nhiệm vụ của hộp số: - Hộp số dùng để thay đổi tỉ số truyền nhằm thay đổi mô men xoắn ở các bánh xe chủ động của xe, đồng thời thay đổi tốc độ chạy xe phù hợp với sức cản bên ngoài.. - D
Trang 1định nghĩa hộp số:
Hộp số là bộ phận truyền sức mạnh từ động cơ đến hệ dẫn động Hộp
số dùng để thay đổi tỉ số truyền nhằm thay đổi mô men xoắn ở các bánh xe, đồng thời thay đổi tốc độ chạy xe phù hợp với sức cản bên ngoài.Theo lý thuyết, động cơ đốt trong chỉ sinh công và mô men xoắn tối đa ở dải tua máy hẹp Hộp số cho phép tỉ số truyền của động cơ và cầu dẫn động thay đổi khi xe tăng và giảm tốc độ, thay đổi số để động
cơ luôn làm việc ở dưới điểm giới hạn và hoạt động gần với vòng tua lý tưởng nhất.Ở chế độ lý tưởng, hộp số sẽ duy trì được tỷ số truyền để động cơ luôn luôn hoạt động ở vòng tua máy tối ưu nhất.
nhiệm vụ của hộp số:
- Hộp số dùng để thay đổi tỉ số truyền nhằm thay đổi mô men xoắn ở các bánh xe chủ động của xe, đồng thời thay đổi tốc độ chạy xe phù hợp với sức cản bên ngoài.
- Thay đổi chiều chuyển động của xe (tiến và lùi).
- Tách động cơ ra khỏi hệ thống truyền lực trong khoảng thời gian tùy
ý mà không cần tắt máy và mở ly hợp.
- Dẫn động lực học ra ngoài cho các bộ phận công tác của xe chuyên dùng
- Hộp số phải có đủ tỉ số truyền một cách hợp lý để nâng cao tính kinh
tế và tính động lực học của ô tô.
- Hộp số phải có hiệu suất truyền lực cao, khi làm việc không gây tiếng
ồn, thay đổi số nhẹ nhàng không sinh lực va đập ở các bánh răng Yêu cầu của hộp số :
để đảm bảo các công dụng hộp số còn phải thỏa mãn các yêu cầu sau :
Trang 2- Khi gài số ko sinh ra các lực va đập lên các bánh răng và hệ thống truyền vì vậy động cơ phải có bộ đồng tốc để gài số hoặc ống gài số
- hộp số phải có tỉ số truyền cần thiết nhằm đảm bảo tốt tính chất động lực học và tính kinh tế của nhiên liệu khi làm việc
- hộp số phải có vị trí trung gian để ngắt chuyển động khỏi hệ thống truyền lực trong thời gian dài phải có cơ cấu chống gài hai
số cùng một lúc để đảm bảo an toàn cho hộp số không bị gãy vỡ răng
- hộp số phải có số lùi để cho xe chuyển động lùi đồng thời phải có
cơ cấu chống gài số lùi 1 cách ngẫu nhiên
- hộp số phải điều khiển nhẹ nhàng làm việc êm ít tiếng ồn và hiệu suất làm việc cao.
Phân loại :
hộp số sàn
Đây là loại hộp số có tuổi đời lớn nhất, đi cùng với đó là cấu tạo đơn giản, giá thành
rẻ và độ tin cậy cao Loại hộp số này sử dụng ly hợp ma sát dạng đĩa để ngắt hoặc kết nối chuyển động từ động cơ xuống hộp số Ly hợp này được điều khiển bời người lái thông qua bàn đạp ly hợp (chân côn) Bên trong hộp số là các trục sơ cấp (đầu vào từ động cơ), trục thứ cấp (đầu ra khỏi hộp số) và trục trung gian (đối với hộp số 3 trục) Trên các trục này là các bánh răng ăn khớp cố định với nhau tạo nên các tỷ số truyền ứng với từng cấp số của xe.Khi muốn chuyển số, người lái đạp bàn đạp ly hợp để ngắt kết nối từ động cơ xuống hộp số, kết hợp với thao tác trên cần số theo sơ đồ có sẵn, qua đó đưa các bánh răng gài số (thông qua các liên kết cơ khí) đến được vị trí bánh răng ứng với số truyền tương ứng.
cấu tạo: (1) Để nối/ngắt công suất truyền từ động cơ bằng cách điều khiển cần chuyển số.
(2) Để tăng mômen quay khi khởi hành và leo dốc.
(3) Để truyền động đến các bánh xe ở tốc độ cao khi đang chạy với tốc độ lớn.
(4) Để truyền động đến các bánh xe khi chạy lùi.
Sơ đồ chuyển số:
Đồ thị ở bên trên trình bày các đường cong tính năng truyền động chỉ rõ mối quan hệ giữa lực truyền động và tốc độ của xe từ số 1 đến số 6
1 Các đường cong tính năng truyền động
Trang 3Nói một cách lý tưởng, đường biểu diễn lực truyền động của động cơ cần phải thay đổi liên tục như đường cong A ở đồ thị này Tuy nhiên, lực truyền động thực tế của hộp số loại thông thường không thay đổi liên tục từ số 1 đến số 6.
Do đó, lực truyền động của động cơ sẽ có hiệu quả khi thu hẹp khu vực gạch chéo trong đồ thị để gần với đường cong này.
Có thể phỏng đoán rằng lực truyền động sẽ đến gần đường cong lý tưởng A khi tăng
số lượng các số truyền lên Tuy nhiên, thiết kế của hộp số như vậy sẽ trở nên phức tạp
và làm cho việc điều khiển hộp số của người lái cũng phức tạp.
Vì vậy, số lượng các số truyền là từ 4 đến 6.
Số truyền 5 được sử dụng nhiều nhất.
(1) Khởi hành
Khi xe khởi hành, cần có công suất lớn, nên người ta sử dụng số truyền 1 có lực truyền động lớn nhất.
(2) Xe chạy
Sau khi khởi hành, người ta dùng số 2 và số 3 để tăng tốc độ của xe.
Người ta dùng các số truyền này vì chúng có giới hạn tốc độ cao hơn số 1 và cần không nhiều lực truyền động.
(3) Xe chạy ở tốc độ cao
Khi xe chạy ở tốc độ cao, người ta dùng các số 4, số 5 và số 6 để tiếp tục tăng tốc độ của xe Việc sử dụng các số truyền với lực truyền động nhỏ và hạ thấp tốc độ của động
cơ sẽ giảm mức tiêu thụ nhiên liệu.
(4) Chạy lùi
Khi sử dụng số lùi, bánh răng trung gian số lùi được nối khớp, bánh răng số lùi sẽ đổi
tỉ số chuyền : 1 Tỷ số truyền giảm tốc
Tỷ số truyền giảm tốc hộp số sàn được thể hiện như sau:
Nếu bánh răng bị động có 38 răng và bánh răng chủ động có 12 răng chẳng hạn, thì tỷ
số truyền giảm tốc của số 1 là 38/12 = 3,166.
Khi trục sơ cấp truyền chuyển động quay và mômen quay cho trục thứ cấp, tốc độ quay sẽ giảm xuống và mômen quay sẽ tăng lên theo tỷ số truyền giảm tốc của các bánh răng này.
Mômen đầu thứ cấp = Mômen đầu sơ cấp x Tỷ số truyền
Số vòng quay đầu sơ cấp = Số vòng quay đầu thứ cấp x Tỷ số truyền
Điều này cho thấy rằng tỷ số truyền càng lớn thì mômen quay càng tăng, còn số vòng quay cànggiảm
Nghĩa là xe có thể chạy ở tốc độ càng cao khi tỷ số truyền càng nhỏ, mặc dù lực truyền động giảm xuống.
Cơ cấu vận hánh số sàn:
Loại 1 điều khiển dẫn động cơ khí :
Loại này liên kết cần chuyển số với hộp số bằng cáp hoặc các thanh nối, v.v
Trang 4Người ta dùng loại này ở các xe động cơ đặt trước – dẫn động bánh trước(ví dụ như:Kia Picanto, Toyota Yaris, Mazda 2, Mitsubishi Mirage, Mitsubishi Attrage, Mazda 3, Honda City, Toyota Vios, Nissan Sunny, Kia K3, Honda Civic, Toyota Corrolla, Ford Fiesta, Ford
Focus,v.v ), và có đặc điểm là gây ra ít rung động và tiếng ồn, và có thể dễ dàng thiết
kế vị trí của cần chuyển số.
loại 2 điểu khiển dẫn động trực tiếp
Loại này lắp cần chuyển số trực tiếp trên hộp số Người ta dùng loại này ở các xe
xe động cơ đặt trước – dẫn động bánh sau (ví dụ như: BMW Z4, Mercedes-Benz SLK/SLC, Toyota 86/Subaru BRZ, Hyundai Genesis, Nissan 370Z, Ford Mustang,v.v….,) vì các thao tác chuyển số nhanh và dễ xử lý
Đường truyền công suất của hộp số sàn ô tô
Người ta đặt hộp số ngang ở đầu bên trái hoặc bên phải của động cơ lắp ngang ở các
xe động cơ đặt trước – dẫn động bánh trước
Người ta đặt hộp số dọc ở phía sau của động cơ lắp dọc ở các xe động cơ đặt trước – dẫn động bánh sau
1 Điều khiển hộp số ngang
Vị trí số trung gian
Công suất từ động cơ không được truyền từ trục sơ cấp sang trục thứ cấp, nên cũng không truyền sang bộ vi sai.
Mũi tên xanh: Truyền công suất
Mũi tên đỏ: Chiều quay
Độ dài của mũi tên thể hiện tốc độ quay còn chiều rộng của mũi tên thể hiện mômen quay.
Mũi tên càng dài, tốc độ quay càng lớn, còn chiều rộng của mũi tên càng rộng mômen quay càng lớn.
Số 1
Bánh răng của trục thứ cấp ăn khớp với bánh răng số 1 của trục sơ cấp truyền công suất đến bộ vi sai qua bánh răng dẫn vi sai.
Mũi tên xanh: Truyền công suất
Mũi tên đỏ: Chiều quay
Độ dài của mũi tên thể hiện tốc độ quay còn chiều rộng của mũi tên thể hiện mômen quay.
Mũi tên càng dài, tốc độ quay càng lớn, còn chiều rộng của mũi tên càng rộng mômen quay càng lớn.
Số 3
Bánh răng trục thứ cấp đang quay ăn khớp với bánh răng số 3 của trục sơ cấp truyền công suất đến bộ vi sai qua bánh răng dẫn vi sai.
Mũi tên xanh: Truyền công suất
Mũi tên đỏ: Chiều quay
Độ dài của mũi tên thể hiện tốc độ quay còn chiều rộng của mũi tên thể hiện mômen quay.
Trang 5Mũi tên càng dài, tốc độ quay càng lớn, còn chiều rộng của mũi tên càng rộng mômen quay càng lớn
Số lùi
Gài khớp bánh răng trung gian số lùi với bánh răng số lùi của trục sơ cấp.
Gài khớp bánh răng của trục thứ cấp với bánh răng trung gian số lùi truyền công suất
để quay ngược chiều đến bộ vi sai qua bánh răng dẫn vi sai.
Mũi tên xanh: Truyền công suất
Mũi tên đỏ: Chiều quay
Mũi tên tím: Chiều quay của bánh răng đảo chiều lồng không
Độ dài của mũi tên thể hiện tốc độ quay còn chiều rộng của mũi tên thể hiện mômen quay.
Mũi tên càng dài, tốc độ quay càng lớn, còn chiều rộng của mũi tên càng rộng mômen quay càng lớn.
Mũi tên xanh: Truyền công suất
Mũi tên đỏ: Chiều quay
Độ dài của mũi tên thể hiện tốc độ quay còn chiều rộng của mũi tên thể hiện mômen quay.
Mũi tên càng dài, tốc độ quay càng lớn, còn chiều rộng của mũi tên càng rộng mômen quay càng lớn
2 điều khiển hộp số dọc
Đối với hộp số dọc đơn giản hơn rất nhiều so với hộp số ngang trục sơ cấp và trục thứ cấp được bố trí trên cùng một đường tâm và bánh răng đảo chiều liên kết trục sơ cấp và trục thứ cấp để truyền công suất.
Ưu điểm và nhược điểm của hộp số sàn:
Ưu điểm:
Hộp số sàn tiết kiệm nhiên liệu, tuy nhiên, hiện nay công nghệ hộp số tự động mới được trang bị nhiều cấp số hơn, làm giảm bớt khoảng cách về khả năng tiết kiệm nhiên liệu so với hộp số sàn, số tay.
Nhược điểm:
Với việc bất tiện trong việc phải thực hiện quá nhiều thao tác khi lái xe, các thao tác chân côn và cần số liên tục khiến hộp số sàn dần đánh mất đi khách hàng, họ quay sang lựa chọn loại hộp số tự động Tuy nhiên đây cũng là điểm khiến nhiều tài xế là tín đồ chân chính của loại hộp số ô tô này
hộp số tự động:
Trang 6Hộp số tự động
Ngày nay, khái niệm hộp số tự động đã không còn là cái tên xa lạ nữa vì nó đang ngày càng trở nên gần gũi đối với người sử dụng Với những tính năng ưu việt mà một chiếc hộp số cơ khí không thể thực hiện được như chuyển số tự động, quá trình chuyển số êm dịu không gây mệt mỏi cho người lái, tổn hao công suất qua hệ thống truyền lực thấp vv Hộp số tự động đang dần chiếm ưu thế và ngày càng được sử dụng rộng rãi trên những phương tiện di chuyển Tuy vậy, mỗi khi nhắc đến hộp số
tự động, người ta sẽ hình dung ngay đến một chiếc xe hơi đời mới, với đầy đủ các tính năng hiện đại vào thời điểm này Nhưng trên thực tế, chắc hẳn ít người biết được rằng những chiếc hộp số tự động và hiện đại như vậy từ lâu đã được trang bị trên những chiếc xe tải chuyên dụng hạng nặng (tải trọng từ 40 tấn cho đến hàng trăm tấn) hay trên những chiếc máy công trình như máy ủi, máy xúc lật bánh lốp vv Bài viết này sẽ đề cập một loại hộp số tự động hiện đang được trang bị trên những chiếc xe tải chuyên dụng hạng nặng của hãng Caterpillar, đó là loại hộp số tự động Powershift Transmission
Cấu tạo của hộp số tự động
Về cơ bản, cấu tạo và hoạt động của hộp số này không khác gì những chiếc hộp số được trang bị trên những chiếc xe con hiện nay Trước hết, chúng ta xem lại toàn bộ cấu trúc của một hệ thống truyền lực điển hình trên ô tô như sau: Động cơ->Ly
hợp->Hộp số->Vi sai->Truyền động cuối
Đối với xe trang bị hộp số cơ khí, ly hợp thường là loại ly hợp cơ khí (ly hợp đĩa ma sát khô, đĩa ma sát ướt vv) Nhưng đi với loại hộp số tự động, ly hợp thường là loại biến mô thuỷ lực(Torque converter-hay còn gọi là bộ chuyển đổi mômen xoắn) Về mặt cấu tạo, hộp số tự động bao gồm những thành phần cơ bản: Các bộ bánh răng hành tinh kết hợp, các bộ ly hợp thuỷ lực, bộ điều khiển điện tử-thuỷ lực.
(Hình 1)
bao gồm 3 bộ phận chính:
- Bánh răng định tinh (còn gọi là bánh răng trung tâm hay bánh răng mặt trời) nằm ở giữa
- Các bánh răng hành tinh nhỏ ăn khớp và xoay quanh bánh răng định tinh, được lắp cố định trên lo^ng_ hành tinh
- Vòng răng (ngoài cùng bao quanh và ăn khớp trong với các bánh răng hành tinh nhỏ) Trong hộp số tự động, vòng răng thường được chế tạo thêm rãnh răng ở
bề mặt bên ngoài để ăn khớp với các đĩa ma sát của ly hợp, như vậy các đĩa ma sát sẽ chuyển động cùng với vòng răng
Bất kể 1 trong 3 bộ phận trên đều có thể đóng vai trò dẫn mômen xoắn(bộ phận đầu vào), khi đó 1 trong 2 bộ phận còn lại đóng vai trò nhận mômen xoắn ra(đầu ra)
và bộ phận cuối cùng phải bị giữ cố định Với mỗi sự thay đổi từ một bộ phận dẫn(đầu vào) hoặc bộ phận bị giữ sẽ cho một tỷ số truyền đầu ra khác nhau về mômen xoắn và trong một vài trường hợp có thể cho ra chiều quay ngược lại
bộ ly hợp thủy lực
Trang 7bao gồm Vỏ ly hợp, các đĩa ma sát, các tấm thép ma sát, cụm lò xo và piston
Đĩa ma sát và tấm thép ma sát được lần lượt được xếp chồng lên nhau Đĩa ma sát được bắt cố định vào vòng răng ngoài(của bộ BRHT) nhờ rãnh răng, khi công suất truyền qua bộ BRHT, vòng răng chuyển động và các đĩa
ma sát cũng sẽ chuyển động theo Các tấm ma sát được xếp trong vỏ ly hợp và được giữ cố định bởi 1 chốt chống xoay trên vỏ ly hợp Khi không có áp suất dầu,
lò xo giữ piston không ép vào đĩa ma sát, do đó đĩa
ma sát và tấm ma sát không tiếp xúc với nhau Khi đóng ly hợp, áp suất dầu khoang sau piston tăng đẩy piston thắng lực lò xo dịch chuyển sang bên phải, chuyển động của các đĩa ma sát được dẫn động bởi vòng răng bị hãm lại do bị ép vào các tấm thép ma sát cố định Lúc này vòng răng chính là một bộ phận bị giữ
cố định trong bộ BRHT
Bộ điều khiển điện tử-thuỷ lực
Trong quá trình vận hành, công việc chuyển số được thực hiện hoàn toàn tự động nhờ vào việc tính toán và
xử lý của bộ điều khiển điện tử hộp số Bộ điều khiển điện tử của hộp số là nơi tiếp nhận các thông tin đầu vào từ các cảm biến, xử lý thông tin và cung cấp dòng điện điều khiển đến các van điện từ thực hiện công việc đóng mở đường dầu đến các ly hợp
Nguyên lý hoạt động của hộp số tự động
Hình số 3 giới thiệu loại hộp số tự động với 5 số tiến và 1 số lùi Mômen xoắn từ trục khuỷu động cơ được truyền đến trục của biến mô và sẽ được nối với trục vào của hộp số thông qua việc đóng ly hợp tiến(Ly hợp hướng-cho số tiến) hoặc ly hợp số 5(Ly hợp hướng-cho số lùi) Sau
đó mômen xoắn từ trục vào hộp số sẽ được truyền sang trục ra hộp số bằng cách lần lượt đóng các ly hợp số từ số 1 đến số 5 tương ứng với các số di chuyển của xe Như vậy, để mômen xoắn có thể truyền đến
Trang 8trục ra của hộp số, luôn luôn có 2 ly hợp thuỷ lực phải được đóng Như vậy, để mômen xoắn có thể truyền đến trục đầu
ra, luôn luôn phải có 2 ly hợp được
đóng Thứ nhất là ly hợp hướng(ly hợp tiến hoặc ly hợp lùi), thứ hai là ly hợp số(từ ly hợp số 1 đến ly hợp số 5) Dưới đây là bảng ly hợp ăn khớp với từng số
di chuyển của xe:
Ở vị trí số trung gian(N), chỉ có ly hợp
số 2 ăn khớp nhưng ly hợp số tiến chưa
ăn khớp, do đó mômen xoắn không thể
truyền đến trục đầu ra của hộp số
Quá trình chuyển sang số 1 được thực hiện bằng cách đóng ly hợp số tiến và ly hợp số 1 Ly hợp số tiến đóng cho phép mômen xoắn được truyền từ trục biến mô sang trục vào của hộp số Ly hợp số 1 đóng và giữ cố định lo^ng_ hành tinh của
bộ BRHT số 1, mômen xoắn được truyền qua
bộ BRHT số 1 và 2 tới trục ra của hộp
số
Ở số 2, ly hợp tiến đóng, mômen xoắn từ trục biến mô đến trục vào hộp số và dẫn động bánh răng định tinh của bộ BRHT số
2 Ly hợp số 2 đóng giữ cố định vòng răng ngoài của bộ BRHT số 2 Do đó mômen xoắn được truyền ra lo^ng_ hành tinh, mà lo^ng_ hành tinh được nối với trục ra nên mômen xoắn được truyền sang trục ra của hộp số Tương tự, các số 3, 4, 5 lần lượt được thực hiện theo thứ tự đóng ly hợp theo như bảng trên, chỉ khác nhau về
Trang 9đường truyền mômen xoắn qua các bộ
BRHT
Đối với số lùi, ly hợp số 5 ăn khớp cho phép mômen xoắn được truyền từ trục biến
mô sang trục bánh răng định tinh Ly hợp
số 2 đóng sẽ giữ giữ cố định vòng răng ngoài của bộ BRHT số 2 Mômen xoắn được đổi chiều khi truyền từ trục bánh răng định tinh qua các bộ BRHT số 2 và số 3 sau đó tới trục ra của hộp số.
Hơn 500 trước đây, Leonardo da Vinci là người đặt ý tưởng cho hộp số vô cấp CVT (Continuously variable transmission – hay hộp số có tỷ số truyền biến thiên vô cấp) Hiện nay hộp số vô cấp đang thay thế cho hộp số hành tinh trên một số xe hơi và được nhiều hãng xe lớn như General Motors, Audi, Honda, Nissan phát triển và ứng dụng trên nhiều sản phẩm của mình.
Các hộp số nói chung dùng để thay đổi tỷ số tốc độ giữa động cơ và cầu chủ động Nói một cách khác nếu không có hộp số, chiếc xe chỉ chạy được ở một tốc độ duy nhất với một tốc
độ cực đại nhất định Ngoài ra khả năng tăng tốc từ khi xuất phát cùng với khả năng leo dốc của xe cũng bị hạn chế nếu như nó không sử dụng hộp số Vì vậy hộp số sử dụng một hệ thống bánh răng khác nhau từ thấp đến cao để biến đổi mô-men xoắn của động cơ phù hợp với nhiều điều kiện vận hành (khởi hành, tăng tốc, leo dốc…) Các số có thể được cài theo cách thông thường bằng tay hoặc tự động
Cơ sở của hộp số vô cấp CVT
Không giống như những hộp số tự động truyền thống, hộp số vô cấp CTV không có các cặp bánh răng để tạo tỷ số truyền Điều này có nghĩa là nó không có sự ăn khớp giữa các bánh răng Loại CVT thông thường nhất hoạt động trên một hệ thống puli (ròng rọc) và dây đai truyền cho phép một
sự thay đổi vô cấp và liên tục giữa giới hạn thấp nhất và cao nhất mà không có sự tách biệt riêng rẽ các vị trí số (xem hình 2)
CVT trên cơ sở puli và đai truyền
Nếu ở hộp số tự động kiểu hành tinh bạn sẽ thấy sự phức tạp của cả một “thế giới” bánh răng, phanh và đĩa ly hợp cùng các thiết bị điều khiển hoạt động thì ở hộp số vô cấp CVT lại đơn giản hơn nhiều Hầu hết hộp số vô cấp CVT đều có ba phần tử cơ bản:
Trang 10– Đai truyền bằng kim loại hay cao su có công suất cao
– Một hệ puli có đầu vào thay đổi gắn với trục quay động cơ
– Một hệ puli đầu ra dẫn đến bánh xe
CVT cũng có bộ vi xử lý và các cảm biến để theo dõi và điều khiển nhưng ba phần tử chính trên là những nhân tố chìa khóa cho phép ý tưởng này trở thành hiện thực
Hệ puli với đường kính thay đổi là trái tim của CVT Mỗi puli được tạo thành từ hai khối hình nón có góc nghiêng 20 độ và đặt đối diện với nhau Một dây đai chạy trong rãnh giữa hai khối hình nón này Dây đai hình chữ V có ưu điểm hơn nếu chúng được làm từ cao su vì có ma sát cao, hạn chế trượt (xem hình 3)
Hai khối hình nón này có thể thay đổi khoảng cách giữa chúng Khi hai khối hình nón tách ra xa nhau, dây đai ngập sâu vào trong rãnh và bán kính của dây đai quấn quanh puli sẽ giảm đi Khi hai khối hình nón này ở gần nhau thì bán kính của dây đai tăng lên CVT có thể sử dụng áp suất thủy lực hoặc lò xo để tạo ra lực cần thiết thay đổi khoảng cách giữa hai khối hình nón (xem hình 4)
Hệ puli và dây đai có đường kính thay đổi này thường đi với nhau thành một cặp Một trong số đó là puli chủ động được nối với trục quay của động cơ Puli chủ động cũng được gọi là puli đầu vào bởi
vì nó nhận năng lượng trực tiếp từ động cơ đưa vào hộp số Puli thứ hai gọi là puli bị động nối với puli chủ động hay còn gọi là puli đầu ra và nó truyền momen đến trục truyền động dẫn đến bánh xe
Khoảng cách giữa trục của puli tới điểm quấn của dây đai được gọi là bán kính quay (picth radius)
Tỷ số của bán kính quay trên puli chủ động và bán kính quay của puli bị động xác lập nên “số” của hộp số
Khi một puli tăng bán kính của nó và cái khác giảm bán kính để giữ cho dây đai luôn bám chặt vào giữa hai khối hình nón, chúng sẽ tạo ra vô số các tỷ số truyền từ mức thấp nhất cho đến cao nhất Ví
dụ khi bán kính quay nhỏ trên puli chủ động và lớn trên puli bị động thì tốc độ quay của puli bị động
sẽ giảm kết quả là có được “số thấp” Khi bán kính quay của puli chủ động lớn và của puli bị động nhỏ thì tốc độ của puli bị động tăng lên và kết quả là được “số cao” Về mặt nguyên lý, hộp số CVT hoạt động với vô số cấp độ có thể chạy ở bất cứ thời điểm nào, đối với bất cứ loại động cơ và tốc độ
xe nào của xe
Sự đơn giản của CVT đã biến chúng trở thành ý tưởng tuyệt vời cho hộp số dành cho nhiều loại máy và thiết bị khác nhau không chỉ riêng xe hơi CVT đã được sử dụng nhiều năm qua trên các máy gia công kim loại Nó cũng có mặt trên nhiều loại phươn tiện khác nhau bao gồm đầu kéo (tractor), xe trượt tuyết (snowmobile) và scooter Trong tất cả các ứng dụng này, hộp số đều dựa trên loại dây đai cao su chất lượng tốt và đàn hồi thấp Tuy nhiên nó vẫn bị trượt và kéo dãn ra do đó giảm đi hiệu quả làm việc