Tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao qua Chí Phèo Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao thể hiện ở cách nhìn nhận và khám phá đời sống tinh thần của người nông dân với một thái độ trân
Trang 1Hoạt động 2 TRÌNH BÀY LUẬN DIEM VUA DIỄN ĐẠT TRƯỚC LỚP
* GV gợi dẫn HS trình bày:
Thưa các bạn!
Thế nào là "Lời ăn tiếng nói của một học sinh văn minh, thanh lịch"? Chắc
chắn mỗi bạn đều có một quan niệm về vấn đề này Chẳng hạn, có bạn cho rằng nói năng là quyền tự do tuyệt đối của mỗi người, muốn nói thế nào cũng được Có
ban lại khẳng định nói năng là bộ mặt tỉnh thân của mỗi người, thể hiện trình độ
văn hoá của người đó Theo tôi, quan niệm thứ hai là đúng đắn, do đó cần phải phê phán và loại bỏ quan niệm thứ nhất Nếu nói năng là quyền tự do tuyệt đối của mỗi người thì việc văng tục, nói bậy, chửi thề cũng là quyền tự do tuyệt đối hay sao? Chắc chắn là nhiều bạn sẽ đồng tình với tôi rằng, nói bậy chửi tục là
hành vi kém văn hoá mà bất kì người học sinh nào có lòng tự trọng cũng không thể
chấp nhận được Nó sẽ làm xấu đi hình ảnh của người học sinh trước con mắt bạn
bè, thầy cô và những người đứng đắn khác trong xã hội Tôi cũng như các bạn sẽ
cam thấy thật ngại ngần khi buộc phải trò chuyên với một ai đó hê mở miệng là
văng tục, do đó chúng ta sẽ cố gắng tìm mọi cách để lẳng tránh những cuộc nói
chuyện đáng xấu hồ đó Nếu bất chợt gặp một bạn học sinh đang say sua văng tục
nói bậy thì một vị khách nào đó sẽ nghĩ gì về lứa tuổi học đường mộng mơ của chúng ta nhỉ? Chắc là họ sẽ thất vọng lắm
Thưa các bạn!
Đấ là con người thì phải có ý thức về những lời nói và việc làm của mình, do
đó, theo tôi, không thể có một thứ nói năng tự do tuyệt đối bản năng, phải không
các bạn?
Xin cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe!
Hoạt động 3 THAM KHẢO MỘT SỐ BÀI VIẾT VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC
1 Tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao qua Chí Phèo
Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao thể hiện ở cách nhìn nhận và khám phá đời
sống tinh thần của người nông dân với một thái độ trân trọng, cảm thông sâu sắc
Nam Cao cũng miêu tả sự bần cùng hoá của người nông dân, nhưng ông không chỉ nói đến những nỗi khổ do bị áp bức bóc lột như chị Dậu, anh Pha mà còn phát hiện
ra một nỗi đau ẩn sâu trong tiềm thức của người nông dân nghèo như một mặc cảm cố hitu, dai dang và cũng như một thứ nghiệp chướng bủa vây hết kiếp nay sang kiếp khác; đó là nỗi đau bị cướp đoạt quyền làm người và không được coi là con người Đối với một con người có ý thức thì đây là nỗi đau lớn nhất bởi nó đồng nghĩa với nỗi nhục, đồng nghĩa với sự khai tử một kiếp người Chi tiết điển
Trang 2hình cho nỗi đau này thể hiện ở cuộc đối thoại cuối cùng giữa Chí Phèo và Bá
Kiến, trong đó có hai câu nói của Chí Phèo mang hai thái độ khác nhau:
Câu thứ nhất: Tao muốn làm người lương thiện!
Có thể nói, đây là thời điểm bùng nổ của tiềm thức để vượt qua mặc cảm, nó
khẳng định sự toàn thắng của ý thức và thể hiện khát vọng được thừa nhận quyền làm người
Câu thứ hai: Ai cho tao lương thiện?
Đây là lời chất vấn của ý thức hoàn toàn tỉnh táo, nó là thời điểm Chí Phèo
đau đớn hiểu ra rằng mình không còn cơ hội được trở lại làm người Lời chất vấn thể hiện sự phẫn nộ đã được đẩy tới giới hạn cuối cùng để biến thành nỗi đau tuyệt vọng và khởi đầu cho một cuộc nổi loạn về ý thức (điên khùng không phải vì rượu như trước, mà vì bế tắc và tuyệt vọng)
Có thể thấy câu thứ nhất là thái độ thương lượng với một tâm trạng hồi hộp phấp phỏng và mong manh hi vọng tìm ra lối thoát, cho dù chỉ là một h1 vọng mơ
hồ ảo tưởng Còn câu thứ hai có thái độ quyết liệt mang tính đối kháng một mất một còn trong tâm trạng phẫn uất và tuyệt vọng
Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao thể hiện ở thái độ tố cáo, lên án gay gắt
những thế lực tàn bạo đã áp bức, xô đẩy người nông dân lương thiện vào con
đường lưu manh hoá, tước đoạt quyền làm người của họ Kẻ đại diện cho thế lực
cường hào ở nông thôn trực tiếp xô đẩy Chí Phèo vào con đường lưu manh hoá là
Bá Kiến Hắn đã đẩy Chí Phèo vào nhà tù chỉ vì một sự ghen tuông vu vơ và đây
chính là bước khởi đầu cho tấn bị kịch bị cướp đoạt quyền làm người của Chí Phèo Nhà tù của chế độ thực dân đã biến Chí Phèo từ một người nông dân lương thiện chất phác thành một kẻ lưu manh côn đồ, tha hoá về nhân tính
Sau khi Chí Phèo ở tù về, tuy vẫn ôm mối hận thù với Bá Kiến, nhưng vì u mê
mù quáng nên Chí Phèo đã bị tên cáo già lọc lõi biến thành một công cụ cho cái
bất lương và cái ác Trong bàn tay phù thuy của Bá Kiến, Chí Phèo đã trở thành con quý dữ của làng Vũ Đại, kẻ thù của đồng loại, gây đổ máu và nước mắt cho
bao nhiêu người lương thiện
Có thể nói, tội ác lớn nhất và mang tính bản chất của chế độ thực dân phong
kiến mà Nam Cao phát hiện và lên án gay gắt nhất chính là tội ác huỷ diệt nhân tính bởi một khi con người, dù là người lương thiện nhất, đã bị huy diệt nhân tính
thì nó sẽ trở thành công cụ của cái ác Điều đáng sợ mà Nam Cao muốn cảnh báo
thông qua tác phẩm Chí Phèo là: Chí Phèo không phải một ngoại lệ, nghĩa là đã và đang có một công nghệ tha hoá nhân tính rất bài bản và sẽ kéo dài vô tận
Trang 3Điểm sáng đặc sắc nhất trong chủ nghĩa nhân đạo của Nam Cao là trong khi
miêu tả quá trình lưu manh hoá của người nông dân, tác giả đã hướng ngòi bút vào
thế giới nội tâm của nhân vật, phát hiện, nâng niu và trân trọng những đốm sáng nhân tính còn le lói, chưa lụi tắt hắn trong tâm hồn họ; diễn tả sâu sắc, tinh tế khát
vọng hoàn lương của họ Ngay cả khi Chí Phèo đã thực sự trở thành con quy đữ,
Nam Cao vẫn rọi sâu nguồn ánh sáng nhân đạo của ngòi bút vào trong tiềm thức
của nhân vật để thấy được ở Chí Phèo sự thèm khát được giao tiếp với đồng loại, với xã hội loài người, dù chỉ là giao tiếp dưới hình thức chửi nhau (đoạn chửi đồng đầu tác phẩm và đoạn sau khi gặp thị Nở: Hắn thèm làm hoà với mọi người biết bao!) Trong tác phẩm, Nam Cao đã dành phần chủ yếu để khám phá và diễn
tả sự thức tỉnh khát vọng hoàn lương và lí giải tấn bi kịch tinh than cua nhân vật Nhiều người cho rằng, đoạn miêu tả cuộc gặp gỡ Chí Phèo - thị Nở đáng gọi là những dòng tuyệt bút không chỉ vì nó thấm đẫm lòng thương yêu con người, mà còn vì ngòi bút tài hoa của tác giả đã tái hiện sinh động một mối tình như hàng
triệu mối tình khác trên hành tinh này, kể từ khi có xã hội loài người Đó thực sự
là một tình yêu lứa đôi với đầy đủ các cung bậc tình cảm: đắm say cuồng nhiệt,
rạo rực mong chờ, thấp thỏm hi vọng và cũng đầy nước mắt hờn giận chia li
Nhưng, khác với tất cả những mối tình đã, đang và sẽ có, khi mà người ta yêu nhau
để tận hưởng niềm hạnh phúc trần thế hoặc để tiến tới hôn nhân nhằm thực thi bổn phận làm người thì mối tình Chí Phèo - thị Nở lại mang một vẻ đẹp cao cả, một sứ
mệnh thiêng liêng là làm nhịp cầu nối kì điệu cho một con vật đặt chân lên để bắt
đầu một cuộc hành trình về với xã hội loài người Tình yêu của thị Nở là cái ngòi
nổ tức thì làm bùng cháy lên ngọn lửa nhân tính đang âm ỉ leo lét trong tâm hồn Chí Phèo, kéo hắn Chí Phèo về trong vòng tay của đồng loại, khiến Chí Phèo không còn thèm rượu mà thèm lương thiện muốn được trở về với cái xã hội
bằng phẳng thân thiện của những người lương thiện Nam Cao đã diễn tả quá trình thức tỉnh ý thức của Chí Phèo như là sự thức tỉnh nhân tính, qua đó thể hiện niềm tin chân thành vào bản tính lương thiện của người nông dân nghèo, cho dù họ đã bị đẩy xuống vực thắm tối tăm của kiếp sống thú vật
Thông qua tấn bi kịch đầy máu và nước mắt của Chí Phèo, Nam Cao lên
tiếng khẩn thiết và đầy phẫn uất về một cuộc đấu tranh giành lại và bảo vệ quyền
được làm người cho những người nông dân đang giấy giụa trong hoàn cảnh bị bần
cùng hoá, lưu manh hoá thật bất công và phi nhân tính
Cũng thông qua tấn bị kịch của Chí Phèo, Nam Cao đã chỉ ra nỗi đau tột cùng của con người nói chung, người nông dân nói riêng bởi con người không chỉ có nhu cầu ăn no mặc lành, mà quan trọng hơn, còn có nhu cầu được trò chuyện,
được nhớ nhung, được yêu Nghĩa là được thoả mãn những nhu cầu của đời sống tinh thần, bởi đây mới chính là bằng chứng căn bản nhất để phân biệt loài người
Trang 4với loài vật Câu nói và cũng là tiếng kêu thương đau đớn “ao muốn làm người lương thiện” cùng với câu hói và cũng là tiếng thét thất thanh tuyệt vọng "A1 cho
tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này?”
chính là lời tố cáo đanh thép và tiếng kêu khẩn thiết đòi quyền làm người cho những kẻ đã bị dồn đuổi đến cùng đường tuyệt lộ và không còn cơ hội hoàn lương
Tuy chưa thể chỉ ra lối thoát khả dĩ cho những số phận bi thảm như Chí Phèo, nhưng tác phẩm của Nam Cao đã chứa đựng những tư tưởng nhân đạo thật sâu sắc và mãnh liệt Tư tưởng nhân đạo ấy gắn liền với một cái nhìn hiện thực sắc
sảo, mới mẻ và một tài năng lớn của nhà văn hiện thực Nam Cao Nói cách khác, khi miêu tả một cách chân thực quá trình phát triển của tính cách nhân vật, đặc
biệt là những diễn biến về tâm lí với thái độ cảm thông, trân trọng con người thì
ngay trong giá trị hiện thực của tác phẩm đã hàm chứa giá trị nhân đạo rồi Vì vậy,
khi nói đến tư tưởng nhân đạo của Nam Cao là chúng ta muốn nhấn mạnh đến thái
độ, tình cảm của ông đối với con người, nhất là những con người dưới đáy và khẳng định niềm tin của ông vào khả năng tự thức tỉnh, cũng như tự cứu mình của
họ theo tinh thần của câu ngạn ngữ: Hãy tự cứu mình trước khi trời cứu!
2 Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ lãng mạn 1930 - 1945 qua một số tác phẩm của: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử
Trải qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian và sự thăng trầm bởi những
định kiến xã hội, ngày nay Thơ mới 1930 - 1945 đã được trả lại vị trí xứng đáng của nó trên thi đàn dân tộc Ngay từ khi mới ra đời, thơ lãng mạn đã thối một luồng sinh khí mới vào nền thơ dân tộc khiến người ta phải thừa nhận đó là một thời đại mới trong thi ca Ngày nay, cùng với những khoảng cách thời gian, các giá
trị về tư tưởng và nghệ thuật của Thơ mới ngày càng được đánh giá khách quan công bằng hơn và dần dần các giá trị ấy được khăng định là những đóng góp không nhỏ cho kho tàng văn hoá dân tộc Ba trong số nhiều tác giả của Thơ mới
được đông đảo bạn đọc thuộc nhiều thế hệ khác nhau trân trọng và yêu thích là
Xuân Diệu, Huy Cận và Hàn Mặc Tử
Có thể nói công lớn đầu tiên cần phải ghi nhận của thơ lãng mạn 1930 - 1945
là đã đưa ra được một cái "tôi" - cá nhân, cá thể và đề cao nó như một chủ thể sáng tạo nghệ thuật Thái độ thẩm mĩ của cái "tôi" trước thế giới rất mới mẻ, da dạng, phong phú và có chiều sâu nhân bản Trước hết, nó bày tỏ một quan niệm tích cực trước cuộc sống, khích lệ con người dấn thân nâng cao chất lượng cuộc
sống và không chịu bất cứ sự ràng buộc nào Đây là quan niệm trái với nếp nghĩ của lễ giáo phong kiến đã ngự trị ở nước ta hàng nghìn năm Các nhà thơ lãng mạn cho rằng cuộc sống và tình yêu chính là món quà vô giá mà tạo hoá đã ban cho
Trang 5con người, vì thế con người cần phải biết tận hưởng nó ngay trong quỹ thời gian tồn tại của mình:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình sỉ
(Xuân Diệu, Vội vàng)
Thật ra, thơ ca trước đấy cũng không hiếm ong bướm, yến anh nhưng đó là
những hình ảnh mang tính ước lệ, còn trong thơ Xuân Diệu nó là những cảm nhận trực tiếp của một khúc tình si rạo rực Nó là niềm ham sống, ham yêu luôn hối
thúc, giục giã và mời gọi khiến cho thi nhân cứ thảng thốt trước sự ngắn ngủi của mỗi đời người Cảm nhận ấy giúp cho thi nhân càng hiểu rõ giá trị của cuộc sống, nhất là giá trị của tuổi trẻ và tình yêu, đồng thời có khát vọng hoàn thiện cuộc sống ở một tầm cao mới:
sinh sôi nảy nở và buồn vui như những con người Đó là thiên nhiên mang vẻ đẹp của nỗi buồn thầm lặng:
Răng liêu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
(Day mua thu toi)
Nhưng cũng là thiên nhiên đồng cảm với niềm vui của con người:
Chiêu mộng hoà thơ trên nhánh duyên
Cây me ríu rít cặp chim chuyền
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến — nơi nơi động tiếng huyền
(Thơ duyên)
Trang 6và thiên nhiên cũng xốn xang như tâm trạng của kẻ đang yêu:
Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân ván
(Thơ duyên)
Nhờ thơ lãng mạn mà người đọc hiểu biết thêm về thiên nhiên và xúc động
trước những vẻ đẹp giản dị, gần gũi của thiên nhiên:
Sao anh không về chơi thôn Vi Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai muot quad xanh nhu ngoc
Lá trúc che ngang mặt chữ điển
(Han Mặc Tử, Đáy thôn Vĩ Dạ) Thiên nhiên được cảm nhận trực tiếp bằng các giác quan cụ thể, cho nên cùng với tình yêu thiên nhiên, nó còn khơi dậy tình yêu quê hương đất nước Trong suy
tưởng của người đọc, cái thôn Vĩ Dạ nhỏ bé kia đã trở thành biểu tượng cho xứ Huế thơ mộng, trong đó tình cảm của thi nhân đối với người con gái thôn Vĩ dường như còn hàm chứa cả lòng biết ơn Trong một bài thơ khác, Hàn Mặc Tử đã
phác hoạ một bức tranh mùa xuân về một xóm quê yên a, hai hoa:
Trong làn nắng ứng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lãm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí bóng xuân sang
(Mùa xuân chín)
Từ xưa đến nay, bao thế hệ người đọc đã sửng sốt ngỡ ngàng trước một dòng
sông mênh mang đẹp và buồn, dòng sông gửi gắm những tình cảm quê hương thật
tha thiết và cảm động:
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyển đò ngang
Không cầu sợi chút niêm thân mật Lăng lế bờ xanh tiếp bãi vàng
Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
(Huy Cận, Tràng Giang)
Trang 7Trong hoàn cảnh xã hội mà thơ lãng mạn ra đời, khi mà bọn thực dân Pháp
đang tìm mọi cách để xoá bỏ dần những truyền thống văn hoá và niềm tự hào dân tộc thì những câu thơ trên không chỉ hay mà còn thấm đượm tình cảm tự hào đối với quê hương đất nước Đó là một đóng góp về mặt tư tưởng rất đáng trân trọng của thơ mới 1930 — 1945
Tuy nhiên, mảng đề tài lớn nhất và có nhiều thành tựu nhất của thơ lãng mạn chính là mảng đề tài tình yêu Thơ tình ở thời kì này phong phú đến nỗi nhiều khi
người ta đồng nhất thơ lãng mạn với thơ tình Với quan niệm tình yêu là một thuộc tính thiên phú vĩnh cửu, một giá trị của tuổi trẻ, một niềm hạnh phúc trần thế; thơ tình 1930 - 1945 đã chống lại quan niệm của lễ giáo phong kiến cho rằng con người chỉ có hôn nhân và nghĩa vụ Ở khía cạnh này, thơ lãng mạn đã làm được
một nhiệm vụ lịch sử là giải phóng cá nhân khỏi những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến để vươn tới những vẻ đẹp hồn nhiên, kì diệu của tình yêu lứa đôi
Xuân Diệu cho rằng muốn sống có ý nghĩa trước hết phải đắm say với tình yêu Trong thơ Xuân Diệu, tình yêu hiện ra muôn màu muôn vẻ với nhiều cung bậc khác nhau Khi thì là những rung động nhẹ nhàng trong một buổi chiều đẹp:
Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn Lân đầu rung động nỗi thương yêu
(Xuan Diéu, Tho duyén)
Có khi lại là một cách nói thang thắn đến suồng sã mà lễ giáo phong kiến khó
lòng chấp nhận:
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ
Em, em ơi, tình non đã già rồi Con chỉm hồng, trái từn nhỏ của tôi Mau với chứ! Thời gian không đứng đợi
(Xuan Diéu, Giuc gid)
Tình yêu trần thế có sức hấp dẫn kì diệu đến mức ngay cả khi nó thấm đầy nước mắt và sự hoài nghi, nó vẫn không kém phần thiết tha và vẫn đẹp:
Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
O day sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
(Hàn Mặc Tử, Đáy thôn Vĩ Dạ)
Trang 8Nhưng do quá đề cao cái "tôi" và tình yêu tới mức cực đoan, cho nên bên cạnh
tiếng nói ngợi ca và vồ vập tình yêu, tho lãng mạn còn âm ï một nỗi buồn, đôi khi nhuốm màu sắc bi luy Có thể nỗi buồn trong thơ lãng mạn bắt nguồn từ hai
nguyên nhân sau: một là, thời kì ấy, những người có chút hiểu biết và lòng tự trọng
đều thấm thía nỗi buồn vì thân phận nô lệ; hai là, các thi sĩ đều có mặc cảm bất lực
và mất phương hướng trước thời cuộc Và ngay trong nỗi buồn cũng có nhiều cung
bậc khác nhau, nó thể hiện sự tinh tế và phức tạp trong tâm hồn nhạy cảm của các nhà thơ trước thiên nhiên và cuộc sống Có khi đó là nỗi buồn mênh mang tưởng như vô cớ:
Lơ thơ côn nhỏ gió đìu hiu Đáu tiếng làng xa vấn chợ chiều Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông đài trời rộng bến cô liêu
(Huy Cận, Tràng Giang)
và có lúc nó trở nên rợn ngøợp, vô vọng:
Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ
(Xuân Diệu, Trăng)
Thậm chí, nỗi cô đơn, buồn thảm có thể biến thành một thế giới hãi hùng đầy
mu và nước mắt:
Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
Vố tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mưứa máu ra
(Hàn Mặc Tử, Say frăng)
Xét về bản chất, nỗi buồn trong thơ lãng mạn cũng có yếu tố tích cực, nó thể
hiện thái độ phủ nhận kiếp sống phù du mong manh trong xã hội đương thời và buộc con ngươi phải suy nghĩ để lựa chọn một cách sống thích hợp hơn Tuy
nhiên, có lúc nỗi buồn đã được tô đậm quá mức và đầy lên thành nỗi sầu thiên cổ hoặc nỗi buồn định mệnh thì yếu tố tiêu cực của nó cũng có tác hại không nhỏ tới
người đọc, nhất là tầng lớp thanh niên Nó có thể gieo vào lòng người đọc những
cảm nhận thụ động, yếm thế và mất lòng tin vào cuộc sống cũng như lòng tin vào chính bản thân mình:
Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề
(Xuân Diệu, Nguyệt cẩm)
Trang 9Tiếng nức nở gởi gió đường quạnh quế Sâu chỉ lắm trời ơi! Chiều tận thế!
(Huy Cận, Nhạc sầu)
Cả niêm yêu, ý nhớ, cả một vùng
Hoá thành vũng máu đào trong ác lặn
(Han Mặc TỪ, Trường tương tr)
Song, xét về mặt tư tưởng, nỗi buồn bi ai không phải là nội dung cơ bản của
thơ lãng mạn 1930 - 1945, nó chỉ là những mảng tối thoáng qua trong sự bế tắc
mang tính lịch sử của thời đại Cái mới trong quan niệm về tình yêu, coi tình yêu
là một giá trị, lấy tình yêu làm thước đo chất lượng cuộc sống chính là những đóng
góp đáng ghi nhận của thơ lãng mạn Hơn nữa, những đóng góp về mặt nghệ thuật của thơ lãng mạn là rất to lớn và có tác dụng lâu dài Một mặt Thơ mới tiếp thu và
kế thừa những tinh hoa của thơ ca dân tộc, mặt khác nó tiếp nhận sự hiện đại của
thơ ca phương Tây để nâng cao thơ dân tộc lên một tầm vóc mới Thơ mới đã vượt
qua những điển cố, những ước lệ của thơ cổ, phá bỏ niêm luật của thơ Đường để đến thăng với những cảm xúc thật của con người:
Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!
Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!
Hãy dáng cả tình yêu lên sóng mắt!
(Xuân Diéu, Xa cach)
Thơ mới còn đưa được cả những sự vật tầm thường vào trong thơ, điều mà tho
Đường không thể chấp nhận:
Thuyền về nước lại sâu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng
(Huy Cận, Tràng Giang)
và diễn tả tinh vi những tình cảm của con người bằng các hình ảnh thơ:
Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay ?
(Hàn Mặc Tử, Đáy thôn Vĩ Dạ)
Đặc biệt, thơ mới còn có khả năng miêu tả sinh động những khát vọng phức tạp, đầy mâu thuẫn của tâm hồn con người:
Trang 10Nhưng mà tôi sẽ chết than ôi!
Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời
Kẻ đựng trái tìm trìu máu đất
Hai tay chín móng bám vào đời
(Xuân Diệu, H vô)
Với những đóng góp có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, thơ lãng mạn 1930 —
1945 là một cột mốc đánh dấu sự phát triển vượt bậc của thơ ca Việt Nam, trong
đó ba tác giả Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử luôn có một vị trí xứng đáng Tuy không phải là tất cả, nhưng những bài thơ hay của thơ lãng mạn nói chung, của ba
tác giả trên nói riêng thực sự có tác động tích cực tới người đọc, làm phong phú cho thế giới nội tâm của những ai biết rung động và trân trọng cái đẹp trong quá khứ Với ý nghĩa ấy, những thành tựu của thơ lãng mạn 1930 - 1945 chăng những đang được kế thừa và phát huy mà nó còn góp phần đáng kể vào việc bồi đắp lòng
tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ hôm nay để họ bổ sung vào hành trang tinh thần bước
tới tương lai
3 Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
Trước hết, giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ chồng A Phủ thể hiện ở việc tác giả đã bóc trần những tội ác của bọn đế quốc phong kiến trên cả hai phương diện: dùng bộ máy công cụ (cường quyền) và trò cướp dâu, trình ma (thần quyền) được
che giấu tinh vi đằng sau những phong tục tập quán, những hủ tục mê tín dị đoan
để áp bức bóc lột những người nông dân miền núi nghèo khổ Đó là việc cha con thống lí Pá Tra lợi dụng phong tục cướp dâu để bắt cóc My, biến My từ một cô gái trẻ trung xinh đẹp thành một thứ nô lệ không công bị bóc lột và hành hạ đến mức
tê liệt cả ý thức: Ở lâu trong cái khổ, My quen khổ rồi suốt ngày chỉ lùi lũi như
con rùa nuôi trong xó cửa Đó là việc cha con thống lí bày ra trò trình ma để khoác lên cổ My một cái án khổ sai chung thân bất thành văn và mưu toan đè bẹp mọi ý định phản kháng của My Và trên thực tế, thủ đoạn khủng bố tỉnh thần bằng cái trò trình ma này đã trở thành nỗi kinh hoàng còn đáng sợ hơn cả cái án tử hình, nó
da 4m anh My cho toi ca khi đã chạy trốn khỏi Hồng Ngài Chúng ta ngậm ngùi
trước cảnh một cô My ngồi chết lặng trong những đêm đông buốt giá và dường
như đã vô cảm trước những trận đòn vô cớ của A Sử, một gã côn đồ hung hãn đội lốt chồng và chính gã là nguyên nhân trực tiếp xô đẩy My vào bể khổ trầm luân Chúng ta sững sờ phẫn nộ trước cảnh My bị trói đứng vào cái cột trong buồng tối,
bị tước đoạt những quyền tối thiểu của con người bằng một thứ luật rừng tàn bạo Bên cạnh hình ảnh một cô My đang bị đồ vật hoá, sự xuất hiện của nhân vật A Phủ tạo thêm một tình huống để hoàn chỉnh bức tranh hiện thực A Phủ được giới
Trang 11thiệu như một số phận côi cút lạc loài còn sót lại sau một trận đậu mùa mà bố mẹ,
anh em đều chết hết và A Phủ đã từng là một món hàng đem đối lấy thóc để cuối
cùng lưu lạc đến Hồng Ngài Về tính cách, A Phủ có những điểm trái ngược với
Mỹ bởi ngay từ nhỏ A Phủ đã tó ra gan bướng, dám một mình bỏ bản Thái trốn lên núi Lớn lên A Phủ khoẻ, chạy nhanh như ngựa và hành động quyết liệt trước sự lộng hành ngang ngược của A Sử: chạy vụt ra ném con quay rất to vào mặt A Sử
xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp Bị cha con
thống lí phạt vạ, lúc đầu A Phủ cũng cam chịu chỉ đứng nhắm mắt cho tới đêm khuya, nhưng ngay sau đó đã thể hiện sự phản kháng Mắt A Phủ trừng trừng và
khi được My cắt dây trói thì quật sức vùng lên, chạy Thông qua việc miêu tả số phận của A Phủ, ngòi bút hiện thực sắc sảo của Tô Hoài đã phơi bày một sự thật
nhức nhối khác, đó là vấn đề công lí Người đọc uất ức và phẫn nộ khi kẻ phát đơn
kiện lại đóng vai chánh án để tuyên án người bị kiện Một vụ kiện vô lí và một phiên toà quái gở đã diễn ra tại nhà thống lí Pá Tra Phiên toà ấy đã biến một chàng trai khoẻ mạnh và giàu lòng nghĩa hiệp thành trâu ngựa trong nhà quan
Tuy nhiên, giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ chồng A Phú không chỉ dừng lại
ở việc tố cáo và lên án những bất công đen tối của xã hội mà nó còn thể hiện ở việc phát hiện ra sự vận động về tính cách của hai nhân vật My và A Phủ Dựa vào
quy luật có áp bức có đấu tranh và lấy việc miêu tả tâm lí làm điểm tựa vững chắc,
tác giả đã chỉ ra sự phát triển lôgic của tính cách Đó là quá trình đi từ sự tha hoá đến sự thức tỉnh và hành động tự phát tất yếu của My Tác giả đã theo sát những diễn biến tâm lí của nhân vật và đón đợi ở họ một sự đột biến, nhưng đó là sự đột biến có thể giải thích được vì nó phù hợp với sự vận động của cuộc sống Việc My
và A Phủ gặp nhau ở hành động tự cứu mình và cứu người để sau đó cùng đến với
cách mạng được coi là một sự thật mang tính điển hình cho giá trị hiện thực
Ngoài ra, thông qua việc miêu tả những hoàn cảnh điển hình của nhân vật, chúng
ta hiểu biết về đời sống vật chất, tinh thần của người Mèo, đặc biệt là các phong
tục tập quán của họ - đó cũng là một mảng thực tế góp phần làm nên giá trị hiện thực cho tác phẩm
Cùng với giá trị hiện thực là giá trị nhân đạo Thật ra, không thể tuyệt đối hoá
ranh giới giữa hai giá trị này bởi khi tác giả miêu tả chân thực những diễn biến tâm
lí của nhân vật với một thái độ trân trọng thì tự nó cũng đã hàm chứa giá trị nhân đạo rồi Nếu nhà văn chỉ sao chép hiện thực một cách khách quan lạnh lùng thì
không thể nắm bắt được những khoảnh khắc bùng nổ trong tâm hồn Mỹy và thái độ dứt khoát của A Phủ Đồng cảm với những số phận đau khổ và tin vào khả năng tự giải phóng của họ chính là giá trị nhân đạo lớn nhất của tác phẩm Vợ chồng A Phú Nếu như ở các tác phẩm văn xuôi hiện thực phê phán trước cách mạng, các tác giả đã bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với các số phận dưới đáy nhưng phần nào
Trang 12còn hoài nghi khả năng tự cứu của họ thì ở Vợ chồng A Phú, Tô Hoài không chỉ tin
mà còn chứng minh được sức mạnh tự giải phóng của những quần chúng cách
mạng như một chân lí của cuộc sống Tất nhiên, Tô Hoài có cái thuận lợi là được
viết Vợ chồng A Phủ sau Cách mạng tháng Tám, nhưng cũng cần nhớ rằng, ngay
trong cuộc kháng chiến chống Pháp vẫn còn không ít những cách nghĩ và cách
nhìn méo mó về quần chúng cách mạng như cái nhìn của nhân vật Hoàng trong
truyện ngắn Đói mắt của Nam Cao chẳng han
Tác phẩm Vợ chồng A Phủ đã giúp chúng ta hiểu biết về một mảng hiện thực
còn phần nào xa lạ, mới mẻ - đó là một đóng góp có giá trị hiện thực, hiểu theo nghĩa thông thường nhất Thông qua việc miêu tả quá trình phát triển về tâm lí,
tình cảm của hai nhân vật My và A Phủ để khăng định sự phát triển về tính cách
của họ hoàn toàn phù hợp với quá trình giác ngộ của quần chúng cách mạng, phù hợp với sự vận động của cuộc sống chính là giá trị hiện thực mang tính điển hình
hoá, khái quát hoá của sáng tạo nghệ thuật Đây là một thành công của tác giả trong việc phản ánh, miêu tả và lí giải hiện thực, đồng thời cũng chứng tỏ cái tâm trong sáng và nhạy cảm của tác giả — một nhân tố quyết định làm nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm Tuy nhiên, hai giá trị này luôn đan xen vào nhau, bổ sung cho nhau để tập trung làm rõ cho chủ đề tư tưởng của tác phẩm là: con đường đến với cách mạng của My và A Phủ là một tất yếu lịch sử
4 Ý nghĩa của hoàn cảnh điển hình trong truyện ngắn Mùz iạc (Nguyễn Khải) Hoàn cảnh điển hình là môi trường cụ thể để nhân vật phát triển tính cách
trong mối quan hệ qua lại giữa nhân vật này với các nhân vật khác và giữa nhân vật với thiên nhiên, xã hội xung quanh mình Ví dụ, hoàn cảnh điển hình trong tác
phẩm Tát đèn của Ngô Tất Tố là nông thôn Việt Nam trước Cách mạng trong mùa sưu thuế giới kì, hoàn cảnh điển hình trong tác phẩm Chi Phéo cua Nam Cao là nông thôn Việt Nam trước Cách mạng trong cơn lốc phân hoá và tha hoá dữ dội,
hoàn cảnh điển hình trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân là nạn đói khủng khiếp tháng 3 năm 1945 Còn trong tác phẩm Mùa iạc, hoàn cảnh điển hình là xã hội
mới, cuộc sống mới, quan hệ mới, đó là một môi trường tốt đẹp giàu tính nhân đạo, trong đó mọi người quan tâm và tạo điều kiện cho nhau cùng vươn lên để tìm một chỗ đứng thích hợp và có ích trong cuộc đời
Nhân vật trung tâm của truyện ngắn Ma lạc là Đào Tác giả đã miêu tả nhân
vật khá kĩ lưỡng từ nhiều góc độ như diện mạo, hành động, ngôn ngữ, nội tâm
Ngay từ đầu, nhân vật được tác giả giới thiệu: Đào thuộc loại người gặp một lần có
thể nhớ mãi, rất dễ phân biệt với những chị em khác Đào là một phụ nữ nghèo, không có nhan sắc, gặp nhiều rủi ro bất hạnh trong cuộc đời và cũng là người mạnh mẽ, táo bạo, từng trải Nhân vật đã được tác giả chăm chút khắc hoạ bằng
Trang 13bút pháp hiện thực Tính cách của Đào được cá tính hoá và đặt trong một hoàn
cảnh điển hình Cuộc đời bất hạnh của nhân vật được tác giả giới thiệu ngắn gọn: Lấy chồng từ năm 17 tuổi, nhưng chồng cờ bạc, nợ nần nhiều bỏ đi Nam đến đầu
năm 1950 mới về quê Ăn ở lại với nhau được đứa con lên hai thì chồng chết Cách
mấy tháng sau đứa con lên sài bỏ đi để chị ở một mình Từ ngày ấy, chị không có
ø1a đình nữa, đòn gánh trên vaI, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường Cuộc sống cô
đơn khốn khó như vậy đã khiến cho con người, nhất là người phụ nữ goá bụa như
Đào rất dễ rơi vào tình trạng cam chịu, buông xuôi Nhưng ngay từ đầu, nhân vật
Đào đã có những phản ứng với hoàn cảnh rất phù hợp với tính cách của mình bởi
Đào vốn là người sống táo bạo và liều lĩnh, ghen tị với mọi người và hờn giận cho
thân mình và luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ muốn tìm một nơi hẻo lánh nào đó, thật xa
những nơi quen thuộc để quên đi cuộc đời đã qua, còn những ngày sắp tới ra sao chị cũng không cần rõ, đại khái là cũng chăng hơn gì trước mấy, có thể gặp nhiều
điều đau buồn hơn Tuy nhiên, việc lên nông trường Điện Biên đã tạo thành một
bước ngoặt thay đối số phận và tính cách của nhân vật Đào Từ một người phụ nữ xấu xí, nghèo khổ, cô đơn; Đào đã trở thành một nữ công nhân khoẻ mạnh, năng động và lạc quan yêu đời Lời ăn tiếng nói của Đào cũng thay đối, từ đanh đá chua cay chuyển dần sang nhẹ nhàng tình cảm Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi tính cách của nhân vật là bởi Đào được trực tiếp tham gia lao động và sinh hoạt với một
tập thể lành mạnh, cảm nhận được niềm tự hào khi thấy mình là người có ích cho
xã hội Ban đầu, cuộc sống mới đến với Đào bằng sự cảm thông, thái độ tôn trọng của Huân Chính Huân đã động viên khích lệ Đào hăng hái lao động và thể hiện năng khiếu khi viết bài báo tường #)ờng lên nông trường Điện Biên, đó là một bài thơ mà khi dán lên có rất nhiều người yêu thích và thuộc lòng Trong không khí
lao động tràn đầy tiếng cười đùa thân ái, Đào dường như trẻ lại với những phẩm
chất của nữ tính ngày càng đằm thắm hơn Cuộc sống mới đã làm thay đổi tính cách và số phận của nhân vật Đào, trong đó nhân tố quyết định là Đào đã tìm thấy hạnh phúc riêng cho mình Cũng như mọi người phụ nữ khác, Đào mong muốn có một hạnh phúc gia đình trọn vẹn, nhất là khi đã tìm được chỗ đứng cho mình trong
môi trường xã hội mới, một xã hội không có những định kiến nặng nề về quá khứ
của những thân phận như Đào Mong muốn ấy đã trở thành niềm hi vọng không
sao cưỡng nổi: mỗi buổi đi làm, cùng nhổ lạc ở một khoảnh, cùng đứng tuốt ở một máy, nhìn những cánh tay cuồn cuộn những thớ thịt cháy nắng đỏ rực của Huân
thoang thoáng bên cạnh, chị lại bừng bừng thèm muốn một cảnh gia đình hạnh phúc, lại hi vọng cuộc đời mình chưa hẳn đã tắt hắn, một cái gì chưa rõ nét lắm nhưng đầm ấm hơn, tươi sáng hơn những ngày đã qua cứ lấp loé ở phía trước Và hạnh phúc đã đến với Đào thật bất ngờ Khi nhận được lá thư ngỏ lời cầu hôn của
Dịu, Đào đã bàng hoàng trong một cảm giác êm đềm cứ lan nhanh ra như mạch
Trang 14nước ngọt rỉ thấm vào những thớ đất khô cằn vi nắng hạn, một nỗi vui sướng kì lạ dào dạt không thể nén lại nổi khiến người chị ngây ngất, muốn cười to một tiếng, nhưng trong mi mắt lại đã mọng đầy nước chỉ định trào ra Từ ngày goá bụa đến nay, chưa ai nói được với chị một câu nào yêu thương, một lời gắn bó, chưa ai khao khát đến chị, coi chị là nguồn hạnh phúc của họ, là niềm an ủi cho họ Những dòng những chữ trong bức thư xa lạ cứ như tiếng nhạc ngân vang mãi trong long chị, vang dội đến tận những kẽ ngách sâu kín nhất, thức tính nỗi khao khát yêu đương, khao khát hạnh phúc mà chị cố hắt hủi, vùi nén một cách bất lực từ ngót chục năm trời nay
Ở phần cuối của truyện ngắn Ä⁄0z lạc, chúng ta thấy tính cách của nhân vật
Đào dường như hoàn toàn mới lạ cả về hình thức lẫn nội tâm Đào trở thành một
người phụ nữ lao động giỏi, sống chan hoà, cởi mở với mọi người Nguyên nhân
cơ bản nhất, mang tính điển hình nhất là ở chỗ Đào đã tìm thấy quê hương và hạnh phúc đích thực cho mình, đã ý thức được sâu sắc mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa mình với hoàn cảnh của cuộc sống mới, con người mới: Tất cả đều là những người đáng yêu, tất cả đều vun xới cho hạnh phúc của chị, đấy là anh em, là người làng,
họ nhà gái cả Cái mảnh đất này, cái khoảng trời này đối với chị quen thuộc và thân yêu biết bao
Thông qua việc miêu tả nhân vật Đào, tác giả khẳng định sự thay đổi số phận cho những con người như Đào chỉ có thể trở thành hiện thực trong xã hội mới, nơi hình thành những quan hệ mới giữa con người với con người và điều quan trọng là
tất cả những cái mới đó phải được hình thành và phát triển trong lao động xây dựng đất nước sau chiến tranh Trong tập thể những con người mới ấy, nổi bật là
vai trò của nhân vật Huân Huân đại diện cho lối sống mới tốt đẹp, là nhân tố trực
tiếp tạo lập mối quan hệ mới với nhân vật Đào Huân thường xuất hiện bên cạnh nhân vật Đào như một một sự tương phản giữa một bên là người đàn bà ít duyên dáng với một bên là người thanh niên rất khoẻ và đẹp trai và nếu Đào đanh đá bốp
chát thì Huân lại tươi trẻ cởi mở Có thể nói, Huân là nhân vật lí tưởng, tiêu biểu cho cái mới mẻ tinh khôi Chiến tranh, gian khổ, năm tháng đã luyện cho tâm hồn anh một cái gì rất trong đến nỗi anh soi vào mình mà thấy được tâm tư của người
khác, một nghị lực mà chỉ những lúc khó khăn mới thấy hết được sức mạnh của nó
và sự hi sinh hồn nhiên giản dị cho lí tưởng của mình, cho những người khác cùng
đi với mình trên một con đường Huân là người thấu hiểu quá khứ tủi cực của Đào và là người có tác động trực tiếp đến tâm lí, tình cảm của Đào, khơi dậy trong
Đào niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc và đẩy lùi dần những mặc cảm
nặng nề về thân phận còn đeo bám Đào như một gánh nặng của quá khứ
Ngoài mối quan hệ với những con người mới, nhân vật Đào còn được đặt trong mối quan hệ với một cuộc sống mới và một thiên nhiên mới Thời gian mà