- Cũng như nhiều bạc tiền nhân khác như Nguyễn Trãi, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu thể hiện ý tưởng của kẻ làm trai: Làm trai phải lạ ở trên đời Nghĩa là sinh ra làm thân
Trang 1LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG
(Xuất dương lưu biệt)
Phan Bội Châu
A MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC:
- Cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn hào hùng và giọng thơ đầy tâm huyết, sôi nổi của nhà cách mạng Phan Bội Châu đầu thế kỉ XX
- Rút ra bài học lẽ sống của thanh niên
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN:
SGK + SGV + Bài soạn
C CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
Đọc sáng tạo, gợi ý trả lời câu hỏi, thảo luận
D TIẾN HÀNH DẠY HỌC
1 Kiểm tra bài cũ
2 Giới thiệu bài mới
Trước khi có văn thơ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, lịch sử văn chương Việt Nam đã ghi nhận dấu ấn của thơ văn một con người Đó là tiếng nói của một trái tim chan chứa nhiệt huyết, có sức lay động quần chúng đứng lên đấu tranh cách mạng Người đó là Phan Bội Châu Để thấy rõ
nội dung thơ văn của tác giả, chúng ta tìm hiểu bài Lưu biệt khi xuất dương.
I Đọc – tìm hiểu - Phần tiểu dẫn trình bày hai nội dung Một là giới thiệu vài nét về
Phan Bội Châu với cuộc đời, quá trình hoạt động và sự nghiệp văn
chương của ông Hai là bài thơ Lưu biệt khi xuất dương.
- Đỗ Giải nguyên (1900), Phan Bội Châu là nhà nho Việt Nam đầu tiên nuôi ý tưởng tìm đường cứu nước Ông vào Nam, ra Bắc tìm bạn đồng chí lập ra tổ chức cách mạng theo đường lối dân chủ tư sản Đó là Hội Duy tân (1904)
- Theo chủ trường của Hội Duy tân, Phan Bội Châu lãnh đạo phong trào Đông du và xuất dương sang Nhật Bản 1905
- Suốt hai mươi năm (1905- 1925), ông có mặt ở Nhật, Trung Quốc, Thái Lan để mưu sự nghiệp cứu nước Ông thành lập Việt Nam Quang phục hội (1912) Cũng năm này, ông bị Nam triều (đứng sau
là thực dân Pháp) kết án tử hình vắng mặt Năm 1925, thực dân Pháp rình mò lừa bắt được ông ở Trung Quốc định đem về nước thủ tiêu
bí mật Việc bại lộ, chúng phải đưa ông ra xét xử công khai Trước
sự đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, thực dân Pháp phải xoá án khổ sai chung thân và bắt ông về quản thúc (giam lỏng) ở Bến Ngự (Huế) Ông mất tại đây năm 1940
- Em có nhận xét gì về cuộc đời
và quá trình hoạt động của Phan
Bội Châu?
- Ông là người khởi xướng, là ngọn cờ đầu của phong trào yêu nước
và cách mạng ở Việt Nam trong khoảng hai mươi năm đầu thế kỉ
XX Ông là lãnh tụ ưu tú nhất, gây được lòng tin yêu của nhân dân
- Ông nổi tiếnt thần đồng (13 tuổi đỗ đầu huyện, 16 tuổi đỗ đầu xứ,
33 tuổi đỗ Giải nguyên trường Nghệ An)
- Lòng yêu nước, căm thù giặc đã nung nấu ý chí giải phóng dân tộc
Trang 2Năm 17 tuổi đã viết Bình Tây thu Bắc (Dẹp giặc Pháp khối phục đất
Bắc) đem dán ở các cổng trong làng để kêu gọi mọi người hưởng ứng phong trào Cần vương
- Sự nghiệp cứu nước của ông tuy không thành nhưng đã lay động mạnh mẽ trong tầng lớp nhân dân Nó chứng tỏ ý chí của cong người Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục kẻ thù
- Về sự nghiệp văn chương
Phan Bội Châu đã để lại cho
nền văn học nước ta những tác
phẩn nào?
- Trong quá trình hoạt động, Phan Bội Châu đã sáng tác nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau bằng chữ Hán và chữ Nôm Các tác phẩm chính bao gồm:
+ Bái thạch vi huynh phú (1897) + Việt Nam vong quốc sử (1905) + Hải ngoại huyết thư (1906) + Ngục trung thư (1914) + Trùng Quang tâm sử (1920- 1925) + Văn tế Phan Châu Trinh (1926) + Phan Bội Châu niên biểu (1929) + Phan Bội Châu văn tập và Phan Sào Nam tiên sinh quốc văn thi tập (Hai tập văn, thơ này làm trong thời gian bị giam lỏng ở Huế).
- Trình bày khái quát nội dung
thơ văn Phan Bội Châu
- Nội dung thơ văn của ông sôi sục, nóng bỏng tinh thần yêu nước
Nó thôi thúc, cổ vũ lòng người Phan Bội Châu đã thành công trong việc tuyên truyền, cổ vũ tinh thần, ý chí dân tộc và hành động cứu nước Thơ văn ông giàu nhiệt huyết, có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân Ông được coi là cây bút xuất sắc nhất trong những năm đầu thế kỉ XX
- Nội dung thứ hai trong phần
tiểu dẫn là gì?
- Hoàn cảnh ra đời của bài thơ
Duy tân hội được thành lập 1905 Lúc này phong trào Cần vương đã cho thấy sự bế tắc của con đường cứu nước theo tư tưởng phong kiến do các sĩ phu lãnh đạo Phan Sào Nam lúc này còpn rất trẻ đã biểu hiện quyết tâm vươn mình, vượt qua giáo lí đã lỗi thời của đạo Nho để đón nhận luồng tư tưởng mới, tìm hướng mới khôi phục giang sơn Phong trào Đông du được nhóm lên, đặt cơ sở, tạo cốt cán cho phong trào cách mạng trong nước và chủ trương cầu Nhật
giúp Việt Nam đánh Pháp Lưu biệt khi xuất dương được viết trong
bữa cơm ngày Tết mà Phan Bội Châu tổ chức ở nhà mình để chia tay với bạn đồng chí trước lúc lên đường
+ Bốn câu còn lại: Ý thức được nỗi nhục mất nước, với nền học vấn
cũ, đồng thời thể hiện khát vọng hăm hở, dấn thân trên hành trình cứu nước
b Diễn nôm ý của mỗi câu thơ
- Trên cơ sở phiên âm chữ Hán,
hãy tìm ý của mỗi câu thơ
1.Sinh vi nam tử yếu hi kì
(Đã sinh là trái phải làm được những việc lớn lao kì lạ, trọng đại)
2 Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di
(Chẳng lẽ (lẽ nào) để trời, đất tự xoay vần)
3 Ư bách niên trung tu hữu ngã
Trang 3(Trong khoảng trăm năm của đời người, ta phải làm được việc có nghĩa)
4 Khởi thiên tải hậu cánh vô thuỳ
(Ngàn năm sau lẽ nào không có người nối tiếp)
5 Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế
(Non sông đã chết, sống làm chi cho nhơ nhuốc) (đồ nhuế là nhơ nhuốc)
6 Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si (si là ngu) (Thánh hiền đã
vắng, đọc cũng ngu)
7 Nguyện trục trường phong Đông hải khứ
(Nguyện theo cơn gió lớn qua biển Đông)
8 Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi
(Muôn con sóng bạc cùng một lúc bay lên)
- Từ ý của mỗi câu thơ Hãy
nhận xét bản dịch thơ của Tôn
Quang Phiệt?
- Nhìn chung bản dịch thơ sát với nguyên tác Song ở các câu thơ 3,
6, 8 bản dịch chưa làm rõ ý của nguyên tác
+ Câu 3, nghĩa: Trong khoảng trăm năm ta phải làm được việc gì đó thật có nghĩa cho đời chứ
Bản dịch thơ “Trong khoảng trăm năm cần có tớ”, ý nghĩa của câu thơ nghiêng nhiều về khẳng định mình, coi trọng cá nhân trong sự phát triển chung của đất nước, đề cao cái tôi của mình
+ Câu 6, nghĩa của nó: Thánh hiền đã vắng, đọc (học) cũng ngu thôi.Bản dịch thơ “Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài” Chữ “hoài” ý nhẹ chỉ mang vẻ nuối tiếc, nghi ngờ về sự học hành theo kiểu từ chương trích cú Mấy tiếng “tụng diệc si” (đọc cũng ngu thôi) mang nghĩa phủ định mạnh mẽ
+ Câu 8, nghĩa của nó: Muôn lớp sóng bạc cùng một lúc bay lên.Bản dịch: “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” Chữ “tiễn” trang trọng nhưng không mạnh mẽ, phù hợp với tư tưởng hành động của người viết Đó là tư thế mạnh mẽ hăm hở khi sát ý nguyên tác, đã chuyển một khát vọng, một dự cảm, một liên tưởng thành tường thuật miêu tả
c Chủ đề.
- Xác định chủ đề của bài thơ
- Bài thơ thể hiện ý tưởng lớn lao, mới mẻ đầy trách nhiệm của Phan Bội Châu Đồng thời miêu tả tư thế quyết tâm, niềm hăm hở của ông trong buổi đầu xuất dương cứu nước
- Phan Bội Châu thể hiện ý
tưởng như thế nào của chí làm
trai
- Cũng như nhiều bạc tiền nhân khác như Nguyễn Trãi, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu thể hiện ý tưởng của kẻ làm trai:
Làm trai phải lạ ở trên đời
Nghĩa là sinh ra làm thân nam nhi phải làm được những việc lớn lao, trọng đại cho đời Vì thế câu thơ thứ hai:
Há để càn khôn tự chuyển dời
Câu thơ như một lời nhắc nhở: làm trai phải xoay trời, chuyển đất, phải chủ động, không nên trông chờ Nó còn là lời phản vấn: lẽ nào cuộc sống muốn đến đâu thì đến, mình là kẻ đứng ngoài, vô can
Trang 4Trong khoảng trăm năm cần có tớ
- Em có suy nghĩa gì về câu thơ
tiếp theo?
Trong khoảng trăm năm của đời người, ta phải làm được việc gì có ích cho đời, thấy việc không thể không làm, không ỷ lại cho ai Phan Bội Châu khẳng định dành trọn cuộc đời của mình cho sự nghiệp cứu nước
- Ông đã tự nhận gánh vác việc giang sơn trên đôi vai của mình một cách dũng cảm xung phong đi trước mở đường, làm tấm gương sáng cho nhiều người nhất là thế hệ trẻ noi theo
- Bài thơ viết ra bằng cả tâm huyết, nó phá vỡ quy luật của chủ nghĩa phi ngã trong văn chương mấy thế kỉ trước Nó mở đường cho cái gì mới hơn của nghệ thuật tuyên truyền Nghệ thuật tuyên truyền chỉ đạt được hiệu quả khi nó xuất phát từ niềm tin chân thật
- Em hiểu câu thơ “Sau này
muôn thuở, há không ai” như
thế nào?
- Trước hết phải thừa nhận: Phan Bội Châu không khẳng định mình
và phủ định mai sau Nghĩa là không vỗ ngực tuyên bố rằng hiện nay vai trò cá nhân của mình vô cùng quan trọng và sau này cũng không thể có ai được như mình Điều Phan Tiên sinh muốn nói là: Lịch sử
là một dòng chảy liên tục, có sự góp mặt và tham gia gánh vác công việc của nhiều thế hệ Phải có niềm tin như thế nào với mai sau mới
có câu thơ ấy
Ý thức trách nhiệm còn thể hiện
ở thái độ trước tình cảnh đất
nước trong hiện tại Điều ấy
được thể hiện như thế nào?
(HS đọc 2 câu)
“Non sông… cũng hoài”
- Ông không nghi ngờ như Nguyễn Khuyến trước đây:
“Sách vở ích gì cho buổi ấy/ Áo xiêm luống những thẹn than già” Ông đã thấy được bản chất của việc “sôi kinh nấu sử” của các nhà nho xưa Việc học hành thi cử của nền hoạc vấn cũ không còn phù hợp với tình hình đất nước hiện tại “non sông đã chết”
Cần phải nói thêm: Phan Bội Châu không phải là người phủ nhận Nho giáo Ông hiểu được vai trò vô cùng to lớn của đạo Nho trong việc đào luyện nhân cách con người phù hợp với tổ chức, quản lí của
xã hội phong kiến trong suất mấy ngàn năm lịch sử Vấn đề ông đặt
ra trong bài thơ là thái độ của mỗi người đối với đất nước Điều mà ông kêu gọi chính là sự thức thời, là tinh thần hành động vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Tình thế đất nước lúc này đã khác nhiều đối với trước Hơn nữa, cá tính mạnh mẽ của con người ưu hành đọng, tràn đầy nhiệt huyết ông đã đưa vào thơ của mình những từ
Trang 5phủ định gây ấn tượng:
+ Tử hĩ (chết rồi) + Đồ nhuế (nhơ nhuốc) + si (ngu)
Các từ nhục, hoài trong bản dịch chưa thể hiện hết ý các từ “đồ
nhuế”, “si” trong nguyên tác
2 Tư thế mạnh mẽ, hăm hở
của Phan Bội Châu trong
buổi đầu xuất dương cứu
nước
(HS đọc 2 câu cuối trong bài
thơ)
Khát vọng hành động và tư thế
của nhân vật trữ tình được thể
hiện như thế nào?
- Khát vọng hành động và tư thế của nhân vật trữ tình được thể hiện qua các hình ảnh đầy mạnh mẽ:
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ
Con người như muốn lao ngay vào môi trường hoạt động mới mẻ, sôi động, bay lên cùng với cơn gió lớn làm quẫy sóng đại dương Và mạnh mẽ hơn:
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi
Cùng một lúc bay lên với muôn con sóng bạc Những từ chỉ về đại lượng không gian: “Trường phong Đông hải”, “Thiên trùng bạch lãng” vừa kì vĩ, rộng lớn như gây ấn tượng sâu sắc về con người của
vũ trụ Con người của thơ xưa về cơ bản chưa phải là con người của
cá nhân, cá thể mà là con người của vũ trụ Tuy nhiên những hình ảnh mang tính vũ trụ ấy có tác động tô đậm phẩm chất của nhân vật trữ tình Đó là khát vọng và hành động, là tư thế hăm hở lên đường cứu nước
- Yếu tố nào của bài thơ đã tạo
nên sức lôi cuốn mạnh mẽ
- Cách sử dụng tục ngữ đã làm nên sức lôi cuốn và hấp dẫn
+ Những từ ngữ chỉ về đại lượng không gian, thời gian mang tính vũ
trụ lớn lao kì vĩ (Càn khôn, non sông, khoảng trăm năm) đã làm nên
đặc trưng thơ tỏ chí thời trung đại và cũng là đặc trưng trong bút pháp của Phan Bội Châu
+ Những từ đầy cảm hứng phủ định: tử hĩ (đã chết), đồ nhuế (nhơ nhuốc), si (ngu), đã tác động đến độc giả một cách sâu sắc.
- Giọng thơ tràn đầy tâm huyết có sức lay động mạnh mẽ
+ Mở ra có tính chất mạnh mẽ và chủ động ở hai câu đầu
+ Tự tin, đầy trách nhiệm của bản thân và lắng xuống có phần xót xa trước thực trạng của đất nước
+ Trào lên mạnh mẽ, hăm hở ở hai câu cuối bài Giọng điệu của bài thơ đã góp phần làm nổi bật nhân vật trữ tình Đó là con người tự tin, dám đối thoại cùng trời đất lịch sử, ý thức rõ về cái vinh cái nhục ở đời, có khát vọng lớn lao, có hành động mạnh mẽ, hăm hở trên hành trình cứu nước
III Củng cố
IV Luyện tập
- Viết một đoạn văn bình giảng
hình ảnh nghệ thuật ở hai câu
thơ cuối bài
Phần Ghi nhớ SGK
- Bài thơ có tám câu Hai câu đầu là tỏ chí Câu 3, 4 là ý thức trách nhiệm của cái tôi với sự nghiệp cứu nước và đặt niềm tin vào lịch sử mai sau Câu 5, 6 là ý thức về thực trạng của nền học vấn, thi cử lúc bấy giờ, từ đó thấy được cái vinh, cái nhục Hai câu kết bài:
Nguyên trục trường phong Đông hải khứ Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi
(Muốn vượt bể Đông theo cánh gióMuôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi)
- Nhà thơ như múa bút trong một tâm thế tràn đầy nhiệt huyết
- Nét thứ nhất vẽ ra đại lượng không gian Đó là cơn gió lớn, gió thổi dài, thổi mãi (trường phong) Đó là biển Đông mênh mông sóng
Trang 6cuộn Con người như muốn hoà vào cơn gió lớn vượt qua biển cả Khát vọng thật lớn lao Nét thứ hai cũng là đại lượng về không gian
Đó là “thiên trùng bạch lãng” (muôn trùng sóng bạc) kết hợp với một dự cảm, một hiện tượng bất chợt “nhất tề phi” (cùng một lúc bay lên) Cong người như bay lên cùng gió, làm quẫy muôn lớp sóng đại dương Câu thơ viết ra từ trái tim tràn đầy nhiệt huyết của một phong độ hào hùng, niềm hăm hở dấn thân và một trí tưởng tượng bay bổng của người chí sĩ trên hành trình cứu nước
NGHĨA CỦA CÂU
A MỤC TIÊU BÀI HỌC
- Nhận thức được hai thành phần nghĩa của câu
- Có kĩ năng phân tích, lĩnh hội nghĩa của câu và kĩ năng đặt câu có các thành phần nghĩa một cách phù hợp nhất
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
SGK + SGV + Bài soạn
C CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
Đọc sáng tạo, gợi ý trả lời câu hỏi, thảo luận
D TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Kiểm tra bài cũ
2 Giới thiệu bài mới
- Câu b và b’ sự việc là: tôi nói, người ta bằng lòng
- Câu nào biểu lộ sự thông báo
nhưng chưa tin tưởng chắc
chắn?
- Câu nào biểu thị sự phỏng
đoán có độ tin cậy cao đối với
Câu a và b Bởi câu a có hai từ hình như, câu b có từ chắc
“Hình như” và “chắc” chưa khẳng định sự việc rõ ràng
Câu a và b’ Bởi câu a’ bỏ từ hình như còn mang tính
phỏng đoán và câu b’ bỏ từ chắc mang tính lưỡng lự.
Câu a và câu b Vì nó là suy nghĩ bình thường không mang tính khẳng định Ở đời, sự việc có thể diễn ra thế này, hoặc thế khác, không ai có thể biết trước được
- Chúng ta rút ra kết luận:
+ Một câu thường có hai thành phần nghĩa
* Một là đề cập đến một hoặc nhiều sự việc
* Hai là bày tỏ thái độ, sự đánh giá của người nói đối với
sự việc
Thành phần nghĩa thứ nhất gọi là nghĩa sự việc, thành phần nghĩa thứ hai gọi là nghĩa tình thái
- Hai thành phần nghĩa sự việc
và nghĩa tình thái được thể hiện
như thế nào? Lấy ví dụ và phân
(Hai đứa trẻ - Thạch Lam)
Câu thứ nhất: “Chiều, chiều rồi” nghĩa sự việc là miêu tả thời gian, không gian của buổi chiều tàn Câu thứ hai,
Trang 7nghĩa sự việc là tiếng ếch nhái vọng vào Cả hai câu đều
có nghĩa tình thái Đó là tâm hồn tinh thế trong cảm nhận của Thạch Lam
- Về nghĩa sự việc và nghĩa tình
thái có chú ý gì?
Chú ý 1: Câu không có từ ngữ riêng thể hiện nghĩa tình thái thì nghĩa tình thái vẫn tồn tại trong câu Đó là tính khách quan, trung hoà:
Ví dụ: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”
Nghĩa sự việc: Không ngủ vì lo vận nước
Nghĩa tình thái: Ý thức trách nhiệm cao cả
Chú ý 2: Có trường hợp câu chỉ có nghĩa tình thái Đó là trường hợp câu chỉ có cấu tạo bằng từ ngữ cảm thán (Ví dụ: SGK)
2 Nghĩa sự việc
(HS đọc SGK)
- Thế nào là nghĩa sự việc? Hãy
nêu ra một số câu có nghĩa sự
+ Biểu hiện tư thế (ví dụ SGK)+ Biểu hiện sự tồn tại (ví dụ SGK)+ Biểu hiện quan hệ (ví dụ SGK)
- Em có nhận xét gì về nghĩa sự
việc của câu?
- Nghĩa sự việc ở hành động, đặc điểm, trạng thái, tính chất, quá trình, tư thế, tồn tại quan hệ đều do chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ quyết định
Ví dụ: Lom khom dưới nùi tiều vài chú
“Lom khom” đã quyết định tư thế của “tiều vài chú”, tại địa điểm dưới núi
Nghĩa sự việc của câu là: Máy chú tiều lom khom dưới nùi
- Một câu có thể biểu hiện nhiều sự việc
Ví dụ: Trời ngủ, mây ngủ, nước ngủ, dòng sông và cánh đồng cũng ngủ
II Củng cố
III Luyện tập
Câu 1 - SGK
Phần Ghi nhớ: SGK
Nghĩa sự việc của từng câu thơ trong bài Câu cá mùa thu
của Nguyễn Khuyến
Câu 1 trạng thái, đặc điểm, tính chất của ao Ao thu lạnh và trong
Câu 2 Biểu hiện tư thế Thuyền câu bé nhỏ
Câu 3 Quá trình Theo làn gió nhẹ sóng nước chỉ hơi gợn
Câu 4 Quá trình Chiếc lá vàng bay theo gió nhẹ.Câu 5 Trạng thái Mây lơ lửng, trời xanh ngắt
Câu 6 Trạng thái Đường với trúc mọc hai bên quanh
co Xóm vắng
Câu 7 Tư thế Tựa gối, ôm cần
Câu 8 Tư thế Cá đớp dưới chân bèo
Trang 8a Tồn tại Một ông rể quý
không nhận ra con gái mình
có hư hay là không
Phân vân
Câu 3 - SGK Một kẻ biết kình mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết
trọng người có tài/ hẳn/ không phải là kẻ xấu hay là vô
tình
(Chọn từ “hẳn” lấp vào chỗ trống)
VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 5 Nghị luận văn học Chọn một trong ba đề sau:
Đề 1: Người xưa có câu “Đàn bà chớ kể Thuý Vân, Thuý Kiều” Anh (chị) hãy nói rõ ý kiến
của mình về quan niệm trên
Đề 2: Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên
của Nam Cao
Đề 3: Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục trong Chữ người tử
tù của Nguyễn Tuân.
HẦU TRỜI
Tản Đà
A MỤC TIÊU BÀI HỌC
- Cảm nhận được tâm hồn lãng mạn độc đáo của thi sĩ Tản Đà và những dấu hiệu đổi mới cả
về nội dung và nghệ thuật theo hướng hiện đại của thơ ca Việt Nam vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX
- Có kĩ năng bình giảng những câu thơ hay mang dấu ấn riêng của thi sĩ Tản Đà
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
Để thấy được, chúng ta đọc hiểu thơ bài thơ Hầu Trời của Tản Đà.
I Đọc – Tìm hiểu
1 Tiểu dẫn
(HS đọc SGK)
- Em cho biết phần tiểu dẫn
trình bày những nội dung gì?
Hãy tóm tắt những ý cơ bản
- SGK (phần tiểu dẫn) trình bày những nội dung sau:
- Vài nét về tiểu sử nhà thơ Tản Đà+ Sinh năm 1889 và mất 1939, hưởng thọ 50tuổi
+ Tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu Quê hương ông làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay là Ba Vì, tỉnh Hà Tây) Quê ông nằm ở bờ sông Đà, chân núi Tản Viên Vì vậy ông lấy bút danh là Tản Đà
+ Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng Ông từng theo con đường cử nghiệp Nhưng hai lần thi Hương đều không đỗ Ông chuyển sang làm báo, viết văn Ông là người đầu
Trang 9tiên ở nước ta sống bằng nghề viết văn xuất bản.
+ Ông có ý tưởng cải cách xã hội theo con đường hợp pháp, dùng báo chí làm phương tiện
+ Ông sống phóng túng, đã từng đeo túi thơ đi khắp ba kì Bắc, Trung, Nam và nếm đủ mùi cay đắng, vinh hạnh Tuy nhiên, Tản
Đà vẫn giữ được cốt cách nhà nho và phẩm chất trong sạch
- Sự nghiệp văn chương
- Đặc điểm văn chương Tản Đà.
+ Ông đã đi tiên phong trên nhiều lĩnh vực vưn hoá Vào những năm 20 của thế kỉ XX, tên của Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng trên thi đàn Ông có thành tựu trên nhiều lĩnh vực Nhưng thực sự nổi bật về thơ
+ Cái tôi lãng mạn bay bổng trong thơ đã làm nên điệu tâm hồn mới mẻ Nó vừa hài hoà, phóng khoáng, ngông nghênh vừa cảm thương, ưu ái Thơ ông là gạch nối của hai thời đại thi ca Ông là người “dạo bản đàn mở đầu cho một cuộc nhạc tân kì đương sắp sửa” (Hoài Thanh), “ngườibáo tin xuân” cho phong trào Thơ mới (1932 - 1945)
- Hầu Trời in trong tập Còn chơi (1921)
GV sửa đọc và giải nghĩa phần chú thích
+ Đoạn một: Từ câu 1 đến câu 20 “Trời đã sai gọi thời phải lên”
Ý đoạn một: Kể lí do cùng thời điểm được lên đọc thơ “Hầu Trời”.
+ Đoạn hai: Tiếp đó đến câu 68 “Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”
Ý đoạn hai: Kể về cuộc đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe giữa chốn “Thiên môn đế khuyết”
+ Đoạn ba: Tiếp đó đến câu 98 “Lòng thông chớ ngại cho sương tuyết”
Lời tâm tình với Trời về tình cảnh khốn khó của nghề viết văn và thực hành “thiên lương” ở hạ giới
+ Đoạn bốn: Còn lại: Phút chia li đầy xúc động giữa nhà thơ với Trời và chư tiên
- Em có nhận xét gì về bố
cục bài thơ?
- Bài thơ có bố cục rất mạch lạc, rõ ràng Mạch chính là kể chuyện theo trình tự thời gian, giúp người đọc dễ theo dõi Xen vào kể chuyện là những chi tiết được hư cấu, tưởng tượng kích thích người đọc, người nghe
- Âm điệu của bài thơ cũng có sự chuyển biến linh hoạt Âm điệu gắn liền với mạch truyện: vui, hào hứng, sôi nổi ở đoạn một và hai
Đoạn ba: Nhân vật trữ tình thể hiện sự xa xót có xen vào chút an
Trang 10ủi vỗ về của Trời Đoạn còn lại, âm điệu thơ có vẻ ngâm ngùi.
b Chủ đề
- Xác định chủ đề của bài thơ
- Miêu tả lí do và thời điểm lên đọc thơ Hầu Trời để bộc lộ cái tôi thật tài hoa, phóng túng và khao khát được khẳng định giữa cuộc đời Đồng thời tình cảnh khốn khó của nghề viết văn, thực hành
“thiên lương” ở hạ giới và phút lưu luyến tiễn biệt khi trở về
II Đọc - hiểu
1 Lí do và thời điểm lên
đọc thơ “Hầu Trời”
(HS và SGK)
- Tác giả đã kể lí do và thời
điểm lên hầu Trời như thế
nào?
- Đó là đêm trăng sáng, vào lúc canh ba (rất khuya)
+ Nhà thơ không ngủ, thức bên ngọn đèn xanh, vắt chân chữ ngũ.+ Tâm trạng buồn
+ Ngồi dậy đun nước uống và ngâm văn
+ Ngắm trăng trên sân nhà
+ Chợt hai cô tiên xuất hiện cùng cười, nói: Trời đang nắng vì người đọc thơ mất giấc ngủ của Trời và mời lên đọc thơ cho Trời nghe
+ Trời đã sai gọi, buộc phải lên
- Em có suy nghĩ gì về cách
kể chuyện?
- Đó là đêm trăng sáng, vàolúc canh ba (rất khuya)+ Nhà thơ không ngủ, thức bên ngọn đèn xanh, vắt chân chữ ngũ.+ Tâm trạng buồn
+ Ngồi dậy đun nước uống và ngâm văn
+ Ngắm trăng trên sàn nhà
+ Chợt hai cô tiên xuất hiện cùng cười, nói: Trời đang mắng vì người đọc thơ mất giấc ngủ của Trời và mời lên đọc thơ cho Trời nghe
+ Trời đã sai gọi, buộc phải lên
- Em có suy nghĩ gì về cách
kể chuyện?
- Trước hết là cách kể chuyện làm người đọc, người nghe chú ý:
Đêm qua chẳng biết có hay không Chẳng phải hoảng hốt, khôngmơ màng Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên - sướng lạ lùng
Đây là cách vào đề rất tự nhiên Nhân vật trữ tình vừa như giãi bày lại vừa như khẳng định, đâylà chuyện có thật Một sự thoả thuận cần thiết đối với người nghe Đọc đến đây, người ta không thể bỏ qua những chi tiết sau đó Đó là những chi tiết:
+ Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà
Âm vang của giọng đọc vừa có âm vực (cao) vừa có trường độ (dài) đến nỗi vọng lên cả sông Ngân Hà trên trời
+ Ước mãi bây giờ mới gặp tiên Người tiên nghe tiếng lại như quen
Câu thứ nhất không có gì mới Câu thứ hai là một cách nói, cách
kể rất tế nhị Quen với cả tiên Nhân vật trữ tình cũng là vị “trích tiên” (tiên bị đầy xuống hạ giới) Việc lên đọc thơ hầu Trời là việc bất đắc dĩ
Trời đã sai gọi thời phải lên
Có cái gì ngông nghênh kiêu bạc, tự nâng mình lên trên thiên hạ Trời cũng nể phải sai gọi lên Cái tài ấy, ý thức cái tôi ấy được thể hiện như thế nào, đọc - hiểu đoạn hai của bài thơ
2 Một cái tôi tài hoa,
Trang 11(HS đọc đoạn hai từ câu 21
đến câu 68 - SGK)
- Tác giả đã kể lại chuyện
mình đọc thơ cho Trời và các
chư tiên nghe như thế nào?
(Qua miêu tả về không gian
- Em có suy nghĩ gì về cách
kể và miêu tả của văn sĩ hạ
giới đọc thơ ở nhà Trời?
- Thái độ của văn sĩ hạ giới và người nghe thơ Người nghe không
bỏ qua những chi tiết kể về thái độ của người đọc thơ (văn sĩ hạ giới):
+ “Vào trông thấy trời, sụp xuống lạy”, Đúng là vào nơi “Thiên
môn đế khuyết”
+ Được mời ngồi: “Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy”
Khi đọc thơ vừa say sưa có cái gì hài hước
+ “Đắc ý đọc đã thích” cảm hứng tạo được, đọc càng hay + “Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi” hài hước.
+ “Văn dài hơi tốt ran cung mây” câu diễn đạt được nhiều ý
Văn đã dài, hơi lại càng tốt thành thử làm vang lên cả cung mây.Người nghe lúc ấy là Trời, là chư tiên
+ “Trời nghe, Trờicũng lấy làm hay” Trời khen.
+ “Trời nghe, Trời cũng bật buồn cười!” Tán thưởng
+ “Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt!”
“Văn trần được thế chắc có ít” khẳng định cái tài
Các chư tiên:
+ " Tâ m như nơở dạ , Cơ lè lưỡi Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi màySong Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứngĐọc xong mỗi bài cùng vỗ tay”
Chú ý các hình ảnh: nở dạ như thấy mở mang nhận thức được nhiều cái hay; “lè lưỡi” văn hay làm cho người nghe đến bất ngờ; “chau đôi mày” văn hay buộc người nghe phải suy nghĩ tưởng tượng; lắng tai đứng” đứng ngây ra để nghe Đến đây, tác giả hạ hai câu:
+ “Chư tiên ao ước tranh nhau dặnAnh gánh lên đây bán chợ trời”
- Tản Đà rất khác trong việc dựng cảnh Bối cảnh rực rỡ, oai nghiêm ở chốn thiên đình, chọn không gian phù hợp với hoạt động của nhân vật Đấy là cảnh nhà Trời
- Những phản ứng về mặt tâm lí của các nhân vật được đan xen vào nhau một cách linh hoạt làm cho buổi nghe thơ trở nên sôi nổi, hào hứng Người đọc thơ hay mà tâm thế người nghe cũng cảm thấy hay Trong phút đồng tâm cũng thấy đắc ý, sướng lạ lùng
- Qua việc đọc thơ, ta cảm
Trang 12ai kiểm chứng được lời Trời đâu? Đúng là lối khẳng định rất ngông của một văn sĩ hạ giới, một vị “trích tiên”.
- Quan niệm của Tản Đà về
nghề văn được thể hiện như
thế nào?
Tản Đà không phát biểu trực tiếp bằng câu chữ, chúng ta vẫn nhận
ra quan niệm của Tản Đà về nghề văn
Văn chương lúc này là một nghề - một nghề kiếm sống
“Nhờ Trời văn con còn bán đượcAnh gánh lên đây bán chợ TrờiVốn liếng còn một bụng văn đóGiấy người, mực người thuê người in
………
Kiếm được đồng lãi thực rất khó”
Có kẻ bán, người mua, có vốn liếng, có chuyện thuế… Bao nhiêu
là chuyện hành nghề văn chương
quả là trong quan niệm của Tản Đà đã có nhiều cái mới song ta còn nhận ra người viết văn phải có nhận thức phong phú, viết được nhiều thể loại: thơ, truyện, văn triết lí… Đây là thể hiện khát vọng, ý thức cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật
Qua chuyện đọc thơ Hầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”
So với một số danh sĩ khác, chúng ta cũng bắt gặp cách xưng hô:Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
Song ở Tản Đà cách xưng hô có những chi tiết khác
+ Tách tên, họ+ Nói rõ bản quán, châu lục, tên hành tinh
Tản Đà muốn Trời hiểu rằng Nguyễn Khắc Hiếu là con người của Châu Á, của xứ sở có nền văn mình tinh thần thật cao quý đáng
tự hào Ông muốn Trời hiểu, Nguyễn Khắc Hiếu là đứa con đích thức của “Sông Đà, núi Tản, nước Nam Việt”
Em nhắc lại ý thức cá nhân
của tác giả thể hiện như thế
nào trong bài thơ?
Hư cấu câu chuyện “”hầu Trời” giãi bày cảm xúc phóng khoáng của con người cá nhân
Nhà thơ nói được nhiều tài năng của mìnhThể hiện quan niệm về nghề văn
Cảm hứng của đoạn thơ là
cảm hứng lãng mạn Bài thơ
Đó là nhà thơ kể về cuộc sống của chính mình:
“Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó
Trang 13có đoạn rất hiện thực Đó là
đoạn nào? Hai nguồn cảm
hứng ấy có liên hệ với nhau
bài thơ (có gì mới và hay: thể
loại, ngôn từ, cách biểu hiện
cảm xúc…)
Bài thơ mới và hay vì lối kể hết sức dân dã, giọng kể khôi hài.Người kể và người nghe rất mực thân tình Tất cả tìm thấy ở sự hào hùng của người kể và người nghe Đã có nhiều câu chuyện kể người trần gặp tiên Song ở “”hầu Trời” vẫn có gì mời hơn lạ hơn
Vì vậy ngay từ đầu đã lôi cuốn được người nghe
Nhân vật trữ tình và nhà Trời cũng có mối quan hệ suồng sã, thân mật Chư tiên gọi nhà thơ bằng “anh”: “Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”
Các đấng siêu nhiên không thuộc cõi người mà có những cử chỉ thật ngô nghĩnh, không có một chút gì đạo mạo, họ biểu hiện cảm xúc theo cung cách của đời thường: lè lưỡi, chau mày, lắng tai nghe, vỗ tay, bật buồn cười …
Tất cả đã làm cho lối kể chuyện hấp dẫn lôi cuốn
- Bài thơ hay còn ở cách dùng từ+ Từ dùng nôm na nhiều khi như văn nói: “Văn dài hơi tốt ran cung mây”, “Văn đã giàu thay, lại lắm lối”, “Trời nghe Trời cũng bật buồn cười”, …Cách dùng từ làm cho bài thơ có cái hay, cái đẹp của dân dã Nó phù hợp với sự hư cấu của nhà thơ
- Nhân vật trữ tình bộc lộ ý thức cá nhân tạo nên cái ngông riêng của Tản Đà
+ Tự cho mình văn hay đến mức Trời cũng phải tán thưởng
+ Tản Đà ý thức rằng không thấy có ai đáng là kẻ tri âm với mình ngoài Trời và chư tiên Những áng văn ấy chỉ có Trời mới hiểu và Trời phê bình một cách xác đáng
+ Tản Đà tự xem mình là một “trích tiên” bị đày xuống hạ giới vì tội ngông
+ Nhận mình là người nhà Trời sai xuống hạ giới thực hành “thiên lương” Theo Tản Đà, con người phải có: lương tri, lương năng, lương tâm
Cái ngông của Tản Đà là thể hiện ý thức cao về tài năng của bản thân, nhất là tài ngăng về văn chương Chính cái ngông này góp phần tạo nên cái mới, cái hay của bài thơ
Bài thơ mới và hay vì lối kể hết sức dân dã, giọng kể khôi hài.Người kể và người nghe rất mực thân tình Tất cả tìm thấy ở sự hào hùng của người kể và người nghe Đã có nhiều câu chuyện kể người trần gặp tiên Song ở “”hầu Trời” vẫn có gì mời hơn lạ hơn
Vì vậy ngay từ đầu đã lôi cuốn được người nghe
Nhân vật trữ tình và nhà Trời cũng có mối quan hệ suồng sã, thân mật Chư tiên gọi nhà thơ bằng “anh”: “Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”
Các đấng siêu nhiên không thuộc cõi người mà có những cử chỉ thật ngô nghĩnh, không có một chút gì đạo mạo, họ biểu hiện cảm xúc theo cung cách của đời thường: lè lưỡi, chau mày, lắng tai
Trang 14nghe, vỗ tay, bật buồn cười …Tất cả đã làm cho lối kể chuyện hấp dẫn lôi cuốn.
- Bài thơ hay còn ở cách dùng từ+ Từ dùng nôm na nhiều khi như văn nói: “Văn dài hơi tốt ran cung mây”, “Văn đã giàu thay, lại lắm lối”, “Trời nghe Trời cũng bật buồn cười”, …Cách dùng từ làm cho bài thơ có cái hay, cái đẹp của dân dã Nó phù hợp với sự hư cấu của nhà thơ
- Nhân vật trữ tình bộc lộ ý thức cá nhân tạo nên cái ngông riêng của Tản Đà
+ Tự cho mình văn hay đến mức Trời cũng phải tán thưởng
+ Tản Đà ý thức rằng không thấy có ai đáng là kẻ tri âm với mình ngoài Trời và chư tiên Những áng văn ấy chỉ có Trời mới hiểu và Trời phê bình một cách xác đáng
+ Tản Đà tự xem mình là một “trích tiên” bị đày xuống hạ giới vì tội ngông
+ Nhận mình là người nhà Trời sai xuống hạ giới thực hành “thiên lương” Theo Tản Đà, con người phải có: lương tri, lương năng, lương tâm
Cái ngông của Tản Đà là thể hiện ý thức cao về tài năng của bản thân, nhất là tài ngăng về văn chương Chính cái ngông này góp phần tạo nên cái mới, cái hay của bài thơ
Đoạn thơ nào trong bài “Hầu
Trời” đem đến cho người đọc
nhiều cảm xúc? Tôi thích đọc
đoạn thơ này:
“Ước mãi bây giờ mới gặp
tiên
………
Trời đã sai gọi thì phải lên”
“Ngông” là một biểu hiện của ý thức cá nhân Người biết “ngông”
là đẩy mình lên trên thiên hạ, là khẳng định tài năng của mình.Cái ngông trong văn chương là xem văn chương của mình là độc nhất, vô nhị, không ai có thể sánh ngang bằng Nguyễn Công Trứ xem mình là con người “tài bộ”, sánh nganh cùng Trái Nhạc, Hàn
Kì, Nữ sĩ Hồ Xuân Hương gọi đám sĩ tử là “lũ ngẩn ngơ” và “Lại đây cho chị dạy làm thơ” Nguyễn Trãi kín đáo hơn, tế nhị và sâu sắc hơn
“Hàng Chim ngủ khi thuyền đỗ
………
Thế gian hay một khách văn chương”
Nhà thơ là người phát hiện ra cái đẹp mà người thường khó nhận
ra Chỉ có nhà thơ mới mua được cảnh ấy và thú ấy cho mọi người
Thi sĩ Tản Đà cũng thể hiện cái ngông trong Văn chương
+ Tự cho mình văn hay đến mức Trời cũng phải phê “Văn thật tuyệt” còn các chư tiên thì:
“Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
…Đọc xong một bài cùng vỗ tay”
Rõ ràng Tản Đà ý thức rằng không có ai đáng là kẻ tri âm với mình ngoài Trời và chư tiên
+ Tản Đà xem mình là một “trích tiên” bị đày xuống hạ giới vì tội ngông
+ Nhận mình là người nhà Trời sai xuống hạ giới thực hành “thiên lương”
- Cái ngông ấy của Tản Đà là xuất phát từ ý thức cao độ của cá nhân trước thời đại lúc bấy giờ
Trang 15Nào ai đã nhìn thấy tiên bao
giờ? Trong tưởng tượng của
chúng ta, tiên đẹp lắm Đẹp
như tiên giáng trần… Đấy là
những nàng tiên xinh đẹp lạ
lùng, có cánh bay trên trời
Cũng có thể là ông lão đầu
râu tóc bạc, chống gậy trúc
hình đầu rồng đứng trên lưng
chừng trời Tiên thường làm
nhiều việc phụ trợ cho người
trần tục Cũng có trường hợp
tiên kết duyên với người
thường như truyện: Duyên
tiên, Người lấy vợ Cóc, Từ
Thức lấy tiên.
Tản Đà cũng như chúng ta
“Ước mãi bây giờ mới gặp
tiên” Nhà thơ có cái may
hơn chúng ta là đã gặp tiên
Nhưng vượt lên trên sự ao
ước, cái may mắn là ý thức
chuyện tự nhiên mà đầy ngạo
mạn như thế xem ra chỉ thấy
do cá nhân mới mẻ mà thời đại đưa tới
Đây là ba trong rất nhiều nguyên nhân tạo nên cái ngông trong văn chương của Tản Đà
NGHĨA CỦA CÂU
độ của người nói đối với sự việc
được đề cập đến trong câu.
- Người nói thường thể hiện nghĩa
tình thái như thế nào?
- Nghĩa tình thái là một lĩnh vực phức tạp gồm nhiều khía cạnh khác nhau Bởi khi đề cập tới sự việc nào đó người nói không thể không bộc lộ thái độ, sự đánh giá của mình đối với sự việc đó
+ Thể hiện sự tin tưởng chắc chắn+ Sự hoài nghi
+ Sự phỏng đoán+ Sự đánh giá cao hay thấp, tốt hay xấu+ Nhấn mạnh hoặc coi nhẹ
Thái độ, sự đánh giá của người nói đối với sự việc thường bộc lộ qua trạng thái trên đây
- Hãy phân tích những ví dụ SGK
nêu ra
- SGK nêu 11 ví dụCác từ: sự thật là, giả và thật khẳng định tính chân thật.Các từ: chắc, hình như phỏng đoán sự việc với độ tin cậy
Trang 16cao, thấp.
Các từ: có đến, là cùng đánh giá về mức độ hay số lượng.Các từ: giả thử, toan đánh giá sự việc có thực hay không thực đã xảy ra hay chưa xảy ra
Các từ: phải, không thể, nhất định khẳng định tính tất yếu, sự cần thiết hay khả năng của sự việc
- Từ sự phân tích rút ra kết luận
gì?
- Nghĩa tình thái thể hiện thái độ sự đánh giá của người nói đối với sự việc
b Nghĩa tình thái biểu hiện ở tình
cảm, thái độ của người nói với
người nghe.
(HS đọc SGK)
- Tình cảm thái độ của người nói
thể hiện trên lĩnh vực nào? Từ ngữ
- Tình cảm thân mật gần gũi(Ví dụ SGK)
- Thái độ bực tức, hách dịch(Ví dụ SGK)
- Thái độ kính cẩn(Ví dụ SGK)Tâm trạng và thái độ của người nói bộc lộ quan từ cảm thán
b Tấm ảnh chụp hai mẹ con kia rõ ràng là mợ Du và thằng Dũng
* Nghĩa sự việc: Tấm ảnh hai mẹ con
* Nghĩa tình thái: Khẳng định một cách chắc chắn, rõ ràng
c Thật là một cái gông xứng đáng với tội án sáu người tử tù.
- Nghĩa sự việc: Cái thang gông nặng
- Nghĩa tình thái: Khẳng định rõ ràng về tội nặng của sáu người tử tù
d – Nghĩa sự việc: Hành động doạ nạt, cướp giật, liều lĩnh
Câu 3 – SGK
Chọn từ ngữ tình thái ở cột B điền
vào chỗ trống của câu ở cột A đề
tạo nên câu có nghĩa tình thái phù
hợp với nghĩa sự việc
a- Chí Phèo/hình như/… ốm đaub- Hôm nay trong ông Giáo cũng có tổ tôm/ dễ/ họ không phải đi gọi đâu
c- Bóng bác mênh mông ngả xuống một vùng và kéo dài đến/ tận/ hàng rào hai bên ngõ
Những từ đặt trong/ / là từ lựa chọn
Câu 4- SGK - Anh ấy/chưa biết chừng/ cũng ra bây giờ
- Chỉ thấy có nó/ là cùng/ đi với bác Năm
- /Ít ra/ thì em cũng đến gặp tôi một lần chứ
- Tôi/ nghe nói/ ông ấy đã về hưu
- Ông ấy/ chả lẽ/ là người tham nhũng
Trang 17-/ Hoá ra/ mèo vẫn là mèo.
- / Sự thật là/ chúng ta đã giành thắng lợi bằng tài năng của chính mình
- Sao bảo mai anh mới đến/ cơ mà/
- Các đồng chí chú ý/ đặc biệt là/ khâu hướng dẫn thí sinh tô
- Cảm nhận được niềm khao khát sống mãnh liệt, sống hết mình và quan niệm về thời gian,
về tuổi trẻ và hạnh phúc của Xuân Diệu
- Thấy được sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc mãnh liệt, dồi dào và mạch luận lí sâu sắc, những sáng tạo độc đáo về nghệ thuật của nhà thơ
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
SGK + SGV + Bài soạn
C CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
Đọc sáng tạo, gợi ý trả lời câu hỏi, thảo luận
D TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Kiểm tra bài cũ
2 Giới thiệu bài mới
Được mệnh danh là “mới nhất trong các nhà thơ mới” thơ Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất cho ý thức cá nhân của cái tôi thơ mới, đồng thời mang đạm bản sắc riêng Cái tôi lúc nào cũng thèm yêu khát sống với triết lí:
Làm sao sống được mà không yêu
Không nhớ không thương một kẻ nào.
Với chủ trương:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
Lúc nào, cái tôi ấy cũng khát khao tận hưởng ngay trên thiên đường trần thế Nó thể hiện bằng giọng điệu sôi nổi, bồng bột, vồ vập cuống quýt cả khi vui lẫn khi buồn Để thấy rõ, chúng ta
tìm hiểu bài Vội vàng của Xuân Diệu.
I Đọc – tìm hiểu
1 Tiểu dẫn
(HS đọc SGK)
- Tiểu dẫn trình bày nội dung gì?
Hãy tóm tắt nội dung ấy
- Chủ yếu giới thiẹu về cuộc đời của Xuân Diệu (1916 - 1985)
* Nguồn gốc: tên khai sin là Ngô Xuân Diệu Xuân Diệu sinh ra
và lớn lên ở quê ngoại Vạn Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định Quê cha: Làng Trảo Nha nay là xã Đại Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
* Quá trình trưởng thành+ Đỗ tú tài, ông dạy học tư và làm cho Sở Đoan ở Mĩ Tho - Tiền Giang Sau đó ông ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, có chân trong Tự lực văn đoàn
+ Năm 1943, Xuân Diệu bí mật tham gia Hội văn hoá cứu quốc dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mĩ và những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Xuân Diệu trực tiếp lấy sự nghiệp văn chương của mình phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân Ông là
Trang 18Uỷ viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam các khoá I, II, III Ông được bầu là đại biểu Quốc hội khoá I năm 1946 Năm 1983 ông được công nhận là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật cộng hoà dân chủ Đức Ông được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996).
+ Các tác phẩm chính cần chú ý:
Thơ: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau- Cầm tay (1962), Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Thanh ca (1982)
Văn xuôi: Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945), Những bước đường tư tưởn của tôi (1958), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, hai tập (1981), Công việc làm thơ (1984), …
Dịch thuật: Các nhà thơ Hung- ga- ri
Dịch thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du sang tiếng Pháp
* Xuân Diệu đem đến cho thơ ca đương thời sức sống mới, cảm xúc mới cùng với cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo Ông là nhà thơ của tình yêu, mùa xuân và tuổi trẻ Sau Cách mạng 1945, thơ Xuân Diệu hướng mạnh vào thực tế đời sống và rất giàu tính thời sự
- Bài thơ Vội vàng in trong tập Thơ thơ là một trong những bài
thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước cách mạng
- Xác định bố cục của bài thơ? Nêu
ý của mỗi đoạn
Bài thơ có thể chia làm 3 đoạn
- Đoạn một: Từ đầu đến “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”Miêu tả cuộc sống trần thế như một thiên đường trên mặt đất và niềm cảm xúc ngây ngất trước cuộc sống ấy
- Đoạn hai: Tiếp đó đến “Mùa chưa ngả chiều hôm” bày tỏ quan niệm về mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ Đó là nhận thức: con người, chỉ có thể tận hưởng nguồn hạnh phúc khi còn trẻ Tuổi trẻ lại vô cùng ngắn ngủi, thời gian có thể cướp đi tất cả
- Đoạn ba: Còn lại: Chỉ còn một cách là chạy đua với thời gian Nhanh chóng, khẩn trương, mở rộng lòng ôm chứa, thâu tóm, ghì siết để tận hưởng
b Chủ đề
- Xác định chủ đề của bài thơ
Miêu tả cuộc đời đẹp lắm, đáng sống, đáng yêu, bày tỏ nhận
thức mới về thời gian, tình yêu và tuổi trẻ Từ đó Vội vàng là lời
giục giã sống mãnh liệt hết mình, ôm chứa, thâu tóm để ghì siết, tận hưởng khôn cùng khôn thoả
- Khổ thơ đầu “Tôi muốn tắt nắng đi”
Nhân vật trữ tình xưng “tôi” là muốn bộc bạch với mọi người, với cuộc đời Nhà thơ muốn “tắt nắng”, “buộc gió” để giữ lại hương vị và màu sắc của nó Cuộc đời đẹp lắm
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
… Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”.
Những hình ảnh: hoa đồng nội xanh rì, lá cành tơ, khúc tình si, ánh sáng hàng mi, ngon như cặp môi gần, tác giả đã mang đến
Trang 19cái đẹp say đắm của mùa xuân, tình yêu, tuổi trẻ Nhân vật trữ tình như ngây ngất trước cảnh sống trần gian Khác hẳn với Thế
Lữ, Xuân Diệu khuyên người ta cuộc đời này đẹp lắm, đáng sống, đáng yêu làm sao phải đi đâu Nhưng cuộc đời cũng có quy luật của nó Những cảnh sắc kia cũng chỉ thực sự đẹp trong cái thì xuân của nó Cũng như con người chỉ có thể tận hưởng hạnh phúc khi còn trẻ thôi Để thấy được những suy nghĩ của nhà thơ, ta tìm hiểu đoạn 2
2 Quan niệm về mùa Xuân, tình
yêu, tuổi trẻ (H/s đọc đoạn 2)
- Quan niệm của tác giả về mùa
xuân như thế nào?
- Quan niệm của tác giả về tuổi trẻ
và tình yêu
- Mùa xuân là thời xuân sắc nhất của tuổi trẻ Cảnh vật cũng như con người chỉ đẹp ở thì xuân của nó Hãy trở lại cuộc sống như một thiên đường kia, ta sẽ thấy ong, bướm tuần tháng mật, hoa đồng nội, lá cành tơ, khúc tình si, tháng giêng, cặp môi gần… tất
cả là thời xuân sắc
- Những mùa xuân là dấu hiệu bước đi của thời gian
“”Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già”.
Mùa xuân ấy gắn liền với cái đẹp của tuổi trẻ, của tình yêu
Mùa xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
Tuổi trẻ và tình yêu gắn liền với mùa xuân Song tuổi trẻ không tồn tại mãi (theo quy luật) Nhà thơ xót xa!
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật
… Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”
Nói cách khác, nhà thơ có quan niệm về thời gian khác với quan niệm thời gian tuần hoàn
- Em hãy phân tích về quan niệm
thời gian của tác giả
- Quan niệm thời gian tuần hoàn, nghĩa là thời gian như một vòng tuần hoàn liên tục tái diễn, cứ trở đi trở lại mãi mãi (Xuân
đi rồi xuân trở lại) Quan niệm ấy lấy sinh mệnh vũ trụ làm thước đo thời gian
- Xuân Diệu lựa chọn cho mình quan niệm mới mẻ Thời gian được hình dùng như dòng chảy xuôi chiều một đi không trở lại Tác giả lấy sinh mệnh của các nhân con người làm thước đo thời gian, lấy quỹ thời gian hữu hạn của đời người để đo đếm thời gian trong vũ trụ:
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.
Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu là cảm nhận mất mát, hẫng hụt:
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
Hiện tạp đang lìa bỏ để trở thành qúa khứ được hình dung như một cuộc chia li
Mỗi sự vật trong đời sống tự nhiên ngậm ngùi tiễn biệt một phần đời của chính nó, tạo nên sự phai tàn của từng cá thể:
Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc
… Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
- Em có suy nghĩ gì về quan niệm
thời gian của Xuân Diệu?
Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu xuất phát từ ý thức về giá trị của cuộc sống cá thể Mỗi khoảnh khắc trong đời sống cá
Trang 20thể vô cùng quý giá, thiêng liêng.
- Quan niệm này khiến con người biết quý từng giây, từng phút của đời mình, biết làm cho từng khoảnh khắc của đời mình tràn đầy ý nghĩa
- Quan niệm về thời gian như trên là biểu hiện tư tưởng tiến bộ của Xuân Diệu
3 Vội vàng là lời giục giã sống
mãnh liệt, hết mình tận hưởng
khôn cùng khôn thoả (HS đọc
đoạn cuối).
- Nghệ thuật diễn tả cảm xúc được
thể hiện như thế nào trong đoạn
thơ?
“Ta muốn ôm
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
Cảm xúc của đoạn thơ tràn trề, ào ạt Tác giả xưng “ta”, làm muốn đối diện với toàn thể sự sống trần gian Một sự vồ vập đầy hăm hở:
Ta muốn riết
Ta muốn say
Ta muốn thâu và Ta muốn cắn
Một chuỗi câu lặp lại (điệp) diễn tả tiếng lòng khao khát mãnh liệt của chủ thể trữ tình Gắn với mỗi câu nguyên vẹn này là trạng thái:
Cho chếnh choáng Cho đã đầy
Cho no nê
Hàng loạt những từ ngữ thể hiện vẻ đẹp thanh tân, tươi trẻ:+ “Sự sống mới bắt đầu mơn mởn”
+ “ Mây đưa và gió lượn”
+ “Cái hôn nhiều”
+ “Cỏ rạng, mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc, thời tươi, xuân hồng”
Tất cả đã thể hiện những tình ý mãnh liệt, táo bạo của cái tôi thi
sĩ Vội vàng thực chất là cách sống chạy đau với thời gian Đó là
sự khao khát được sống mãnh liệt và một tâm thế cuồng nhiệt chưa từng thấy
- Cảm xúc và mạch luận lí được kết
hợp như thế nào trong bài thơ?
- Trong ba phần của bài thơ ta thấy cảm xúc của từng phần đã kết hợp với mạch luận lí rất rõ
Đoạn 1: Diễn tra một thiên đường trên mặt đất Cảm xúc là niềm hân hoan, vui sướng của nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình như phơi trải lòng mình say sưa, phấn chấn nhất Cảm xúc ấy kết hợp với luận lí (cách tổ chức sắp xếp từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu).+ Điệp kiểu câu “Tôi muốn tắt nắng đi/ … Cho hương đừng bay đi” để bộc bạch ao ước
+ Điệp cụm từ “Này đây” và từ sở hữu “của”
Đoạn 2: Chú ý các cụm từ “Xuân đang tới, nghĩa là”, “Xuân còn non, nghĩa là”
Đoạ 3: Điệp lại các cụm từ “ta muốn” Tất cả tạp nhịp điệu cho động thái của nhân vật trữ tình
- Nội dung của luận lí là việc thuyết trình lí lẽ vì sao phải sống vội vàng, lí lẽ ấy là:
Trần thế là một thiên đường bày sẵn bao nguồn hạnh phúc Con người tận hưởng hạnh phúc ấy khi còn trẻ Trong khi đó tuổi trẻ lại vô cùng ngắn ngủi Thời gian sẽ cưới đi tất cả Vì vậy chỉ có một cách là chạy đua với thời gian, phải vọi vàng
Trang 21- Những hình ảnh quen thuộc của
thiên nhiên, cuộc sống được tác giả
diễn tả như thế nào? Hãy chỉ ra
những nét mới trong quan niệm của
- Cảm nhận rất tinh tế về thời gian, không gian làm sống dậy vẻ thơ mộng và hình thái thật bất ngờ
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
… Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa.
Cảnh vật mang tình người tràn trề xuân sắc Vì thế cảnh vật quen thuộc mà trở nên thơ mộng và hấp dẫn
Sự độc đáo, mới mẻ của Xuân Diệu đó là nhận biết cảnh vật bằng cảm xúc và cái nhìn trẻ trung Ông chú ý tới vẻ xuân tình của cảnh vật và trút vào cảnh vật cả xuân tình của mình:
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
… Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa.
Điều này giúp ta nhận ra cái mới mẻ, độc đáo của Xuân Diệu là: giá trị lớn nhất của đời người là tuổi trẻ; hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ là tình yêu
Đó là cái nhìn tích cực, giàu yếu tố nhân văn
III Củng cố
IV Luyện tập
“Với nguồn cảm hứng mới yêu
đương của tuổi xuân, dù lúc vui hay
lúc buồn, Xuân Diệu cũng ra thanh
niên bằng giọng điệu yêu đời thấm
thía”
(Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan)
Hãy làm rõ qua bài Vội vàng.
Phần Ghi nhớ SGKHoài Thanh cho Xuân Diệu “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” Vũ Ngọc Phan lại chỉ cho người ta cái mới ấy:
“Với nguồn cảm hứng mới yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ra thanh niên bằng giạng điệu yêu đời thấm thía”
* Cuộc đời của con người đáng lưu ý nhất và quý giá nhất là thời tuổi trẻ Vũ Ngọc Phan gọi đó là tuổi xuân Giá trị lớn nhát của đời người là tuổi trẻ Hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ là tình yêu.Đấy là cái nhìn, một phát hiện tích cực nhất của Xuân Diệu Bài
thơ Vội vàng đã thể hiện rất rõ.
+ Dựng một thiên đường trên mặt đất
“Tôi muốn tắt… cặp môi gần”
Cảnh vật mang tình người tràn trề xuân sắc Nó quyến rũ bằng
vẻ đẹp thơ mộng mà tự nhiên
Sắc xuân và tình xuân theo ngòi bút của Xuân Diệu cứ hiện dần ra
+ Xuân Diệu có quan niệm mới về thời gian, tuổi trẻ và tình yêu:
“Xuân đương tới… thắm lại”
Từ đó giúp cho con người biết tiếc thời tuổi trẻ và lớp trẻ biết sống cho ra sống, cho tuổi trẻ của mình có ý nghĩa
+ Xuân Diệu thể hiện cách sống vội vàng:
“Ta muốn ôm
… Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi”.
Tình ý mãnh liệt, táo bạo Dường như con người đang chạy đua với thời gian Đó là khao khát được sống mãnh liệt, sống hết
Trang 22mình với một tâm thế cuồng nhiệt chưa từng thấy.
THAO TÁC LẬP LUẬN BÁC BỎ
A MỤC TIÊU BÀI HỌC
Hiểu được mục đích yêu cầu và biết cách bác bỏ trong bài văn nghị luận
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
SGK + SGV + Bài soạn
C CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
Đọc sáng tạo, gợi ý trả lời câu hỏi, thảo luận
D TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Kiểm tra bài cũ
2 Giới thiệu bài mới
- Thế nào là thao tác lập luận bác
bỏ? Lấy ví dụ minh hoạ
Ví dụ: Trương Tửu (Nguyễn Bách Khoa) trong tập tiểu luận
Nguyễn Du và Truyện Kiều cho rằng: “Nguyễn Du là một con
bệnh thần kinh” Đây là một nhận định sai lầm cần phải bác bỏ
Đinh Gia Trinh trong tác phẩm Hoài vọng của lí trí đã đưa ra
những lí lẽ, dẫn chứng bác bỏ lại:
“Tác giả đã căn cứ vào đâu mà biết như vậy, rằng Nguyễn Du mắc bệnh thần kinh? Căn cứ vào chứng ngôn của người đồng thời với Nguyễn Du hay vào những di bút của thi sĩ”… Một ví dụ khác.Trả lời chất vấn của Tổng thanh tra Chính phủ về khoản tiền lương Cao Khải đưa cho vị này ba lần
Đây là câu hỏi bị lặp đi lặp lại qúa nhiều cả người hỏi và người trả lời đều không trúng đích cần làm rõ Qua trả lời cho thấy Tổng thanh tra Chính phủ chưa nắm vững quy tắc và thể thức hành chính Là tư lệnh của một cơ quan ngành bảo vệ trật tự hành chính nhưng lại không ứng xử quy tắc hành chính nhưng lại không ứng
xử quy tắc hành chính, như vậy trách nhiệm thuộc về ông chứ không do cấp trên Điều này Chủ tịch Quốc hội đã chấn chỉnh tại phiên chất vấn Là một Uỷ viên Trung ương, ông càng phải gương mẫu chấp hành luật pháp Ông có thể minh bạch trong sạch trước Đảng nhưng ông chưa làm đúng luật pháp Nhà nước Các đại biểu Quốc hội lẽ ra chất vấn điểm này:
Tại sao ông không gương mẫu chấp hành luật pháp Nhà nước?Một em học sinh lớp 1 ra đường nhặt được của rơi, nhà trường hướng dẫn em nộp cho cơ quan công an Đáng lẽ số tiền ấy ông phải nộp cho Ban chuyên án vì vụ án đã được khởi tố Ông nộp tiền cho cơ quan Đảng cấp trên vừa làm cho cơ quan này mang tiếng làm thay Nhà nước, như vậy này cũng lại vi phạm nguyên tắc Đảng
(Chất lượng chất vấn, trả lời chất vấn diễn đàn Quốc hội, Phạm
Viết Đào) – (Báo Văn nghệ trẻ, ngày 25/06/2006)
- Yêu cầu khi thực hành thao tác
lập luận bác bỏ
- Phải phát hiện cái sai, sự thiết khoa học của một việc làm hoặc một quan điểm, một lí lẽ nào đó
Trang 23+ Theo em có những yêu cầu gì? - Người thực hiện phản bác phải có hiểu biết sâu sắc, lí giải rõ
ràng
- Trong khi phản bác, giọng văn rắn rỏi, dứt khoát đầy tự tin
2 Cách bác bỏ
HS đọc SGK và trả lời câu hỏi
- Luận điểm nào bị bác bỏ?
- Đoạn 1: Luận điểm bác bỏ là: “Nguyễn Du là con bệnh thần kinh”
- Đoạn 2: Luận điểm bác bỏ là: “Nhiều đồng bào chúng ta đã biện minh việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiền rằng tiếng nước mình nghèo nàn”
- Đoạn 3: “Tôi hút thuốc, tôi bị bệnh mặc tôi”
- Bác bỏ bằng cách nào?
(Đoạn 1)
Đoạn 1: Tác giả Đinh Gia Trinh đã đưa ra lí lẽ vạch rõ luận điểm chính xác, không có căn cứ khoa học của Trương Tửu khi cho rằng: “Nguyễn Du là con bệnh thần kinh”
+ Căn cứ vào đâu?
+ Vào chứng ngôn của những người cùng thời hay bút tích?
+ Mấy bài thơ Mãn hứng, U cư, Nguyễn Du nói mình mắc bệnh
chứ đâu mắc bệnh thần kinh,
+ Thiết tưởng một con người ban ngày nhìn thấy ma, ban đêm nhìn thấy oan hồn tất phải là người có bộ thần kinh rối loạn và khủng hoảng tới cực độ và người ấy không tài nào có được nghệ
thuật minh mẫn của kẻ tạo ra Truyện Kiều.
+ Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?
+ Vì sao người An Nam có thể dịch tác phẩm Trung Quốc sang nước mình mà lại không thể viết tác phẩm tương tự?
+ Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người
Bác bỏ bằng cách nào?
(Đoạn 3)
+ Hút thuốc là quyền của anh nhưng anh không có quyền đầu độc những người xung quanh (anh uống rượu say mềm anh chịu, Nhưng hút thuốc, người gần anh hít phải luồng khói độc)
+ Hàng nghìn công trình nghiên cứu đã chứng minh rất rõ:
* Vợ con, những người làm việc cùng phòng với người nhiện thuốc cũng bị nhiễm độc cũng đau tim mạch, ung thư
* Tội nghiệp thay những cái thai vì có người hút thuốc ngồi cạnh
mẹ mà thai bị nhiễm độc Hút thuốc bên người đàn bà có thai quả
đoạn văn vừa đọc?
- Cả ba đều thể hiện quan điểm sao lầm Ví dụ 1 và 3 người viết và nói không có căn cứ khoa học chỉ là nói liều Làm khoa học mà không nêu được cơ sở khoa học thì đó là sai lầm, cần chải ra và bác bỏ
- Ví dụ 2 những người học bập bẹ hoặc có vốn liếng ít nhiều tiếng nước ngoài đã quên và bỏ rơi tinh thần dân tộc Thậm chí họ thiếu hiểu biết về ngôn ngữ dân tộc
II Củng cố
III Luyện tập
- Quan điểm mà Nguyễn Du bác bỏ là:
+ Kẻ sĩ không nên cứng cỏi mà phải mềm
Trang 24Câu 1 SGK - Quan điểm mà Nguyễn Đình Thi bác bỏ là:
+ Thơ là những lời và đề tài đẹp
- Cách bác bỏ và giọng văn của
hai tác giả có nét gì khác nhau.
- Cách bác bỏ và giọng văn của hai tác giả có sự khác nhau:
+ Nguyễn Dữ dùng phương pháp so sánh “người ta thường nói” sau đó dùng dẫn chứng để phản biện lại Lấy ngay nhân vật chính của truyện
+ Nguyễn Đình Thi sử dụng phương pháp chứng minh làm rõ thơ không phải là lời và đề tài đẹp (phân tích, chứng minh để phẩn bác lại)
Câu 2 SGK
Hãy bác bỏ quan niệm “Không
kết bạn với những người học yếu”
- Quả là một sai lầm lớn nếu bạn cho rằng “Không kết bạn với những người học yếu”
+ Nếu chỉ kết bạn vớinhững người học giỏi thì những người học yếu bị bỏ rơi ư?
+ Cả một tập thể lớpmuốn mạnh, muốn tốt phải có tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ chứ
+ Đừng tự cho mình là giỏi vì mìnhgiỏi nhưng còn có người giỏi hơn mình
+ Ở đời không có ai biết hết tất cả và cũng chẳng ai là dốt tất cả không biết gì
+ Hãy từ bỏ quan điểm của bạn đi Vì như thế sẽ có ngày bạn tự cô lập mình và trở lên dốt nát đấy
- Thấy được màu sắc cổ điển trong một bài thơ mới
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
SGK + SGV + Bài soạn
C CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
Đọc sáng tạo, gợi ý trả lời câu hỏi, thảo luận
D TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Kiểm tra bài cũ
2 Giới thiệu bài cũ
Xuất hiện ở giai đoạn cường thịnh của thơ mới, Cù Huy Cận là một trong những thi sĩ có công đưa phong trào này lên đỉnh cao Phong cách thơ Huy Cận là sự hào hợp nhuần nhuyễn giữa
hai yếu tố cổ điển Đường thi với thơ mới Để thấy được, chúng ta tìm hiểu bài thơ Tràng giang
- Trình bày về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Huy Cận
+ Nguồn gốc: Sinh 1919- Quê làng Ân Phú, Hương Sơn nay là xã Đức Ân, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình nhà nho nghèo
+ Quá trình trưởng thành
* Năm 1939 đỗ tú tài toàn phần tại Huế (Tốt nghiệp THPT)
* Năm 1943 đỗ kĩ sư Canh nông tại Hà Nội
* Năm 1942 ông tham gia Hội Văn hoá cứu quốc, được tham dự Quốc dân đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban Dân tộc giải
Trang 25phóng toàn quốc.
* Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông giữ chức vụ quan trọng trong Chính phủ và trong Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam
* Ông mất năm 2005, nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996
+ Sự nghiệp: Trước Cách mạng có tập Lửa thiêng (1940), Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Hai bàn tay em (1967), Những năm sáu mươi (1968), Chiến trường gần đến chiến trường xa (1973), Ta về với biển (1997),…
Đặc điểm thơ Huy Cận: Huy Cận luôn khao khát với cuộc sống, tạo
ra sự hoà điệu giữa hồn người và tạo vật, giữa cá thể với nhân quần
Vì thế, thơ Huy Cận hàm súc và giàu chất suy tưởng, triết lí
2 Bài thơ
a Hoàn cảnh sáng tác
- Bài thơ được viết trong hoàn
cảnh nào?
Viết vào mùa thu năm 1939, in trong tập Lửa thiêng và cảm xúc
được gợi từ sóng nước mênh mang của sông Hồng Lúc này nhà thơ đang là sinh viên trường Canh nông Đông Dương, cư trú tại Hoà Nội Một thoáng nhớ nhà, nhớ quê cộng với than phận người dân một nước nô lệ, Huy Cận đã viết bài thơ này Đây là bài thơ khá tiêu biểu của Huy Cận trước cách mạng
+ Đoạn 2: Còn lạiLòng yêu nước thầm kín của nhà thơ
c Chủ đề
- Xác định chủ đề bài thơ
Mượn bức tranh thiên nhiên sông dài, trời rộng, Huy Cận thể hiện nỗi buồn cô đơn giữa kiếp người Đồng thời thể hiện tấm lòng thương nhớ quê hương
- Trước khi vào đọc- hiểu theo
chủ đề, anh (chị) có cảm nhận
gì về hai tiếng “Tràng giang”
(tiêu đề bài thơ) và câu thơ đề
từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ
sông dài”?
- Tiêu đề bài thơ là Tràng giang Đây là hai từ Hán Việt Nếu chỉ nói sông dài thì chỉ gợi ra định lượng Tràng giang gợi ra một con sông vừa dài, vừa rộng Dài ở tiếng Tràng và rộng ở hai nguyên âm a của hai âm tiết tạo nên Mặt khác hai tiếng Tràng giang gợi ra một con
sông dường như của một thuở xa xưa nào đã chảy qua chiều dài lịch
sử, bao gồm nhiều tầng văn hoá và bao áng thi ca
- Lời đề từ của bài thơ không phải là sự trang sức nghệ thuật mà là điểm tựa cho cảm hứng cho ý tưởng của tác giả triển khai tác phẩm Nhân vật trữ tình đứng trước cảnh sông dài trời rộng đã thể hiện tâm trạng bâng khuâng và nỗi nhớ của mình Mặt khác cũng có thể hiểu trời rộng bâng khuâng nhờ sông dài Huy Cận đã tạo ra một điểm tựa độc đáo, đó là sự kết hợp giữa nỗi nhớ của cong người và nỗi nhớ của tạo vật Con người nặng lòng thương nhó mà cảnh vật cũng tràn ngập nỗi nhớ đến bâng khuâng Ngay từ lời đề từ, tâm trạng nhân vạt trữ tình đã tìm được, hoà cảm được với nỗi sầu của sông núi
Trang 262 Đọc- hiểu theo chủ đề
a Nỗi buồn cô đơn giữa sông
dài, trời rộng
(HS đọc thơ khổ 1, 2, 3 SGK)
- Thiên nhiên được miêu tả như
thế nào? Trên sông, bên sông
- Ba khổ thơ đầu, Huy Cận tập trung miêu tả thiên nhiên
+ Trên sông: Sóng gợi, Thuyền xuôi mái, Nước song song, Thuyền
về, Nước lại sầu trăm ngả, Củi một canh khô, Bèo dạt, nối hàng, Không đò, Không cầu.
+ Bên sông: Cồn nhỏ, Không gian ba chiều “Nắng xuống, trời sâu chót vót”, Bờ xanh, tiếp bãi vàng…
- Em có nhận xét gì về cách
miêu tả bức tranh thiên nhiên
của Huy Cận
- Những yếu tố tạo nên bức tranh của Tràng giang có thể phân làm
hai loại Một là cái hữu hạn, nhỏ bé Hai là cái vô hạn không cùng.+ Cái hữu hạn, nhỏ bé bao gồm: thuyền, nước, cành củi khô, hàng bèo trôi nổi Những sự vật này gợi nỗi buồn hiện tại, nỗi sầu nhân
thế mà Huy Cận tìm thấy ở kiếp người Thuyền về/ nước lại như một
kiểu đối Nó gợi ra sự chia lìa tan tác của cuộc sống con người Cảm xúc của nhà thơ bắt đầu từ những con sóng, dù chỉ là “gợn” thôi nhưng nỗi buồn nảy sinh từ đây: “buồn điệp điệp” Hai tiếng “điệp điệp” vừa là sự láy âm gợi nỗi buồn nối tiếp, trùng điệp vừa như đóng lại bởi hai phụ âm tắc (P) làm nỗi buồn như ủ kín trong lòng không thể nói thành lời Cành củi khô, hàng bèo dạt dật dờ trôi nổi gợi sự liên tưởng phải chăng đây là những số phận bất hạnh, những kiếp người sống dở chết dở, những con người không còn muốn sống, vắt kiệt sức rồi, khô héo tàn tạ đang lang thang “sống vô gia cư”, “chết vô địa táng” đang không biết đi đến đâu, về đâu giữa dòng sông cuộc đời trăm nẻo
Nỗi buồn riêng của thế hệ người cầm bút lúc bấy giờ cụ thể là nỗi buồn của thơ mới đã hoà nhập và bắt gặp nỗi sầu nhân thế để tạo ra
âm hưởng buồn da diết Một nỗi buồn “Mang mang thiên cổ sầu”
Đó là nỗi buồn của con người gắn bó với đất nước nhưng cô đơn bất lực
+ Cái mênh mông vô hạn bao gồm: Cồn nhỏ, gió, làng xa và không gian của sông dài, trời rộng, bờ xanh, bãi vàng, mây cao, núi bạc
Cồn đã nhỏ lại lơ thơ gợi ra sự thưa thớt, hoang vắng Trên dòng
sông mênh mông có tới hai lần phủ định:
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật.
Tất cả đều lặng lẽ, trống vắng, cô tịch:
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu
Đặc biệt hình ảnh:
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Ngoài không gian mặt đất, câu thơ mở hướng cho không gian ở tầng cao và cả chiều sâu của sông nước Đó là không gian ba chiều
- Anh (chị) có thể rút ra kết luận
gì về ba khổ thơ
Cảnh trên sông, bên sông vừa là cảnh của tự nhiên nhưng cũng là cảnh của tâm trạng, là tâm trạng của lớp người biết gắn bó với quê hương đất nước nhưng bất lực, thường tìn đến cảnh mênh mông hoang vắng, những sự vật gợi những thân phận, kiếp người nhỏ
nhoi, tội nghiệp, bơ vơ trong tàn tạ chia lìa Đó là phong cách Tràng giang tiêu biểu cho phong cách ấy.
b Nỗi lòng thương nhớ quê
hương
(HS đọc khổ 4)
Trên cái nền mênh mông của không gian, mây nổi thành cồn “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” nổi lên một cánh chim “Chim nghiêng… chiều sa”
Trang 27- Em có suy nghĩ gì về hình ảnh
cánh chim?
Một con chim nhỏ lại “nghiêng cánh” làm nó nhỏ nhoi đến tội nghiệp Đúng là cánh chim của nhà thơ mới lãng mạn Vì cánh chím không chỉ gợi ra sự nhỏ bé mà cô lẻ, lặng lẽ Cánhchim ấy sa xuống phía chân trời như một tia nắng nhỏ buổi chiều rớt xuống
- Hai câu thơ cuối gợi ra tâm
trạng như thế nào? Hãy phân
tích một cách ngắn gọn?
Hai câu thơ:
Lòng quê…… cũng nhớ nhà”.
“Lòng quê dợn dợn” lòng thương nhớ quê hương bắt nguồn từ
sóng nước Tràng giang Thiên nhiên không chỉ là nơi gửi gắm nỗi
buồn mà còn là nơi gửi nỗi lòng thương nhớ quê nhà Yêu thiên nhiên cũng là lĩnh vực biểu hiện lòng yêu nước Câu thơ cuối vừa phủ định “không khói hoàng hôn”, vừa khẳng định “cũng nhớ nhà”
Thôi Hiệu trong “HoàngHạc Lâu” kết thúc bằng hai câu
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu”.
Tản Đà dịch:
“Quê hương … buồn lòng ai”
Khương Hữu Dụng dịch sát với nguyên tác:
“Hoàng hôn về đó quê đâu tá Khói sóng trên sông não dạ người”.
Huy Cận “không khói hoàng hôn” Như vậy Thôi Hiệu cần có khói sóng để tỏ nỗi lòng, Huy Cận chẳng cần đến khói sóng mà câu thơ bỗng oà lên nức nở Nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, là tiếng nói hoàn chỉnh của một tâm trạng Đó là tâm trạng của một con người biết gộp nỗi buồn, nỗi đau, nỗi sầu nhân thế vào mình, biết buồn khi thiếu vắng quê hương Đó là tâm trạng của người dân mất nước
- Hãy chỉ ra yếu tố nghệ thuật
tiêu biểu của bài Tràng giang
(âm điệu, thể thơ, cách dùng
từ…)
- Về âm điệu?
- Âm điệu của bài thơ là âm điệu của thể thơ thất ngôn Âm điệu của bài thơ tạo bởi sự hoà hợp của nhịp điệu và thanh điệu
Nhịp thơ trong toàn bài có thiên hướng trải dài theo nhịp 4/3:
Sóng gợn tràng giang/ buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái/ nước song song,
Có những câu lạc điệu một chút vì tác giả cố ý:
Thuyền về,/ nước lại/ sầu trăm ngả
Những câu sau lại trở về với nhịp 4/3:
Củi một cánh khô/ lạc mấy dòng
Về thanh điệu, Huy Cận không vượt ra khỏi quy định của luật bằng, trắc Song nhà thơ có lối hoà điệu riêng:
+ Sử dụng từ láy nguyên: điệp điệp, lớp lớp, song song, dợn dợn.+ Tổ chức ngôn từ tạo ra hình ảnh song song: Thuyền về- nước lại, nắng xuống-trời lên, sông dài- trời rộng, bờ xanh- bãi vàng Hình ảnh này kết hợp với nhịp điệu trên gợi ra âm hưởng trôi chảy, xuôi chiều Một âm điệu thơ mênh mang xao xuyến giữa hồn người với tạo vật Phải chăng âm điệu bàithơ là biểu hiện sự cảm thông sâu xa của hồn thi nhân và núi sông đất nước
- Về thể thơ Mặc dù là thơ mơpí lãng mạn nhưng bài thơ mang đậm dấu ấn của
Đường thi
+ Số tiếng trong một câu, số câu trong một khổ Đây có thể coi là bài
tứ tuyệt liên hoàn Đây cũng là lí do cho cách chọ phân tích từng khổ thơ
+ Thơ Đường yêu cầu phải đối triệt để (đối câu, ý, hình, chữ, âm)
Trang 28Song Huy Cận chỉ mượn cái nguyên tác tương xứng của đối để tạo
ra vẻ cân xứng, trạng trọng, mở ra các chiều của không gian
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu
Một nét cổ điển Đường thi đã được cách tân cho phù hợp với tâm lí hiện đại
+ Từ ngữ hình ảnh mang ý vị cổ thi
Đỗ Phủ trong bài Thu hứng: “Lưng trời sóng dựng lòng sông thẳm-
Mặt đất mây đùn cửa ải xa” Huy Cận cũng ảnh hưởng từ “đùn” ấy
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” Đặc biệt cánh chim trong cổ thi xuất hiện khá nhiều:
“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”
(Chiều hôm nhớ nhà- Bà Huyện Thanh Quan)
“Chim mỏi về rừng tìm chỗ ngủ”
(Chiều tối- Hồ Chí Minh)
Phải chăng đây là ý vị cổ điển trong thơ Huy Cận Đó là hai câu thơ cuối:
“Lòng quê……… cũng nhớ nhà”
Người ta hay liên hệ tới Thôi Hiệu, một tác giả Đường thi
+ Ý vị cổ thi của bài Tràng giang còn được thể hiện ở hình ảnh nhà
thơ một mình đứng trước vũ trụ để cảm nhận cái vĩnh viễn, cái vô cùng của không gian, thời gian đối với kiếp người
- Học xong bài thơ này, anh
ấy biểu hiện nỗi cô đơn của kiếp người Loại thứ hai hoang sơ, vắng
vẻ Ban đầu ta có thể nhận thấy thấp thoáng hình ảnh con người qua con thuyền Nhưng ngay sau đó, con thuyền cũng mất hút “thuyền
về, nước lại sầu trăm ngả” Mọi tín hiệu về con người đều vắng Trước thiên nhiên như thế, cái tôi thi sĩ, nhân vật trữ tình làm sao tránh được cảm giác bơ vơ, lạc loài, sầu tủi Thời gian là buổi chiều đưa dần tới hoàng hôn
Vậy cách cảm nhận về không gian, thời gian là cách cảm nhận theo tâm trạng Đó là không gian, thời gian nghệ thuật
Câu 2 SGK Câu thơ cuối bài:
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Rất gần gũi với thơ Đường Chúng ta nghĩ tới bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu:
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Tản Đà dịch: “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”
Khương Hữu Dung dịch: “Khói sóng trên sông não dạ người”
Chỉ có khác, Thôi Hiệu cần có khói sóng thương nhớ quê hương
Trang 29Huy Cận chẳng cần đến khói sóng trên sông mà câu thơ bỗng oà lên nức nở.
LUYỆN TẬP THAO TÁC LẬP LUẬN BÁC BỎ
A MỤC TIÊU BÀI HỌC
- Củng cố và nâng cao hiểu biết về thao tác lập luận bác bỏ
- Vận dụng thao tác lập luận bác bỏ thích hợp trong bài văn nghị luận
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
SGK+ SGV + Bài soạn
C CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
Gợi ý, trả lời câu hỏi và thảo luận nhóm
D TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Kiểm tra bài cũ
2 Giới thiệu bài mới
- Vấn đề cần bác bỏ trong đoạn văn là:
Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mỏng manh Tác giả bài viết đưa ra dẫn chứng: “”Hạnh phúc mong manh” giống như mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm sạch
sẽ và gọn gàng… nhưng hễ có một con dông tốt nổi lên là cây cối
sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vường sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào”
Tác giả khẳng định: “Con người cần một đại dương mênh mông bị bão tạp làm nổi sóng nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước” Cách bác bỏ này khẳng định con người phải được sống trong thử thách sóng gió mới trưởng thành, mới thực sự hạnh phúc
+ Kỉ cương nơi triều chính còn nhiều khiếm khuyết
+ Công việc ngoài biên cương phải lo toan
+ Dân còn mệt nhọc chưa lại sức+ Đức hoá của trẫm chưa nhuần thấm khắp nơi
Nhận thức được những khó khăn trước mắt này, vua Quang Trung chứng minh cho quần thần, văn võ bá quan và các bậc danh sĩ hiền tài biết được con mắt nhìn xa trông rộng của mình Đây cũng là cách ngầm phản bác (bác bỏ) điều cho rằng vua Quang Trung là một nông dân áo vải Cách lập luận đầy sức gợi:
“Một cái cột… trị bình” Đây thực sự là chân lí xưa nay Cách lập luận rõ ràng làm cho lí lẽ mạnh mẽ, đầy hào khí nhưng cũng hết sức dân chủ cởi mở Cuối cùng, nhà vua mới khích lệ: “”Suy đi tính lại…….trẫm hay sao?”
Câu 2 SGK Cả hai quan niệm đều sao lầm:
Một là: “Muốn học giỏi môn Ngữ văn chỉ cần đọc nhiều sách, học
Trang 30thuộc nhiều thơ văn” Đây là điều cần nhưng chưa đủ Đọc nhiều, thuộc nhiều là tốt Nhưng đọc, thuộc nhiều mà không có suy nghĩ, không có thu hoạch thì chỉ biến mình trở thành con mọt sách mà thôi Đọc, thuộc nhiều thơ văn phải hiểu được cái nghĩa của nó, ý định của người viết, hoàn cảnh và mục đích sáng tác của từng tác giả Như vậy đọc và thuộc phải gắn liền với suy nghĩ và sáng tạo Đoc, thuộc thơ văn phải gắn liền với suy nghĩ, thực hành Bản thân mỗi người sau khi đọc phải tự mình đặt ra và khám phá những vấn
đề, giải quyết vấn đề Đấy là cách học có hiệu quả nhất
Hai là “Không cần đọc, … môn Ngữ văn” Luyện nhiều về cách nghĩ, cách nói, cách viết là tốt nhưng đấy mới chỉ nghiêng về thực hành mà thôi Nếu anh không đọc, không thuộc thơ văn thì lấy cứ liệu đâu mà suy nghĩ, rèn luyện về tư duy và cách viết Suy nghĩ
và cách viết ấy sẽ đơn điêu, sơ lược thậm chí là chung chung và võ đoán Tư duy của con người chỉ có thể sáng tạo trên cơ sở của cái
đã biết, đã thấy Đó là tình huống có vấn đề
- Anh (chị) đã bác bỏ cả hai Vậy
nên rút ra kết luận gì và đề xuất
một vài kinh nghiệp học Ngữ văn
tốt nhất Lấy ví dụ minh hoạ
- Như vậy cả hai qian niệm đều sai lầm Vì cả hai đều đưa ra cách học phiến diện
- Kết hợp hai quan niệm, chứng ta sẽ có cách học tập tốt môn Ngữ văn Đó là sự kết hợp giữa:
+ Đọc, thuộc có suy nghĩ, đặt ra những tình huống và tự giải quyết Nghĩa là có suy nghĩ và luyện viết
Ví dụ khi đọc và thuộc bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn
Đình Chiểu chúng ta đặt ra câu hỏi:
* Tại sao mở đầu bài văn tế bằng hai câu tứ tự?
* Nêu hoàn cảnh như vậy nhằm khẳng định vấn đề gì?
* Hình ảnh người nghĩa quân nông dân được thể hiện qua chi tiết nào? Chúng ta tự trả lời bằng cách viết thành văn bản Đó là cách học tốt nhất Một ví dụ khác:
Khi học bài Hầu Trời, anh chị nhận thức được điều gì sâu sắc
nhất? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải suy nghĩ Đây là yêu cầu trình bày nhận thức sâu sắc nhất Nhận thức sâu sắc có thể một và cũng có thể nhiều Trả lời câu hỏi này bằng cách viết ra văn bản Đây cũng là những bài tập nghiên cứu nhỏ
+ Về nội dung tư tưởng, ta nhận thức được Tản Đà đã khẳng định cái tôi của mình, cái ngông của mình trong địa hạt văn chương
* Bộc lộ tài năng qua hàng loạt tác phẩm
* Coi mình như một “trích tiên”
* Trong con mắt của Tản Đà, nhà Trời hiện lên rất dân dã, bình dị.+ Về nghệ thuật: Sự hư cấu những tình tiết Đặc biệt trong bài thơ
tự sự dài đã kết hợp giữa phong cách lãng mạn và hiện thực Tự đặt ra câu hỏi lại tự giải quyết bằng những bài viết đó là cách học văn có hiệu quả nhất Đừng quên phải đọc và thuộc thơ văn
Câu 3 SGK Trong thời kì hội nhập, đặc biệt trên phim ảnh, báo hình, chúng ta
bắt gặp sinh hoạt văn hoá đa dạng Nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá đã thu hút thế hệ trẻ nhất là thanh niên, học sinh các cấp Vì thế có ý kiến cho rằng: “Thanh niên học sinh thời nay phải biết nhuộm tóc, hút thuốc lá, uống rượu, vào các vũ trường thế mới là cách sống “sánh điệu” của tuổi trẻ thời hội nhập”
Trang 31Bạn nên hiểu bản chất của thời hội nhập là gì? Hội nhập về kinh tế phải kéo theo cả về văn hoá.
Mục đích của hội nhập là đẩy mạnh nền kinh tế của từng bước phát triển, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân Trong đó, chúng ta không loại trừ sự cạnh tranh Vì có mới đẩy mạnh sự phát triển Chúng ta đặt hi vọng nền kinh tế của nước ta trong nhữn năm tới Muốn đạt được thành quả trong hội nhập kinh tế, chúng
ta phải nắm vững khoa học kĩ thuật, biết quản lí và đầu tư Nhiệm
vụ của thế hệ trẻ rất nặng nề Thanh thiếu niên, học sinh hơn ai hết
là những người phải nắm lấy cơ hội lúc này Vậy mục tiêu, lí tưởng của thanh niên, học sinh đâu phải là sống “sành điệu”, phải
“nhuộm tóc, hút thuốc lá…” Không ai cấm nhuộm tóc, hay hút thuốc lá, uống rượu Những thứ đó đẩy thế hệ trẻ đến con đường phạm pháp Mỗi chai bia, mỗi bao thuốc lá là mười ngàn đồng Trong khi chúng ta còn đang đi học, phải nhờ bố, mẹ nuôi Chúng
ta chưa làm ra tiền của Nếu hút thuốc, uống rượu, bia chúng ta lâý tiền ở đâu? Đấy là chưa kể hút thuốc lá và uống rượu sẽ dẫn đến bệnh tật như thế nào? Vào vũ trường ư? Một thực tế ở nước ta là biến hát ka- ra- ô- kê và vũ trường thành những mục đích khác Nhiêềucơ sở vũ trường đã bị lôi ra ánh sáng Đấy là nơi tụ tập, nhậu nhẹt, thuốc lắc đưa thanh niên và học sinh đến cuối sứ mê li, cùng trời khoáng đãng mà bỏ quên mục tiêu phấn đấu của đời mình Không có mục đích nào khác là tập trung cho học tập, cho những sinh hoạt lành mạnh Thay thế vào vũ trường là sinh hoạt văn hoá văn nghệ Hãy xa lánh với thuốc lá và rượu bia Bạn có biết thống kê hàng năm của bệnh viên K: số người tử vong vì bệnh ung thư phổi do thuốc lá gây ra chiếm tới 85% Con số này đã nói lên tất cả
Theo bạn thì sành điệu là gì? Có phải sành điệu là chơi trội, là cái
gì cũng biết, cũng hơn người khác Song hút thuốc là và uống rượu thì không phải là sành điệu Đó là nguyên nhân của nghiện ngập.Sau cùng ta nói với nhau về chuyện nhuộm tóc Có người tóc bạc muốn trẻ lại thì nhuộm đen Có người tóc đang đen lại nhuộm thật trắng hoặc màu vàng trong đến ngộ nghĩnh Bạn nên nhớ “Cái răng cái tóc là góc con người” không phải mình thích cái gì thì làm theo cái ấy, phải biết lắng nghe xung quanh Tốt nhất tóc bạn thế nào xin cứ để nguyên Bởi ở đời này không có cái gì đẹp bằng vẻ đẹp tự nhiên mình đang có
Nhuộm tóc, hút thuốc, uống rượu, vào vũ trường là những việc không nên làm, không nên có của học sinh Đừng để sau này chính chúng ta lại ân hận vì mình
TRẢ BÀI LÀM VĂN SỐ 5
A MỤC TIÊU BÀI HỌC
- Thấy rõ những ưu điểm, nhược điểm trong bài viết số 5
- Rút ra những kinh nghiệm để làm tốt hơn các bài viết sau
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
SGK + SGV + Bài soạn
C CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
Trang 32Trao đổi, thảo luận yêu cầu từng đề.
D TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Kiểm tra bài cũ
2 Giới thiệu bài mới
- Vấn đề cần phải bác bỏ là gì? - Nêu quan niệm sai lầm của các nhà nho phong kiến:
“Đàn bà chớ kể Thuý Vân, Thuý Kiều”, Các nhà thơ cho rằng:+ Thuý Kiều có những ứng xử không phù hợp với lễ giáo phong kiến
* Chủ động sang tự tình với Kim Trọng khi cha mẹ vắng nhà
* Thực lòng yêu Kim Trọng, nhận tình yêu của Kim Trọng khi chưa xin ý kiến cha, mẹ
* Không lượng mình là ai, cả gan gắn bó với Thúc Sinh là con rể của Lại bộ Thượng thư
- Phản bác lại bằng cách nào? - Quan điểm phản bác lại:
+ Đánh giá trên là có căn cứ+ Song đó là cách nhìn bảo thủ, chỉ căn cứ vào lễ giáo khắt khe trói buộc con người của chế độ phong kiến Đó là cáh nhìn phiến diện, không đặt con người trong tổng hoà mối quan hệ
* Khát vọng hạnh phúc đã giúp nàng mạnh mẽ vượt lên những quy định khắt khe “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” của xã hội phong kiến Ở lầu xanh, Thuý Kiều ý thức được nhân phẩm của mình Nàng đau khổ, tuy gắn bó với Thúc Sinh, nàng vẫn chủ động khuyên chàng trở về trần tình với vợ cả để danh phận rõ ràng “Chị
ra phận chị, em phận em”
* Thuý Kiều là con người đáng thương, đáng trọng Nàng thuỷ chung và giữ gìn mọi nhẽ để tình yêu của mình tốt đẹp Khi phải bán mình chuộc tội cho cha và em, Kiểu chịu nhục về thể xác, đau đớn về tinh thần, bao giờ Kiều cũng dành riêng cho Kim Trọng nhớ sâu sắc nhất
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương luống những rày trong mai chờ hoặc: “Phẩm tiên rơi xuống tay hèn
… Nhị đào thà bẻ cho người tình chung”
Và “Khi về hỏi Liễu Chương Đài Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay”.
Kiểu còn là một người con hiếu thảo Xã hội ấy buộc nàng phải đặt lên cân những gì không thể cân được Nàng đã hi sinh tình yêu
để được làm người con có hiếu Đặc biệt để giữ mãi mối tình của mình với chàng Kim, nàng đã khước từ trong tiệc đoàn viên, chỉ xin làm người bạn
“Người yêu ta xấu với người
… Chẳng cần cho vững lại giày cho tan”.
* Mọi khổ đau của cuộc đời Thuý Kiều đều do chế độ phong kiến
Trang 33tàn ác gây ra Đứng đầu là bọn quan lại và dưới trướng là bọn
buôn thịt bán người Vì thế đọc “Truyện Kiều” ta nhận ra bàn chất
vô nhân đạo, độc ác của giai cấp phong kiến thống trị đối với con người nhất là đối với phụ nữ Vì thế quan niệm “đàn bà chớ đọc Thuý Kiều, Thuý Vân” là sai lầm, bảo thủ cần phải bác bỏ
Câu 2 SGK Cảm nhận về nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của
Nam CaoSau khi vào đề, bài viết phải đảm bảo các ý:
- Chí Phèo là nạn nhân của chế độ phong kiến+ Người nông dân hiền lành lương thiện chỉ biết bán rẻ sức lao động của mình để kiếm sống
+ Chỉ vì một chuyện không đâu, Chí bị bỏ tù
+ Sau bảy, tám năm ở tù trở về, Chí đã bán linh hồn cho quỷ dữ, mất hết cả hình người, tính người
+ Chí bị lợi dụng và trở thành người đâm thuê, chém mướn
- Gặp gỡ Thị Nở, Chí khao khát trở về sống lương thiện
+ Đó là buổi sáng đẹp trời sau cái đêm gặp Thị Nở, Chí nhận ra
âm thanh quen thuộc của đời thường
+ Bát cháo hành của Thị nở cũng là tình yêu của Thị đã làm Chí bừng tỉnh
+ Khát vọng của một thời hiện về + Lần đầu tiên ta thấy Chí cười nghe thật hiền
- Cánh cửa tình yêu sập đóng, Chí bị cự tuyệt quyền làm người.+ Thị Nở trút tất cả những lời bà cô lên Chí
+ Chí “ngạc nhiên” rồi “chợt hiểu” có nắm thắt lưng của thị kéo lại nhưng thị đã xô Chí ngã chỏng khoèo
+ Chí vác dao đến nhà Bá Kiến dõng dạc đòi quyền làm người.+ Chí ý thức được không thể trở về cuộc sống lượng thiện được nữa
Chí đã đâm chết kẻ thù và tự sát
- Ý nghĩa của nhân vật Chí Phèo:
+ Tìm ra được nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá của nhân vật Chí Phèo
+ Nam Cao không chỉ tố khổ cho người lao động mà còn lên án hành vi vô nhân đạo
+ Cái chết của Chí Phèo chỉ ra cuộc đấu tranh một mất một còn giữa nông dân và giai cấp địa chủ Cách giải quyết mâu thuẫn ấy thật quyết liệt
+ Nam Cao không phủ định người nông dân mà giá trị truyện ngắn Chí Phèo là ở chỗ khẳng định phẩm chất tốt đẹp của người nông dân kể cả họ bị tha hoá mất đi hình người, tính người
Câu 3 SGK
Phân tích thái độ của Huấn Cao
đối với viên quản ngục trong
truyệ Chữ người tử tù của Nguyễn
Tuân
Sau khi vào đề, bài viết cần đạt được các ý:
- Quản ngục biệt đãi Huấn Cao nhưng Huấn Cao tỏ ra khinh thị đến điều (chứng minh)
Nguyên nhân của sự khinh thị này xuất phát từ phẩm chất của người anh hùng “Phú quý bất năng dâm”, “Uy vũ bất năng khuất”
- Nhưng sau lần ấy, Huấn Cao vẫn thấy “rượu thịt đều đều” không những Huấn Cao mà các bạn đồng chí của ông cũng vậy Thì ra viên quản ngục này là người “Biệt nhỡn liên tài” Huấn Cao đã nói
Trang 34ra điều ấy và cho quản ngục là “thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn độn xô bồ” Ông tự nghiệm thấy “Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng thiên hạ”
- Huấn Cao cho quản ngục chữ, cho những lời khuyên chân thành
Đó là nhân cách sống trước khi cho lời khuyên
- Ý nghĩa của thái độ nhân vật Huấn Cao đối với quản ngục
+ Bất kể chỗ nào, cái đẹp chân chính vẫn toả sáng+ Cái tài phải kết hợp với cái tâm Thiện kết hợp với cái đẹp
II GV nhận xét ưu, khuyết bài
- Khi đọc xong, đọc cả lời phê
VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 6 (Nghị luận xã hội – Bài làm ở nhà)
A MỤC TIÊU BÀI HỌC
- Trình bày quan niệm, ý kiến của mình một cách thuyết phục
- Vận dụng kết hợp được các thao tác lập luận, phân tích, so sánh bác bỏ
- Quan niệm tới những vấn đề xã hội đặt ra, có quan điểm và cách giải quyết đúng đắn
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
SGK + SGV + Bài soạn
C CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
- GV gợi ý từng đề một cách sơ lược, khái quát
- Yêu cầu Hs lập dàn ý trước khi viết
- Nhận biết sự vận động của tứ thơ, tâm trạng chủ thể trữ tình và bút pháp độc đáo, tài hoa của một nhà thơ mới
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
SGK + SGV + Bài soạn
C CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
Đọc sáng tạo, gợi ý trả lời câu hỏi, thảo luận
D TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Kiểm tra bài cũ
2 Giới thiệu bài mới
I Đọc – tìm hiểu
1 Tiểu dẫn
- Phần tiểu dẫn trình bày nội
dung gì? Tóm tắt những ý cơ
- Phần tiểu dẫn trình bày hai vấn đề:
+ Một là cuộc đời và sự nghiệp văn chương Hàn Mặc Tử
+ Hai là bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
Cuộc đời và sự nghiệp văn chương Hàn Mặc Tử
Trang 35bản + Nguồn gốc (sinh năm 1912 và mất 1940): Tên khai sinh là
Nguyễn Trọng Trí; quê làng Lệ Mĩ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới (nay là tỉnh Quảng Bình), trong một gia đình viên chức nghèo theo đạo Thiên Chúa Cha mất sớm Ông
ở với mẹ tại Quy Nhơn, học trường Trung học Pe- lơ- ranh ở Huế
+ Quá trình sống: Tốt nghiệp Trung học phổ thông, Hàn Mặc Tử làm ở Sở Đạc điền Bình Định rồi vào Sài Gòn làm báo Năm
1936 mắc căn bệnh hiểm nghèo- bệnh phong Ông về hẳn Quy Nhơn và mất tại nhà thương Quy Hoà- Quy Nhơn (1940)
+ Sự nghiệp văn chương: Ông làm thơ từ năm 14, 15 tuổi với các bút danh: Phong Trần, Lệ Thanh, Minh Duệ Thị; bắt đầu bằng thơ cổ điển Đường luật, sau chuyển sang sáng tác theo khuynh hướng thơ mới lãng mạn Tác phẩm chính:
* Gái quê (1936)
* Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cầm Châu duyên (1939)
* Duyên kì ngộ (kịch thơ- 1939)
* Quần tiên hội (kịch thơ- 1940)
* Chơi giữa mùa trăng (thơ văn xuôi - 1940) Ngoài tập Gái quê, toàn bộ thơ Hàn Mặc Tử chỉ được in thành
tập sau khi ông mất
Thơ Hàn Mặc Tử thể hiện một tình yêu đến đau đớn hướng về cuộc đời trần thế (yếu tố tích cực, căn cốt nhất)
Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ tiêu biểu của Hàn Mặc Tử.
ở hẳn ngoài Huế Trong thời gian chữa bệnh ở Quy Hoà, Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử có nhận được một tấm thiệp với vài lời động viên Tấm thiệp có in hình phong cảnh của sông Hương, cô gái chèo đò, cành lá trúc loà xoà Biết bao xúc động, những kỉ niệm một thời với Huế trỗi dậy trong lòng, Hàn Mặc Tử đã viết bài thơ này Mặt khác một tâm hồn ham sống gắn bó với đời lại đang bị sự sống ruồng bỏ, tử thần đang đe doạ Hàn Mặc Tử đã
viết thơ trong hoàn cảnh ấy Lúc đầu bài thơ có tên Ở đây thôn
Vĩ Dạ sau đổi là Đây thôn Vĩ Dạ.
- Em hiểu biết gì về tập Thơ
Điên?
- Tập thơ hoàn thành 1938, sau đổi thành “Đau thương” “Điên”
không phải là bệnh tâm thần, thần kinh mà “Điên” là trạng thái sáng tạo Đó là sáng tạo miên man, mãnh liệt “Điên” đã trở
thành quan niệm thẩm mĩ độc đáo Thơ Điên của Hàn Mặc Tử
nổi lên những đặc trưng cơ bản sau:
+ Điệu của cảm xúc của Thơ Điên là đau thương
+ Nhân vật trữ tình tự phân thân thành nhiều nhân vật khác+ Tạo nên nhiều hình sảnh kì dị
+ Mạch thơ đứt, nối đầy bất ngờ+ Từ ngữ đặc tả
Đây thôn Vĩ Dạ tiểu biểu cho đặc trưng trên của Thơ Điên.
b Bố cục
- Xác định bố cục và ý mỗi
Bài thơ có mạch liên kết đứt nối Vì vậy mỗi khổ là một đoạn thơ
Trang 36đoạn của bài thơ + Đoạn 1 (khổ 1): Miêu tả cảnh thôn vĩ và vườn tươi sắc lá, đơn
sơ mà thanh tú thể hiện cảm xúc say đắm, mãnh liệt với cảnh với tình người
+ Đoạn 2 (khổ 2): Cảnh sông nước đêm trăng đầy thơ mộng Ẩn sau cảnh ấy là cảm xúc buồn chia li một người thiết tha gắn bó với đời nhưng đang có nguy cơ phải chia lìa cõi đời
+ Đoạn 3 (khổ 3): Cảnh chìm trong mộng ảo giữa khách đường
xa trong mơ tưởng và sương khói mông lung biểu hiện cảm xúc vừa khát khao mơ ước và cả hoài nghi không hi vọng
mơ nhưng tràn ngập hoài nghi, không hi vọng
Bài thơ có bố cục đứt, nối không tuân thủ theo trình tự nhất định Vì thế có nhiều cách đọc hiểu:
+ Đọc- hiểu theo bố cục (từng đoạn, từng khổ thơ)+ Đọc- hiểu theo chủ đề
+ Đọc- hiểu theo cảm xúc chủ đạo của chiều diễn biến tâm trạng: nỗi lòng bâng khuâng say đắm nỗi buồn phấp phỏng chia li ước mơ nhưng trần ngập hoài nghi, không hi vọng Cách nào cũng có thể đọc- hiểu được Ở đây đọc hiểu theo chủ đề
1 Thiên nhiên và con người
thôn Vĩ đã gợi nỗi lòng bâng
khuâng, say đắm đến mãnh liệt
- Thiên nhiên và con người Vĩ
Dạ được gợi lên bằng hình ảnh
nào?
- Thiên nhiên thôn Vĩ được gợi ra bằng hình ảnh vườn cây ngập tràn nắng ban mai Những từ ngữ và hình ảnh:
+ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vĩ Dạ nổi bật là những vườn tươi cành xanh lá Với những hàng cau thẳng tắp vươn cao “Nắng mới lên” là nắng buổi mai còn tinh khôi, thanh khiết Ta từng bắt gặp nắng trong thơ Hàn Mặc Tử:
“Trong làn nắng ửng khói mơ tan”
Hay “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”
(Mùa xuân chín) Hai trường hợp nắng được miêu tả trực tiếp nắng ửng, nắng chang chang Câu thơ “nắng hàng cau nắng mới lên” chỉ gợi
chứ không tả Tác giả để cho người đọc tự ngẫm nghĩ Cách bố trí sắp xếp từ ngữ cũng rất đặc biệt trong câu thơ này: “nắng – hàng cau- nắng” Nắng tràn ngập, hàng cau tắm mình trong nắng, thanh khiết là ở chỗ ấy Hoà với nắng, với cau là màu sắc:
“Vườn ai mướt qua xanh như ngọc”
Mướt gợi ra sự mềm mại, mượt mà, mơn mởn, mỡ màng của lá non Hàn Mặc Tử nhìn màu xanh ấy đã liên tưởng tới màu xanh quý phái Mảnh đất này cũng là nơi tĩnh dưỡng của quan chức thời ấy sau khi nghỉ hưu Con người thôn Vĩ cũng có ấn tượng riêng:
“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Thấp thoáng sau những rặng tre là những khuôn mặt phúc hậu, hiền lành Cảnh và tình người Vĩ Dạ như có một sức hút để nhà thơ hướng tới
- Nỗi lòng của nhà thơ được
thể hiện như thế nào?
- Những câu thơ viết về thiên nhiên gây ấn tượng riêng là biểu hiện của nỗi lòng khao khát muốn về với thôn Vĩ Một nỗi nhớ
Trang 37một tình yêu ấp ủ ở trong lòng.
- Nỗi lòng ấy thể hiện qua câu thơ mở đầu:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”
Đây là lời người con gái hỏi, cũng có thể là lời tự hỏi mình Sự phân thân của nhân vật trữ tình đã làm cho câu hỏi ấy mang nhiều sắc thái của cảm xúc Nó là lời mời mọc, cũng là sự trách móc nhẹ nhàng Dù ở trạng thái cảm xúc nào nó cũng bộc lộ nỗi lòng thương nhớ đến bâng khuâng
Những cảm xúc ấy gợi cho em
- Câu thơ được viết ra trong lúc tác giả đang từng ngày, từng giờ đấu tranh với thần chết Điều ấy càng khẳng định sự mãnh liệt trong cảm xúc
2 Nỗi buồn chia li trước
cảnh, trước tình người
- Thiên nhiên được miêu tả
như thế nào?
- Thiên nhiên được miêu tả như là sự chia lìa, li tán:
“Gió theo lối gió, mây đường mây”
Tính chất khác thường như là phi lí ở câu thơ này Gió có thể bay theo chiều gió thổi Mây không thể bay theo đường mây được Theo lôgic thì gió và mây không thể tách rời nhau Tính chất phi lí là ở chỗ ấy Tại sao Hàn Mặc Tử lại miêu tả thiên nhiên như vậy? Dường như có sự chuyển đổi cảm giác trong cách miêu tả này Nhà thơ không nhìn thấy bằng mắt Cảnh vật hiện ra trong sự mặc cảm Đó là mặc cảm của sự chia lìa Cảnh
vật nhuốm nỗi buồn của con người: Dòng nứơc buồn thiu hoa bắp lay.
Câu hỏi trong khổ thơ giúp em
có suy nghĩ như thế nào?
- Câu hỏi là một lời nhắn gửi:
“Thuyền ai đậu… kịp tối nay?”
Hỏi mà nên thơ, nên hoa Cả một vùng sông nước đầy trăng Một khung cảnh thơ mộng huyền ải Nhà thơ như giãi bày, chia
sẻ với trăng nỗi niềm của mình Tại sao lại hỏi câu “Có chở trăng về kịp tối nay” Có đứng về phía cuộc đời hiện tại của nhà thơ mới hiểu hết nghĩa của câu thơ này Sự sống đối với Hàn Mặc Tử, lúc này chỉ tính bằng giờ, bằng ngày Vì thế câu hỏi mang lại nỗi niềm xót thương ở người đọc, người nghe Mặt khác chỉ còn lại trang mới hiểu hết tấm lòng của Hàn Mặc Tử Dường như trăng xoa dịu nỗi xót xa của con người
3 Một ước mơ nhưng tràn - Đoạn thơ:
Trang 38ngập hoài nghi, không hi
“Ai biết tình ai có đậm đà”
Em hiểu như thế nào về câu
hỏi cuối bài thơ này?
- Có hai tiếng “ai” Tiếng thứ nhất chỉ chủ thể bài thơ (thi sĩ) Tiếng “ai” thứ hai chỉ “khách đường xa” tức nhân vật “em”
- Về tình cảm, thi sĩ diễn tả rất tinh tế Nhà thơ như muốn nói với “khác đường xa” mình không dám tin vào sự “đậm đà” ấy Không dám tin vào tình cảm cảu khách đường xa cũng có nghĩa
là vẫn còn hi vọng Có điều thi sĩ biết mình có thể tin, có quyền được tin hay không Tâm trạng của thi sĩ lại rơi vào sự hoài nghi Vậy những uẩn khúc trong tâm trạng của Hàn Mặc Tử chính là lòng thiết tha với cuộc sống nhưng cũng đầy mặc cảm
- Niềm thiết tha với cuộc sống không phải thể hiện theo lối xuôi chiều mà trái lại đầy uẩn khúc của Hàn Mặc Tử
- Em có nhận xét gì về tứ thơ
và bút pháp của bài thơ?
- Tứ thơ là ýchính, ý lớn làm điểm tựa cho cảm xúc vận động
xung quanh Tứ thơ của Đây thôn Vĩ Dạ là hình ảnh thiên nhiên
và con người Vĩ Dạ Cảm xúc vận động xung quanh tứ thơ ấy là nỗi lòng thương nhớ bâng khuâng, với niềm hi vọng, tin yêu nhưng đầy uẩn khúc và mặc cảm
- Để làm rõ cảm xúc của tứ thơ ấy, bài thơ là sự kết hợp của nhiều bút pháp Bài thơ vừa tả thực, vừa lãng mạn, vừa chân thực vừa trữ tình
+ Cảnh đẹp xứ Huế nhưng đã vương tới lãng mạn qua trí tưởng tượng đầy thơ mộng
+ Nét chân thực của bài thơ càng làm nổi bật chất trữ tình
+ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”
Câu hỏi này không phải hướng tới ai Nó không phải là hình thức hỏi đáp Đây chỉ là hình thức diễn tả tâm trạng Đây là câu hỏi mang nhiều sắc thái tình cảm, vừa hỏi vừa hờn trách, vừa nhắc nhở, vừa mời mọc
+ “Thuyền ai đâu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”
Hỏi mà tạo nên bức tranh huyền ảo đầy thơ mộng Cả một vùng sông nước đầy trăng Hỏi mà như một lời nhắn gửi Nhà thơ như giãi bày chia sẻ với trăng nỗi niềm của mình Một nỗi uẩn khúc
Trang 39Vì sự sống với nhà thơ bây giờ chỉ còn tính bằng ngày.
Câu 2 SGK - Hàn Mặc Tử viết bài thơ này khi cái chết đã kề bên Đó là
hoàn cảnh tuyệt vọng Song nội dung bài thơ ta bắt gặp một tâm hồn gắn bó tha thiết với thiên nhiên, với tình đời và nỗi buồn đầy mặc cảm của riêng mình
- Từ hoàn cảnh sáng tác và nội dung của bài thơ khiến ta thêm thông cảm và chia sẻ với số phận bất hạnh của tác giả Đồng thời cảm phục về một tài năng, một nghị lực đã vượt lên hoàn cảnh nghiệt ngã để lại một thi phẩm có giá trị
Câu 3 SGK - Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ về tình yêu Nhưng đó là tình
yêu từ một phía nên nó ủ kín những tình cảm vừa đằm thắm thương nhớ vừa khao khát ước mơ nhưng hoài nghi Bao trùm lên là nỗi buồn chia lìa đầy mặc cảm
- Song qua lăng kính của tình yêu ấy, ta bắt gặp tình quê hương tha thiết trong tâm hồn con người Nó đã hội tụ được tình cảm chung của nhiều người, của nhiều thế hệ sau này
- Cảm nhận được bút pháp tả cảnh ngụ tình, vừa hiện đại, vừa cổ điển của bài thơ
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
SGK + SGV + Bài soạn
C CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
Đọc sáng tạo, gợi ý trả lời câu hỏi, thảo luận
D TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Kiểm tra bài cũ
2 Giới thiệu bài mới
I Đọc- tìm hiểu
1 Tiểu dẫn
- Phần tiểu dẫn trình bày nội dung
gì? Hãy tóm tắt
- Phần tiểu dẫn nêu hoàn cảnh và mục đích sáng tác tập thơ Nhật
ký trong tù Bài Chiều tối trích trong tập thơ ấy.
- Cụ thể: Mùa thu tháng 8/1942 với tư cách Việt Nam độc lập đồng minh hội và phân bộ quốc tế phản xâm lược ở Việt Nam,
Hồ Chí Minh sang Trung Quốc để tranh thủ sự việc trợ của thế giới Sau nửa tháng đi bộ đến thị trấn Túc Vinh tỉnh Quảng Tây, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ Suốt
13 tháng ở tù từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1943, Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giải tới giải lui khắp 13 phủ huyện, trên ba chục nhà lao Trong hoàn cảnh bất đắc chí ấy Người đã
Trang 40viết 134 bài thơ, ghi trong cuốn sổ tay lấy tên là Ngục trung nhật
ký Năm 1960, tập thơ được dịch ra tiếng Việt: Nhật ký trong tù -Bài thơ Chiều tối là bài thứ 31 của tập thơ Đây là bài thơ nằm
trong hệ thống những bài chuyển lao làm trong giai đoạn 4 tháng đầu Cụ thể là Bác bị chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo cuối thu 1942 (9/1942)
- Đọc đúng nhịp điệu, cảm xúc của thơ, nhịp 4/3
- Câu hai nguyên tác:
“Cô vân mạn mạn độ thiên không;”
dịch là: “ Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không” Bản dịch bỏ rơi
nghĩa cô lẻ của đám mây và mạn mạn là chầm chậm chứ không
phải là trôi nhẹ
- Câu ba: “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc”
dịch là: “Cô em xóm núi xay ngô tối” Nguyên tác không có chữ tối Dịch như cậy là làm mất đi vẻ tựnhiên và sáng tạo của thơ Bác
b Bố cục
- Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn,
ý của từng đoạn
- Thực ra bố cục của bài thơ tứ tuyệt là:
Khai, thừa, chuyển, hợp
Để tiện cho việc nhận biết các ý, ta có thể chia làm 2 đoạn.+ Đoạn một: Bức tranh thiên nhiên buổi chiều muộn Ánh sáng bụi dần đến khi tắt hẳn qua đó diễn ra sự mỏi mệt, nỗi buồn của người tù bị lưu đầy trên đất khách
+ Đoạn hai: Miêu tả hình ảnh một cô gái lao động khoẻ khoắn Người tù bỗng quên đi nỗi cô quạnh, u buồn của mình hoà với niềm vui của người lao động
c Chủ đề
- Xác định chủ đề của bài thơ
Miêu tả cảnh thiên nhiên vào lúc chiều muộn và hình ảnh khoẻ khoắn của cô gái xóm nùi trong lao động Đồng thời thể hiện sự vận động về tâm trạng của người tù bị lưu đày trên đất khách
II Đọc- hiểu
- Theo em có thể đọc- hiểu theo
cách nào?
- Có nhiều cách đọc- hiểu+ Theo bố cục
+ Theo chủ đề+ Theo kết cầu của bài tứ tuyệt: Khai, thừa, chuyển, hợp
Song bài này ta đọc- hiểu theo bố cục
1 Hai câu đầu
- Nên đặt tiêu đề để đọc- hiểu hai
câulà gì?
- Điểm nhìn của nhà thơ và bức
tranh thiên nhiên được miêu tả như
thế nào?
- Bức tranh thiên nhiên mang đầy tâm trạng
- Vào cảnh chiều muộn, điểm nhìn của nhà thơ phải là đỉnh trời Bồn chồn chung quanh là rừng núi âm u Nhà thơ chỉ có thể ngước mắt nhìn để quan sát
- Bác thấy gì: Một cánh chim về rừng vào chập choạng, một chòm mây côi cút trôi nhẹ trên tầng không
- Em có nhận xét gì về cách miêu tả
này?
- Bức tranh thiên nhiên đầy tính ước lệ của thi ca cổ phương Đông
+ Miêu tả thiên nhiên thường chú ý tới bầu trời, chòm mây
(Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến, Thu hứng của Đỗ Phủ, Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu).
+ Miêu tả buổi chiều muộn thường có hình ảnh của cánh chim
về rừng:
Chim hôm thoi thót về rừng