức,
quản lý nghiên cứu hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, coi đó là một khâu ứng dụng chính các thành tựu khoa học, nhằm nâng cao liềm lực khoa học và tổ chức quá trình nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả cao
Tóm lại phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học bao gồm các lý thuyết về cơ chế sang tạo, những quan điểm tiếp cận đối tượng khoa học Cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp, kỹ thuật và logic tiến hành nghiên cứu một công trình khoa học cũng như phương pháp tổ chức, quản lý quá trình ấy
II Ý nghĩa của việc nghiên cứu hoàn thiện và nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học:
1 - Khoa học hiện đại có kết cấu bởi nhiều thành phần, trong đó có ba bộ phận chủ yếu và quan trọng sau đây:
+ Hệ thống những khái niệm, phạm trù, những quy luật, các lý thuyết, học thuyết
khoa học
+ Hệ thống trí thức ứng dụng đưa các thành tựu khoa học vào sản xuất và quản
lý xã hội, nhằm cải tạo thực tiễn
+ Hc thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu về các con đường tìm tòi, sáng
tạo khoa học
Như vậy, phương pháp luận là một trong ba bộ phận quan trọng của khoa học
2 - Nghiên cứu khoa học luôn là sáng tạo và cách mạng, trong mỗi giai đoạn phát triển của khoa học hiện đại đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới đối với khoa học, phải tìm ra các phương pháp nghiên cứu mới, phải phát hiện ra các con đường mới để ứng dụng khoa học vào thực tiễn Có thể nói: Hoàn thiện về phương pháp luận là sự đòi hỏi
Trang 5thường xuyên của sự phát triển khoa học hiện đại
3- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là kết quả của quá (rình khái quát lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu khoa học và nó trở thành công cụ sắc bén để chỉ dẫn tất
cả các nhà khoa học và các nhà quản lý trong công tác tổ chức, quản lý và thực hành
sáng tạo khoa học
4- Ngày nay trong thế giới hiện đại, để hoàn thành có chất lượng bất cứ một tại công việc nào nhà chuyên môn cũng phải là người sáng tạo, có ý thức tìm tòi các con đường, các phương pháp lao động mới Thiếu tinh thần sáng tạo không có chỗ đứng trong cuộc sống dậy sôi động Cải tiến chuyên môn thông qua con đường hoạt động thực tiễn của mình đã góp phần làm phát triển khoa học và công nghệ Như vậy, nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học không chỉ có nghĩa đối với các nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, mà còn đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn
Tóm lại, phương pháp luận nghiên cứu khoa học là một bộ phận quan trọng của khoa học Hoàn thiện phương pháp luận nghiên cứu khoa học là sự tự ý thức về sự phát triển của bản thân khoa học Như vậy, nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học không chỉ có nghĩa đối với các nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, mà còn đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn
Trang 6Chương I KHOA HỌC, KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ
Để có cơ sở bàn về nghiên cứu khoa học, trước hết cần xem xét các khía cạnh rất
đa dạng và phong phú trong khái niệm hiện đại về khoa học
Từ khi bắt đấu lịch sử khoa học, các nhà nghiên cứu trong đó có những triết gia lớn, các nhà khoa học lớn như Aristote, R Descarte, F Bacon F Hegcl Marx, Engels,
v.v đã dành nhiều quan tâm đến việc nhận dạng bản chất và cấu trúc của khoa học
đặc điểm của hoạt động khoa học, chức năng xã hội của khoa học cũng như chính sách của chính phủ đối với nghiên cứu khoa học Khoa học, do vậy, đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học khác nhau
1.1.1.1 Xét theo kết quả của quá trình tích lũy trí thức của nhân loại thì KHOA HỌC LÀ MỘT HỆ THỐNG TRI THỨC VỀ THẾ GIỚI KHÁCH QUAN:
Ngay từ khi xuất hiện, để tồn tại con người phải lao động, cùng với lao động con người nhận thức thế giới xung quanh Nhận thức trước hết để thích ứng, tồn tại cùng với môi trường sau đó để vận dụng những điều đã biết vào cuộc sống làm cho cuộc sống ngày càng tốt hơn Hoạt động nhận thức phát triển theo dòng lịch sử và kết quả nhận thức ngày một phong phú, trở thành một hệ thống tri thức về mọi lĩnh vực của dời sống xã hội
Quá trình nhận thức của con người được thực hiện với nhiều trình độ, bằng các phương thức khác nhau và tạo ra hai hệ thống tri thức về thế giới
a Tri thức thông thường:
Trong cuộc sống đời thường, con người tiếp xúc với thiên nhiên, với xã hội, phải giải quyết những công việc thực tế hàng ngày, bằng các giác quan con người tri giác, cảm nhận về bản thân, về thế giới xã hội xung quanh, từ đó mà có những kinh nghiệm sống, những hiểu biết về mọi mặt Đó chính là tri thức thông thường Tri thức thông thường được tạo ra từ phép quy nạp đơn giản, không có mô hình lý thuyết, do vậy nó chưa chỉ ra dược bản chất bên trong, chưa phát hiện được các quy luật của những sự
Trang 7vật, hiện tượng và chưa thành một hệ thống vững chắc
Tri thức thông thường được con người sử dụng trao đổi với nhau truyền đạt cho nhau, mỗi ngày chúng được bổ xung, được hoàn thiện, tính xã hội được xác lập và trở thành tri thức dân gian Tri thức thông thường có ý nghĩa thực tiễn to lớn, giúp nhiều ích lợi cho cuộc sống hàng ngày của con người
b Tri thức khoa học:
Sự phát triển của lao động sản xuất và hoạt động xã hội là nguyên nhân khiến con người phải đi sâu nghiên cứu đầy đủ hơn về thế giới và tìm hiểu khả năng nhận thức của chính mình Để tạo ra công cụ sản xuất, con người phải tìm tòi, nghiên cứu các loại vật liệu khác nhau Để thuần dưỡng động vật, con người phải biết về cấu tạo
cơ thể và đặc điểm sinh hoạt của chúng Để trồng trọt con người phải nghiên cứu đất đai, cây trồng và thời tiết Những hiểu biết lúc đầu còn ít ỏi, về sau tăng dần trở thành một hệ thống tri thức vững chắc
Cùng với quá trình phân công lao động xã hội, xuất hiện những người thông thái
có khả năng trí tuệ đặc biệt, biết chế tạo và sử dụng những công cụ, những phương pháp độc đáo để tìm hiểu thế giới và kết quả là tạo ra một hệ thống hiếu biết có giá trị đặc biệt, đó chính là tri thức khoa học Cũng từ đây có hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp
Như vậy tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và phương tiện đặc biệt, do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện
Tri thức khoa học là hệ thống tri thức khái quát về các sự vật, hiện tượng của thế giới và về các qui luật vận động của chúng Đây là hệ thống tri thức được xác lập trên các căn cứ xác đáng, có thể kiểm tra được và có tính ứng dụng
Mỗi kết luận khoa học đều được dựa trên các tài liệu thực tiễn hay lý thuyết, nhờ
có phép suy luận và các thao tác khái quát hoá, trìu tượng hoá con người gạt bỏ những cái ngẫu nhiên, đi vào những mối quan hệ bản chất sâu xa bên trong của các sự vật, hiện tượng, từ đó mà phát hiện ra những quy luật khách quan về thế giới Như vậy tri thức khoa học là sản phẩm cao cấp của trí tuệ con người
Tri thức khoa học và tri thức thông thường tuy khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Tri thức khoa học có thể xuất phát từ tri thức thông thường, theo gợi ý của những hiểu biết thông thường để tiến hành những nghiên cứu một cách sâu sắc Tuy nhiên tri thức khoa học không phải là tri thức thông thường được hệ thống hoá lại hay những tri thức thông thường được hoàn thiện Tri thức khoa học là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học đặc biệt
Từ những phân tích trên chúng ta có thể đồng tình với định nghĩa sau đây: “Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội và tư duy về những qui luật phát triển
Trang 8khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội” (Đại bách khoa
toàn thư Liên Xô Quyển XIX, tr.241, bản tiếng Nga)
Phân tích toàn diện khái niệm khoa học ta thấy:
Đối tượng của khoa học là những hình thức tồn tại khác nhau của vật chất đang
vận động và cả những hình thức phản ánh chúng vào ý thức của con người Nói cách khác đối tượng của khoa học là thế giới khách quan và cả những Phương tháp nhận thức thế giới
Nội dung của khoa học bao gồm:
+ Những tài liệu về thế giới do quan sát, điều tra, thí nghiệm mà có
+ Những nguyên lý được rút ra dựa trên những sự kiện đã được thực nghiệm
chứng minh
+ Những qui luật, những học thuyết được khái quát bằng tư duy lý luận
+ Những phương pháp nhận thức sáng tạo khoa học
+ Những qui trình vận dụng lý thuyết khoa học vào sản xuất và đời sống xã hội
Chức năng của khoa học là:
+ Khám phá bản chất các hiện tượng của thế giới khách quan: Giải thích nguồn gốc phát sinh, phát hiện ra các qui luật vận động và phát triển của các hiện tượng ấy + Hệ thống hoá các tri thức đã khám phá được tạo thành các lý thuyết, học thuyết
khoa học
+ Nghiên cứu ứng dụng những thanh quả sáng tạo khoa học để cải tạo thực tiện
Động lực của sự phát triển khoa học là nhu cầu thực tiễn của cuộc sống con
người Nhu cầu thực tiện gợi ý cho mọi đề tài và đồng thời là mục tiêu phải giải quyết của mọi đề tài khoa học Thực tiễn vừa là nguồn gốc nhận thức vừa là tiêu chuẩn để xác minh tính chân thực, vừa là mục tiêu giải quyết của mọi lý thuyết khoa học
1.1.1.2 Xét trên giác độ xã hội thì Khoa học là một HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ
HỘI VÀ LÀ MỘT HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI ĐẶC BIỆT
a) KHOA HỌC LÀ MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI:
Theo quan điểm triết học Mác được trình bày trong từ điển Triết học của Rozental, khoa học tồn tại như một hình thái xã hội
Toàn bộ cuộc sống của xã hội loài người bao gồm hai lĩnh vực: lĩnh vực vật chất (tồn tại xã hội) và lĩnh vực tinh thần (ý thức xã hội) Tồn tại xã hội là tất cả những gì đang diễn biến xung quanh chúng ta Ý thức xã hội là kết qua sự phản ánh tồn tại xã hội vào bộ não con người Sự phản ánh này được thực hiện với nhiều mức độ khác nhau như: ý thức sinh hoạt đời thường, tâm lý, ý thức xã hội, trong đó có hệ tư tưởng
Trang 9Ý thức đời thường là sự phản ánh những cái cụ thể trực tiếp, gần gũi của cuộc sống hàng ngày của con người Ý thức xã hội là sự phản ánh những cái sâu sắc toàn cách và hệ thống về thế giới
Ý thức xã hội được phản ánh bằng nhiều hình thái khác nhau như: Tôn giáo, Đạo đức, Nghệ thuật, Chính trị Khoa học sự khác nhau giữa các hình thái ý thức xã hội được qui định bởi mục đích, tính chất và phương thức phản ánh Thế giới là đối tượng duy nhất của sự nhận thức và cũng là nguồn gốc duy nhất đem lại nội dung cho sự nhận thức
Các hình thái ý thức xã hội là những hình thức khác nhau của sự phản ánh về một thế giới thống nhất và chúng có chức năng xã hội riêng
+ Tôn giáo là một hình thái ý thức phản ánh lòng tin không có căn cứ của con
người trước lực lượng siêu tự nhiên, mà bản thân con người không hiểu nổi, không giải thích được nó và từ đó thần thánh hoá các sức mạnh siêu tự nhiên đó Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người, trong điều kiện trình độ nhận thức và thực tiễn xã hội còn thấp kém Tôn giáo làm cho con người lệ thuộc vào thiên nhiên, trở thành nhỏ bé trước sức mạnh của thiên nhiên
+ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh các quan niệm về cái thiện
cái ác trong các mối quan hệ xã hội, về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người trong cuộc sống cộng đồng và được biểu hiện bằng những qui tắc, chuẩn mực cụ thể Tiêu chuẩn đạo đức không được ghi thành vấn bản, nhưng có giá trị to lớn trong cuộc sống nhân loại Đạo đức định hướng giá trị cho cuộc sống cá nhân và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Đạo đức đưa xã hội loài người tới cuộc sống văn minh
+ Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội phản ánh các hình tượng thẩm mỹ
của thế giới hiện thực thông qua những rung cảm thẩm mỹ cá nhân Hình tượng nghệ thuật là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan, nó mang dấu ấn độc đáo của chủ thể sáng tạo Ý tưởng nghệ thuật xuất hiện trong một hoàn cảnh cụ thể, trong điều kiện sống của cá nhân, trong cộng đồng dân tộc và thời đại Nghệ thuật là quá trình chủ thể hoá đối tượng thẩm mỹ và khách thể hoá tình cảm thẩm mỹ Nghệ thuật có chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng giải trí và có vai trò to lớn trong đời sống
nhân loại
+ Chính trị là hình thái ý thức xã hội phản ánh các mối quan hệ kinh tế - xã hội
vị trí và quyền lợi của các giai cấp, của các quốc gia xung quanh vấn đề lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế Chính trị thể hiện trong cuộc dấu tranh giữa các giai cấp để thiết lập trật tự xã hội và cuộc đấu tranh giữa các quốc gia để xác lập chủ quyền dân tộc, trong quản lý và bảo vệ đất nước Chính trị được duy trì bằng các công cụ chuyên chính Mọi hình thái ý thức xã hội đều bị chi phối bởi ý thức chính trị, phục tùng đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền
+ Khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan, tạo ra
Trang 10hệ thống chân lý về thế giới Hệ thống chân lý này được diễn đạt bằng các khái niệm, phạm trù trừu tượng những nguyên lý khái quát, những giả thuyết học thuyết Khoa học phản ánh thế giới bằng các phương thức và công cụ đặc biệt Khoa học không những hướng vào giải thích thế giới mà còn nhằm tới cải tạo thế giới Khoa học làm cho con người mạnh mẽ trước thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống của mình
Khoa học có vị trí độc lập tương đối trước các hình thái ý thức xã hội khác nhưng đồng thời lại có mối liên hệ biện chứng với chúng Tất cả các hình thái ý thức xã hội đều là đối tượng nghiên cứu của khoa học Khoa học có khả năng vạch rõ nguồn gốc bản chất, xác định tính chính xác của sự phản ánh hiện thực và ý nghĩa xã hội của tất
cả các hình thái ý thức xã hội khác
b) KHOA HỌC LÀ MỘT HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI ĐẶC BIỆT:
Đứng ở góc độ hoạt động, khoa học có thể được hiểu là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của loài người, giống như hoạt động văn hoá, nghệ thuật khoa học công nghệ Mỗi loại hình hoạt động có mục đích và phương thức riêng Khoa học là một loại hình hoạt động có mục đích khám phá bản chất và các qui luật vận động của thế giới để ứng dụng chúng vào sản xuất và đời sống xã hội Về thực chất, ở góc độ này, khoa học được hiểu là hoạt động nghiên cứu khoa học, là quá trình phát minh sáng tạo
ra tri thức mới cho nhân loại
1.1.2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC
1.1.2.1 Quá trình phát triển của khoa học
Sự phát triển của khoa học gắn liền với lịch sử phát triển xã hội loài người Khoa học ra đời khi xã hội đã đạt tới trình độ phát triển nhất định và gắn liền với sự xuất hiện những nhân vật có những năng lực trí tuệ đặc biệt
+ Ở thời cổ đại khi mới hình thành, khoa học là một thể thống nhất chưa bị phân
chia, mọi lĩnh vực tri thức đều tập trung trong Triết học Người đặt nền móng cho khoa học cổ đại chính là Aristôt (384-270 trước CN), mọi tri thức khoa học và triết học thời
đó đều tìm thấy trong tác phẩm của ông Triết học phát triển cùng với cuộc đấu tranh của hai trào lưu duy vật và duy tâm
Khoa học dần dần phát triển cùng với thời gian và trình độ nhận thức của xã hội loài người Triết học được phân thành Thiên văn học, Hình học, Cơ học, Tĩnh học Những bộ môn này đạt tới trình độ láy trái đất làm trung tâm trong hệ thống tri thức
thiên văn của Pơtôlêmêm, hình học của Ơclit, tĩnh học của Acsimet
+ Thời Trung cổ kéo dài hàng nghìn năm, chủ nghĩa duy tâm thống trị xã hội
Giáo hội bóp nghẹt mọi tư tưởng khoa học, làm cho khoa học tiến lên hết sức chậm chạp Tuy nhiên do nhu cầu của thực tiễn xã hội thúc đẩy, tri thức khoa học vẫn được
bổ xung, khoa học vẫn tiếp tục phát triển dù là rất chậm
Trang 11+ Thế kỷ XV-XVIII- thời kỳ Phục Hưng: Trong khuôn khổ chế độ Phong kiến
xuất hiện nhiều mầm mống của chế độ Tư bản, bắt đầu xuất hiện quá trình đô thị hoá công nghiệp hoá, phát triển thương nghiệp, hàng hải… dần mở ra cho khoa học những triển vọng mới
F.Anghen cho rằng dây là thời kỳ dầu của sự phát triển khoa học hiện đại Trong thời kỳ này một loạt các nhà khoa học ra đời có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khoa học về sau như N.Côpécních, G.Galilê, I.Niutơn Thuyết mặt trời là trung tâm của Côpécních đánh đổ thuyết của Pơtôlêmê, giáng một đòn chí mạng vào Giáo hội Khoa học bắt đầu được phân chia thành các lĩnh vực theo đối tượng nghiên cứu Hoá học, Thực vật học, Sinh lý học, Địa chất học đã trở thành khoa học độc lập Chính sự phân chia này lại dẫn tới việc nghiên cứu các lĩnh vực khoa học tách rời nhau
và truyền bá tư tưởng siêu hình về thế giới
Trong thời kỳ này khoa học xã hội chưa phát triển hoàn chỉnh Chủ nghĩa duy tâm và phương pháp siêu hình là cơ sở Triết học để giải thích các hiện tượng xã hội
+ Thế kỷ XVIII-XIX là thời kỳ phát triển Tư bản công nghiệp
Phong trào đô thị hoá, công nghiệp hoá phát triển quy mô lớn nảy sinh những nhu cầu lớn về lương thực, thực phẩm,dẫn tới sự phát triển Nông học, Thực vật học
Sự cần thiết sản xuất phân bón, thuốc nhuộm đặt ra hàng loạt vấn đề cho Hoá học Phương pháp phân tích định lượng và tổng hợp hữu cơ dẫn đến phát triển ngành Hoá học công nghiệp Cách mạng công nghiệp và việc sử dụng máy hơi nước đặt cho vật lý những nhiệm vụ nghiên cứu mới Sự xuất hiện điện báo, điện từ điện thắp sáng dẫn đến sự phát triển khoa học về điện Đó là một biểu hiện sinh động của mối quan hệ biện chứng giữa khoa học và sản xuất
Theo Anghen thời kỳ này có ba phát minh vĩ đại đó là: Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của R.Maye và J.Dulơ, Thuyết tế bào của P.Gôrianinôp và F.Purơkinê, Thuyết tiến hoá của S.Đacuyn, đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển khoa học
Cũng ở thời kỳ này, cùng với khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng phát triển Cuộc đấu tranh thắng lợi giữa chủ nghĩa duy vật trước chủ nghĩa duy tâm Quan điểm lịch sử và phép biện chứng duy vật được phát hiện là những cống hiến hết sức to lớn lao cho nhân loại
Chủ nghĩa Mác ra đời là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của cả khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, như một đặc điểm nổi bật nhất của thời
kỳ này Chủ nghĩa Mác là sự thống nhất giữa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
+ Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của
khoa học
Phép duy vật biện chứng thâm nhập vào mọi lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Trang 12Khoa học tự nhiên bắt đầu được nghiên cứu bằng phương pháp thực nghiệm với những kỹ thuật tinh vi
Khoa học phân hoá mạnh thành các ngành các lĩnh vực, các bộ môn riêng, chúng nghiên cứu rất sâu và rất đa dạng, đồng thời các ngành khoa học lại thâm nhập vào nhau tạo thành các khoa học trung gian, liên ngành
Khoa học đã trở thành bộ máy lớn mạnh có ảnh hưởng lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội Thành tựu của khoa học được ứng dụng rộng rãi và sản xuất làm cho công nghiệp phát triển Công nghiệp hoá bắt đầu diễn ra trên qui mô toàn thế giới
+ Ở thế kỷ XX khoa học phát triển như vũ bão, lượng thông tin tăng nhanh, với
tốc độ lớn, phạm vi rộng
Đây là thời kỳ phát triển nhanh nhất của khoa học trong lịch sử nhân loại Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tác động vào mọi mặt của đời sống xã hội
Khoa học làm cho nền sản xuất hiện đại phát triển nhanh có hàm lượng trí tuệ cao, sản phẩm phong phú, chất lượng tốt thoả mãn nhu cầu cuộc sống của con người Khoa học và công nghệ là đặc trưng của thời đại, là một biểu hiện rực rỡ nhất của nền văn minh trong toàn bộ lịch sử con người
1.1.2.2 Quy luật phát triển của khoa học
Nghiên cứu lịch sử phát triển của khoa học qua các thời kỳ dẫn ta đến những khái quát về các quy luật phát triển của khoa học hiện đại như sau:
a) Quy luật phát triển có gia tốc của tất cả các lĩnh vực khoa học
Điểm nổi bật nhất của sự phát triển khoa học hiện đại là nhịp độ phát triển ngày càng gia tăng trong tất cả lĩnh vực, trên tất cả các phương diện Ta dễ dàng nhận thấy trong các lĩnh vực sau đây:
+ Lượng thông tin khoa học được khám phá ngày càng nhiều dẫn đến kỷ nguyên
bùng nổ thông tin Theo tính toán của các nhà thông tin thì lượng thông tin khoa học
cứ từ 5 đến 7 năm lại tăng gấp hai lần Riêng ở thế kỷ XX đã khám phá một số lượng thông tin bằng 90% lượng thông tin đã khám phá được trong lịch sử nhân loại Người
ta ví sự phát triển của khoa học như thời gian, không thể bắt thời gian dừng lại dược, nhưng khác với thời gian là khoa học tiến lên với tốc độ ngày một cao
+ Số lượng các nhà khoa học cũng tăng lên hết sức nhanh chóng, 90% các nhà khoa học từng có mặt trên trái đất sống ở thế kỷ XX
+ Việc gia tăng thông tin khoa học đã làm rút ngắn một chu kỳ phát triển lý
thuyết khoa học Thời gian xem xét lại một lý thuyết khoa học ngày một rút ngắn, thí dụ: Thuyết hấp dẫn của Aristốt tồn tại 2000 năm, thuyết của Niutơn 200 năm thuyết của Dalton một thế kỷ, thuyết cấu trúc nguyên tử của Bor chỉ còn 10 năm
Trang 13Quá trình thay đổi các quan niệm khoa học không phải bằng phương pháp gạt bỏ đơn giản theo lối cơ học mà là đi tìm cái mới, bằng các con đường mới, với cách chứng minh mới, khách quan và chân thực hơn
Chìa khoá để giải thích quy luật gia tăng nhịp độ phát triển của khoa học là sự phát triển kế thừa biện chứng trong nhận thức khoa học về một thế giới thống nhất Sự phát triển nhanh chóng của khoa học là một biểu hiện sinh động của chính lịch sử loài người
b) Quy luật phát triển phân chia của khoa học
Tri thức khoa học là một thể thống nhất, đó là toàn bộ sự hiểu biết của con người, là kết quả nghiên cứu về một thế giới thống nhất Tuy nhiên, khách thể vô cùng phức tạp trong quá trình nghiên cứu của mình không có một khoa học nào có thể bao quát được toàn bộ khách thể phức tạp đó Một quy luật hiển nhiên là khoa học phải phân chia để nghiên cứu từng mặt, tưng bộ phận khác nhau của chúng Đây là xu hướng hiện thực của sự phát triển khoa học hiện đại nó đang diễn ra hết sức mạnh mẽ Nội dung của quá trình này là sự tách một bộ môn khoa học mới ra khỏi một bộ môn khoa học đang tồn tại Bản chất quá trình phân hoá các khoa học để hình (hành một bộ ngôn khoa học có đối tượng nghiên cứu hẹp hơn Phân chia là sự biểu hiện của phát triển khoa học và chính phân hoá lại là con đường để khoa học phát triển mạnh mẽ hơn
Khoa học phân hoá thành các ngành các lĩnh vực khác nhau Mỗi lĩnh vực chọn cho mình một đối tượng, một phần trong khách thể rộng lớn Sự phân hoá này cứ kéo dài mãi tạo ra hệ thống các bộ môn khoa học chúng nghiên cứu các đối tượng rất hẹp
Do vậy tri thức khoa học trở nên hết sức toàn diện và cũng hết sức sâu sắc
Lịch sử khoa học đã chứng minh cho quy luật này Trong thời kỳ Cổ đại, như mọi người đều biết, triết học là khoa học duy nhất chứa đựng và tích hợp những tri thức khoa học đầu tiên về tự nhiên và về xã hội cho nên chỉ có một loại hình quan hệ phục tùng của một ngành tri thức trước triết học Triết học biến thành một "khoa học của các khoa học" “khoa học bên trên các khoa học”
Từ thời Phục hưng, quan niệm này của triết học đã bị lung lay bởi sự phát triển của chính bản thân khoa học tự nhiên: các khoa học tự nhiên bắt đầu tách khỏi triết học từ trước đến nay vốn được coi là khoa học duy nhất Sau này, đến lượt khoa học
xã hội (kinh tế học, chính trị học, lịch sử v.v ) cũng tiếp tục phân lập để trở nên
những bộ môn khoa học độc lập Ví dụ:
Triết học → Triết học, Lôgic học; Thiên văn học; Toán học; v.v
Toán học → Số học, Đại số học; Hình học; Lượng giác, v.v
Hình học → Hình học Hình học giải tích, Hình học vi phân, v.v
Vật lý → Vật lý lý thuyết, Vật lý thống kê; Cơ học; Nhiệt học, v.v
Trang 14Ngày nay khoa học đã phân ra thành trên 2000 bộ môn khác nhau Khoa học đang nghiên cứu các khía cạnh của thế giới Có những lĩnh vực khoa học nghiên cứu các thành phần nhỏ bé nhất của vật chất như: hạt nhân nguyên tử, tế bào, gien Có những lĩnh vực khoa học nghiên cứu cá không gian vũ trụ bao la
c) Quy luật tích hợp của các lĩnh vực khoa học
Một điều dễ nhận thấy là khoa học càng phân nhánh để đi vào nghiên cứu theo chiều sâu, thì một bộ môn khoa học hẹp lại không thể bao quát nổi các đối tượng phức tạp đó tính hệ thống cao Do vậy, khi cần nhận thức những đối tượng phức tạp lại đòi hỏi một sự phối hợp giữa các ngành và các bộ môn khoa học khác nhau tạo thành những liên ngành để cùng nghiên cứu
Như vậy là do nhu cầu bức thiết để khám phá và giải quyết những vấn đề phức tạp của thực tiễn, cần liên kết các khoa học khác nhau để cùng nghiên cứu Đó chính là nguồn gốc tạo ra những môn khoa học mới, những lĩnh vực nghiên cứu mới và cũng chính là sự biểu hiện của quy luật tích hợp của sự phát triển khoa học, một xu hướng
phát triển của khoa học hiện đại để tạo thành một bộ môn khoa học mới, Ví dụ:
Kinh tế học + Xã hội học → Kinh tế học xã hội
Vật lý học + Thiên văn học → vật lý thiên văn
Sự phân nhánh càng sâu, nhánh phát triển càng nhiều, thì trong quá trình đó tạo
ra sự giao thoa, gặp gỡ giữa các khoa học lại càng thường xuyên hơn
Ngày nay có những sản phẩm khoa học không phải là của một tác giả, một ngành
mà là kết quả nghiên cứu phối hợp của nhiều ngành, nhiều tập thể khoa học Thí dụ, nghiên cứu vũ trụ là công trình phối hợp giữa các nhà khoa học Thiên văn, vật lý, Kỹ thuật, Sinh học, Y học, Tâm lý học
Xu hướng này nói lên sự phát triển khoa học theo cơ chế tác động liên ngành và mối quan hệ thống nhất hữu cơ của các lĩnh vực khoa học Phân hoá và tích hợp khoa học là hai xu hướng ngước chiều nhau, tưởng chừng chúng mâu thuẫn với nhau, nhưng trong thực tế phát triển khoa học hiện đại chúng lại song song tồn tại, phụ thuộc vào nhau, bổ xung cho nhau, cùng thúc đẩy sự tiến độ nhanh chóng của khoa học
Khoa học phân hoá để phát triển và tích hợp để tạo nên một chất lượng mới, chất
Trang 15lượng tổng họp Cả hai xu hướng cùng tác động trực tiếp đến nhịp độ gia tăng của tri thức khoa học và tới sự hoàn thiện của các phương pháp nhận thức và sự kiện toàn tổ chức quá trình nghiên cứu khoa học
d) Quy luật ứng dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học
Khoa học và đời sống là hai phạm trù thoạt nhìn có vẻ tách rời nhau, nhưng thực
tế chúng lại gắn bó mật thiết với nhau Mục đích của khoa học chính là cuộc sống, nghiên cứu khoa học chính là làm tăng chất lượng cuộc sống Nhu cầu cuộc sống là động lực thúc đẩy quá trình nghiên cứu và trình độ phát triển của cuộc sống là điều kiện cho sự phát triển của khoa học
Lịch sử phát triển khoa học và công nghệ cho thấy nhịp độ ứng dụng các thành tựu khoa học mỗi ngày một nhanh hơn, điều đó đem lại hiệu quả rất lớn làm phát triển nhanh cả khoa học và chất lượng cuộc sống Khoa học dược ứng dụng vào sản xuất tạo
ra công nghệ mới, ứng dụng vào cuộc sống xã hội tạo ra quy trình quản lý mới làm nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Để chứng minh cho quy luật này ta có thể dẫn ra những con số thống kê sau đây,
về thời gian ngày một rút ngắn kể từ lúc phát minh lý thuyết đến khi áp dụng thành công vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm
Tên phát minh sáng chế Năm phát minh Năm sản xuất Thời gian
Máy hơi nước
Máy chiếu bóng Phim
Trang 163- Cơ cấu giá thành sản phẩm hàng hoá đã thay đổi, nếu trước đây giá thành chủ yếu do nguyên, vật liệu và sức lao động giản đơn tạo ra, thì ngày nay có những mặt hàng tỷ trọng chất xám chiếm từ 60 đơn 70% và còn cao hơn nữa
4- Sản xuất hàng hoá rất chú trọng tới người tiêu dùng, đặc biệt là phục vụ cho nhu cầu thẩm mỹ cá nhân
1.1.3 TRƯỜNG PHÁI KHOA HỌC VÀ BỘ MÔN KHOA HỌC
1.1.3.1 Trường phái khoa học
Khoa học luôn đưa ra những phát hiện mới về quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và chính con người Các hiện lượng mới đó có thể đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau về cùng một sự vật hoặc vùng một hiện tượng Ví dụ, các hiện tượng kinh tế được xem xét trên giác độ chính trị (kinh tế học chính trị) hoặc được xem xét trên giác
độ xã hội kinh tế học xã hộp Thường khi cách giải thích sau có tác dụng bố khuyết cho các phát hiện trước đội khi thậm chí phủ định các phát hiện trước Các khuynh hướng khác nhau đó được gọi là trường phái khoa học
Như vậy có thể xem trường phái khoa học là một hướng tiếp cận nghiên cứu theo một góc nhìn xác định và bởi một hệ phương pháp luận xác định Trường phái
khoa học xuất hiện là do sự phát triển ngày càng sâu rộng của khoa học do sự xuất hiện các góc nhìn khác nhau dơi và đối tượng nghiên cứu, hoặc do sự vận dụng các có
sự phương pháp luận khác nhau để xem xét đối lượng nghiên cứu
Trường phái khoa học không chỉ dừng lại ở ý nghĩa học thuật và thường khi đã chuyển sang một phạm trù được gọi là xã hội học của khoa học Sự hình thành các trường phái khoa học mới thường có thể dẫn đến những phản ứng tâm lý trong bản thân cộng đồng khoa học và trong xã hội, thậm chí làm nổ ra những cuộc tranh luận hoặc đụng độ quan điểm giữa trường phái khoa học mới với trường phái khoa học truyền thống xã hội với tôn giáo, thậm chí giữa các trường phái khoa học với nhau, giữa một hộ môn khoa học mới xuất hiện với các bộ môn khoa học khác, đặc biệt là với triết học
Lịch sử khoa học dã chứng kiến những cuộc đấu tranh quyết liệt giữa triết học với xã hội học, giữa triết học với lý thuyết hệ thống và điều khiển học, giữa triết học
với di truyền học v.v như cuộc đấu tranh giữa trường phái nhật tâm (xem mặt trời là
trung tâm vũ trụ) và trường phái địa tâm (xem trái đất là trung tâm của vũ trụ ) trong thiên văn học; giữa trường phái duy vật vã duy tâm trong triết học; giữa trường phái Euclide với trường phái phi-Euclide trong hình học; giữa bản chất sóng của ánh sáng với bản chất hạt của ánh sáng trong quang học v.v
Cuộc đấu tranh giữa các trường phái trong khoa học bao giờ cũng diễn ra hết sức gay gắt và dai dẳng, thậm chí kéo dài hàng trăm năm Ví dụ, Toán học hệ nhị phân (hệ đếm 2) đã bị toán học hệ thập phân chê cười và phủ định gần 150 năm từ khi xuất hiện môn đại số Boole cho đến khi còn người chế tạo được chiếc máy tính điện tử đầu tiên
Trang 17Lúc đó, người ta mới vỡ lẽ ra rằng toán học hệ đếm 2 là cơ sở để xây dựng các nguyên
lý hoạt động của máy tính điện tử Hơn nữa, ngày nay, người ta không thể tưởng tượng nổi nếu không có ngành toán học hệ đếm 2 thì làm sao có được nền văn minh tin học hiện đại như bây giờ và người ta cũng chưa hình dung hết triển vọng của nó Cuộc đấu tranh giữa các trường phái trong khoa học xã hội còn dai dẳng và gay gắt hơn nhiều Trường phái là một tồn tại khách quan Thái độ người nghiên cứu đối với trường phái trước hết phải là một thái độ thực sự khoa học để xem xét trường phái Người làm nghiên cứu khoa học không được chấp nhận sự kỳ thị trường phái, mà phải biết tìm mối quan hệ giữa các trường phái để hiểu sâu sắc thêm các thuộc tính các khía cạnh khác nhau của sự vật và hiện tượng, đồng thời phải biết xây dựng luận cứ khoa học vững chắc để cuối cùng, phải đi đến sự thừa nhận hoặc không thừa nhận một trường phái
1.1.3.2 Bộ môn khoa học
Sự xuất hiện một bộ môn khoa học thường dẫn tới sự thừa nhận hoặc không thừa nhận Để có thể đi tới thừa nhận hoặc không thừa nhận, không chỉ dựa trên cỏ sở tranh cãi cảm tính mà phải dựa trên cơ sở những tiêu chí Dựa trên cò sự của những tiêu chí
về một bộ môn khoa học, người nghiên cứu sẽ tự kiểm tra một trường phái hoặc một
bộ môn khoa học mà mình đề xướng, hoặc xem xét phân tích những trường phái hoặc
bộ môn khoa học được các đồng nghiệp đề xướng Nhiều tài liệu thống nhất những tiêu chí để xem xét một bộ môn khoa học có thể bao gồm như sau:
+ Có một đối tượng nghiên cứu
Điều kiện tiên quyết để trở thành một bộ môn khoa học là phải có một đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là bản thân sự vật hoặc hiện tượng được đặt trong phạm vi quan tâm của bộ môn khoa học Đương nhiên, một sự vật hoặc hiện tượng có thể là đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học khác nhau, nhất là những vấn
đề nằm ở vị trí giáp ranh giữa các bộ môn khoa học
~ Có một }lệ thống là thuyết
Chỉ khi hình thành được một hệ thống lý thuyết, một bộ môn khoa học mới khăng dinh ~đưỏc vị trí trong hệ thống khoa học Hệ thống lý thuyết của một bộ môn
khoa học bao gồm các phạm trù, khái niệm, tiên đề, quy luật, định luật định lý v.v
Trong hệ thống lý thuyết của một bộ môn khoa học bao giờ cũng có hai bộ phận: một bộ phận là cơ sở lý thuyết riêng đặc trưng cho bộ môn khoa học được xem xét; còn một bộ phận là những cơ sở lý thuyết được thâm nhập từ các bộ môn khoa học khác
+ Có một hệ thống phươngg pháp luận
Tuỳ thuộc đối tượng nghiên cứu, một bộ môn khoa học được đặc trưng bởi một
hệ thống phương pháp luận nghiên cứu Phương pháp luận nghiên cứu của một bộ môn
Trang 18khoa học cũng bao gồm hai bộ phận: Một bộ phận phương pháp luận riêng và một bộ phận phương pháp luận được thâm nhập từ các bộ môn khoa học khác Đây là điểm đáng lưu ý trong nền khoa học hiện đại
+ Có mục đích ứng dụng
Mỗi bộ môn khoa học có những mục đích ứng dụng xác định Trù trường hợp những nghiên cứu cơ bản chưa biết trước mục đích ứng dụng thậm chí có thể nói có những trường hợp mùa nghiên cứu không thể biết được hoặc không cần biết dân mục đích ứng dụng của vấn đề mình nghiên cứu Điều này rất có thể có một số người không đồng ý, nhưng đối với khoa học thì đó lại là một hiện tượng phù hợp với quy luật của khoa học Thí dụ trượng hợp đại số Boole, ngay George Boole cũng không giải thích được cho những người đương thời về mục đích ứng dụng của môn đại số mà ông đã đề xướng Chỉ đến ngày nay người ta mới biết được ứng dụng lo lớn như thế nào của toán học hệ đếm 2 Mặc dù như vậy, người nghiên cứu cũng cần phải có đủ luận cứ để bác
bỏ sự ngộ nhận tính phi mục đích của một số lĩnh vực nghiên cứu
1.1.4 PHÂN LOẠI KHOA HỌC:
Từ những thế hệ khoa học thời Cổ đại qua Trung đại cho đến thế hệ khoa học Đương đại, các triết gia và các nhà nghiên cứu đã có mối quan tâm sâu sắc đến phân loại khoa học Lịch sử khoa học đã biết đến rất nhiều bảng phân loại khoa học, từ công trình của những triết gia và học giả mà những người bình thường nhất trong giới nghiên cứu cũng biết đến tên tuổi, như: Aristole, Descarte, Epicure, v.v cho đến những nhà nghiên cứu đồng thời là những nhà cải cách xã hội có tầm vóc vượt khỏi thời đại, như Saint Simon, Karl Marx và Friedric Engels
Chỉ đến C.Mác ( 1818- 1883) và F.A nghen (1820-1895) mới là những người đầu tiên đem lại cơ sở khoa học thực sự cho vấn đề phân loại Các ông cho rằng mỗi khoa học phản ánh một hình thức vận động của vật chất Sự Phân loại khoa học chính là sự phân chia các hình thức vận động của khách thể phù hợp với tính nhất quán, bản chất bên trong của chúng Mối liên hệ, chuyển hoá giữa các khoa học là phản ánh sự chuyển hoá, phát triển các hình thức vận động của thế giới
Phân loại khoa học phải được dựa trên hai nguyên tắc cơ bản sau đây:
1- Nguyên tắc khách quan: Thế giới vận động bằng nhiều hình thức, một hình
thức phụ thuộc vào tính chất đặc hữu bên trong của vật chất, tương ứng với nó là thiết lập các lĩnh vực khoa học cụ thể
Mỗi lĩnh vực khoa học phản ánh một hình thức vận động của vật chất và tất cả khoa học phản ánh toàn bộ các hình thức vận động của thế giới trong mối quan hệ biện chứng của chúng và tuân theo một trật tự nhất định
Phân loại khoa học phải dựa trên các hình thức vận động của khách thể, dựa trên các tính chất nhất quán bên trong của khách thể Nói một cách cụ thể hơn phân loại
Trang 19khoa học phải dựa vào đối tượng mà nó nghiên cứu Nguyên tắc phân loại này được
gọi là nguyên tắc khách quan
2- Nguyên tắc phối thuộc : Các khoa học được phân loại và sắp xếp trên tiếp
theo một bậc thang phù hợp với trật tự phát triển của thế giới vật chất và phù hợp với nhận thức của loài người Tri thức có sau xuất phát từ tri thức có trước và bao hàm tri thức có trước như một yếu tố tất yếu Nguyên tắc phân loại như vậy được gọi là
nguyên tắc phối thuộc
Sự phân loại các khoa học theo nguyên tác phối thuộc vừa là chú ý tới quy luật phát triển của vật chất, vừa là chú ý lới tính kế thừa biện chứng của sự phát triển của khoa học, điều đó vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn
Cách phân loại của UNESCO:
Các chuyên gia của UNESCO phân khoa học thành 5 lĩnh vực:
1) Khoa học tự nhiên và khoa học chính xác
2) Khoa học kỹ thuật
3) Khoa học nông nghiệp
4) Khoa học về sức khoẻ
5) Khoa học xã hội và nhân văn
Mỗi cách phân loại có đặc điểm riêng"và chúng được sử dụng tuỳ theo mục đích tại chức nghiên cứu, ứng dụng hay quản lý khoa học
1.2 CÔNG NGHỆ
1.2.1 KHÁI NIỆM VÊ CÔNG NGHỆ:
Do quy luật tự nhiên của sự phát triển khoa học và sự gắn bó mật thiết giữa khoa học và sản xuất xã hội, khoa học phát triển đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng về
kỹ thuật và công nghệ sản xuất Khoa học đã làm cho sức sản xuất tăng gấp bội và đã đạt được những thành tựu rực rỡ chưa từng có trong lịch sử loài người
Trong những ngày đầu công nghiệp hoá, người ta sử dụng rất phổ biến thuật ngữ
kỹ thuật (Technique) với ý nghĩa là các giải pháp thực hiện một loại công việc hay công cụ được sử dụng trong sản xuất làm tăng hiệu quả sản xuất Thí dụ: kỹ thuật bôi trơn chống ăn mòn kim loại trong các chi tiết máy
Khi xuất hiện thuật ngữ công nghệ sản xuất, lúc đầu nó được hiểu là quy trình kỹ thuật dùng trong dây chuyền sản xuất, về sau khái niệm công nghệ sản xuất được hiểu theo nghĩa rộng hơn và dần dần ổn định như ngày nay
Theo định nghĩa mà Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á và Thái Bình Dương đề xướng, thì công nghệ sản xuất là tất cả những gì liên quan đến việc biến đổi tài nguyên ở đầu vào thành hàng hoá ở đầu ra của quá trình sản xuất Hệ thống công
Trang 20Công nghệ (Technology) là thuật ngữ gọi tắt của công nghệ sản xuất bao gồm
hai phần: phần kỹ thuật và phần thông tin Phần kỹ thuật của công nghệ gọi là phần cứng (Hardware) Phần thông tin gọi là phán mềm (Sofrware)
Như vậy, công nghệ là hệ thống thiết bị kỹ thuật và thôngtin về quy trình sản xuất được áp dụng trong quá trình chế biến tài nguyên thành sản phẩm hàng hóa và dịch
vụ
Về bản chất, công nghệ là kết quả của quá trình áp dụng các thành tựu của khoa học vào sản xuất Công nghệ là sản phẩm của lao động trí tuệ sáng tạo của con người trong lĩnh vực sản xuất Công nghệ là tổ hợp nhiều công đoạn của quy trình ứng dụng kiến thức khoa học vào sản xuất, và phương tiện để chế biến tài nguyên vật chất thành sản phẩm hàng hoá
Tuy nhiên công nghệ luôn gắn chặt với công nghiệp, Công nghiệp và công nghệ
là hai mặt của một thực thể thống nhất Công nghệ là nền tảng của công nghiệp, còn công nghiệp là phương thức chuyển tải công nghệ vào cuộc sống Hiện đại hoá gắn chặt với công nghiệp hoá nền sản xuất, vì nóng cốt của hiện đại hoá là công nghiệp hoá Công nghiệp hoá phải dựa và công nghệ tiên tiến ở trình độ cao Công nghiệp hiện đại với công nghệ cao mà hệ trung tâm là máy tính điện tử tạo khả năng tự động hoá hoàn toàn trong các dây chuyển sản xuất và đem lại năng xuất và hiệu quả sản xuất rất lớn
Trong nền công nghiệp hiện đại một phần lao động sức lực và trí tuệ giao cho máy móc đảm nhiệm Rôbốt thông minh hay vị trí con người trong những lao động chính xác nặng nhọc và độc hại Những dây chuyền cơ điện tử (Mechatronic) điều khiển bằng máy tính, hoàn toàn tự động từ khâu tính toán, thiết kế đến khâu nhập vật liệu, gia công, lắp ráp, kiểm tra thành phẩm và nhập kho Con người đứng bên cạnh dây chuyền làm nhiệm vụ chỉ huy, điều chỉnh và kiểm tra chung, từ đó xuất hiện thuật ngữ công nghệ cao
Công nghệ cao là một khái niệm nói về một nền sản xuất ở trình độ tinh xảo nhất
với những đặc điểm sau đây:
Trang 21+ Hệ thống thiết bị được thiết kế tự động hoàn toàn, máy móc có kết cấu phức
tạp nhưng vận hành đơn giản
+ Bí quyết của quy trình kỹ thuật sản xuất hết sức tinh vi
+ Máy móc, thiết bị sản xuất tiêu thụ rất ít năng lượng, nguyên vật liệu sản xuất
được sử dụng rất tiết kiệm và nguyên liệu tái tạo được sử dụng nhiều nhất
+ Năng xuất lao động rất cao, sản phẩm hàng hoá có chất lượng tốt
+ Nhà máy được thiết kế khép kín, phế thải được tinh lọc, không gây ô nhiễm
môi trường
Nền sản xuất với công nghệ hiện đại có hàm lượng trí tuệ rất cao Nếu trước đây hiệu quả kinh tế dựa chủ yếu vào vốn đầu tư và sức lao động đơn giản, nặng nhọc
chiếm tới 60 đến 70% cơ cấu giá thành thì ngày nay trong sản phẩm công nghệ cao
chất xám chiếm 70 đến 75% cơ cấu ấy Có những mặt hàng như: điện tử tin học, dược phẩm Nguyên liệu chiếm l-3% giá thành, sức lao động 12% , còn lại dành cho đầu tư kiến thức mua bí quyết công nghệ, thực hành thí nghiệm, sản xuất thử Nền sản xuất
này gần đây được phát triển thành khái niệm Nền kinh tế tri thức
1.2.2 CHUYÊN GIAO CÔNG NGHỆ
Cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại đã làm thay đổi bộ mặt thế giới Thang giá trị xã hội được đo bằng trí tuệ Trí tuệ đã trở thành sản phẩm cao cấp có giá trị và giá trị sử dụng Sản phẩm trí tuệ có mối giao lưu trên thị trường hiện đại và bản thân
nó cũng tạo ra thị trường có sức cạnh tranh mạnh mẽ Các nhà lương lai học khẳng định: Tương lai sẽ thuộc về dân tộc nào có tiềm lực trí tuệ cao chứ không thuộc về những nước giàu có tài nguyên, bởi vì trí tuệ con người là cơ sớ thật sự cho mọi sự phát triển khoa học và kinh tế - xã hội
Việc ứng dụng các thành tựu khoa học dã làm rút ngắn thời gian đổi mới công nghệ Khả năng thay đổi công nghệ được dự tính trước Máy móc có tính mềm dẻo, linh hoạt, phụ kiện dễ thay thế, đảm bảo không bị lạc hậu so với công nghệ mới Việc đổi mới công nghệ diễn ra nhanh chóng kể cả số lượng và tốc độ trên phạm vi toàn thế giới từ đó tạo nên quá trình chuyển giao công nghệ Chuyển giao công nghệ là nơi gặp
gỡ giữa khoa học và thị trường
Về bản chất chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ thông qua dịch vụ thương mại có tổ chức
Chuyển giao công nghệ theo khái niệm của UNESCO bao hàm: chuyển giao thiết
bị kỹ thuật, chuyển giao kiến thức về quy định sản xuất chuyển giao kinh nghiệm tổ chức quản lý và hoạt động lư vấn trong lĩnh vực sản xuất Tuy nhiên, chuyển giao công nghệ chú trọng hai phần một cách đồng bộ: Phần kỹ thuật và phần thông tin Phần kỹ thuật được chuyển giao bằng dịch vụ thương mại thông thường, phần thông tin được chuyển giao bằng những thoả thuận của hai bên chuyển giao và tiếp
Trang 22nhận
Chuyển giao công nghệ được thực hiện bởi hai nguồn:
+ Nguồn thứ nhất, chuyển giao từ nơi phát minh đến các xí nghiệp ứng dụng sản
xuất gọi là chuyển giao dọc Nội dung công nghệ theo con đường chuyển giao dọc hoàn toàn mới, lần đầu tiên được đưa vào sản xuất Đây là con đường ngắn nhất của chu trình nghiên cứu - ứng dụng Tuy nhiên con đường này chứa những yếu tố mạo hiểm vì công nghệ mới chưa được thử thách
+ Nguồn thứ hai, chuyển giao từ cơ sở sản xuất có trình độ công nghệ cao đại cơ
sở sản xuất còn yêu kém, gọi là chuyển giao ngang Nguồn chuyển giao này ít mạo hiểm hơn vì công nghệ được thực tiễn thử thách, nhưng bên mua công nghệ thường bị thua thiệt, bởi vì trong thị trường cạnh tranh không một xí nghiệp nào lại bán bí quyết công nghệ mới nhất cho đối thủ cạnh tranh
Cho nên trong quá trình chuyển giao công nghệ ở nước ta, đặc biệt là quá trình nhập ngoại công nghệ phải thận trọng và thực hiện đúng các quy định của nhà nước, thể hiện trong các nguyên tắc đây:
1- Công nghệ nhập ngoại phải là công nghệ tiên tiến, nếu đạt tới trình độ tiên tiến nhất thì đó là điều lý tưởng
2- Công nghệ nhập ngoại phải giúp ta tận dụng hết các nguồn lực sản xuất trong nước
3- Công nghệ nhập ngoại phải thúc đẩy sự phát triển công nghệ quốc gia
4- Công nghệ nhập ngoại phải phù hợp với trình độ sản xuất của công nhân Việt Nam và đem lại hiệu quả cao
5- Công nghệ nhập ngoại không gây ô nhiễm môi trường
Chuyển giao công nghệ được thực hiện cả ở trong nước và Quốc tế Chuyển giao công nghệ có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với từng quốc gia và với cả thế giới
Với ý nghĩa văn hoá- khoa học, chuyển giao công nghệ vừa kích thích quá trình lao động sáng tạo của các nhà khoa học, nó vừa thúc đẩy quá trình sản xuất bằng việc ứng dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học Chuyển giao công nghệ đám bảo tính pháp lý của các chủ thể sáng tạo và quyền sử dụng hợp pháp các thành quả khoa học ở các cơ sở sản xuất
Với ý nghĩa kinh tế - thương mại, nó giúp mở rộng sự họp tác giao lưu kinh tế, khoa học, kỹ thuật giữa các khu vực trong nước và quốc tế, từ đó làm rút ngắn khoảng cách sự khác biệt trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật giữa các khu vực và tạo điều kiện để các quốc gia cùng phát triển
Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước một trong những con đường quan trọng của chúng ta là phải nhập ngoại công nghệ tiên tiến, với chiến
Trang 23lược chung là: Bước đầu thích nghi với công nghệ nước ngoài để áp dụng có kết quả vào sản xuất, dần dần cải tiến công nghệ nhập ngoại để có sản phẩm tốt hơn, khi năng lực khoa học và công nghệ đủ mạnh thì vươn lên sáng tạo công nghệ Việt Nam có sức cạnh tranh với công nghệ thế giới
Chuyển giao công nghệ là hoạt động phức tạp có các mức độ, chiều sâu khác nhau đó là: Trao kiên thức, trao phương tiện kỹ thuật, trao chìa khoá sau khi xây dựng nhà máy, trao chìa khoá sau khi đã sản xuất ra sản phẩm, trao thị trường truyền thống tiêu thụ sản phẩm, mức sâu nhất là đầu tư tư bản
Chúng ta đang tranh thủ tối đa mọi khả năng của chuyển giao công nghệ để nhanh chóng phát triển kinh tế tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế gói
1.3 KỸ THUẬT
- Kỹ thuật là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chất hệ thống được sử dụng cho việc chế tạo sản phẩm hoặc để áp dụng vào các quá trình sản xuất (kỹ thuật theo nghĩa hẹp)
- Kỹ thuật là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chất hệ thống được sử dụng cho việc sản xuất các sản phẩm hoặc áp dụng vào mục đích quản lý, thương mại, công nghiệp hoặc trong các lĩnh vực đời sống xã hội (kỹ thuật theo nghĩa rộng hơn)
1.4 PHÂN BIỆT GIỮA KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ KỸ THUẬT
Trong quá trình sử dụng các thuật ngữ "khoa học", "công nghệ", "kỹ thuật đôi khi chúng ta không chú ý đầy đủ đến phân biệt về ý nghĩa chính xác của chúng, cũng giống như sự thiếu tách bạch giữa các khái niệm "phát minh" và "sáng chế”0 Tuy vậy việc phân biệt một cách rõ ràng các khái niệm này cũng khó khăn và còn chưa được thống nhất trong các nhà khoa học và giới nghiên cứu
Về sự phân biệt kỹ thuật và công nghệ, có nhiều quan điểm khác nhau Theo Charles Edquist, công nghệ có một ý nghĩa tổng hợp và thường bao hàm một số những hiện tượng mang đặc trưng xã hội, như tri thức, tổ chức phân công lao động xã hội, một phạm trù phi vật chất Và theo ông thì thuật ngữ kỹ thuật mang một ý nghĩa hẹp hơn Nó chỉ những yếu tố vật chất và vật thể, chẳng hạn, máy móc thiết bị và sự tác nghiệp, vận hành của con người
Theo ông Jacquyes Penin, công nghệ là sự tư duy về kỹ thuật; nó bao gồm việc
mô tả, phân tích lịch sử, triết lý về kỹ thuật, định hình các khái niệm, đào tạo, truyền
bá và hoàn thiện các hoạt dụng kỹ thuật và ông xem công nghệ là những tri thức được
tổ chức được định hình trên các kỹ thuật
Tuy nhiên, không phải sự phân biệt trên đây đã được hiểu thống nhất trong giới
nghiên cứu Ví dụ Có một số tác giả lại đưa ra một các hiểu ngược lại Các tác giả này
đưa ra khái niệm "kỹ thuật công nghiệp" và cho rằng khái niệm kỹ thuật công nghiệp
Trang 24rộng hơn khái niệm công nghệ và "bao hàm tất cả các hoạt động (có hệ thống hoặc chỉ đạt được từ thực tiễn) nhằm áp dụng những quy luật khoa học vào sản xuất công nghiệp Một điều cần quan tâm là các thuật ngữ "công nghệ” và "kỹ thuật trong các nước sử dụng cũng chưa thống nhất
Trong nghiên cứu khoa học cũng như trong những hoạt động kinh doanh liên quan đến chuyển giao công nghệ và bảo hộ các quyền sở hữu công nghiệp, những phạm trù này cần được phân biệt một cách chuẩn xác Một vài khía cạnh so sánh về mặt ý nghĩa giữa khoa học và công nghệ được chỉ ra trong bảng sau
Bảng so sánh các đặc điểm khoa học và công nghệ
2 Hoạt động khoa học mang tính
hướng mới, không lặp lại
Hoạt động công nghệ được lặp lại theo chu kỳ
3 Sản phẩm khó được định hình trước Sản phẩm được định hình theo thiết kế
4 Sản phẩm mang đặc trưng thông tin Đặc trưng sản phẩm tùy theo đầu vào
5 Một khoa học có thể ra đời ngẫu
7 Có thể mang mục đích tự thân Không mang mục đích tự thân
8 Phát minh khoa học tồn tại mãi mãi
với thời gian
Sáng chế công nghệ tồn tại nhất thời và
bị tiêu vong theo lịch sử tiến bộ kỹ thuật
Sự so sánh chỉ trong bảng chỉ là gợi ý cho người nghiên cứu người làm chính sách và quản lý nghiên cứu những cơ sở phương pháp luận phù hợp với đặc điểm của mỗi loại hình lao động Trong sự so sánh này, cần lưu ý rằng khái niệm về công nghệ với những thuộc tính chỉ trong bảng là những công nghệ đã được xác nhận qua quá trình phát triển của khoa học và công nghệ, đã dược kiểm chứng là không còn rủi ro trong thử nghiệm, nghĩa là đã vượt qua phạm trù nghiên cứu để bước vào giai đoạn vận hành ổn định đủ điều kiện để bàn giao cho người sử dụng
Trang 25Chương II TIẾP CẬN VÀ SÁNG TẠO KHOA HỌC 2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỚI TƯ CÁCH LÀ THẾ GIỚI QUAN
Sự phát triển của khoa học hiện đại không những đem lại cho con người những hiểu biết sâu sắc về thê giới mà còn đem lại cho con người cả những hiểu biết về phương pháp nhận thức thế giới Ngày nay cùng với bản thân khoa học người ta chú ý tới phương pháp nhận thức khoa học
Nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm tòi khám phá bản chất và các quy luật vận động của thế giới quá trình này được tổ chức hết sức chặt chẽ, luôn phải chọn lọc và sử dụng các phương pháp nghiên cứu Phương pháp gắn liền với hoạt động cố ý thức của con người là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động nhật thức
và cải tạo thế giới
Phương pháp là phạm trù phức tạp ca phạm vi bao quát rộng, với nhiều cấp độ và rất phong phú về nội dung và chủng loại Phương pháp nghiên cứu khoa học có ba đặc trưng quan trọng:
+ Một là: Phương pháp luôn gắn với những tư tưởng cơ bản, có tính nguyên tắc,
định hướng chỉ đạo hoạt động đó chính là các quan điểm tiếp cận đối tượng, là thế giới quan của nhà nghiên cứu
+ Hai là: Phương pháp là một hệ thống các phương thức hoạt động bao gồm thủ
pháp, các thao tác hoạt động có tính kỹ thuật Đó là các phương pháp cụ thể
+ Ba là: Phương pháp là hệ thống các quy trình hoạt động, là trình tự các bước
đi, bao gồm lôgíc tiến trình và lôgíc nội dung của hoạt động Phương pháp có tính quy trình
Như vậy, phương pháp nghiên cứu khoa học có liên quan tới ba vấn đề quan trọng Phương pháp luận, phương pháp cụ thể và lôgíc tiến hành các công trình khoa học
Trong nghiên cứu khoa học phương pháp và Phương pháp luận là hai khái niệm gần nhau nhưng không đồng nhất, Phương pháp luận là hệ thống các quan điểm,
nguyên tắc chỉ đạo chủ thể xác định con đường và phạm vi nghiên cứu Phương pháp
là cách thức, thủ đoạn hoạt động cụ thể của chủ thể Cái thứ nhất thuần tuý lý luận, cái thứ hai vừa lý luận, vừa thực tiễn, cái thứ nhất chỉ đạo cái thứ hai, cái thứ hai xuất phát
từ cái thứ nhất trong sự thống nhất chung
Các quan điểm phương pháp luận nghiên cứu khoa học có tính lý luận cho nên thường mang màu sắc Triết học, tuy nhiên nó không đồng nhất với Triết học Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là sự vận dụng các quan điểm Triết học (như thế giới quan) để tiếp cận và nhận thức thế giới
Trang 26Các quan điểm phương pháp luận là một hệ thống, tồn tại với ba cấp độ:
+ Có những quan niệm chung nhất chỉ dẫn hoạt động nhận thức đối với tất cả
lĩnh vực khoa học, đó chính là các quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
nó là nền tảng của mọi tư tưởng học thuật Quan điểm duy vật biện chứng là cơ sở xuất phát cho các quan điểm Phương pháp luận chung và Phương pháp luận chuyên ngành
+ Có những quan điểm phương pháp luận chung áp dụng cho một nhóm ngành
hay một số lĩnh vực khoa học, thí dụ phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Xã hội, phương pháp luận nghiên cứu khoa học Tự nhiên hay Kỹ thuật
+ Có những quan điểm riêng dùng cho bộ môn một chuyên ngành cụ thể Thí dụ:
Phương pháp luận nghiên cứu Toán học, phương pháp luận nghiên cứu Kinh tế, phương pháp luận nghiên cứu Tâm lý học
Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu các quan điểm phương pháp luận chung nhất cho các lĩnh vực khoa học
2.2 CÁC QUAN ĐIỂM PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG NHẤT TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.2.1 Phép biện chứng duy vật là cơ sở chung của mọi nhận thức khoa học
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa phép duy vật và phép biện chứng trong nhìn nhận thế giới Phép biện chứng duy vật là sự kết tinh của các thành tựu khoa học và các tư tưởng Triết học nhân loại Phép duy vật là sự khẳng định vật chất là cái có trước quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào
bộ não của con người Phép biện chứng trình bày một cách hệ thống tính biện chứng của thế giới bằng các phạm trù và những quy luật chung của thế giới tự nhiên và rút ra những quan điểm, những quy tắc chỉ đạo hoạt động của con ngươi
Phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lý, những cặp phạm trù và những quy luật cơ bản, chúng vừa là cơ sở lý luận vừa là phương pháp nhận thức thế giới
+ Hai nguyên lý cơ bản của phép duy vật biện chứng là:
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của thế giới chỉ ra cho các nhà nghiên cứu tính vô hạn của thế giới và tính hữu hạn của các sự kiện hiên tượng cụ thể và các mối quan hệ phức tạp của chúng Nguyên lý này đòi hỏi sự quán triệt linh hệ thống và loàn diện trong nghiên cứu các hiện tượng của thế giới
- Nguyên lý về tính phát triển của thế giới chỉ ra rằng mọi sự vật, hiện tượng đều vận động và biện đổi không ngừng và đều có xu hướng phát triển Nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải xem xét các sự kiện trong trạng thái vận động phát triển và biến đổi không ngừng của chúng
+ Các cặp phạm trù nội dung và hình thức, cái chung và cái riêng, tất nhiên và
ngẫu nhiên, nguyên nhân và kết quả là cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu
Trang 27tính toàn diện, chính xác, sâu sắc về các hiện tượng của thế giới
+ Ba quy luật: đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập, quy luật chuyển hoá
từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất, quy luật phủ định của phủ định chỉ đạo quá trình nghiên cứu theo quan điểm toàn diện, phát triển của lịch sử, để tìm ra nguồn gốc, động lực, con đường và xu hướng phát triển của thế giới
Các nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận cực kỳ quan trọng, chúng cần được vận dụng vào cả trong nhận thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và hoạt động thực tiễn Các nhà khoa học chỉ
có đồng trên lập trường duy vật biện chứng để nghiên cứu thế giới mới có thể đạt tới chân lý khách quan
2.2.2 Quan điểm hệ thống - cấu trúc trong nghiên cứu khoa học
Quan điểm hệ thống - cấu trúc là một luận điểm quan trọng của phương pháp vận nhận thức Để hiểu rõ và vận dụng đúng đắn quan điểm này ta cần xem xét các khái niệm sau đây:
+ Hệ thống là tập hợp các thành tố tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, ổn định và
vận động theo quy luật tổng hợp
Một hệ thống bao giờ cũng có một cấu trúc gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố lại
có những cấu trúc nhỏ hơn Như vậy hệ thống nhỏ bao giờ cũng nằm trong một hệ thống lớn đó chính là môi trường, giữa hệ thống và môi trường có mối quan hệ tác động hai chiều
Mỗi thành tố của hệ thống là một bộ phận có vị trí độc lập, có chức năng riêng và luôn vận động theo quy luật của toàn hệ thống Các thành tố của hệ thống có quan hệ biện chứng với nhau bằng quan hệ vật chất và quan hệ chức năng
Như vậy thành tố là một bộ phận của một hệ thống, có tính xác định về chất, có
chức năng riêng Các thành tố có mối quan hệ, tác động qua lại với nhau tạo thành một thể thống nhất Tính chỉnh thể là tính chất cơ bản nhất của hệ thống bởi vì mỗi thành tố chỉ tồn lại trong mối quan hệ với các thành tố khác trong hệ thống chung
Tính hệ thống là thuộc tính quan trọng của thế giới và chính nó lại là một thông
số quan trọng để đánh giá trình độ phát triển của thế giới Chính vì vậy, nghiên cứu khoa học có nhiệm vụ quan trọng là phát hiện tính hệ thống của các đối tượng
Tính hệ thống có khía cạnh phương pháp luận và khía cạnh ứng dụng Nhận thức đầy đủ về chúng có ý nghĩa quan trọng đối với cả thực tiễn Tính hệ thống trước hết là công cụ phương pháp luận, bởi vì việc nghiên cứu đầy đủ các thuộc tính và các quy luật có tính hệ thống là cơ sở để xây dựng quy trình nhận thức cho mọi đối tượng phức tạp Tính hệ thống có giá trị thực tiễn vì nó đem lại giá trị thực sự, có thể vận dụng vào thực tiễn sản xuất, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và quản lý xã hội
Phương pháp hệ thống là con đường nghiên cứu các đối tượng phức tạp trên cơ
Trang 28sở phân tích đối tượng thành các bộ phận để nghiên cứu một cách sâu sắc, để tìm ra
tính hệ thống, tính toàn diện của đối tượng Phương pháp hệ thống là công cụ phương
pháp luận, nó giúp ta nghiên cứu các đối tượng phức tạp và cho ta một sản phẩm khoa học có cáu trúc lôgíc chặt chẽ
Quan điểm hệ thống - cấu trúc là một luận điểm quan trọng của phương pháp
luận, nó yêu cầu phải xem xét các đối tượng một cách toàn diện nhiều mặt nhiều mối quan hệ, trong trạng thái vận động và phát triển, trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể để tìm ra bản chất và các quy luật vận động của đối tượng
Quan điểm này chỉ dẫn quá trình nghiên cứu các đối tượng phức tạp bằng phương pháp hệ thống để tìm ra cấu trúc, phát hiện ra tính hệ thống theo quy luật của cái toàn thể
Bản chất của quan điểm hệ thống, cấu trúc có thể tựu trung ở mấy điểm:
+ Nghiên cứu các đối tượng phức tạp phải xem xét chúng một cách toàn diện,
phải phân tích chúng ra thành các bộ phận để nghiên cứu chúng một cách sâu sắc, phải tìm ra được tính hệ thống của đối tượng
+ Phải nghiên cứu đầy đủ các mối quan hệ hữu cơ của các thành tố trong hệ
thống để tìm ra quy luật phát triển nội tại của hệ thống
+ Nghiên cứu đối tượng trong mối quan hệ với môi trường, thấy được mối quan
hệ chi phối giữa đối tượng và môi trường, thấy được tính quy định của môi trường và phát triển những điều kiện cần thiết cho sự phát triển thuận lợi của đối tượng
+ Kết quả nghiên cứu phải được trình bày rõ ràng khúc triết, tạo thành một hệ
thống chặt chẽ, có tính lôgic cao
Như vậy nghiên cứu khoa học theo quan điểm hệ thống -cấu trúc cho ta tri thức đầy đủ toàn diện, khách quan về đối tượng, thấy được mối quan hệ của hệ thống với các hiện tượng khác, từ đó mà thấy được cái triệt để, khách quan của các tri thức khoa học
2.2.3 Quan điểm lịch sử-lôgích trong nghiên cứu khoa học
Quan điểm lịch sử lôgic trong nghiên cứu khoa học là một luận điểm quan trọng của phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Thực hiện quan điểm này một mặt cho phép ta nhìn thấy toàn bộ sự phát triển của đối tượng nghiên cứu: sự xuất hiện quá trình diễn biến, phát triển và kết thúc của sự kiện Giúp ta phát hiện các quy luật phát triển tất yếu của đối tượng, điều mà bất cứ hoạt động khoa học nào cũng hướng tới như một mục đích quan trọng nhất
Lịch sử là sự vận động có thực của các đối tượng trong thế giới khách quan Sự
diễn biến lịch sử bao giờ cũng phức tạp, quanh co và đầy mâu thuẫn, trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể nhất định Lịch sử có những diễn biến thành công và có cả
Trang 29những thất bại Sự diễn biến lịch sử bao giờ cũng xuất phát từ những nguyên nhân, từ nguyên nhân dẫn đến hệ quả Điều kiện lịch sử thuận lợi thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của các sự kiện Sự phát triển của lịch sử là sự diễn biến khách quan
Lôgic là sự phản ánh quá trình phát triển của thực tiễn lịch sử vào ý thức của con
người Lôgic là cái tất yếu, là trật tự diễn biến, là con đường ngắn nhất của sự phát triển lịch sử Lôgic là kết quả nhận thức của con người về sự diễn biến có quy luật của đối tượng Nghiên cứu khoa học về bản chất là những cố gắng nhằm phát hiện ra cái lôgíc tất yếu ấy của hiện thực
Quan điểm lịch sử - lôgic trong nghiên cứu khoa học yêu cầu phải nghiên cứu
đối tượng bằng phương pháp lịch sử Phát hiện nguồn gốc nảy sinh, quá trình diễn biến của đối tượng trong những thời gian, không gian với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể
Lịch sử và logic tuy là hai phạm trù nhưng thống nhất với nhau Nghiên cứu khoa học đi từ cái lịch sử để phát hiện cái tất yếu của lịch sử, đó là cái lôgic khách quan của
sự phát triển lịch sử đó
Bảo đảm sự thống nhất giữa tính lịch sử và tính lôgic trong nghiên cứu khoa học chính là tôn trọng lịch sử khách quan, là hiểu triệt để những điều kiện có thật của mọi
sự diễn biến của đối tượng nghiên cứu Phải phát hiện ra các quy luật phát triển chung
của sự thật lịch sử Điều đó nói lên ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của quan điểm
lịch sử và lôgic
2.2.4 Quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học
Quan điểm thực tiễn là luận điểm quan trọng của phương pháp luận, nó yêu cầu nghiên cứu khoa học phải bám sát sự phát triển của thực tế sinh động
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính chất lịch sử - xã hội của con người làm biến đổi tự nhiên và xã hội Diễn biến của hiện thực là diễn biến khách quan, với những sự kiện đa dạng, phức tạp, phát triển nhiều khuynh hướng, có những thực tiễn tiên tiến, có những thực tiễn yếu kém và có những mâu thuẫn, những xu hướng chống đối nhau cần giải quyết, khắc phục
Các sự kiện của thực tiễn là những gợi ý rất quan trọng cho những ý tưởng của các đề tài khoa học Nhu cầu giải quyết những mâu thuẫn của thực tiễn là động lực thúc đẩy quá trình triển khai mọi hoạt động nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học thực chất là hướng vào khám phá các sự kiện, phát hiện các quy luật phát triển của hiện thực Những từ thức này có ý nghĩa to lớn bởi vì nó hướng tới phục vụ trực tiếp cho cuộc sống của con người Chính vì thế mà mọi đề tài nghiên cứu khoa học phải có tính cấp thiết xuất phát từ thực tiễn và phải có ý nghĩa lý luận và
ý nghĩa thực tiễn
Mục đích của nghiên cứu khoa học suy cho cùng về thực chất là tìm ra phương
Trang 30pháp tốt nhất để cải tạo thực tiễn phục vụ cho cuộc sống của con người Nghiên cứu khoa học luôn bám sát thực tiễn, coi thực tiễn là tiêu chuẩn để đánh giá các sản phẩm khoa học Khoa học là chân lý chỉ khi nào nó phù hợp với thực tiễn và có giá trị cải tạo
thực tiễn Như vậy, thực tiễn vừa là nguồn gốc, vừa là động lực, vừa là mục tiêu, vừa
là tiêu chuẩn để đánh giá sản phẩm nghiên cứu khoa học
Quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học có ý nghĩa to lớn, quán triệt quan điểm thực tiễn vừa có lợi cho khoa học, vừa có lợi cho thực tiễn Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đặt ra cho khoa học rất nhiều vấn đề để nghiên cứu và ngược lại nghiên cứu khoa học phải nhằm vào giải quyết những vấn đề của thực tiễn, phục vụ cho sự phát triển của nước ta
2.3 CƠ CHẾ SÁNG TẠO KHOA HỌC (MECHANISM)
Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học, thường bắt đầu
từ việc xuất hiện những ý tưởng về chủ đề, tiếp đến là những diễn biến đặc biệt trong
tư duy và cuối cùng dẫn đến phát minh Một vấn đề quan trọng được đặt ra là cơ chế sáng tạo khoa học nảy sinh và phát triển như thế nào trong hoạt động tư duy của các nhà khoa học?
Phân tích quá trình phát minh của các nhà khoa học có tên tuổi trong lịch sử khoa học thế giới và tổng kết các quá trình nghiên cứu sáng tạo trong thực tiễn hiện đại ta thấy có ba loại cơ chế sáng tạo sau đây:
2.3.1 Cơ chế trực giác (Intuition)
Trong nghiên cứu hoa học, với các nhà bác học tài năng nhiều khi có các ý tưởng độc đáo xuất hiện hết sức đột ngột, bỏ qua tất cả các bước, các thao tác tư duy theo lôgíc thông thường và ngay tức khắc họ nhìn thấy rõ mọi điều cần thiết Trong trường hợp này bản thân các nhà khoa học không giải thích được vì sao và từ đâu nó tới Họ chỉ biết rằng ở thời điểm ấy ý tưởng xuất hiện như một “tia chớp" họ rơi vào thời điểm
"bừng sáng" nhìn rõ chân lý Việc “bất ngờ" xuất hiện một ý tưởng khoa học, một cách giải quyết vấn đề, mà các nhà khoa học phải vật lộn nhiều năm chưa ra, đó là cái nhảy vọt của tư duy được gọi là trực trác (hay còn gọi là trực cảm)
Trong lịch sử phát minh khoa học có rất nhiều trường hợp như thế Nhờ trực giác, con người khám phá nhiều điều kỳ diệu, với những phát minh vĩ đại Nitơn phát hiện ra Định luật vạn vật hấp dẫn nhờ quan sát hiện tượng quả táo rơi Acsimet ngay trong bồn tắm phát hiện ra quy tắc tính lực đẩy của nước đối với một vật nhấn chìm trong đó Gaoxơ nhà toán học nổi tiếng tự thuật: việc giải một bài toán mà tôi loay hoay vài năm không xong, bỗng cuối cùng nó đã đến nhưng không phải bằng sự cố gắng vất vả cách giải quyết bất ngờ như một tia chớp " (xem: Khái lược về lịch sử
và lý luận phát triển khoa học NXB Khoa học Xã hội Hà Nội 1975 tr.128)
Giải thích và đánh giá hiện tượng trực giác này có nhiều cách khác nhau Những người theo chủ nghĩa duy tâm, tuyệt đối hoá trực giác, họ khẳng định tất cả các phát
Trang 31minh khoa học đều nhờ trực giác Họ cho rằng trực giác là cái gì đó phi lý tính, ngoài lôgic, đó là sự thành công của cảm hứng, một món qua của thượng đế
Các nhà khoa học duy vật cho rằng “món quà" này chính là kết quả lao động không mệt thỏi của bản thân con người, là bước nhảy vọt của tư duy, đã giải phóng sự kìm hãm của phương pháp cũ, xuất hiện năng lực trí tuệ đặc biệt và dẫn đến phát minh Trực giác là kết quả của sự dồn nén trí tuệ và kiến thức, là sự "bùng nổ" dựa trên nhiều thao tác tư duy đã phát triển ở nhiều trình độ khác nhau
Trực giác là sản phẩm của tài năng, là kết quả của sự tích luỹ kiến thức, đồng thời là kết quả của sự say mê, sự kiên trì lao động sáng tạo Không có một phát minh nào lại ngẫu nhiên nằm ngoài tâm hoạt động kiên trì với một định hướng khoa học nghiêm túc
2.3.2 Cơ chế Algôrit (Algorithm)
Trong quá trình nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong sáng tạo kỹ thuật, có thể đạt tới kết quả, khi tư duy của các nhà nghiên cứu tuân thủ các bước đi với một nguyên tắc, một trật tự tạo thành chuỗi thao tác lôgíc hợp lý Bản ghi chính xác trật tự các bước đi để giải bài toán sáng tạo như thế được gọi là một Algôrit sáng tạo (hay còn gọi
là thuật toán)
Theo quan điểm này thì các phát minh khoa học Tự nhiên và kỹ thuật về thực chất là phát hiện ra các algôrit sáng tạo Khi ý thức được một bản ghi chính xác các bước đi lôgíc của một loại công việc, thì cũng có nghĩa là sẽ thực hiện thành công loại công việc đó
Tư tưởng cơ bản của algôrit sáng tạo là: các hệ kỹ thuật hình thành và phát triển không phải ngẫu nhiên, mà theo những quy tắc nhất định, ta có thể nhận thức được các quy tắc ấy và sử dụng chúng một cách có ý thức, sẽ tránh được những phép thử - sai một cách vô ích
Cơ sở để giải quyết một bài toán sáng tạo là quy luật biện chứng về sự phát triển của các hệ kỹ thuật Bài toán sáng tạo được giải bằng cách phân tích một khối lượng lớn, có khi hàng nghìn các thông tin (Patent) về một giải pháp
Algôrit giải các bài toán sáng tạo với hệ thống các quy tắc (các thuật chuẩn) là các cơ chế chủ yếu để hoàn thiện các hệ kỹ thuật Điều quan trọng là kho thông tin luôn được bổ sung và chỉnh lý thường xuyên
Việc giải các bài toán sáng tạo được tiến hành không thể bằng các phép thử - sai
mà phải được tiến hành có kế hoạch Người ta áp dụng các thuật toán với những biến đổi đặc biệt bằng các thủ thuật chuyên môn để phá vỡ sức ì tâm lý của lối tư duy truyền thống và tạo nên quá trình tưởng tượng mới có tính sáng tạo
Nắm vững các quy tắc phát triển của các hệ kỹ thuật cho phép ta không chỉ giải thích được của bài toán có sẵn, mà còn dự đoán được các khả năng xuất hiện các bài
Trang 32toán mới Các dự đoán này chính xác hơn nhiều so với những dự đoán nhờ các phương pháp chủ quan Giải các bài toán sáng tạo gắn liền với sự phát triển của các hệ kỹ thuật
Như vậy, các algôrit sáng tạo được chuyển thành lý thuyết phát triển của các hệ
kỹ thuật Algôrit các công nghệ sáng tạo, một công nghệ quan trọng nhất trong các công nghệ hiện đại:
2.3.4 Cơ chế ơristic (Heuristỉcs)
Thông thường nghiên cứu khoa học bắt đầu từ việc phát hiện đề tài Đề tài là một vấn đề khoa học được hình thành do phát hiện các mâu thuẫn, các mặt thiếu sót của lý thuyết hay thực tiễn nào đó Các mâu thuẫn này không thể giải quyết được bằng những điều đã biết, đặt các nhà khoa học vào một tình huống phải nghiên cứu tìm tòi
Trên cơ sở phân tích nhiều hiện tượng, sự kiện tương tự với hiện tượng mới phát hiện, người ta lìm thấy những điều giống nhau và những khác nhau của chúng Bằng những tri thức và kinh nghiệm đã có, bằng phép tương tự (Analogy) và trí tưởng tượng
mà phỏng đoán bản chất hiện tượng, sự kiện vừa phát hiện, tức là hình thành một giả thuyết khoa học (Hypothesis)
Từ giả thuyết khoa học, như là một dự báo định hướng, giúp ta tìm cách chứng minh để khẳng định chính điều phỏng đoán ban đầu ấy Vậy là quá trình nghiên cứu khoa học được thực hiện bằng con đường đề xuất và chứng minh một giả thuyết khoa học về một sự kiện, hiện tượng mới Con đường sáng tạo như thế được gọi là sáng lạo theo cơ chế Ơristic
Vấn đề trung tâm của cơ chế sáng tạo ơristic là đề xuất giả thuyết khoa học Giả thuyết khoa học là một giả định, một dự đoán hết sức độc đáo về bản chất đối tượng nghiên cứu Để đề xuất một giả thuyết, nhà khoa học phải có chuyên môn vững chắc, phải có kinh nghiệm hoạt động sáng tạo phong phú và đặc biệt phải có năng lực dự đoán
2.4 KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bất cứ hoạt động nào, chủ thể hoạt động cũng phải là người thạo việc, nghiên cứu khoa học là lao động đặc biệt lại càng đòi hỏi sự thành thạo ở mức độ cao hơn Sự thành thạo trong nghiên cứu khoa học chính là sự nắm vững các kỹ năng nghiên cứu Nghiên cứu khoa học ngoài việc đòi hỏi các nhà khoa học phải có một năng lực đặc biệt, một sự uyên bác về kiến thực, sắc sảo và nhậy cảm trong tư duy, còn đòi hỏi các nhà khoa học phải có một quan điểm tiếp cận đối tượng, có một chiến lược nghiên cứu đúng, nắm vững các quy trình lôgic khách quan và sự thành thạo trong sử dụng các phương tiện kỹ thuật để thu thập, xử lý thông tin và trình bày các kết quả nghiên
cứu, nghĩa là phải có kỹ năng nghiên cứu Kỹ năng nghiên cứu khoa học là khả năng thực hiện thành công các công trình khoa học trên cơ sở nắm vững các quan điểm
Trang 33phương pháp luận, sử dụng thành thạo phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu
Kỹ năng nghiên cứu khoa học bao gồm một tổ hợp các cách thức các con đường nghiên cứu, với nhiều mức độ phức tạp, mà nhà khoa học phải thực hiện thành thạo
Hệ thống kỹ năng này có thể phân thành ba nhóm sau đây:
Nhóm thứ nhất: Nhóm kỹ năng nắm vững lý luận khoa học và phương pháp
luận nghiên cứu Ở nhóm này các kỹ năng nghiên cứu thể hiện bắt đầu từ phát hiện đề tài xây dựng chiến lược và chiến thuật nghiên cứu Xác định các cách tiếp cận đối tượng, các quan điểm giải quyết ván đề, lập đề cường, xây dựng giả thuyết, tìm lôgíc mới, tạo hệ thống mới
Nhóm thứ hai: Nhóm kỹ năng sử dụng thành thạo các phương pháp nghiên cứu
cụ thể Các nhà khoa học phải nắm vững các phương pháp nghiên cứu trong phạm vi chuyên môn và biết sử dụng chúng một cách hợp lý vào đề tài của mình Phương pháp nghiên cứu khoa học là phạm trù phức tạp, nó bao gồm nhiều thao tác đơn giản nhất như tìm tư liệu, đến những phương pháp phức tạp hơn là tác động vào đối tượng thực
Nhóm thứ ba: Nhóm kỹ năng sử dụng kỹ thuật nghiên cứu, đó là việc các nhà
khoa học phải thành thạo trong việc sử dụng các phương tiện, công cụ kỹ thuật để thu thập, xử lý và trình bày thông tin khoa học Việc thu thập thông tin có thể bằng kỹ thuật quan sát, điều tra, bằng sử dụng các thiết bị máy móc hay tra cứu các tài liệu lưu
trữ Xử lý thông tin có thể bằng thống kê toán học, có thể bằng máy vi tính trình
bày thông tin phải đảm bảo đúng các yêu cầu kỹ thuật, các sơ đồ, biểu đồ chính xác Nghĩa là trong nghiên cứu khoa học mặt kỹ thuật cũng cần phải thành thạo
Tóm lại: Kỹ năng nghiên cứu là một hệ thông phức tạp, nhiều thành phần Các
kỹ năng là điều kiện thiết yếu để thực hiện thành công các công trình nghiên cứu khoa học
Trang 34Chương III NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 3.1 KHÁI NIỆM
Nghiên cứu khoa học là sự tìm hiểu khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật hoặc hiện tượng, phát hiện quy luật vận động của chúng, đồng thời vận dụng những quy luật ấy để sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới khách quan phục vụ cho mục đích của con người
Nghiên cứu khoa học, suy cho cùng, mang hai nội dung cơ bản sau:
+ Phát hiện thuộc tính bản chất và quy luật vận động của thế giới khách quan (là
nghiên, xã hội, con người)
+ Sáng tạo các giải pháp nhằm biến đổi trạng thái của sự vật hoặc hiện tượng, cải
tạo thế giới tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người
Bản chất của nghiên cứu khoa học là các hoạt động sáng tạo của các nhà khoa
học nhằm nhận thức thế giới tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cái tạo thế giới
Chủ thể của nghiên cứu khoa học là các nhà khoa học với những phẩm chất trí
tuệ và tài năng đặc biệt, được đào tạo chu đáo Quá trình nghiên cứu được thực hiện trong một cơ quan nghiên cứu với một tập thể có tiềm lực mạnh, được tổ chức chặt chế, có chương trình chiến lược hoạt động Sự sáng tạo khoa học bao giờ cũng được bắt đầu từ một ý tưởng của cá nhân và sau đó được sự hỗ trợ, hợp tác nghiên cứu của một tập thể , theo ý tưởng định hướng nghiên cứu của người đề xuất Vì vậy có thể nói: chủ thể nghiên cứu khoa học vừa là cá nhân, vừa là tập thể
Mục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá bản chất và các quy
luật vận động của thế giới, tạo ra thông tin mới, nhằm ứng dụng chúng vào sản xuất vật chất hay tạo ra những giá trị tinh thần, để thoả mãn nhu cầu cuộc sống của con người Nghiên cứu khoa học không chỉ là nhận thức thế giới mà cần cải tạo thế giới, khoa học đích thực luôn vì cuộc sống của con người
Phương pháp nghiên cứu khoa học là phương pháp nhận thức thế giới bao gồm
những quan điểm tiếp cận, những quy trình, các thao tác cụ thể để tác động vào đối tượng để làm bộc lộ bản chất của đối tượng Nghiên cứu khoa học còn phải sử dụng những công cụ đặc biệt, có tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe trong định tính và định lượng
để thí nghiệm, thực nghiệm đo lường và kiểm định sản phẩm sáng tạo
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học là hệ thống thông tin mới về thế giới và về
những giải pháp cải tạo thế giới Cho nên có thể nói khoa học luôn hướng tới cái mới Nhiều ý tưởng khoa học độc đáo đi trước thời đại và có giá trị dẫn dắt sự phát triển của thực tiễn
Trang 35Sản phẩm khoa học luôn được kế thừa, hoàn thiện, bổ sung theo đà tiến bộ của
xã hội loài người và ngày một tiệm cận tới chân lý khách quan Mỗi lý thuyết khoa học được hình thành, phát triển hưng thịnh, rồi lạc hậu nhường chỗ cho cái mới, cái liên
bộ, cái có triển vọng hơn
Giá trị của nghiên cứu khoa học được quyết định bởi tính thông tin, tính ứng
dụng và sự đáp ứng nhu cầu của cuộc sống Thông tin khoa học phải có tính khách quan, có độ tin cậy, có thể kiểm tra được bằng các phương pháp khác nhau
Quá trình nghiên cứu khoa học: Quá trình nghiên cứu khoa học diễn ra phức
tạp, luôn chứa đựng những mâu thuẫn, liên tục xuất hiện những xu hướng, các trường phái lý thuyết, các giả thuyết, các dự báo khác nhau, thậm chí trái ngược nhau và kết cục cái nào phù hợp với hiện thực, đem lại lợi ích cho con người là cái chiến tháng Khoa học là cách mạng với nghĩa đó
Nghiên cứu khoa học có chứa dựng những yếu tố mạo hiểm, bởi vì nghiên cứu khoa học không phải lúc nào cũng thành công Sự thành công sẽ tạo ra giá trị mới cho nhân loại và có cả những thất bại, rủi ro, đó là sự phải trả giá của nghiên cứu khoa học, nhưng chính sự thất bại đó cũng là một thông tin có ích để đồng nghiệp không lặp lại sai lầm tương tự
3.2 CHỨC NĂNG VÀ CÁC LOẠI HÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 3.2.1 Chức năng của nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là hoạt động phức tạp Cùng với lịch sử phát triển của loài người, trình độ nhận thức khoa học ngày một nâng cao Tổng kết lịch sử phát triển khoa học ta thấy loài người đã trải qua may trình độ nhận thức sau đây:
Trình độ mô tả: Mô tả khoa học là trình bày lại những kết quả nghiên cứu một
hiện tượng hay một sự kiện khoa học làm sao cho đối tượng đó được thể hiện đến mức
độ nguyên bản tối da
Tri thức mô tả là những tri thức thu nhận được qua quan sát điều tra và được trình bày bằng hệ thống ký hiệu có tính trực quan, đồng thời là những khái niệm có liên quan đến hệ thống ký hiệu này Mô tả là biện pháp quan trọng để chuẩn bị tư liệu
cho việc giải thích khoa học
Trong mô tả thường người ta phân biệt mô tả định tính và mô tả định lượng Mô
tả định tính là chỉ rõ các đặc trưng về chất của sự vật, hiện tượng Ví dụ, Trái đất và sao kim tinh quay xung quanh mặt trời theo một quỹ đạo bầu dục, “theo một quỹ đạo bầu dục” là một đặc trưng về chất của cả hai hành linh Trái đất và Kim tinh Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mô tả dựa trên những tiêu chí định tính trên đây, thì người ta chưa thể phân biệt được Trái đất và Kim tinh khác nhau như thế nào Vì vậy sự mô tả định tính phải được bổ xung bằng các mô tả định lượng
Mô tả định lượng là tiêu chí chỉ rõ các đặc trưng về lượng của sự vật hoặc hiên
Trang 36tượng Trong ví dụ trên, người ta biết được một trong những đặc trưng về lượng là, chu kỳ quay của Trái đất xung quanh Mặt trời là 365,24 ngày đêm; còn chu kỳ quay của Kim tinh xung quanh Mặt trời là 224,7 ngày đêm Đó là các mô tả định lượng
Mô tả khoa học tuy đã cố gắng cho ta hình ảnh đầy đủ về dối tượng hiện thực, nhưng mô tả chưa đạt tới trình độ thiết lập được các mối liên hệ có tính quy luật, bản chất bên trong của đối tượng, vì thế nó vẫn còn dừng ở mức độ nhận thức thực tiễn và kinh nghiệm
Trình độ giải thích: Giải thích khoa học là trình bày một cách tượng minh bản
chất của đối tượng nghiên cứu, bằng cách chỉ rằng đối tượng ấy đã tuân thủ một phần hay toàn bộ các quy luật chung của sự phát triển hiện thực
Cơ sở cần thiết cho mọi sự giải thích khoa học là các tài liệu về đối tượng phải đầy đủ, chính xác, ngôn ngữ rõ ràng, lập luận chặt chẽ, phù hợp với các quy tắc lôgíc của suy luận, tư tưởng học thuật phải phù hợp với các lý thuyết khoa học đã được chứng minh
Giải thích khoa học cố gắng phản ánh trung thực các sự kiện của hiện thực, chỉ ra nguồn gốc phát sinh, phát triển, mối quan hệ của sự kiện với các sự kiện khác, với môi trường xung quanh, những điều kiện, nguyên nhân, những hệ quả đã hay có thể xẩy ra Trình độ giải thích khoa học như vậy đã cố gắng đi sâu vào bản chất của sự kiện, bắt đầu tham gia vào quá trình tìm kiếm quy luật vận động của dối tượng nhận thức Tuy nhiên đạt tới trình độ chính xác đến đâu, còn phụ thuộc vào khả năng của người nghiên cứu và mức độ tự bộc lộ của đối lượng
Trình độ phát hiện: Trình độ phát hiện là trình độ nghiên cứu hướng tới bản
chất của các sự kiện, hiện tượng khách quan một cách chủ động nhằm khám phá các quy luật vận động và phát triển của chúng Phát hiện đồng nghĩa với phát minh, với quá trình sáng tạo ra chân lý mới làm phong phú thêm kho tàng tri thức nhân loại Trình độ phát hiện khoa học là trình độ nhận thức sáng tạo cao nhất của con người, được thực hiện bằng những phương thức đặc biệt, với những công cụ phương tiện tinh sảo và với những quy trình kỹ thuật khắt khe làm cho đối tượng bộc lộ nguyên hình với những dấu hiệu bản chất, với các quy luật vận động và phát triển
khách quan
Tri thức phát hiện tạo nên các khái niệm, phạm trù, các quy luật các lý thuyết học thuyết mới, những phương pháp nghiên cứu mới, những quy trình công nghệ mới, đó
là những tri thức có giá trị đối với lý luận và thực tiễn
3.2.2 Loại hình nghiên cứu khoa học
Việc lựa chọn loại hình nghiên cứu khoa học được quyết định bởi mục tiêu nghiên cứu và chủng loại sản phẩm thu được sau quá trình nghiên cứu
Trang 37Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu khoa học có thể rất khác nhau: hoặc là
phát hiện quy luật, mô tả, giải thích nguyên nhân vận động của sự vật hoặc hiện tượng; hoặc là sáng tạo nguyên lý những giải pháp phục vụ cho các hoạt động xã hội khác nhau của con người
Chủng loại sản phẩm sẽ thu nhận được sau nghiên cứu: có thể là các phát hiện, phát kiến, phát minh, v.v cũng có thể là các giải pháp, bí quyết, sáng chế v.v
Tuỳ thuộc mục tiêu nghiên cứu và sản phẩm thu nhận sau nghiên cứu, người ta chia ra những loại hình nghiên cứu khác nhau: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng hoặc triển khai
a) Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu cò bản là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới, những giá trị mới cho nhân loại Nghiên cứu cơ bản đi sâu khám phá bản chất và quy luật vận động và phát triển của thế giới ở cả hai phía vi mô và vĩ
mô Tri thức sáng tạo từ nghiên cứu cơ bản là tri thức nền tảng cho mọi quá trình nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo
Kết quả của nghiên cứu cơ bản luôn là những phân tích lý luận, những kết luận
về quy luật, những định luật, định lý, v.v Cuối cùng, trên cơ sở những nghiên cứu này, người nghiên chủ đưa ra được những phát hiện, phát kiên, phát minh, xây dựng nên những cơ sở lý thuyết có một giá trị tổng quát cho nhiều lĩnh vực hoạt động
Nghiên cứu cơ bản là loại hình nghiên cứu phức tạp nhất do đội ngũ các nhà khoa học có trình độ năng lực sáng tạo đặc biệt tiến hành Với những yêu cầu cao về trang thiết bị, với những chương trình nghiên cứu lâu dài, một nguồn tài chính lớn, tốn kém và mạo hiểm Chỉ có các nước có tiềm lực khoa học mạnh mới có khả năng tổ chức loại hình nghiên cứu cơ bản một cách rộng rãi
Nghiên cứu cơ bản được phân thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản định hướng
Nghiên cứu cơ bản thuần tuý: Nghiên cứu cơ bản thuần tuý còn được gọi là
nghiên cứu tự do hoặc nghiên cứu cơ bản không định hướng Nghiên cứu cỏ bản thuần tuý có mục tiêu là phát hiện, sáng tạo ra giá trị mới, những quy luật, những lý thuyết khoa học mới dù chưa có địa chỉ ứng dụng
Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản thuần tuý có thể là các phát hiện, phát minh, phát kiến, các công thức và thường dẫn đến việc hình thành hệ thống lý thuyết có ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau
Trong lịch sử khoa học, chúng ta gặp rất nhiều những phát hiện của nghiên cứu
cơ bản thuần tuý trong mọi lĩnh vực khoa học tự nghiên và xã hội, chẳng hạn, Newton phát hiện định luật hấp dẫn vũ trụ, Galileo phát hiện các vệ tinh của Sao Mộc, Marie Cuộc phát hiện nguyên tố phóng xạ uranium, Adam Smith phát hiện "bàn tay vô hình"
Trang 38của kinh tế thị trường, Karl Marx phát hiện ra quy luật về thặng dư Đó đều là sản phẩm của những nghiên cứu cơ bản thuần tuý
Tác giả các phát hiện này không thể dự kiến hết được, thậm chí không hề dự kiến được những phát hiện của mình sẽ được nhằm vào mục đích áp dụng nào và dẫn đến những kết quả, những ảnh hưởng lớn lao như thế nào trong đời sống xã hội
Nghiên cứu cơ bản định hướng: Nghiên cứu cơ bản định hướng có mục tiêu tìm
ra những kiến thức mới, giải pháp mới theo yêu cầu của thực tiễn xã hội hay sản xuất,
đã có sẵn địa chỉ ứng dụng Hay nói cách khác đây là những nghiên cứu cơ bản đã dự kiến trước mục đích ứng dụng Nghiên cứu cơ bản định hướng còn được gọi là nghiên cứu thăm dò và đôi khi được hiểu là một loại hình nghiên cứu để xác định phương hướng nghiên cứu Thí dụ, hoạt động thăm dò địa chất mỏ cũng xem là nghiên cứu cơ bản định hướng, bởi vì nó nhằm khám phá quy luật (định tính và định lượng) phân bố khoáng sản trong lòng đất Hoạt động nghiên cứu này hướng vào mục đích phục vụ nhu cầu khai thác khoáng sản
Trong nghiên cứu cơ bản định hướng, theo UNESSCO, được phân thành hai lĩnh vực nghiên cứu: Nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề
Nghiên cứu nền tảng: Nghiên cứu nền tảng là những nghiên cứu dựa trên các
quan sát, đo đạc để thu thập số liệu và dữ kiện nhằm mục đích tìm hiểu và khám phá quy luật của tự nhiên Thuộc loại hình nghiên cứu nền tảng có thể liệt kê một số dạng như nghiên cứu dịch tễ học trong y; điều tra cơ bản tài nguyên và các điều kiện thiên nhiên như điều tra địa chất, nghiên cứu đại dương, khí quyển, khí tượng; tổng hợp các hoá chất, nghiên cứu bản chất vật lý, hoá học, sinh học
Nghiên cứu chuyên đề: Nghiên cứu chuyên đề là nghiên cứu có hệ thống một
hiện tượng đặc biệt của tự nhiên, ví dụ trạng thái plasma của vật chất, bức xạ vũ trụ, gien di truyền
Những loại hình nghiên cứu cơ bản định hướng thuộc dạng này không chỉ đưa đến những cơ sở lý thuyết quan trọng, mà còn có thể dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa lớn lao trong kinh tế và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Chúng ta không nên hiểu đồng nhất giữa hai khái niệm Nghiên cứu cơ bản và hoa học và khoa học cơ bản
b) Nghiên cứu ứng dụng
Nghiên cứu ứng dụng là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là tìm cách vận dụng những tri thức cơ bản để tạo ra những quy trình công nghệ mới trong sản xuất, những nguyên lý mới tăng quản lý kinh tế xã hội
Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là một giải pháp về công nghệ có tính mới về nguyên lý, vật liệu mới, sản phẩm mới, giải pháp hữu ích, sáng chế
Điều quan trọng nhất để phân biệt nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng là
Trang 39ở chỗ nghiên cứu cơ bản thì đưa ra những tri thức mới về bản chất, quy luật vận động của sự vật và hiện tượng, còn nghiên cứu ứng dụng đưa ra những nguyên lý mới về giải pháp lác động vào sự vật hoặc hiện tượng
Đây là một loại hình nghiên cứu phù hợp với quy luật phát triển của khoa học hiện đại, nó làm rút ngắn thời gian từ khi phát minh đến khi ứng dụng Chính nghiên cứu ứng dụng đã làm cho khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển cả khoa học lẫn sản xuất
Nghiên cứu ứng dụng là một trong những con đường quan trọng nhất giúp cho các nước phát triển nhanh chóng bỏ qua giai đoạn nghiên cứu cơ bản tốn kém để tiến kịp các nước phát triển có liềm lực khoa học mới Nhật Bản là thí dụ điển hình
Cũng như đối với nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng không nên hiểu đồng nghĩa với khoa học ứng dụng Và điều cần lưu ý nữa là, mặc dù loại hình này có tên gọi là nghiên cứu ứng dụng, nhưng kết quả của nó thì chưa ứng dụng được Để có thể đưa kết quả của nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng trong thực tế thì còn phải tiến hành một loại hình nghiên cứu khác, có tên gọi là nghiên cứu triển khai
c) Nghiên cứu triển khai:
Nghiên cứu triển khai là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là tìm khả năng áp dụng đại trà các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế sản xuất và đời sống xã hội, tạo ra các mô hình chế biến thông lin khoa học thành ra san phẩm tinh thần hay vật chất
Nghiên cứu triển khai là loại hình nghiên cứu nối liền khoa học và đời sống, là con đường đưa khoa học tới nơi cần sử dụng, chính nó làm cho ý tưởng khoa học trở thành hiện thực, làm phát triển nền kinh tế văn hoá xã hội, làm tăng chất lượng cuộc sống của con người
Đặc trưng của nghiên cứu triển khai là sự vận dụng các quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu với những tham số đủ mang tính khả thi về kỹ thuật
Sản phẩm của nghiên cứu triển khai chỉ mới là những vật mẫu, hình mẫu có tính khả thi về kỹ thuật, nghĩa là đã được khẳng định , không còn xác suất rủi ro về mặt kỹ thuật trọng áp dụng Điều này chưa hoàn toàn có nghĩa là đã có thể áp dụng vào một địa chỉ cụ thể nào đó, bởi vì, để áp dụng được vào một điều kiện cụ thể xác định còn phải tính đến khả năng về tài chính, kinh tế môi trường, xã hội, chế độ chính trị, v.v
d) Nghiên cứu dự báo:
Nghiên cứu dự báo là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là phát hiện những triển vọng, những khả năng xu hướng mới của sự phát triển của khoa học và thực tiễn Nghiên cứu dự báo dựa trên các quy luật và tốc độ phát triển của khoa học hiện đại, trên cơ sở các tiềm lực khoa học quốc gia và thế giới Nghiên cứu dự báo dựa trên kết
Trang 40quả phân tích và tổng hợp một số lượng lớn các thông tin khách quan về các thành tựu của khoa học, đồng thời dựa vào nhu cầu và khả năng phát triển cuộc sống của xã hội hiện đại Các dự báo bao gồm:
+ Những thành tựu của khoa học và thực tiễn có thể đạt được trong tương lai
+ Những triển vọng của những phát minh, số lượng và chất lượng thông tin mới
+ Những xu hướng, trường phái khoa học, những chương trình khoa học mới,
những khả năng phát triển của những xu hướng đó
+ Những khả năng hình thành các tổ chức khoa học mới và những triển vọng của
sự phát triển tiềm lực khoa học quốc gia và quốc tế
Nghiên cứu dự báo có ba cấp:
- Cấp 1 : Dự báo cho 15-20 năm
- Cấp 2: Dự báo cho 40-50 năm
- Cấp 3: Dự báo cho 1 thế kỷ
Mọi dự báo đều chứa đựng những thông tin giả định, tuy vậy nó có vai trò to lớn trong phát triển cả thực tiễn và lý luận khoa học Cuộc sống hiện thực, nhu cầu thực tế, tiềm năng của khoa học sẽ bổ sung và sửa đổi dự báo Số phận của dự báo chịu ảnh hưởng của sự phát triển xã hội và những bí mật của thiên nhiên được phát hiện
3.2.3 Ý nghĩa của việc xác định loại hình nghiên cứu
Trong nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu cần bắt đầu từ việc thiết lập sự kiện, quan sát và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu chính là cái
mà người nghiên cứu phải kiểm chứng trong toàn bộ tiến trình nghiên cứu
Đặt giả thuyết nghiên cứu: Mỗi loại hình nghiên cứu tương ứng với một loại giả
thuyết nghiên cứu Bất cứ nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học nào, người nghiên cứu cũng cần phải đưa ra những giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu sẽ được chứng minh hoặc bác bỏ sau khi được kiểm chứng bởi chính người nghiên cứu
- Với nghiên cứu cơ bản, người nghiên cứu cần đưa ra những giả thuyết về bản chất hay quy luật vận động của sự vật hoặc hiện tượng
- Với nghiên cứu ứng dụng, người nghiên cứu cần đưa ra những giả thuyết về giải pháp
- Với nghiên cứu triển khai, người nghiên cứu cần đưa ra những giả thuyết về hình mẫu
Khi đã xác định được loại hình nghiên cứu, người nghiên cứu sẽ định hướng được sản phẩm nghiên cứu của mình, đưa ra được những kết luận giả định (giả thuyết nghiên cứu) để đeo đuổi