TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN Môn hóa trị liệu “Ung thư máu và các phương pháp trị liệu” Giảng viên: Nguyễn Tường Vy Học viên: Dương Thị Thanh Tâm Mã HV: 1211075 Lớp: CH 17 HÀ NỘI, 2013 I. ĐẠI CƯƠNG VỀ UNG THƯ MÁU 1. Khái niệm Ung thư máu (bệnh bạch cầu) là bệnh ác tính bắt nguồn từ các tổ chức tạo máu. Phần lớn các tế bào tạo máu bình thường bắt nguồn từ tế bào nguồn trong tủy xương. Các tế bào nguồn phát triển thành các dòng tế bào máu khác nhau. Ở người bị bệnh bạch cầu, tủy xương hình thành các tế bào bạch cầu bất thường và đây chính là các tế bào bạch cầu ác tính. Không giống các tế bào máu bình thường, tế bào máu không chết đi mà có thể tăng sinh phát triển lấn át các dòng tế bào máu bình thường khác, làm cho chức năng bình thường của các dòng tế bào này không được thực hiện. Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u 2. Phân loại Bệnh bạch cầu được chia theo 2 cách. Cách thứ nhất theo tốc độ tiến triển của bênh, cách thứ hai theo loại tế bào máu bị bệnh. Dựa trên sự phát triển của bệnh: Bệnh bạch cầu mạn: trong giai đoạn sớm của bệnh, tế bào bạch cầu ác tính còn có khả năng thực hiện một số chức năng bình thường của bạch cầu. Lúc đầu người bệnh có thể không có triệu chứng gì. Dần dần, các tế bào bạch cầu ác tính trở nên tồi tệ hơn và số lượng tăng dần. Khi số lượng các tế bào ác tính tăng sinh trong máu, các triệu chứng xuất hiện, lúc đầu các triệu chứng có thể nhẹ sau đó nặng nề hơn. Bệnh bạch cầu cấp: các tế bào bất thường là các nguyên bào còn non và tế bào bạch cầu không thể thực hiện được vai trò của tế bào bình thường. Số lượng tế bào bạch cầu ác tính phát triển rất nhanh và bệnh xấu đi nhanh chóng. Dựa theo dòng bạch cầu bị ảnh hưởng: bệnh bạch cầu có thể bắt nguồn từ các tế bào dòng tủy hoặc dòng lympho Ung thư máu cấp tính bạch cầu nguyên bào tủy ( Acute Myelogenous Leukemia AML) Là dạng ung thư máu có thể thấy ở cả trẻ em và người lớn. Là sự tăng sinh các tế bào non bất thường và sự thiểu sản các tế bào máu bình thường. Các tế bào ác tính tăng sinh trong tủy dần thay thế các tế bào tạo máu cùng các chức năng của chúng. Ung thư máu cấp tính nguyên bào lympho ( Acute Lymphocytic Leukemia ALL ) Đây là dạng ung thư máu thường nhất của trẻ em ( 60 70% ung thư máu ở trẻ em). Đặc trưng là sự tăng sinh ác tính các tế bào lympho non trong tủy xương. Các tế bào này lấn át các tế bào bình thường trong tủy làm giảm sin h các tế bào này gây thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu hạt. Ung thư máu mạn tính nguyên bào tủy ( Chronic Myelogenous Leukemia CML ) Loại này thường thấy ở người lớn. Đặc tính của loại này có bất thường của nhiễm thể gọi là Philadelphia chromosome. Đặc trưng là tăng sinh và không trưởng thành các bạch cầu hạt, tăng bạch cầu ái kiểm, thiếu máu, tăng tiểu cầu và lách to. Ung thư máu mạn tính nguyên bào lympho ( Chronic Lymphocytic Leukemia ) Loại này thường ở ngườì lớn, rất hiếm ở trẻ em. Thường không gây triệu chứng trong nhiểu năm. Bệnh bạch cầu lympho mạn là một bệnh tăng sinh ác tính bạch cầu lympho trưởng thành về hình thái học, có xu hướng tích lũy ở trong máu ngoại vi, tủy xương, hạch, lách và gan dẫn đến suy giảm chức năng tủy xương và phì đại các cơ quan nói trên. Trong số các trường hợp mắc bệnh, 98% thuộc
Trang 1TRƯỜN
G ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
- -BÀI TIỂU LUẬN Môn hóa trị liệu
Chủ đề 4:
“Ung thư máu và các phương pháp trị liệu”
Giảng viên: Nguyễn Tường Vy
Học viên: Dương Thị Thanh Tâm
Mã HV: 1211075 Lớp: CH 17
HÀ NỘI, 2013
Trang 2I./ ĐẠI CƯƠNG VỀ UNG THƯ MÁU
1 Khái niệm
Ung thư máu (bệnh bạch cầu) là bệnh ác tính bắt nguồn từ các tổ chức tạo máu Phần lớn các tế bào tạo máu bình thường bắt nguồn từ tế bào nguồn trong tủy xương Các tế bào nguồn phát triển thành các dòng tế bào máu khác nhau
Ở người bị bệnh bạch cầu, tủy xương hình thành các tế bào bạch cầu bất thường và đây chính là các tế bào bạch cầu ác tính Không giống các tế bào máu bình thường, tế bào máu không chết đi mà có thể tăng sinh phát triển lấn át các dòng tế bào máu bình thường khác, làm cho chức năng bình thường của các dòng tế bào này không được thực hiện Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u
2 Phân loại
Bệnh bạch cầu được chia theo 2 cách Cách thứ nhất theo tốc độ tiến triển của bênh, cách thứ hai theo loại tế bào máu bị bệnh
Dựa trên sự phát triển của bệnh:
Bệnh bạch cầu mạn: trong giai đoạn sớm của bệnh, tế bào bạch cầu ác
tính còn có khả năng thực hiện một số chức năng bình thường của bạch cầu Lúc đầu người bệnh có thể không có triệu chứng gì Dần dần, các tế bào bạch cầu ác tính trở nên tồi tệ hơn và số lượng tăng dần Khi số lượng các tế bào ác tính tăng sinh trong máu, các triệu chứng xuất hiện, lúc đầu các triệu chứng có thể nhẹ sau đó nặng nề hơn
Trang 3Bệnh bạch cầu cấp: các tế bào bất thường là các nguyên bào còn non và tế
bào bạch cầu không thể thực hiện được vai trò của tế bào bình thường Số lượng tế bào bạch cầu ác tính phát triển rất nhanh và bệnh xấu đi nhanh chóng
Dựa theo dòng bạch cầu bị ảnh hưởng: bệnh bạch cầu có thể bắt nguồn từ các tế bào dòng tủy hoặc dòng lympho
Ung thư máu cấp tính bạch cầu nguyên bào tủy ( Acute Myelogenous
Leukemia - AML) Là dạng ung thư máu có thể thấy ở cả trẻ em và người lớn Là
sự tăng sinh các tế bào non bất thường và sự thiểu sản các tế bào máu bình thường Các tế bào ác tính tăng sinh trong tủy dần thay thế các tế bào tạo máu cùng các chức năng của chúng
Ung thư máu cấp tính nguyên bào lympho ( Acute Lymphocytic
Leukemia - ALL ) Đây là dạng ung thư máu thường nhất của trẻ em ( 60 -70% ung thư máu ở trẻ em) Đặc trưng là sự tăng sinh ác tính các tế bào lympho non trong tủy xương Các tế bào này lấn át các tế bào bình thường trong tủy làm giảm sin h các tế bào này gây thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu hạt
Ung thư máu mạn tính nguyên bào tủy ( Chronic Myelogenous Leukemia
- CML ) Loại này thường thấy ở người lớn Đặc tính của loại này có bất thường của nhiễm thể gọi là Philadelphia chromosome Đặc trưng là tăng sinh và không trưởng thành các bạch cầu hạt, tăng bạch cầu ái kiểm, thiếu máu, tăng tiểu cầu và lách to
Ung thư máu mạn tính nguyên bào lympho ( Chronic Lymphocytic
Leukemia ) Loại này thường ở ngườì lớn, rất hiếm ở trẻ em Thường không gây triệu chứng trong nhiểu năm Bệnh bạch cầu lympho mạn là một bệnh tăng sinh ác tính bạch cầu lympho trưởng thành về hình thái học, có xu hướng tích lũy ở trong máu ngoại vi, tủy xương, hạch, lách và gan dẫn đến suy giảm chức năng tủy xương
và phì đại các cơ quan nói trên Trong số các trường hợp mắc bệnh, 98% thuộc dòng lympho B và chỉ có 2% thuộc dòng lympho T
Bệnh bạch cầu tế bào lông là một thể hiếm gặp của bệnh bạch cầu mạn
Trang 43 Các yếu tố nguy cơ gây bệnh ung thư máu:
Hiện tại chưa xác định được nguyên nhân chính thức gây bệnh ung thư Các nghiên cứu chỉ ra một số nguyên nhân gây bệnh bao gồm:
Xạ trị: Các người bệnh bị tiếp xúc tia phóng xạ liều cao sẽ có nguy cơ bị
bệnh bạch cầu tủy cấp, bạch cầu tủy mạn, bạch cầu lympho cấp cao hơn
Vụ nổ bom hạt nhân: Vụ nổ bom hạt nhân ở Hirosima Nhật Bản trong
chiến tranh thế giới thứ 2 đã tạo nên hàm lượng phóng xạ rất cao Những người sống sót sau vụ nổ hạt nhân có nguy cơ bị bệnh bạch cầu cao hơn
Tiền sử xạ trị điều trị ung thư hoặc các bệnh khác làm tăng nguy cơ bị
bệnh bạch cầu
Chẩn đoán bằng tia X: Hiện tại vẫn chưa xác định được mối liên quan giữa
sự tiếp xúc với nồng độ tia thấp với bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em và người lớn Các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu mối liên quan nguy cơ mắc bệnh bạch cầu và tiển
sử chụp X-quang nhiều lần hoặc chụp cắt lớp khi còn nhỏ
Hút thuốc lá: làm tăng nguy cơ mắc bệnh bạch cầu tủy cấp
Benzen: Chất này có trong nền công nghiệp hóa chất, khói thuốc lá, khí đốt Khi
tiếp xúc nhiều với benzen có thể làm tăng nguy cơ bạch cầu tủy mạn, bạch cầu lympho cấp
Tiền sử hóa trị: một số người bệnh được hóa trị cho ung thư sau này có thể
bị mắc bạch cầu tủy cấp hoặc bạch cầu lympho cấp
Hội chứng down và một số bệnh di truyền khác có thể làm tăng nguy cơ
mắc bệnh ung thư máu cấp
Tiền sử gia đình: rất hiếm khi có trên một người trong gia đình bị ung thư
máu Nếu có, chủ yếu gặp thể bạch cầu lympho mạn
Tuy nhiên, khi bị một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ không có nghĩa rằng chúng ta sẽ bị bệnh bạch cầu Phần lớn các người bị bệnh có yếu tố nguy cơ không
bị mắc bệnh này
Trang 54 Triệu chứng:
Giống như các tế bào máu khác, tế bào bạch cầu ác tính di chuyển trong máu gây nên các triệu chứng Các triệu chứng này phụ thuộc số lượng tế bào bạch cầu
ác tính, vị trí các tế bào này trong cơ thể
Ở thể bạch cầu mạn, người bệnh không có triệu chứng, bệnh được phát hiện qua khám định kỳ và làm xét nghiệm máu
Người bệnh bị bệnh bạch cầu cấp thường đến viện với các triệu chứng rầm rộ hơn Nếu não bị tổn thương, các triệu chứng như đau đầu, nôn, lú lẫn, mất trương lực cơ, động kinh Bệnh bạch cầu cũng có thể ảnh hưởng đến các vị trí khác trong
cơ thể như: hệ tiêu hóa, thận, phổi, tim, tinh hoàn
Khi dạng bạch cầu ung thư phát triển nhanh trong tủy làm đau nhức, đồng thời chiễm chỗ và làm giảm sự phát triển những tế bào máu bình thường khác Lúc
đó, người bệnh có thể có những triệu chứng sau:
- Do sức công phá trong tủy: sốt, cảm lạnh, đau đầu, khớp
- Do thiếu hồng cầu: mệt mỏi, yếu sức, da đổi thành màu trắng nhạt
- Do bạch cầu không bình thường: hay bị nhiễm trùng
- Do giảm khả năng làm đông máu: chảy máu nướu răng, dễ bầm
- Biếng ăn, sút cân
- Nếu người bệnh là nữ sẽ có hiện tượng ra mồ hôi về ban đêm
- Sưng nề bụng hoặc cảm giác khó chịu ở bụng
Phần lớn các triệu chứng này không đặc hiệu cho ung thư Cần đến tư vấn bác
sĩ ngay khi có triệu chứng
Trang 6II./ ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ MÁU
1 Các phương pháp chung điều trị ung thư máu:
Bệnh nhân ung thư máu có nhiều biện pháp điều trị khác nhau như: hóa trị,
xạ trị, điều trị sinh học, điều trị đích, ghép tế bào gốc hoặc phẫu thuật cắt bỏ lách
to Đôi khi có thể phối hợp nhiều biện pháp điều trị để thu được hiệu quả cao nhất
Sự lựa chọn các biện pháp chủ yếu tùy thuốc vào:
o Thể bệnh
o Tuổi
o Sự xuất hiện tế bào bạch cầu trong tủy
Bệnh nhân bị bạch cầu cấp cần được điều trị ngay với mục đích giảm các triệu chứng của bệnh để đạt hiệu quả lui bệnh Sau khi đạt lui bệnh, một số biện pháp được tiến hành nhằm ngăn chặn sự tái phát của bệnh ( điều trị củng cố, duy trì)
Với bệnh bạch cầu mạn không có triệu chứng, điều trị có thể được trì hoãn với
sự theo dõi của các bác sĩ và tiến hành điều trị các triệu chứng xảy ra Điều trị giúp kiểm soát bệnh và các triệu chứng Người bệnh có thể được điều trị duy trì nhằm tránh tái phát nhưng với phác đồ điều trị thông thường, rất hiếm người bệnh khỏi bệnh, tuy nhiên ghép tủy có thể mang lại hy vọng điều trị khỏi bệnh cho bệnh bạch cầu
Hóa trị liệu: là phương pháp dùng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư Tùy
thuộc vào loại ung thư tế bào máu, bệnh nhân có thể được điều trị bằng một loại thuốc đơn độc hoặc phối hợp hai hay nhiều loại thuốc
Một số thuốc chống ung thư có thể đưa vào bằng đường uống Còn lại hầu hết các thuốc được tiêm truyền tĩnh mạch Thông thường thuốc được tiêm truyền vào tĩnh mạch qua một catheter đặt ở một tĩnh mạch lớn (tĩnh mạch cảnh trong
Trang 7hoặc tĩnh mạch dưới đòn) Nhờ đó, bệnh nhân tránh được đau đớn và các tổn thương da khi phải tiêm nhiều lần
Thuốc chống ung thư đi vào cơ thể qua đường tiêm hoặc uống sẽ theo mạch máu tới hầu khắp cơ thể để diệt tế bào ung thư Tuy nhiên thuốc không tiếp cận được các tế bào ung thư trong hệ thần kinh trung ương do bị hàng rào máu não ngăn lại hàng rào bảo vệ này được cấu tạo từ một mạng lưới mạch máu và có nhiệm vụ lọc dòng máu đến não và tủy sống Để tiếp cận được các tế bào ung thư trong hệ thần kinh trung ương, thuốc chống ung thư được tiêm trực tiếp vào dịch não tủy Một số bệnh nhân được đưa thuốc vào tủy sống (phần thắt lưng) Một số khác, đặc biệt là trẻ em, được đặt một loại catheter đặc biệt được gọi là ống dự trữ Ommaya vào dưới da đầu để tạo một con đường vào dịch não tủy Người ta tiêm thuốc chống ung thư vào ống dự trữ này thay cho tiêm vào tủy sống và như vậy có thể thực hiện việc điều trị một cách dễ dàng hơn và bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn
Hóa trị được sử dụng thành từng đợt: một đợt điều trị, sau đó là một đợt nghỉ hồi sức tiếp đến là một đợt điều trị khác Trong một số trường hợp, bệnh nhân được điều trị hóa trị ngoại trú ở bệnh viện, tại văn phòng bác sĩ hoặc tại nhà Tuy nhiên, tùy thuộc vào loại thuốc điều trị và tình trạng sức khỏe chung, bệnh nhân có thể phải nằm viện trong một thời gian ngắn
Xạ trị: Liệu pháp xạ trị được kết hợp với hóa trị liệu cho một số loại ung thư
tế bào máu Xạ trị sử dụng các tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư và ngăn chúng phát triển Phóng xạ có thể được chiếu từ một máy lớn
Xạ trị để điều trị bệnh bạch cầu có thể được tiến hành theo hai cách Đối với một số bệnh nhân, bác sĩ có thể xạ trị cho một vùng cụ thể trên cơ thể nơi tập trung
tế bào ung thư tế bào máu như lách hoặc tinh hoàn Một số bệnh nhân khác được xạ trị toàn thân Xạ trị toàn thân thường được thực hiện trước khi ghép tủy xương
Trang 8Ghép tủy xương (Ghép tế bào gốc): cũng được chỉ định cho một số bệnh nhân.
Tủy xương sản xuất ra tế bào ung thư máu của người bệnh bị phá hủy bằng thuốc và phóng xạ liều cao, sau đó được thay thế bằng tủy xương lành Tủy xương lành có thể
là do người khác cho hoặc có thể là lấy từ chính bệnh nhân và được cất giữ, bảo quản trước khi bị phá hủy Nếu sử dụng chính tủy xương của người bệnh thì lúc đầu cần phải xử lý nó bên ngoài cơ thể để loại bỏ tế bào ung thư Bệnh nhân được ghép tủy xương thường phải nằm viện trong vài tuần Bệnh nhân cần được bảo vệ cẩn thận tránh nhiễm khuẩn cho đến khi tủy xương ghép có thể xản xuất đủ lượng bạch cầu
Liệu pháp sinh học: Là phương pháp sử dụng các chất ảnh hưởng tới đáp
ứng của hệ thống miễn dịch lên ung thư Interferon là một dạng của liệu pháp miễn dich để chống lại một số loại ung thư tế bào máu Rất khó hạn chế tác dụng của điều trị chỉ lên các tế bào ung thư Do điều trị còn phá hủy các mô và tế bào lành nên nó cũng gây ra các tác dụng phụ
2 Điều trị hóa chất ung thư máu theo dòng bạch cầu bị ảnh hưởng
2.1 Điều trị hóa chất Ung thư máu cấp tính bạch cầu nguyên bào tủy
So với bệnh bạch cầu lympho cấp, ung thư máu cấp tính bạch cầu nguyên bào tủy kém nhạy cảm với hóa chất hơn, tỉ lệ lui bệnh hoàn toàn vì thế mà thấp hơn
a./ Điều trị tấn công: có khá nhiều phác đồ hóa chất để điều trị tấn công,
việc lựa chọn phác đồ dựa vào một số yếu tố như: tình trạng toàn thân, tuổi, bệnh kèm theo (Ví dụ bệnh tim ) Điều trị tấn công chuẩn hiện nay là phối hợp cyratabine với một anthracycline hoặc với một anthracenedione 7-10 ngày sau kết thúc hóa chất nên chọc hút tủy lại (hoặc sinh thiết tủy)
- Nếu số tế bào non còn lại ít hơn 5%, tạm ngừng điều trị hóa chất, chỉ điều trị hỗ trợ cho đến khi tủy hồi phục (thường 1-3 tuần)
- Nếu các dòng tế bào tủy giảm nặng, cần ngừng hóa chất, đợi hồi phục
Trang 9- Nếu bệnh bạch cầu giảm nhưng vẫn còn tồn tại trong tủy, điều trị tiếp đợt 2 nhưng liều giảm tùy theo mức độ giảm tế bào của đợt trước 14 ngày sau chọc hút tủy hoặc sinh thiết tủy lại, với những bệnh nhân vẫn còn bệnh cần điều trị tiếp đợt 3
Quá trình đánh giá và điều trị tiếp tục như vậy
Phác đồ hay được sử dụng là cyratabine phối hợp daunorubicin (còn gọi là phác đồ 7+3) Ara-C (Cyratabine) truyền tĩnh mạch trong 7 ngày, daunnorubicine truyền tĩnh mạch trong 3 ngày Nếu sau khi đánh giá lại tủy xương, lượng tế bào non giảm nhiều nhưng chưa thoái giảm hoàn toàn, sẽ điều trị tiếp đợt 2 với cyratabine truyền tĩnh mạch trong 5 ngày và Daunorubicin truyền tĩnh mạch trong 2 ngày Liều mỗi ngày không đổi, chỉ giảm khi bệnh nhân bị suy gan do thuốc Nếu
tế bào non giảm ít hoặc không giảm, cần đổi phác đồ có cyratabine liều cao hơn (như HDAC hoặc DAT)
Một số phác đồ điều trị tấn công
Phác đồ 7+3 ( Ara-C/DNR)
o Cyratabine 100mg/m2, TM trong 24h trong 7 ngày
o Daunorubicine 45mg/m2, TM, ngày 1,2,3
o Đối với bệnh nhân ≥ 60 tuổi, giảm liều Daunorubicine xuống còn 30mg/m2
o Bắt đầu củng cố khi lượng bạch cầu hạt trung tính> 1500 và số lượng tiểu cầu > 100000
Phác đồ Ara-C/Dox
o Cyratabine 100mg/m2, Tm, 24h x 7 ngày.\
o Doxorubicine 30mg/m2, TM, ngày 1,2,3
Phác đồ Ara-C/thioguanine
o Cyratabine 100mg/m2, TM, 12h/lẫn 10 ngày
Trang 10o 6-Thioguanine 100mg/m2, TM, 12h/lần x 10 ngày
o Chu kì mỗi đợt 30 ngày, điều trị cho tới khi bệnh thuyên giảm
Phác đồ DAT
o Daunorubicine 60mg/m2, TM Ngày 5,6,7
o Cyratabine (Ara-C) 100mg/m2, TM, 30 phút x 7 ngày
o 6-Thioguanine 100mg/m2, uống, 12h/lần x 7 ngày
Phác đồ Ara-C/Mito cho người già
o Cyratabine 3000mg/, ngày 1-5
o Mitoxantrone 12mg/m2, TM trong 30 phút, ngày 1-3
o Không điều trị củng cố
b./ Điều trị sau lui bệnh
Những nghiên cứu gần đây cho thấy việc điều trị duy trì kéo dài không cho kết quả cao hơn điều trị duy trì trong thời gian ngắn Điều trị duy trì cũng có kết quả thấp hơn so với điều trị củng cố mạnh trong thời gian ngắn Vì vậy, phương pháp điều trị sau lui bệnh được chấp nhận rộng rãi hiện nay là điều trị mạnh như ghép tế bào gốc hoặc cyratabine liều cao mà không điều trị duy trì nữa
Phác đồ củng cố thường dùng là HDAC với liều cytarabine lên tới 3g/m2 Các kết quả nghiên cứu cũng thấy khi điều trị liều cao tỷ lệ sống không bệnh cao hơn đáng kể so với cách dùng củng cố giảm liều
Phương pháp điều trị thứ hai sau lui bệnh là ghép tế bào gốc (từ tủy xương hoặc từ máu ngoại vi) Sau khi dùng hóa chất liều rất cao hoặc xạ trị hóa chất toàn thân, tế bào gốc được ghép cho bệnh nhân Phương pháp này cho kết quả cao hơn
so với điều trị hóa chất đơn thuần
Trang 11Phác đồ HDAC
o Cyratabine 3000mg/m2, TM, 12h/lần, ngày 1,3,5
o Được điều trị hóa chất ban đầu bằng phác đồ 7+3
o Nhắc lại mỗi đợt sau 28 ngãy 4 đợt
Phác đồ MiDAC
o Mitoxantrone 10mg/m2, TM ngày 1-5
o Cyratabine 1g/m2, TM trong 2 giờ, cứ 12 giờ một liều, từ ngày 1 đến ngày 3
Phác đồ 7+3+3 (Ara-C/Dauno) tấn công và củng cố.
- Tấn công:
o Cyratabine 100mg/m2, TM 24 giờ x 7 ngày sau đó 2000mg/m2, TM,
12 giờ/lần, ngày 8-10
o Daunorubicine 45mg/m2, TM, ngày 1,2,3
-Củng cố:
+ Chu kì 1 và 3:
o Cyratabine 200mg/m2, TM 24 giờ x 5 ngày
o Daunorubicine 60mg/m2, TM ngày 1,2
+ Chu kì 2:
o Cyratabine 2000mg/m2, TM, 12 giờ/lần, ngày 1,2,3
o Etoposid 100mg/m2, TM, ngày 4,5
2.2 Điều trị hóa chất Ung thư máu mạn tính bạch cầu nguyên bào tủy
Điều trị hóa chất thường quy chủ yếu sử dụng hai thuốc: Hydroxyurea và busulfan theo đường uống Busulfan là thuốc được sử dụng rất rộng rãi trong ung