Ngày nay, chúng ta thường nghe nói đến stress, một từ, phản ảnh nhận thức và phản ứng của con người trước những tác động của môi trường bên ngoài và bên trong vào đời sống của họ. Stress trở nên phổ biến ở mọi tầng lớp dân cư, bất kể giàu sang hay nghèo khó. Từ đó, đặt ra cho giới nghiên cứu khoa học và những ngành nghề mang tính trợ giúp con người như tâm lý học, tâm thần học, tham vấn, công tác xã hội… trách nhiệm tìm hiểu và đề ra những biện pháp xử lý stress. Đối với nghề Công tác xã hội, theo định nghĩa đã được thông qua của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội quốc tế tại Montreral Canada vào tháng 7 năm 2000 (IFSW International Frderation of Social Worker), nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, trao quyền để người yếu thế có khả năng tự tạo hạnh phúc cho mình. Nguyên tắc làm việc của NVCTXH là dựa trên quyền con người và hệ thống công bằng xã hội, tại nơi người dân sinh sống. Nhân viên công tác xã hội có mối quan hệ hợp tác với đủ các thành phần từ trẻ em đến người cao tuổi, về mọi vấn đề như phúc lợi trẻ em, vấn đề bạo lực, vấn đề khuyết tật về thể chất và tinh thần, phúc lợi cho tuổi già, người bịnh mãn tính, người bịnh ở giai đoạn cuối v.v… Làm việc với những người yếu thế nên luôn phải đối mặt với các vấn đề mà thân chủ của họ đang phải đối phó, họ dễ bị tác động, căng thẳng theo. Công việc mà nhân viên công tác xã hội thường tiếp xúc là những bất trắc khó khăn của thân chủ, việc này tác động không ít đến cảm xúc của NVCTXH. Ngoài ra, họ cũng rất khó tránh khỏi cảm xúc, tình cảm khi đi cùng thân chủ để giúp thân chủ giải quyết vấn đề, mà các vấn đề này thường kéo dài, không thể giải quyết ngay tức thì trong một buổi, một ngày nên buộc họ luôn suy nghĩ tìm giải pháp, công việc luôn đeo đẳng họ suốt ngày, lúc làm việc, khi ở nhà. Choàng gánh công việc, đôi khi công việc quá sức, quá tầm tay của NVCTXH do thiếu nguồn nhân lực, thiếu NVCTXH hoặc chưa đủ chuyên môn, kiến thức, môi trường làm việc chưa thuận lợi, thiếu hợp tác hoặc hợp tác chưa đồng bộ v..v, Nên khi việc hỗ trợ chưa thành công, NVCTXH dễ dẫn đến nản lòng, thất vọng về chính mình, dẫn đến kiệt sức, chán nản, buông xuôi, căng thẳng. Tất cả cả những đặc điểm nghề nghiệp khó khăn và phức tạp như trên, nên người thực hành trong nghề nghiệp này rất dễ bị stress. Hiện chưa có điều tra cụ thể về tỉ lệ NVCTXH bị stress ở Việt Nam, nhưng ý kiến chung đều cho rằng, đây là một nghề rất thách thức và đòi hỏi hao tốn thời gian, sức lực thể chất và tinh thần, một nghề rất có nguy cơ bị rơi vào stress tiêu cực nếu không có cách ứng phó hiệu quả . Do vậy, NVCTXH cần nhận thức đúng về bản thân, cần biết cách giải tỏa căng thẳng,
Trang 1Professional Psychology: Research and Practice
1997, Vol 28, No 3, 217-228 0735Copyright 1997 by the American Psychological Association, Inc
-7028/97/S3.00
CÁC PHƯƠPNG PHÁP TIẾP CẬN HIỆN NAY NHẰM ĐÁNH GIÁ VÀ
ĐIỀU TRỊ NGƯỜI BỊ BỆNH TÂM THẦN
Jeffrey R Bedell
Illinois Department of Mental Health and
Developmental Disabilities and Southern Illinois University Patrick W Corrigan
University of Chicago
Những chuyên gia về tâm thần học ngày càng có nhiều cơ hội làm việc với những người bị rối loạn tâm thần kinh niên và nghiêm trọng Việc quản lý chăm sóc khuyến khích các dịch vụ giảm bớt sự tin cậy vào điều trị nội trú tại bệnh viện và hướng tới nhiều hơn hơn vào sự kết hợp của liệu pháp điều trị ngoại trú chuyên sâu và vắn tắt có tính chất dại hạn tại cộng đồng, giảm chi phí duy trì và hỗ trợ Các hoạt động chẩn đoán cần phải hiệu quả bao gồm các đánh giá thiết thực và chính xác Các trị liệu tâm lý đã được minh chứng hiệu quả gồm những đào tạo những kỹ năng về xã hội, hành vi nhận thức, liệu pháp hỗ trợ thực tế, liệu pháp cá nhân, mô hình chức năng đa phương pháp, cam kết các phương pháp trị liệu, quản lý trường hợp và cuối cùng là liệu pháp gia đình kết hợp đa phương pháp Đây là các kỹ thuật trị liệu và đánh giá có
sự đổi mới được mô tả cùng với một số trị liệu dùng để thí nghiệm về rối loạn chức năng nhận thức Trong quá khứ, rất nhiều nhà tâm lý học đã
tin rằng họ ít cung cấp cho các cá nhân bị rối
loạn tâm thần nghiêm trọng, như tâm thần phân
liệt và trầm cảm kinh niên, cũng như đã xem xét
các trường hợp này thích hợp hơn cho trị liệu các
chứng bệnh về tâm thần mà có nền tảng từ việc
nghiên cứu những tác dụng của thuốc lên cơ thể
và chăm sóc tại bệnh viện Đào tạo tâm lý học cơ
bản bao gồm không nhiều sự biểu hiện quá trình
làm việc và đào tạo thực hành cho những cá nhân
bị rối loạn tâm thần (Millet & Schwebel, 1994),
và đây là các mô hình tương đối ít vai trò trong
môn học nhằm khuyến khích sinh viên đeo đuổi
lĩnh vực chuyên môn này Xu thế chủ đạo của
tâm lý học dường như trọng tâm vào trị liệu cho
một số ít vấn đề về rối loạn tâm lý, vào y học
hành vi, và thương tổn chức năng của não bộ
(Stewart, Horn, Becker, & Kline, 1993)
Tuy nhiên, việc điều trị những người bị rối
loạn tâm thần đang trở thành một lĩnh vực ngày
một quan trọng về thực hành cho các nhà tâm lý
học Đây là một nhóm nhỏ các nhà tâm lý học,
họ đã tập trung nghiên cứu nhóm dân cư này
trong nhiều năm (ví dụ, xem Wohlford, Myers,
& Callan, 1993), và họ cũng mang lại những
đóng góp quan trọng cho trị liệu, quản lý và ngăn
ngừa bện tâm thần (Geczy & Sultenfuss, 1994;
Hargrove & Spaulding, 1988) Có sự thay đổi đáng kể trong hiểu biết về tỉ lệ phục hồi từ những người bị tâm thần, nó thể hiện rằng hầu hết mọi người phản ứng thích hợp với trị liệu và nhiều người đã phục hồi hoàn toàn (Harding, Zubin, & Strauss, 1987) Minh chứng quan trọng về sự thay đổi trọng tâm vào trị liệu tâm lý, Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ/ American Psychological Association (APA) gần đây đã xuất bản cuốn Giám đốc thực hành một lực lượng đặc biệt về tâm thần/Nhiễu loạn về cảm xúc đã báo cáo với
Ủy ban Tiến Bộ về Thực Hành chuyên nghiệp (Advancement of Professional Practice (CAPP).) Đội ngũ đặc biệt này tập trung vào các vấn đề về đào tạo, trị liệu, liên hệ với khác hàng và dược lý tâm lý Đội ngũ này hỗ trợ CAPP trong việc cung cấp các ý kiến của giới chuyên môn và sự lãnh đạo nhằm trợ giúp cho việc duy trì sự năng động trong kỷ nguyên tư nhân hóa của lĩnh vực công cộng và pháp chế cho sự bình đẳng của sự bao phủ về sức khỏe tâm thần đang ngày càng trở trọng tâm vào những người bị rối loạn tâm thần (Staton, 1991; Sullivan, 1995) Điều này cũng ngày càng trở nên quan trọng cho các nhà tâm lý học có các kỹ năng đánh giá và trị liệu phù hợp với số đông những khách hàng này Mục tiêu của bài viết này nhằm mô tả sự những trao đổi chính trong thực hành liên quan tới người bị tâm thần
Trang 2và những đổi mới đã đang được phát triển trong
những năm gần đây liên quan tới trị liệu và đánh
giá tâm lý Vì thời lượng có hạn, cúng tôi có thể
không đề cập tới tất cả các phương pháp trị liệu
cũng không đưa ra việc xem xét quá trình phát
triển tiền thân của mỗi phương pháp Tuy nhiên,
chúng tôi sẽ cung cấp những thông tin chi tiết về
một số trong các kỹ trị liệu được ứng dụng rộng
rãi và hiểu rõ nhất mà có thể tạo sự quan tâm cho
các nhà tâm lý học
Jeffrey R Bedell có được tấm bằng tiến sĩ
về tâm lý học lâm sàng tại Đại Học Nam Florida
năm 1975 Hiện nay ông là phó giáo sự về tâm
thần học (chuyên ngành tâm lý học) Tại trường
Mount Sinai về Y học và đang là giám đốc của
Tùy chọn Cộng đồng, một chương trình nghiên
cứu lâm sàng tại Bệnh viện Trung tâm Elmhurst,
phát triển và lượng giá các trị liệu cộng đồng
hiệu quả và lâm sàng cho những người bị tâm
thần Richard H Hunter lấy bằng tiến sĩ từ Đại
Học Illinois Southern tại Carbondale năm 1982
Ông là nhà tâm lý học lãnh đạo tại Tại Cục Dịch
vụ lâm sàng, Văn Phòng Illinois về Sức khở tâm
thần và Khuyết tật về phát triển, và là phó giáo
sư về lâm sàng tại Văn Phòng về Tâm Thần học
tại Khoa Y Trường Đại Học Southern Illinois
Ông đang làm việc về các chương trình và chiến
lược can thiệt điều trị- phòng chống cho các
bệnh nhân và can thiệp cho những người bị chẩn
đoán có rối loạn về chậm phát triển trí tuệ và tâm
thần Partrick W, Corrigan, tiến sĩ tâm lý học,
ông là phó giáo sư về tâm thần học của Đại Học
Chicago, ở đây ông đã chỉ đạo Trung tâm Phục
hồi chức năng tâm thần, đây là một chương trình
đào tạo, nghiên cứu, lâm sàng cho những người
bị tâm thần và gia đình của họ Ông cũng là một
điều tra viên và giám đốc chính của Viện Đào tạo
Cán bộ Illinois về Phục hồi chức năng cho những
người bị tâm thần, liên quan trực tiếp tới việc
vận hành và duy trì các chương trình phục hồi
chức năng hiệu quả trong bối cảnh xã hội thực tế
SỰ TƯƠNG ỨNG VỚI BÀI VIẾT NÀY được
nêu ra bởi Jeffrey R Bedell, Mount Sinai
Services của Khoa Y trường Mount Sinai, Trung
tâm Y tế Elmhurst, 79-01 Broadway, Elmhurst,
NewYork 11373
Môi trường thực hành mới/ The New
Practice Environment.
Những thay đổi trong môi trường thực hành
đang hình thành nên tâm lý học tâm sàng là gì?
Các nhà tam lý học ngày nay đang được yêu cầu cung cấp các chương trình trị liệu hiệu quả cho những người một thời bị xem xét là không thích hợp hoặc thiếu sự thích ứng cho liệu pháp trị liệu tâm lý, và những giới hạn đang được thay đổi về bản chất của việc cung cấp Những bệnh nhân ngày càng có các đặc điểm được phác thảo ra dưới đây:
Những rối loạn kinh niên và nghiêm trọng/ Serious and Chronic Disorders
Tâm lý học, như một nghề nghiệp, trong quá khứ đã có sự trọng tâm về những người bị rối loạn tâm thần ở mức độ nhẹ và trung bình Những nhà tâm lý học chúng tôi đang ngày càng
có nhiều cơ hội để chữa trị cho những người bị rối loạn nghiêm trọng, như tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc, rối loạn lưỡng cực, trầm cảm hoang tưởng, và rối loạn phát triển toàn diện Tất nhiên, các nhà tâm lý học đã cung cấp dịch vụ lâm sàng cho những người mắc rối loạn trên trong quá khứ Tuy nhiên, trong tương lai, các thân chủ với những chẩn đoán như vậy có thể ngày càng phổ biến hơn ở những thực hành lâm sàng của các nhà tâm lý học Các thân chủ đã điều trị tại các trung tâm sức khỏe tâm thần công cộng có thể có những rối loạn nghiêm trọng này (Staton, 1991; Sullivan, 1995)
Các triệu chứng cấp tính/ Acute Symptoms
Không chỉ làm cho những thân chủ đang được điều trị ngoại trú gặp nhiều rối loạn nghiêm trọng hơn, nhưng rất nhiều triệu chứng trong số này còn trở nên sâu sắc hơn các bệnh nhân đã được điều trị ngoại trú trong quá khứ Thay đổi này là kết quả của sự chuyển dịch trong các mô hình trị liệu (a) yêu cầu sự hiện diện của nhiều triệu chứng rõ rệt hơn trước khi một thân chủ được chấp nhận vào chương trình trị liệu nội trú
và (b) và các chương trình điều trị nội trú ngắn hạn (có thể là 10 ngày 1 năm, Staton, 1991) điều này đổi hỏi sự hoàn thành của những thân chủ với các triệu chứng ít ổn định hơn
Như một hệ quả, nhiều chương trình trị liệu ngoại chú chuyên sâu đang được thiết lập để điều trị cho những người bị các triệu chứng cấp tính hơn, cả để giảm bớt nhu cầu cần nằm viện và tạo thuận lợi cho việc hoàn thành sớm Các nhà tâm
lý học được mong đợi sử dụng chuyên môn của mình trong quá trình lượng giá và bình ổn các
Trang 3triệu chứng, tăng cường những kỹ năng sao chép,
và duy trì thân chủ tại cộng đồng Các nhà tâm lý
rất quan trọng với quá trình trị liệu khi họ có kỹ
năng liên quan tới việc bình ổn những thân chủ
có các triệu chứng cấp tính và cấp sự tăng cường
kỹ năng Một điều cũng rất quan trọng là những
nhà tâm lý học thể hiện khả năng dẫn dắt trong
quá trình thành lập mạng lưới trị liệu để huy
động các nhà chuyên môn, khách hàng và nguồn
lực của gia đình
Ít các hỗ trợ từ môi trường/ Fewer
Environmental Supports
Những bệnh nhân bị rối loạn nghiêm trọng
thường được biết đến như những người có sự
liên quan tới việc ít đuợc hỗ trợ từ môi trường
hơn những người bị rối loạn kinh niên và ở mức
độ ít nghiêm trọng hơn họ Những thân chủ bị
các triệu chứng này trải qua một thời gian dài
căng thẳng với hệ thống hỗ trợ của mình Gia
đình đôi khi rút lui và đặt niềm tin hơn vào các
nhà trị liệu sức khỏe tâm thần Những người bị
các khiếm khuyết nghiêm trọng cũng ít khả năng
bảo vệ quyền của họ Nơi ăn chốn ở và thu nhập
có thể không đạt yêu cầu hoặc không đầy đủ
Những nhà tâm lý học, để làm việc hiệu quả,
phải hiểu làm thế nào để phát triển các hỗ trợ về
xã hội và chắc chắn rằng thân chủ sử dụng và
nhận được các quyền lợi cần thiết
Đa khuyết tật/Multiple Disabilities
Thực tế cho thấy rằng những người bị các rối
loạn nghiêm trọng thường mang trong mình
nhiều loại khiếm khuyết Việc lạm dụng dược
chất (những chất gây nghiện) là vấn đề làm trầm
trọng thêm các khiếm khuyết về sức khỏe tâm
thần thường xuyên nhất Chậm phát triển trí tuệ
có thể xuất hiện cùng lúc với các chứng bệnh về
tâm thần, và những rối loạn về nhân cách thường
đi kèm với chứng tâm thần phân liệt và sự trầm
cảm nghiêm trọng Thêm vào đó, những người bị
tâm thần phân liệt thường trải qua những mức độ
đáng kể của sự lo lắng và trầm cảm, các mức độ
này có thể được điều trị thêm vào với những ảo
giác, hoang tưởng và các trở ngại về hành vi của
họ Những đề cập dưới đây tạo ra các vấn đề
thậm chí là khó khăn hơn:
1 Các nhà thực hành (trị liệu) được yêu
cầu sử dụng ít đi những chăm sóc y tế Trong
quá khứ, những người bị rối loạn tâm thần
nghiêm trọng có ít sự hỗ trợ từ môi trường sống sẽ sẵn sàng được nhập viện nhất Việc nhập viện cung ứng sự bảo vệ cho thân chủ và bảo đảm rằng những nhà chuyên môn luôn sẵn sàng 24 giờ một ngày Tuy nhiên, ở mức 500
đô la hoặc nhiều hơn cho một ngày điều trị nội trú và sự soi sáng của rất nhiều các minh chứng về những lựa chọn dựa vào cộng đồng hương tới việc nằm viện, chăm sóc y tế ngày càng được duy trì cho những bệnh nhân không thể được điều trị một các rõ ràng trong sự chọn lựa ít giới hạn hơn (hoặc chi phí điều trị ít đi)
2 Các nhà trị liệu cũng được yêu cầu đề cung cấp liệu pháp điều trị ngoại trú vắn tắt hơn Cùng thời điểm việc trị liệu nội trú đang
bị giới hạn cho những bệnh nhân bị nặng nhất, việc trị liệu nội trú sẽ bị giới hạn Các liệu pháp điều trị ngắn gọn tập trung vào các triệu chứng đặc trưng và những thiếu hụt về chức năng sẽ trở thành các lựa chọn điều trị Những nhà trị liệu lành nghề sử dụng các liệu pháp điều trị ngắn gọn theo yêu cầu
Tiến bộ trong đánh giá các bệnh nhân bị những chứng bệnh về tâm thần nghiêm trọng
Chăm sóc quản lý đang ngày càng trở thành mục tiêu của các dịch vụ sức khỏe tâm thần cho những người bị các chứng bệnh tâm thần đặc thù Ví dụ, luật pháp ngày càng tập trung vào các dịch vụ cho những người bị rối loạn tâm thần, như tâm thần phân liệt, các rối loạn về hành vi, rối loạn lưỡng cực, trầm cảm hoang tưởng, và các rối loạn trong quá trình phát triển (Staton, 1991) Cùng thởi điểm đó, điều trị tập trung vào các khiếm khuyết về chức năng liên quan tới các chứng bệnh về tâm thần rõ ràng Ví dụ, điều trị cho người bị tâm thần phân liệt phải được tập trung vào sự đa dạng như các kỹ năng sao chép, các thiếu hụt về môi trường hoặc các xung đột đột gia đình đã trực tiếp góp phần làm trầm trọng hơn rối loạn tâm thần phân liệt Các trị liệu toàn thể hoặc các trọng tâm của chúng vào quá trình điều trị (ví dụ, sự chuyển dịch) thường sẽ không được hỗ trợ trừ khi chúng có thể đưa ra được rối loạn được chẩn đoán của người bệnh.Vì thế, cácnhà thực hành có kỹ năng là vô cùng cần thiết trong quá trình đánh giá thiết thực và chính xác
Chẩn đoán chính xác/ Categorical Diagnosis
Trang 4Do việc trị liệu ngày càng được trọng tâm
vào những người bị rối loạn nghiêm trọng hơn,
nên việc có những nhà thực hành có kỹ năng
chẩn đoán các bểu hiện như tâm thần phân liệt,
rối loạn hành vi, rối loạn lưỡng cực, và rối loạn
trong quá trình phát triển là vô cùng cần thiết
Cuốn Hướng dẫn Chẩn Đoán và Thông Kê
Những Rối loạn Tâm Thần (Chỉnh lý lần thứ 4,
DSM-IV; Hiệp Hội những nhà Tâm Thần Học
Hoa Kỳ, 1994) đã trở thành tiêu chuẩn cho việc
chẩn đoán và được nhiều công ty bảo hiểm,
Medicare và Medicaid chấp nhận Vì thế, kỹ
năng sử dụng DSM- IV rất cần thiết Nó cũng
được giới thiệu rằng các nhà thực hànhtiếp nhận
các hệ thống tiêu chuẩn hóa về chẩn đoán chính
xác, như Cấu trúc phỏng vấn lâm sàng cho
DSM-IV/Structured Clinical Interview for the
DSM-IV (SCID-IV; First, Spitzer, Gibbon, &
Williams, 1995) Việc đào tạo các nhà tâm lý học
chuẩn bị cho họ trở thành các những người chẩn
đoán xuất sắc, kỹ năng sử dụng các đánh giá tâm
lý tiêu chuẩn nên đảm bảo được sử dụng đúng
đắn và độ tin cậy trong chẩn đoán chính xác của
các nhà tâm lý học
Chẩn đoán thiết thực/Functional Diagnosis
Hầu hết các cơ quan quản lý chăm sóc mong
muốn nhà lâm sàng chứng minh việc trị liệu
được cung cấp liên quan với các khiếm khuyết
của bệnh nhân như thế nào Trọng tâm vào
khiếm khuyết về mặt chức năng đã giúp ích cho
mối quan tâm này Ví dụ, đánh giá về một cá
nhân có những chẩn đoán chính xác về tâm thần
phân liệt có thể phát hiện sự thiếu hụt kỹ năng ở
khả năng nói lên yêu cầu của mình một cách
chính xác Sự thiếu hụt kỹ năng này rất hệ trọng
bởi nó dẫn dắt các xung đột căng thẳng với gia
đình và những người đồng đẳng với họ, dẫn đến
hệ quả là việc làm tăng lên các triệu chứng của
bệnh tâm thần phân liệt và việc tái phát lại… Sự
thiếu hụt kỹ năng có thể được điều trị bằng cách
cung cấp các quá trình đào tạo các kỹ năng giao
tiếp cho bệnh nhân và gia đình của họ Sự phát
triển kỹ năng giao tiếp trong bệnh nhân này sẽ có
sự tương tác trực tiếp với chứng tâm thần phân
liệt Chức năng đánh giá tập trung vào mức độ ở
đó khả năng và sự thể hiện nào của cá nhân phù
hợp với những nhu cầu của gia đình, công việc,
trường học, và vị thế xã hội của họ Bằng cách so
sánh các kỹ năng cần thiết và nguồn lực hiện có
thông qua cá nhân, chúng được đòi hỏi nhằm duy
trì sự chiếm hữu cộng đồng, thu nhận thông tin
về các khu vực thuộc về chức năng của các thế
mạnh và sự thiếu hụt Việc điều trị được nhắm tới tại các khu vực tồn tại sự thiếu hụt của bệnh nhân Các nhà thực hành có kỹ năng tại đánh giá
có thể cung cấp thông tin cần tnhieets cho hướng dẫn quá trình điều trị những người bị các rối loạn nghiêm trọng về tâm thần Những ví dụ về các loại kỹ thuật đánh giá này được cung cấp bởi Farkas, O'Brien, Cohen, and Anthony (1994) và Yoman and Edelstein (1994)
Những tiến bộ trong điều trị cho người bị các chứng bệnh nghiêm trọng về tâm thần
Các phương pháp trị liệ trong phần được mô
tả trong phần minh họa phạm vi của các phương pháp tiếp cận này, mỗi phương pháp với quy tắc
và phạm vi nhấn mạnh riêng Tuy nhiên, chúng cũng chia sẻ một số đặc trưng phổ biến liên kết lại với nhau Những đặc trưng tương đồng đó gồm những đề cập sau đây:
1 Các quá trình điều trị chia sẻ các quan điểm tích cực về người bệnh Rất nhiều vấn đề
đã được viết về các dự đoán ít uy tín về những người bị rối loạn tâm thần như chứng tâm thần phân liệt Ví dụ, trong mô tả về hội chứng của tâm thần phân liệt, đánh giá DSM-IV phát biểu
“Hoàn thành sự thuyên giảm….hầu như chắc chắn không phổ biến…một vài xuất hiện có tiến trình ổn định liên quan…một số khác cho thấy lũy tiến đang làm tồi tệ hơn luên quan tới khiếm khuyết nghiêm trọng” (Hiệp hội những nhà tâm thần học Hoa Kỳ, 1994, tr.282) Quan điểm về những bệnh nhân này như những người có tình trạng bệnh nghiêm trọng, bi quan thái quá, và làm nản lòng việc điều trị Những nhà trị liệu đã mô tả trong bài viết này
có cái nhìn tích cực về những bệnh nhân trên
và quá trình trị liệu của họ Thêm vào những kinh nghiệm lâm sàng, các nhà trị liệu này có
sự am hiểu về các tìm kiếm nghiên cứu như việc đã tìm thấy một nửa số bệnh nhân bị tâm thần phân liệt được phục hồi đáng kể những rối loạn của họ (Harding và đồng sự, 1987) và những người mà căn bệnh của họ trở thành
“kinh niên” đã được giúp trợ giúp và cải thiện
và đáp lại quá trình trị liệu phù hợp (Bedell, 1994) Sự hi vọng là một thành phần quan trọng trong các phương pháp trị liệu được mô
tả trong bài viết này
2 Các trị liệu này cũng chia sẻ các định hướng đào tạo kỹ năng và tiếp nhận Hầu hết các phương pháp điều trị đã cho thấy có hiệu quả với những người bị các chứng bệnh tâm
Trang 5thần dựa vào lý thuyết học tập xã hội và liệu
pháp hành vi truyền thống Lý thuyết và truyền
thống này bao gồm sự định hướng tích cực tới
điều trị nhằm cố gắng xây dựng sự tự nhận
thức, am hiểu về những người khác và các kỹ
năng sao chép cho bệnh nhân Các quy định
này được cấu trúc , là các mục tiêu, và được
tiêu chuẩn hóa bất cứ khi nào được mỗi khi có
thể Chúng nhấn mạnh vào mô phạm giáo dục,
chứng minh và mô hình hóa, thực hành, phản
hồi và trong hoạt động điều trị
3 Các điều trị có chung một định hướng
kết quả Những quy định được mô tả trong bài
viết này trọng tâm vào những mục đích và kết
quả của các điều trị như một quá trình, tuy
nhiên chúng nhấn mạnh vào người sáng tạo ra
Những mục đích khác quan được ưa thích hơn
những mục tiêu chủ quan Nếu một quá trình
điều trị được quy định không cho kết quả
mong đợi, thì quá trình đó cần được thay đổi
cho phù hợp để thu nhận được kết quả phù
hợp
4 Các điều trị này cũng vận động các
nguồn lực không chuyên nghiệp Chúng tôi
nhận ra rằng một phông nền chung của rất
nhiều các trị liệu sau đây là việc sử dụng các
đồng đẳng viên, gia đình và những người
không chuyên khác nhằm tăng cường các kết
qủa điều trị Không chuyên được hiểu là
những đối tác cần thiết trong quá trình điều trị,
những người có thể giỏi hơn cả những nhà
chuyên trong một số cách thức hay lĩnh vực
quan trọng Họ thường biết nhiều hơn về cộng
đồng và những nguồn lực chứa đựng trong đó
và cũng có thể vận động bệnh nhân tham gia
điều trị tốt hơn những người khác, thực hiện
chức năng như những mô hình vai trò đáng tin
cậy về hành vi thích ứng, họ có thể giám sát
tình trạng sức khỏe hàng ngày của bệnh nhân,
có khả năng tốt hơn trong việc hình thành mối
quan hệ hỗ trợ và gần gũi, có thể dạy cho thân
chủ các phương pháp sao chép đơn nhất vì
những kinh nghiệm cá nhân của họ
Một số phương pháp trị liệu tâm lý có tính
đổi mới sử dụng các đặc trưng này đã đã thể hiện
tính hiệu quả đối với những người mắc các bệnh
về tâm thần nghiêm trọng Khuôn khổ của bài
viết không cho phép mô tả cho tất cả các phương
pháp điều trị hiệu quả Hơn nữa, một số phương
pháp đã được trình bày nhằm cung cấp những ví
dụ hiệu quả về những việc đã hoàn thành trong
khu mực này và khuyến khích tính sáng tạo của
độc giả Phần sau đây miêu tả mô hình tổng quan
của điều trị, được đề cập dến như liệu pháp điều trị dài hạn mục tiêu xác định-không liên tục/ targeted-intermittent long-term therapy (trong quá trình điều trị có sự cách quãng về thời gian) Ngoài ra, chúng tôi trình bày những mục tiêu đặc thù được phát triển cho những những người mắc bệnh tâm thần, như các kỹ năng xã hội về nhận thức hành vi, liệu pháp gia đình, liệu pháp hỗ trợ thực tế, giao kết điều trị, quản lý trường hợp, và trị liệu các nhân Một số phương pháp điều trị đổi mới về rối loạn chức năng nhận thức cũng được đề cập
Liệu pháp điều trị dài hạn mục tiêu xác định-không liên tục/Targeted-Intermittent Long-Term Treatment
Làm thế nào để cung cấp các liệu pháp có tính kinh tế, hiệu quả và ngắn gọn cho những thân chủ gặp phải những khiếm khuyết lâu dài và nghiêm trọng trong lúc giảm thiểu tối đa cách thức truyền thống là điều trị tại bệnh viện? Một câu trả lời là sử dụng mô hình điều trị có tên gọi
là như liệu pháp điều trị dài hạn mục tiêu xác định-không liên tục/ targeted-intermittent long-term therapy (trong quá trình điều trị có sự cách quãng về thời gian)
Với dạng liệu pháp này, phương pháp điều trị được đề cập một cách sâu sắc (có thể là hàng ngày) trong suôt thời tăng gian những nhà chuyên môn được đào tạo để nhận định về các triệu chứng và khó khăn về chức năng, bao gồm một nhà tâm lý học, một nhà tâm thần học, và một nhân viên CTXH Cố gắng và chi phí của gia đoạn nhận diện mục tiêu trong phương pháp điều trị này rất cao nhưng được giải thích bằng các nguy cơ nhập phải nhập viện của tahan chủ, nếu để điều này xảy ra thì nó sẽ dẫn tới những chi phí và cố gắng để chạy chữa còn cao hơn
Phương pháp điều trị chuyên sâu này chỉ được cung cấp một cách không liên tục vì nó không được đảm bảo ngay cả khi sự thực hiện chức năng của thân chủ được tăng cường Nếu thân chủ thu được sự bền vững về mặt thực hiện chức năng, thì tần suất của trị liệu sẽ giảm từ cả tuần xuống còn 5 ngày một tuần, sau đó là vào mỗi ngày khác và cuối cùng là 2 ngày một tuần Nếu sự tiến triển vẫn tiếp cục, nhà tâm lý học điều chỉnh xuống còn một tuần một lần, 2 tuần một lần hoặc theo các buổi làm việc hàng tháng Tần suất về việc liên hệ để có sự hỗ trợ chuyên
Trang 6môn cũng được điểu chình để phù hợp với các
nhu cầu hiện thời của khách hàng
Trong suốt thời gian dài của việc thực hiện
chức năng một cách ổn định, việc điều trị có thể
được hoán đổi từ nhà tâm lý học cho người quản
lý trường hợp, đây là người có thể gặp gỡ thân
chủ 2 tuần một lần hoặc hàng tháng Việc giảm
đi sự liên hệ này đồng nghĩa với việc chi trả ít
hơn, điều này là phù hợp với các mức độ tiến
triển của thân chủ Trong suốt quá trình giảm bớt
sự liên hệ trực tiếp này, việc phục hồi chức năng,
học tập tiếp tục, và trạng thái thực hiện chức
năng của người bệnh được giám sát Tầm quan
trọng trung tâm là quan điểm rằng nhà trị liệu
luôn sẵn sàng cung cấp sự điều trị cần thiết
cường độ và tần suất đảm bảo theo mức độ thực
hiện chức năng của thân chủ Thêm vào đó, sự
học tập xuất hiện trong mỗi giai đoạn hiệu quả
của việc điều trị được sử dụng lại ở thời điểm
tiếp thân chủ trải qua những khó khăn tiếp theo
Qua một thời gian dài, các giai đoạn học tập mục
tiêu xác định-không liên tục này cho phép thân
chủ phát triển khả năng sao chép những vấn đề
làm trầm trọng các triệu chứng và đặt vào nguy
cơ tái phát bệnh Mô hình trị liệu này có thể
được vận hành theo rất nhiều cách Các loại đánh
giá có sự đổi mới và các hoạt động trị liệu thực
hành được mô tả trong bài viết này phù hợp với
mô hình kể trên
Đào tạo những kỹ năng xã hội về nhận
thức-hành vi/Cognitive-Behavioral Social Skills
Training
Đào tạo những kỹ năng sống là một đổi mới
đơn lẻ quan trọng nhất cho trị liệu tâm lý của
những người bị tâm thần Nếu một phương pháp
dựa vào thực nghiệm để điều trị, trong suốt 20
năm qua, nó đã bao gồm trong một can thiệp về
sức khỏe tâm thần hiệu quả Ngày nay là các ứng
dụng của việc đáo tạo kỹ năng xã hội đối với
chứng trầm cảm nghiêm trọng, tâm thần phân
liệt, và nhiều loại rối loạn khác nữa; những ứng
dụng này được báo cáo trong hơn 100 đánh giá
đã được xuất bản được xem xét kỹ lưỡng (Brady,
1984; Hersen & Bellack, 1976; Ladd & Mize,
1983; Morrison & Bellack, 1984; Robertson,
Richardson, & Youngson, 1984; Wallace et al.,
1980) Gần đây nhất, Benton và Schroeder
(1990) đã tường trình những kết quả về phân tích
tâm thần của 27 đánh giá nghiên cứu về hiệu quả
của đào tạo những kỹ năng sống Trong nghiên
cứu của mình, các tác giả chỉ tính đến những
nghiên cứu sử dụng những đề cương được quản
lý, các phương pháp đào tạo kỹ năng sống rõ ràng, và đánh giá các kết quả một cách khách quan Sử dụng những kỹ thuật thống kê được cho phép, Beton và Schroeder đã khám phá ra rằng nghiên cứu về việc đào tạo các kỹ năng sống đáng tin cậy được đưa ra (a) đào tạo kỹ năng sống mang lại sự cải thiện đáng kể trong sự quyết đoán, sự lo lắng, và những hành vi đặc trưng khác; (b) các kỹ năng sống được tiếp thu trong sự khái quát hóa tạo nên môi trường sống thực tế và tự nhiên; (e) so sánh với những phương pháp điều trị khác, đào tạo kỹ năng sống đem lại khả năng thực hiện chức năng xã hội cao hơn, với những khác biệt trong điều trị đang tăng lên theo thời gian; (d) đào tạo kỹ năng sống mang lại tỉ lệ được ra viện cao hơn cho những người bệnh; (e) đào tạo kỹ năng sống mang lại tỉ
lệ tái phát thấp hơn so với những phương pháp khác, và cuối cùng, (f) những hiệu quả cao hơn liên kết với việc đào tạo những kỹ năng sống giống với nhưng ví dụ tiêu biểu về những người
bị tâm thần phân liệt và chúng tạo nên tổng thể
về sự pha trộn của những bệnh nhân bị các chứng bệnh về tâm thần nghiêm trọng
Đây là mối quan tâm vì mặc dù, là những nghiên cứu được phổ biến cho thấy hiệu quả của việc đào tạo kỹ nắng sống, là một chút đồng thuận về điều gì tạo thành một chương trình đào tạo hiệu quả Trên thực tế, nó gồm có những hướng dẫn hoặc chỉ thị, những mô hình sống, các băng ghi hình làm mẫu, những vở kịch đơn giản,
sự sắm vai đơn giản, phản hồi có lời, phản hồi bằng băng ghi hình, củng cố liên cá nhân, và các bài tập về nhà phải làm Quá trình đào tạo dạy về (b) những kỹ năng giải quyết vấn đề (ví dụ, Bedell & Michael, 1985; McFall, 1982; Penn và đồng sự., 1993), (b) những kỹ năng quyết đoán
và giao tiếp, (e.g., Bellack, Morrison, & Mueser, 1989; Brown & Carmichael, 1992; Wallace, Liberman, MacKain, Eck-man, & Blackwell, 1992) hoặc (c) đào tạo cùng lúc về kỹ năng giải quyết vấn đề và giao tiếp (Bedell & Lennox, 1997; Hogarty và đồng sự., 1986; Wallace & Liberman, 1985)
Có vẻ như những chương trình đào tạo kỹ năng sống sử dụng kết hợp kỹ năng giao tiếp và
kỹ năng giải quyết vấn đề đã mang lại những kết quả đáng mong đợi nhất Ví dụ, nghiên cứu được báo cáo bởi Wallace và Liberman (1985) và bởi
by Liberman, Mueser, và Wallace (1986) đã lượng giá những kết quả của việc đào tạo những
kỹ năng liên quan đến giải quyết vấn đề và giao tiếp cho những bệnh nhân bị tâm thần phân liệt
Trang 7đang sống với nhũng gia đình trong đó tồn tại sự
phê phán lớn Việc lượng giá quá trình điều trị
này là một chương trình 9 tuần, nhấn mạnh vào
việc đào tạo những yếu tố đa dạng của về kỹ
năng giao tiếp, gồm việc làm thế nào chú ý tới
những tín hiệu từ môi trường sống, xử lý thống
tin nhằm phát triển những đáp lại thích hợp với
các kích thích đó, và tạo nên những phản ứng về
hành vi một cách khéo léo Việc đào tạo những
kỹ năng này tập trung vào việc sử dụng hiệu quả
sự giao tiếp nhằm đưa ra những yêu cầu của
mình và đáp lại yêu cầu của người khác Thêm
vào đó, thân chủ được hướng dẫn các kỹ năng về
giải quyết vấn đề có trọng tâm vào hướng dẫn họ
nhằm phát sinh và đánh giá các giải pháp có thể
thay thế và lựa chọn một phản ứng hiệu quả
Những kết quả tích cực là thành quả từ chương
trình này dựa vào những kết quả có ý nghĩa đo
được Phương hướng làm giảm tỉ lệ tái nhập viện
cũng được báo cáo trong giai đoạn 1 năm tiếp
theo
Hogarty và đồng sự (1986) đã trình bày kết
quả trị liệu có sự tương đồng với việc đào tạo
được sử dụng trong trong các kỹ năng giải quyết
vấn đề và giao tiếp Việc điều trị này đã thiết lập
thêm vào môi trường ít căng thẳng và cung cấp
hỗ trợ xã hội và sự thấu cảm từ nhà trị liệu So
sánh một điều chỉnh tích cực thu được từ quá
trình xã hội hóa và việc rèn luyện khả năng quản
lý căng thẳng, việc điều trị này làm giảm tỉ lệ tái
nhập viện của những bệnh nhân bị tâm thần phân
liệt khoảng 50 % Thậm chí những kết quả tốt
hơn thu được khi gia đình của họ cũng thu nhận
được những kỹ năng giao tiếp hiệu quả
Nghiên cứu thứ 3 (Bedell & Ward, 1989) đã
đánh giá một chương trình trị liệu tâm lý khác
dựa trên việc đào tạo các kỹ năng giải quyết vấn
đề giao tiếp cơ bản Trong chương trình trên,
việc đào tạo kỹ năng được kết hợp với các kỹ
thuật quản lý hành vi và sử dụng dược phẩm tích
cực (Ward & Naster, 1991) Những người tham
gia đã thể hiện sự giảm bớt sâu sắc trong thời
hạn của trị liệu và đã cho thấy sự giảm bớt đáng
kể tỉ lệ tái nhập viện trong hầu hết giai đoạn 30
tháng tiếp theo Thêm vào đó, sự giảm bớt đáng
kể chi phí điều trị cũng được theo dõi
Việc đào tạo những kỹ năng giải quyết vấn
đề và giao tiếp cũng được sử dụng thành công
trong trị liệu gia đình Falloon, McGill, Boyd, và
Pederson (1987) đã mô tả chương trị liệu gia
đình về mặt hành vi đã có ảnh hưởng to lớn trong
trị liệu gia đình cho những người bị rối loạn tâm
thần Những nhà trị liệu cung cấp việc đào tạo những kỹ năng giải quyết vấn đề và giao tiếp cho bệnh nhân và các thành viên trong gia đình của
họ tại nhà, loại trừ ra sự cần thiết cho trị liệu lâm sàng hoặc phải nhập viện Những kết quả hé lộ tiến bộ trong sự điều chỉnh xã hội và các triệu chứng cũng như giảm bớt khả năng phải nhập viện Những phát hiện qua thực nghiệm chứng minh rằng các chương trình đào tạo kỹ năng đã kết hợp cùng lúc việc đào tạo kỹ năng giải quyết vấn đề và các kỹ năng giải quyết vấn đề đã mang lại nhưng hiệu quả rõ rệt cho những người bị các chứng bệnh về tâm thần
Ví dụ về các nhóm đào tạo kỹ năng xã hội
Đào tạo kỹ năng xã hội (hay kỹ năng sống) tập trung vào những kỹ năng giải quyết vấn đề
và giao tiếp rất phù hợp với hình thức trị liệu theo nhóm Trị liệu nhóm cung cấp tiềm năng chi phí hiệu quả qua việc đồng thuận cho một nhà trị liệu làm việc cùng lúc với 8-10 thân chủ Hình thức này cũng tăng cường hiệu quả bằng cách sử dụng sự phản hồi và hỗ trợ được cung cấp bởi những đồng đẳng viên cũng tham gia chương trình trị liệu nhóm đó Những nhóm có sự giới hạn thời gian được sử dụng nhằm ổn định hóa một thân chủ bằng cách tập trung vào các khu vực vấn đề đặc thù (các triệu chứng hoặc thiếu hụt chức năng) Những nhóm không giới hạn, trong sự so sánh, cung cấp một cách thức thực hiện có chi phí hiệu quả, trong thời gian dài nhằm đánh giá và điều trị bệnh nhân một cách tương đối ổn định
Các nhóm có sự giới hạn về thời gian Một
thân chủ gia nhập một nhóm có giới hạn để hoàn thành hệ thống mục đích điều trị trong một thời hạn cụ thể Khi mà những mục đích này được hoàn thiện, thì việc tham gia hoạt động trong nhóm cũng bị dừng lại Các thân chủ không cần thiết phải duy trì những điều trị mà họ không cần, vì thế, hiệu quả chi phí của nhóm có giới hạn là rất rõ ràng Các nhóm đào tạo kỹ năng xã hội dễ dàng thích ứng với hình thức điều trị này Chương trình trị liệu được mô tả bởi Bedell và Lennox (1997) thì trọng tâm vào các nhóm giới hạn ở đó tập trung phát triển khả năng tự nhận thức của cảm nhận và mong muốn, giao tiếp liên
cá nhân, khả năng quyết đoán, các kỹ năng giải quyết vấn đề, và các kỹ năng sao chép nhận thức
có thể mỗi một phạm vi được hiện diện trong 4-6 giờ tiếp xúc Hoặc là, các nhóm có sự giới hạn về thời gian hoàn thành 2 hoặc 3 khu vực có thể được hiện diện Có nhiều yêu cầu của khách
Trang 8hành về các gói giới hạn thời gian có thể được
phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu biến đổi
của thân chủ Mục đích của phương pháp có sự
giới hạn về thời gian này nhằm làm gắn kết sự
phù hợp việc trị liệu với nhu cầu của thân chủ và
để thể hiện trong chương trình tập trung vào thời
gian ngắn Những nhóm tập trung và có giới hạn
rất hữu ích để ổn định thân chủ bằng cách tập
trung điều trị các triệu chứng cấp tính, như lo
lắng và các thiếu hụt về chức năng (ví dụ khiêu
vũ với những bạn cùng phòng hoặc các thành
viên trong gia đình)
Các nhóm không giới hạn Nhóm không giới
hạn là nhóm có một ban điều hành cho cho một
thời gian dài Những thân chủ hoàn thành
chương trình đào tạo kỹ năng có giới hạn về thời
gian (được kể đến ở phần trước), thường có lợi
từ việc tiếp tục tham gia vào một nhóm không
giới hạn Việc tham gia vào một nhóm như vậy
cho phép thân chủ áp dụng những kỹ năng thu
được từ nhóm giới hạn vào hoàn cảnh sống cụ
thể trong thời gian dài và có sự giám sát, tiếp tục
đánh giá trạng thái tâm thần, và hỗ trợ Các
nhóm không giới hạn thường ít đáp ứng thường
xuyên hơn so với các nhóm giới hạn nhu cầu của
thân chủ Môt thân chủ ổn định đã phát triển sự
hiểu biết tốt về việc làm thế nào tham gia vào
quá trình điều trị và có mạng lưới hỗ trợ thiết
thực có thể cần gặp mặt mỗi tháng một lần để
đánh giá và giám sát sự tiến bộ của những mục
tiêu lâu dài Đương nhiên là, nếu các vấn đề phát
triển, thì tần số và sự chuyên sâu của liệu pháp
này có thể tăng lên Khả năng thay đổi tần số và
sự chuyên sâu của nhóm đào tạo kỹ năng làm
tăng thêm vào hiệu quả chi phí và điều trị của
phương pháp này Một nhóm trị liệu không hạn
chế có hiệu quá cho những người bị tâm thần có
thể được tổ chức xoay quanh một mô hình giải
quyết vấn đề Như một nhóm tập trung vào nhận
biết các vấn đề, định nghĩa chúng theo các dạng
có thể giải quyết được, tạo ra các giải pháp có
thể lựa chọn, lượng giá giữa các khả năng, lựa
chọn sự thay đổi cho việc thi hành, và xác định
hiệu quả của kế hoạch giải quyết vấn đề Mô tả
về nhóm giải quyết vấn đề dựa vào mô hình này
đang có hiệu lực (ví dụ., Bedell & Lennox, 1997)
Khi quản lý một nhóm giải quyết vấn đề, một
điều nên theo một hình thức cấu trúc gồm có 3
phân đoạn riêng biệt: Hòa nhập, đi vòng quanh,
và giải quyết vấn đề một cách kỹ lưỡng (Bedell,
Provet, & Frank, 1994) Mỗi thành phần này
được mô tả dưới đây
Giai đoạn hòa nhập được sử dụng để bắt đầu nhóm giải quyết vấn đề Trong khoảng thời gian
60 phút, nhóm giải quyết vấn đề dành 5-10 phút
để bắt bắt đầu quá trình hòa nhập giữa các thành viên (Thời gian này có thể được tăng lên 15 phút cho một nhóm để gặp mặt trong 90 phút) Trong suốt giai đoạn này, việc thảo luận về vấn đề điều trị và các vấn đề về tâm lý nên được tránh Các thân chủ thực hành tương tác một cách tình cờ,
lý tưởng nhất là không tập trung vào các vấn đề của họ Sau đó, bên ngoài việc sắp xếp trị liệu, ai muốn tương tác với người nói đầu tiền về các triệu chứng và y tế của họ? Nhà trị liệu tham gia vào quá trình làm quen này và làm thuận lợi cho cuộc thảo luận về những hoạt động hoặc các kinh nghiệm gần, các sự kiện mới, các kế hoạch cho những kỳ nghỉ trong tương lai hoặc các hoạt động xã hội Thêm vào đó là việc cung cấp các hoạt động thực hành trong cách ứng xử xã hội tích cực, mục đích của hoạt động này là nhằm cho phép các thành viên (và nhà trị liệu) hiểu biết sơ qua về người khác bằng thu nhận về thời gian giải trí, sự quan tâm, bạn bè, gia đình, người thân và những thông tin về phong cách sống khác của mỗi người Thông tin này sẽ giúp ích cho việc xây dựng tính cố kết của nhóm, cung cấp các sự thành lập các yếu tố cho việc sử dụng
để giải quyết vân đề và cuối cùng là phát triển sự trợ giúp xã hội và mạng lưới giữa các thành viên Tiếp theo giai đoạn hòa nhập, giai đoạn gọi là đi xung quanh/go aroud được bắt đầu Hoạt động này có tên như vậy là từ thực tế mà các nhóm viên thường xuyên tụ họp quanh một vòng tròn,
và trọng tâm của sự chú ý di chuyển từ cà nhân này tới cá nhân khác xung quanh vòng tròn đó Đối với mỗi nhóm viên , sự tham gia hoạt động này rất ngắn, chỉ khoảng không tới 5 phút, trong suốt thời gian họ cung cấp sự cập nhật vào các quá trình cải thiện các mục đích cần thực hiện từ những buổi trước và các vấn đề mới phát sinh từ buổi gặp mặt gần nhất
Giai đoạn đi xung quanh có một số chức năng Thứ nhất, nó cho phép nhóm theo sát quá trình tiến bộ của các cá nhân đương đầu với các vấn đề xuất hiện ở các buổi làm việc trước của nhóm Việc theo sát tiếp tục tại mỗi vấn đề được thể hiện với nhóm đến khi nó đuợc giải quyết một cách hoàn chỉnh hoặc bị gián đoạn Giai đoạn “đi vòng quanh” cũng cung cấp cho mỗi cá nhân cơ hội để thể hiện ngắn gọn một vấn đề mới mà họ muốn nhóm giúp đỡ Nhóm trưởng hướng dẫn sự phóng chiếu các trạng thái tinh thần của mỗi thân chủ trong giai đoạn “ đi vòng quanh”, vấn đề tiếp theo sau khi buổi gặp mặt
Trang 9bởi một đánh giá toàn diện nếu vấn đề đó bị nghi
ngờ
Tiếp theo giai đoạn “đi vòng quanh”, nhóm
chọn lựa vấn đề của một thành viên để xem xét
một cách kỹ lưỡng Vấn đề này được xem xét sử
dụng quá trình giải quyết vấn đề hoàn thiện đã
miêu tả chi tiết (Bedell & Lennox, 1997; Bedell
và đồng sự., 1994) Họat động này tiêu tốn thời
gian và chiếm phần còn lại của buổi làm việc
Hoạt động này rất hiếm có nó nhiếu hơn bất kỳ
vấn đề nào được đưa ra để xem xét một cách kỹ
lưỡng trong một buổi làm việc nhóm Những mô
hình trị liệu được toàn quốc thừa nhận có sử
dụng việc đào tạo các kỹ năng xã hội được phát
triển Mô hình phục hồi chức năng về cho những
người bị bệnh tâm thần của truờng Đại học
Boston (Farkas và đồng sự., 1994) nhấn mạnh
(a) vào chẩn đóan (sắp xếp toàn bộ những mục
tiêu phục hồi chức năng, thể hiện đánh giá thiết
thực, và sử dụng các nguồn lực), (b) lên kế hoạch
trị liệu (lên kế hoạch cho việc phát triển các kỹ
năng, phát triển nguồn lực, và xác định các trách
nhiệm, quản lý thời gian, và giám sát sự chịu
trách nhiệm), và (c) can thiệp (quản lý việc
hướng dẫn các kỹ năng, các kỹ năng thiết lập
chương trình, phối hợp nguồn lực và thay đổi
nguồn lực) Phiên bản của đại Học California,
Los Angeles (Liberman, Mueser, Wallace,
Jacobs, Eckman, & Massel,1986) hoàn thiện các
đánh giá, đào tạo các kỹ năng cá nhân, sự thay
đồi về môi trường sống trong các phạm vi liên
quan tới đời sống cộng đồng Các phạm vi đào
tạo bao gồm khả năng tự chăm sóc, uống thuốc,
và tự quản lý các triệu chứng của mình, quan hệ
gia đình, quan hệ bạn bè và với những đồng đẳng
viên; đào tạo nghề và việc làm; quản lý tài chính;
nhà riêng; các họat dộng giải trí; sự vận chuyển;
chuẩn bị đồ ăn; lựa chọn và sử dụng các cơ quan
công cộng Những chương trình của họ hoàn
thiện 2 chiến lược chính; trợ giúp cá nhân phát
triển hoặc tái thu nhận các kỹ năng công cụ và xã
hội, thay đổi môi truờng xã hội của thân chủ để
có sự hỗ trợ nhiều hơn và nhằm đền bù cho
những suy yếu tiếp, khuyết tật và những bất lợi
tiếp theo Ngoài ra, còn bao gồm sự quản lý hành
vi gia đình và câu lạc bộ việc làm Hình thức này
bao gồm sự giáo dục về bản chất và sự quản lý
của chứng bệnh tâm thần phân liệt, luyện tập các
kỹ năng giao tiếp có lời và không lời, đào tạo kỹ
năng giải quyết vấn đề Câu lạc bộ việc làm gồm
tích hợp gói đào tạo, hỗ trợ và quản lý được thiết
lập để hướng dẫn kỹ năng tìm kiếm công việc và
duy sự tìm kiếm đó
Liệu pháp tâm lý cá nhân/ Individual Psychotherapy
Đào tạo kỹ năng Khái niệm về đào tạo kỹ
năng (đã mô tả ở phần trước) và liệu pháp nhận thức cung cấp nền tảng cho liệu pháp tâm lý cả nhân cho những người bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng Những ứng dụng này đang được thực hành một cách rộng rãi, mặc dù không có
mô hình đặc thù nào được phát triển và được phê chuẩn Tuy nhiên, tính khách quan và đơn giản của mô hình đào tạo kỹ năng cho phép thân chủ hiểu được các quá trình bên trong họ tố hơn
và trở thành một người tham gia có kỹ năng hơn trong trị liệu Ví dụ, một thân chủ có thể đến buổi trị liệu cá nhân bộc lộ cảm xúc về nối buồn
và sự trầm cảm Thân chủ được mong đợi qua việc học tập rằng các cảm giác này liên kết với những mong muốn mà anh ta đã từ bỏ hi vọng Liệu pháp này có thể sau đó được hướng dẫn trực tiếp để đánh giá những mong muốn, sự đồng thuận hoặc một tiến bộ nào đó ở các kỹ năng cho phép cá nhân theo đuổi điều mà họ mong đợi Với cách thức tương tự, bệnh nhân với cảm xúc giận dữ kinh niên được trợ giúp để hiểu những cảm xúc liên quan với sự mong đợi nhưng không được đáp ứng Liệu pháp này có thể hướng dẫn nhằm lượng giá những mon muốn và ứng dựng vào quá trình giải quyết vấn đề một cách tích cực
để nhận ra làm như thế nào và nếu những mong muốn thể thể được đáp ứng một cách tương đối Bệnh nhân có sự băn khoăn được hướng dẫn để hiểu rằng những cảm xúc chủa họ gợi ý cho việc hiểu biết về điều gì đó tồi tệ được dự kiến xảy ra xảy ra Liệu pháp này cũng có thể sau đó được hướng dẫn để đánh giá những mong đợi này, có thể dẫn dắt sự nhận định lại của họ hoặc giải quyết vấn đề một cách tích cực (Bedell & Lennox, 1997)
Mô hình về liệu pháp nhận thức- hành vi cho những người bị tâm thân phân liệt được trình bày bởi Kingdon và Turkington (1994) Mục đích chính của phương pháp trị liệu này là giải thích ngăn chặn sự xáo trộn và những trải nghiệm khủng khiếp (như những ảo giác hoặc hoang tưởng) hoặc không làm mất đi những khung cảnh thực tế mà điều gì đó thực sự là sai Việc trị liệu này nhấn mạnh vào thực tế rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, các triệu chứng của tâm thần phân liệt xuất hiện trong cái gọi là những cá nhân bình thường dưới nhiều trường hợp nhưng không được hiểu như là kết quả của các biến đổi về môi trường hoặc căng thẳng,
Trang 10không phải là dấu hiệu của bệnh tâm thần Việc
điều trị này cố gắng trợ giúp người bị tâm thần
phân liệt hình thành về những trải nghiệm này
như một phần có tiềm năng bình thường của đời
sống hàng ngày Những bệnh nhân được hướng
dẫn tái hiện lại những triệu chứng này theo cách
giảm sự nghiêm trọng và sau đó những cảm xúc
về sự lo lắng, thất vọng và tuyệt vọng được sinh
ra bởi chúng
Ví dụ tuyệt vời về ứng dụng mở rộng của
việc đào tạo các kỹ năng xã hội của liệu tâm lý
cá nhân cho những người bị tâm thần phân liệt
được tìm đến như một liệu pháp trị liệu cá nhân
(Hogarty và đồng sự., 1995) Phương pháp này
sử dụng phương pháp tiếp cận lâu dài và nhiều
mặt với trị liệu cá nhân để (a) đưa vào sự cân
nhắc những thiếu hụt trong quá trình xử lý thông
tin thiếu, (b) các bước của những can thiệp trị
liệu theo thời gian phù hợp với mức độ thực hiện
chức năng của thân chủ, và (c) tập trung vào
những vấn đề về rối loạn điều chỉnh ảnh hưởng,
được định nghĩ như sự thiết hụt về sự điều chỉnh
cảm xúc Đầu tiên sử dụng sự làm mẫu, nhắc lại,
phản hồi và bài tập về nhà, thân chủ được hướng
dẫn các phương pháp để trở nên hiểu biết và am
hiểu cảm xúc của mình cũng như với các tình
trạng khác xảy ra bên trong họ Việc đào tạo cđể
phát triển tăng cường các hiểu biết về những
người khác tiếp sau Sự giao kết điều trị được
phát triển mà mục tiêu biến đổi được cho là có
liên quan tới sự tái phát, như là liều lượng và sự
đồng ý sử dụng thuốc, sử dụng rượu và chất kích
thích, và sử dụng các kỹ năng sao chép Mô hình
giải quyết vấn đề, rất phổ biến trong quá trình
đào tạo kỹ năng xã hội, đồng thời cũng cung cấp
một cách minh bạch cho liệu pháp cá nhân Trên
thực tế, liệu pháp cá nhân theo sát một cách hợp
lý của sự nhận định đầu tiên về vấn đề mang thân
chủ tới chương trình điều trị, tiếp theo là làm
sáng tỏ nó, sau đó phát triển những giải pháp có
thể, tiếp đó là chọn lựa 1 giải pháp để thực hiện,
và cuối cùng tiếp tục cố gắng thi hành các giải
pháp Một phương pháp giải quyết vấn đề cho
liệu pháp tâm lý cá nhân cung cấp các thành
phần đã được trình bày bởi Nezu, Nezu, và Perri
(1989) cùng với rất nhiều ví dụ lâm sàng về
những người bị trầm cảm nghiêm trọng
Liệu pháp hỗ trợ tâm lý Mặc dù nghiên
cứu đã tìm ra các liệu pháp tâm lý truyền thống
mang lại hiệu quả cho những người bị rối loạn
tâm thần (Scott & Dixon, 1995b) Đây là sự thể
hiện một số hình thái của liệu pháp hỗ trợ có thể
có triển vọng
Rockland (1993) đã xem xét tài liệu và đề xuất mô hình liệu pháp hỗ trợ thiết thực rằng việc làm tiếp theo sẽ có hiệu lực, tăng cường sự liên kết của phép trị liệu, cho phép các can thiệp
về môi trường; cung cấp sự giáp dục, biện hộ và gợi ý; cung cấp sự khuyến khích và khen ngợi sự thành công; thiết lập các giới hạn, củng cố sự phòng vệ thích hợp và nhấn mạnh vào các thế mạnh và năng lực Nghiên cứu tương lai nên nỗ lực nhằm ăn khớp một mô hình rõ rằngcủa liệu pháp hỗ trợ thiết thực và so sánh nó với các mô hình đã được cung cấp được mô tả trong những phần trước
Mô hình thực hiện chức năng đa phương pháp/The Multimodal Functional Model
Mô hình thực hiện chức năng đa phương pháp (MFM; Gardner & Hunter, 1996) đã chứng mình một can thiệp tâm lý cho những người chịu
sự điều trị về những bệnh tâm thần nghiêm trọng Bao gồm (a) những đánh giá chân thực và minh bạch, (b) can thiệp nhận thức- hành vi, và (c) phát triể sự hoàn nhận về các đội ngũ trị liệu khi đã phù hợp MFM được thiết lập để hướng tới vấn đề lan rộng về sự hòa nhập không thích hợp của rất nhiều những chẩn đoán và can thiệp
về tâm lý xã hội cũng như sinh y học, và các thành phần tiếp theo
Hệ thống chẩn đoán Quá trình xử lý chẩn
đoán bắt đầu với đặc thù về thiếu hụt chức năng
và các triệu chứng yêu cầu sự quan tâm đặc biệt, bao gồm, chứng ảo giác, hoang tưởng, rối loạn cảm xúc, có sự bạo lực về thể xác cũng như lời nói, tự làm tổn thương, phá hủy tài sản, và sự bất hợp tác ở mức độ cao Những triệu chứng và các thiếu hụt về hành vi được quan sát và ghi lại để cung cấp thông tin ranh giới của những can thiệp trước dẫn dắt sự phát triển điều trị cũng như giám sát sự tương tác của các can thiệp
Các dữ liệu chẩn đoán được sắp xếp khi chúng vận hành trò thúc đẩy đầu tiên và sau đó trong yêu cầu để điều hành tốt hơn nhà trị liệu trong sự phát triển các giả thuyết về mặt chức năng của các triệu chứng được thể hiện Chức năng của những thiếu hụt về tâm lý xã hội và y tế
ở giai đoạn bắt đầu và duy trì các triệu chứng mực tiêu được nêu bật Cường độ liên quan của tương tác (mức độ ít, trung bình và lớn) của các biến đổi về tâm sinh lý đóp góp cho sự thúc đẩy
và lặp lại có tính chất hồi quy của các triệu chứng mục tiêu được ăn khớp với nhau