Việc nghiên cứu, tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng và đưa ra cácgiải pháp nhằm nâng cao năng suất trong quá trình sản xuất sản xuất nồi hơi của Công ty MT là một trong những nội dung quan t
Trang 1vụ cho các hoạt động trong đời sống của nhân dân Sự phát triển của ngành công nghiệp
cơ khí đóng vai trò nền tảng, có ảnh hưởng lớn và góp phần quan trọng thúc đẩy sự pháttriển của khoa học kỹ thuật quốc gia cũng như thúc đẩy sự phát triển của các ngành côngnghiệp khác Mặc dù có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, nhưng thực trạng chungcủa ngành cơ khí của Việt Nam hiện nay vẫn chưa thật sự phát triển Thị phần của sảnphẩm nội địa ngành cơ khí Việt Nam còn quá ít ỏi, nhỏ bé so với nhu cầu trong nước.Các sản phẩm cơ khí của Việt Nam chưa thể cạnh tranh cả về giá và về chất lượng so vớihàng nhập ngoại trên thị trường
Vì vậy, việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tại các công
ty cơ khí có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành cơ khí.Trong đó có công ty MT, là một trong những công ty cơ khí của TPHCM, tập trung vàolĩnh vực sản xuất nồi hơi Việc nghiên cứu, tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng và đưa ra cácgiải pháp nhằm nâng cao năng suất trong quá trình sản xuất sản xuất nồi hơi của Công ty
MT là một trong những nội dung quan trọng khi đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa đơn vị Thực tế cho thấy năng suất tăng sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận chodoanh nghiệp, nhờ vậy thu nhập của người lao động cũng tăng, nâng cao mức sống cholực lượng lao động Tạo sự gắn bó của người lao động cũng như khách hàng đối vớidoanh nghiệp và cuối cùng là đóng góp vào ngân sách nhà nước thông qua thuế doanhnghiệp
Với thực tế nói trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Xây dựng các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất trong hoạt động sản xuất nồi hơi của Công ty MT” với mong muốn tìm hiểu,
xác định những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất sản xuất nồi hơi của công ty
MT Qua đó, đề xuất một số giải pháp để công ty có thể thực hiện nhằm nâng cao năngsuất trong quá trình sản xuất nồi hơi của công ty
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện để giải quyết 3 mục tiêu chính sau đây:
Trang 2 Nghiên cứu những yếu tố, xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố, đếnnăng suất trong quá trình sản xuất của Công ty MT
Phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất
Đề xuất một số giải pháp về nhằm nâng cao năng suất trong quá trình sản xuấtnồi hơi của Công ty MT
1.3 Ý nghĩa của đề tài
Về mặt lý thuyết, đề tài hệ thống hóa lại các vấn đề lý thuyết liên quan đến năngsuất giúp các nhà quản lý nhận thức tương đối toàn diện hơn về năng suất và tầm quantrọng của việc nâng cao năng suất
Thông qua phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất cùng với mối liên hệgiữa các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất trong sản xuất nồi hơi của công ty MT để đềxuất những giải pháp thích hợp để nâng cao năng suất trong hoạt động sản xuất nồi hơicủa công ty MT Từ đó, xây dựng một hệ thống quản lý thực sự có hiệu quả nhằm tối ưuhóa nguồn lực hiện có và hiệu quả đầu tư, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thịtrường
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi Công ty TNHH TM-DV Mạc Tích (MartechBoiler) và công ty TNHH TM SX Hồng Ký –cùng trụ tại Huyện Bình Chánh- TP HồChí Minh Trong điều kiện có hạn, Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những yếu tố về quản
lý, điều hành sản xuất bên trong của doanh nghiệp ảnh hưởng đến năng suất trong quátrình sản xuất của công ty
1 Nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu sản xuất trong lĩnh vực cơ khí tại công tyMartech Boiler và công ty cơ khí Hồng Ký Do đó, sự khái quát có hạn chế Để mở rộngkhả năng khái quát của nghiên cứu này, nghiên cứu so sánh cấp độ ngành trong tương lai
có lẽ có thể tập trung vào các mẫu từ những nơi khác ở Palestine;
2 Nghiên cứu chỉ quan tâm đến năng suất lao động mà không bao gồm toàn bộcác năng suất nhân tố và năng suất tài chính;
3 Nghiên cứu chỉ liên quan đến đo lường năng suất của công việc sản xuất cơ khíthông dụng : tiện hàn, khoan…Do đó, cần có nghiên cứu trong tương lai tập trung vàocác hoạt động khác trong các dự án cơ khí như cơ khí chính xác vv;
4 Các bảng câu hỏi khảo sát cũng có những hạn chế khác liên quan đến thực tế làhướng những người tham gia cho ý kiến liên quan đến một số tuyên bố đã có sẵn Có thể
Trang 3có các yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất lao động nhưng không đề cập trong bảngcâu hỏi và người trả lời có thể không có thời gian để ghi nhớ chúng
1.5 Kết cấu của đề tài
Kết cấu của luận văn ngoài Lời mở đầu và Kết luận, được chia thành 4 chươngnhư sau:
Chương 1 Lý luận chung về năng suất và các nghiên cứu có liên quan
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất
Chương 3 Phân tích dữ liệu và trình bày kết quả
Chương 4 Một số giải pháp nâng cao hoạt động sản xuất của các công ty cơ khí
Trang 4Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Năng suất là một trong những vấn đề quan trọng nhất ở các nước phát triển vàđang phát triển Các nước phát triển nhận thức được rằng năng suất là rất quan trọng cho
sự tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội Ở các nước đang phát triển, nơi đang phải đốimặt với vấn đề thất nghiệp, lạm phát, khan hiếm tài nguyên và sự suy giảm tốc độ tăngtrưởng thì cố gắng sử dụng các nguồn tài nguyên theo cách có thể đạt được tăng trưởngkinh tế và cải thiện đời sống của người dân Năng suất là một trong những biện pháp sửdụng nguồn nhân lực và tài chính quan trọng vì đó là một dấu hiệu rõ rệt thể hiện hiệuquả sử dụng nguồn lực sẵn có và chuyển đổi năng suất thành những kết quả đáng chú ý
Chương này sẽ đề cập đến các định nghĩa khác nhau về thuật ngữ năng suất, cácloại năng suất, tầm quan trọng của năng suất trong ngành cơ khí xây dựng, các yếu tốảnh hưởng đến năng suất lao động, và đo lường năng suất lao động trong DN Phần thứ
ba tóm tắt các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây có liên quan và những điều họchỏi được từ các nghiên cứu này Phần cuối cúng là đưa ra các mô hình nghiên cứu
2.1 Khái niệm chính
2.1.1 Khái niệm về năng suất
Nâng cao năng suất là một mối quan tâm lớn của bất kỳ tổ chức nào có quan tâm đếnlợi nhuận, biểu trưng cho việc chuyển đổi hiệu quả các nguồn lực thành sản phẩm cóthể bán được và xác định lợi nhuận kinh doanh (Wilcox và cộng sự, 1993) Do đó,người ta đã cố gắng để hiểu được khái niệm năng suất, các nhà nghiên cứu đã thực hiệncác phương pháp tiếp cận khác nhau, đưa ra một loạt các định nghĩa về năng suất Một
số các định nghĩa được liệt kê theo thứ tự thời gian trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Bảng liệt kê các định nghĩa quan trọng về năng suất theo trình tự
thời gian (Alfeld, 1988 - Lema, 1995 -Pilcher, 1997 - Gupta et al, 2000 - Oglesby, 2002)
Thế kỷ Tác giả Năm Định nghĩa
19th Littre 1883 Khả năng sản xuất
20th Early 1900s Mối quan hệ giữa sản lượng và phương tiện được sử
dụng để tạo ra sản lượng
Davis 1955 Thay đổi trong sản phẩm thu được đối với các nguồn lực
được sử dụng
Trang 5đầu vào hữu hình.
Alfeld 1988 Tỷ lệ liên quan đến đo lường kết quả đầu ra và đo lường
kết quả đầu vào
Lema 1995 Tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra và đầu vào trong một quá
trình sản xuất
Pilcher 1997 Tỷ lệ sản xuất tức là đầu ra chia cho đầu vào
Gupta et al 2002 Sản lượng của một công việc năng suất liên quan đến
sản lượng đầu vào
Oglesby et al 2002 Khả năng tạo ra sản lượng đầu ra dồi dào hoặc phong
phú
Một số định nghĩa năng suất cũng có nguồn gốc từ các nhóm lợi ích đặc biệt như cácnhà kinh tế, công nghiệp, công đoàn và chính trị gia Các cá nhân hoặc nhóm có ýnghĩa phù hợp với tình hình của họ Ví dụ như tổ chức Hợp tác kinh tế châu Âu (đượctrích dẫn trong Lema, 1995) định nghĩa năng suất như "một thương số có được bằngcách chia sản lượng đầu ra với một trong những yếu tố sản xuất Bằng cách này chúng
ta có thể nói về năng suất của vốn, đầu tư, nguyên liệu theo liệu đầu ra đang được xétđến có liên quan với vốn, đầu tư, nguyên liệu v.v "
Trung tâm Năng suất Quốc gia Nhật Bản (trích dẫn trong Lema, 1995) mô tả năng suấtnhư sau: "Năng suất là trên hết, là một thái độ của tâm trí Năng suất là một trạng tháitâm lý của sự tiến bộ, cải tiến liên tục của những gì hiện có Đó là sự chắc chắn về khảnăng ngày hôm nay có thể làm tốt hơn hôm qua và không tốt bằng ngày mai Đó là ýchí nhằm cải thiện tình hình hiện tại, bất kể tình hình dường như có thể tốt như thế nào,bất kể tình hình có thể thực sự tốt như thế nào đó là sự thích ứng liên tục của đời sốngkinh tế và xã hội để thay đổi các tình huống; đó là những nỗ lực liên tục để áp dụng kỹthuật mới với các phương pháp mới; đó là niềm tin vào sự tiến bộ của con người "
Trang 6sự, 1996).
Từ các định nghĩa trên có thể kết luận rằng năng suất thường được định nghĩa là tỷ lệgiữa sản lượng đầu ra và đầu vào
Năng suất = Sản lượng đầu ra
Sản lượng đầu vào
Trang 7Điều quan trọng là phải xác định đầu vào và đầu ra đo được khi tính toán năng suất bởi
vì có rất nhiều yếu tố đầu vào, chẳng hạn như lao động, vật tư, thiết bị, công cụ, vốn,
và thiết kế Quá trình chuyển đổi từ đầu vào đến đầu ra liên quan đến quá trình vậnhành bất kỳ cũng rất phức tạp, chịu tác động của công nghệ được sử dụng, của nhiềuyếu tố bên ngoài như các quy định của chính phủ, thời tiết, đoàn thể, điều kiện kinh tế,quản lý, và các thành phần môi trường nội bộ
2.1.2 Sự khác nhau giữa năng suất và sản xuất
Nhiều người bị nhầm lẫn giữa thuật ngữ năng suất và sản xuất Họ nghĩ rằng sản xuấtcàng nhiều, năng suất càng lớn Điều này không hoàn toàn đúng Sản xuất trong mộtcông việc hữu ích bất kỳ chỉ thể hiện kết quả mà không đề cập đến sản lượng đầu vào.Nhưng năng suất là có liên quan với việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực (đầu vào)trong sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) (Gupta và cộng sự, 2000) Nếu xem xét
về mặt số lượng, sản xuất số lượng sản phẩm sản xuất được, trong khi đó năng suất là
tỷ lệ giữa kết quả sản xuất với nguyên liệu đầu vào được sử dụng (Gupta và cộng sự,2000)
2.1.3 Các loại năng suất
Có ba loại năng suất, được gọi là năng suất đơn yếu tố, năng suất yếu tố tổng hợp vàtổng năng suất
2.1.3.1 Năng suất đơn yếu tố
Năng suất đơn yếu tố là tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra với một loại sản lượng đầu vào(Lema, 1995) Ví dụ như năng suất lao động là tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra với sảnlượng lao động đầu vào Tương tự như vậy năng suất vốn là tỷ lệ giữa đầu ra và vốnđầu vào Năng suất đơn yếu tố được sử dụng rộng rãi như các biện pháp hiệu quả kinh
tế và ít nhất cũng có được những lợi thế của sự đơn giản nhưng nó có một điểm yếu ởchỗ nó không bao gồm toàn bộ quá trình sản xuất và không đủ để đối phó với tác độngcủa thay đổi công nghệ và thay thế yếu tố (Lowe, 1987)
2.1.3.1.1 Năng suất lao động
Năng suất lao động là thước đo sử dụng rộng rãi nhất của hiệu quả hoạt động Điều này không có nghĩa lao động là yếu tố đầu vào tốt nhất để đo lường năng suất nhưng chỉ đơn giản là phản ánh những khó khăn hoặc bất khả thi của việc
có được giá trị số cho các yếu tố quyết định khác về năng suất Vì vậy, rất nhiều
Trang 8các bài tiểu luận về năng suất dường như cho rằng năng suất lao động là biện pháp phù hợp duy nhất (Lowe, 1987) Một biện pháp phổ biến của năng suất lao động trung bình là tỷ lệ của sản lượng bình quân lao động.
Năng suất lao động trung bình = Q/L
Trong đó Q = sản lượng đầu ra
L = Lao động được sử dụng
Lao động được sử dụng (L) cần phải lượng tử hóa và khi sử dụng yếu tố này làm
số lượng các toán tử thì ít nhất cũng có những thuận lợi đó là sự đơn giản và vìphương pháp này sử dụng thống kê học khá dễ dàng có sẵn (Lowe, 1987) Nhiềuphép hoán vị về chủ đề này đã được lập công thức – sản lượng đầu ra/giờ thực hiện,sản lượng đầu ra/năm thực hiện, chỉ số chi phí lao động, v.v (Lowe, 1987) Trong bốicảnh này, năng suất lao động trung bình là đo lường cường độ lao động của quá trìnhsản xuất và không cần phải ám chỉ điều gì về hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực.Năng suất lao động vì vậy có thể được tăng lên bằng cách thay thế một yếu tố khác –luôn luôn là vốn đối với lao động Sự thay thế này có thể hoặc không đưa đến hiệu quả
sử dụng nguồn lực tốt hơn và giá thành tốt hơn trong sản xuất Vì vậy, ví dụ nếu máymóc được thay thế cho lao động ở công trường, điều này sẽ cải thiện năng suất laođộng Tương tự, sử dụng các linh kiện được chế tạo bên ngoài công trường, có liênquan đến việc thay thế lao động ngoài công trường đối với lao động tại công trườngcũng sẽ cải thiện năng suất lao động trung bình (Lowe, 1987)
2.1.3.1.2 Năng suất vốn
Năng suất vốn luôn được định nghĩa theo phần trăm lợi nhuận trên vốn đầu tư, bằngcách sử dụng biện pháp truyền thống chẳng hạn như tỷ lệ lợi nhuận trung bình hoặcphương pháp chiết khấu dòng tiền chẳng hạn như phương pháp lợi suất nội hàm(Lowe, 1987)
Năng suất vốn trung bình = Năng suất / Vốn đã đầu tư
Để tính toán năng suất vốn, cần phải ước tính giá trị cổ phần vốn cố định Tồn tại một
số vấn đề do có các phương pháp đánh giá tài sản vốn khác nhau và do mọi ước tínhchỉ ở mức độ chủ quan, cụ thể là những người quản lý công ty có thể có quan điểmkhác với các cổ đông Trong mọi trường hợp, những thông tin đó chắc chắn không cósẵn Vì vậy, năng suất vốn ít được sử dụng hơn năng suất lao động (Lowe, 1987)
Trang 9Ngoài những khó khăn thực tế này, năng suất vốn là một tiêu chí hữu ích hơn nhiều sovới năng suất lao động trong việc đánh giá hiệu suất hoạt động của một doanh nghiệphoạt động trong một nền kinh tế thị trường Hầu hết các công ty tư nhân sẽ tìm cách đểđảm bảo đủ lợi nhuận trên khoản vốn đã đầu tư vào các cổ đông của họ - vì vậy lợinhuận trên vốn đầu tư cao hơn nhiều so với sản lượng cao trên mỗi công nhân (Lowe,1987)
2.1.3.2 Năng suất yếu tố tổng hợp
Để khắc phục những hạn chế của phương pháp năng suất đơn yếu tố đã xét ở trên,người ta đã phát triển biện pháp đo lường năng suất yếu tố tổng hợp Năng suất yếu tốtổng hợp là tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra tịnh vào tổng sản lượng lao động và vốn đầuvào liên quan (Lema, 1995)
Trang 10Ht = lao động đầu vào trên khoảng thời gian t
Ct = vốn đầu vào trên khoảng thời gian t
Từ quan điểm về hiệu quả sản xuất trong điều kiện khan hiếm, doanh nghiệp sẽ phảikết hợp các yếu tố đầu vào khác nhau với sự kết hợp chính xác để có được kết quả tối
ưu hoặc giảm thiểu chi phí ở một mức độ sản xuất nhất định hoặc để tối đa hóa sảnxuất từ nguồn lực sẵn có Từ quan điểm điểm hiệu quả phân bổ, các chủ sở hữu có thểgiả định các yếu tố sản xuất khác nhau để tìm cách tối đa hóa lợi nhuận của mình từnhững yếu tố đó (Lowe, 1987)
2.1.3.3 Tổng năng suất
Tổng năng suất là tỷ lệ giữa tổng sản lượng đầu ra và tổng các yếu tố đầu vào Vì vậy,
đo lường tổng năng suất thể hiện tác động liên kết của tất cả các yếu tố đầu vào trongviệc tạo ra sản lượng đầu ra Trong tất cả các định nghĩa ở trên, cả sản lượng đầu ra vàđầu vào đều là các giá trị thực hoặc hiện có do được giảm so với đồng đô la cố địnhtrong một khoảng thời gian tham chiếu (Lema, 1995) Việc giảm theo khoảng thời gian
cơ sở này được thực hiện bằng cách chia giá trị sản lượng đầu ra và giá trị sản lượngđầu vào nhân với hệ số giảm phát hoặc lạm phát tùy theo giá cả của sản lượng đầu ra
và đầu vào tăng lên hay giảm xuống tương ứng
(Lema, 1995)
TPt = Tổng giá trị đầu ra
Tổng giá trị đầu vào (4)
Trong đó TPt là tổng năng suất trong khoảng thời gian t
(Ht + Ct + Mt + Et + Ot)
Trang 11Trong đó
Vt = giá trị đầu ra trong khoảng thời gian t
Ht = nhân sự đầu vào trong khoảng thời gian t
Ct = vốn đầu vào trong khoảng thời gian t
Mt = vật tư đầu vào trong khoảng thời gian t
Et = năng lượng đầu vào trong khoảng thời gian t
Ot = các chi phí khác trong khoảng thời gian t
2.1.4 Biến suất
Biến suất tồn tại do việc quản lý ba biến Các biến suất này gồm lao động, vốn và quản
lý Ba yếu tố này rất quan trọng trong việc cải thiện năng suất Chúng tượng trưng chonhững lĩnh vực rộng lớn mà trong đó những người quản lý có thể hành động để cóđược năng suất tốt hơn (Heizer et al, 1990)
2.1.4.1 Lao động
Chất lượng lao động rất quan trọng để cải thiện năng suất Ba biến truyền thống đối vớinăng suất lao động được cải thiện đó là (Heizer và cộng sự, 1990)
1- Giáo dục cơ bản phù hợp với lực lượng lao động hiệu quả;
2- Chế độ ăn uống của lực lượng lao động;
3- Chi phí xã hội để có lao động, chẳng hạn như vận chuyển và vệ sinh
Ở các nước đang phát triển, ba biến này rất quan trọng; tuy nhiên, ở các nước phát triển, biến quan trọng nhất là duy trì và nâng cao kỹ năng của lao động
2.1.4.2 Vốn
Con người là loài sử dụng công cụ Đầu tư vốn cung cấp những công cụ này Nhữngcông cụ này có thể phân loại từ máy vi tính đến máy móc phức tạp và sân bay mới(Heizer và cộng sự, 1990) Thông thường sản xuất được thực hiện với sự trao đổi giữalao động và vốn Cụ thể là nếu chúng ta muốn xây một con đường, chúng ta có thểthực hiện với một đội ngũ hàng ngàn người sử dụng cuốc xẻng hoặc chúng ta có thểđầu tư vào thiết bị di chuyển đất Sự giao đổi giữa vốn và lao động sự lưu động liên tục(Heizer và cộng sự, 1990)
Trang 122.1.4.3 Quản lý
Quản lý là một yếu tổ của sản xuất và là một nguồn kinh tế Quản lý chịu trách nhiệmđảm bảo lao động và vốn được sử dụng hiệu quả để tăng năng suất Nghệ thuật và khoahọc quản lý bao gồm những cải tiến được thực hiện bởi công nghệ và kiến thức Cảitiến đó đòi hỏi có sự đào tạo và giáo dục cũng như tổ chức năng động (Heizer và cộng
sự, 1990)
2.1.5 Chu kỳ năng suất
Chu kỳ năng suất có bốn giai đoạn: đo lường năng suất, phát triển năng suất, lập kếhoạch năng suất và cải thiện năng suất như được thể hiện trong hình 2.1 [cited inSisalemetal, 2000]
Đo lường năng suất
Cải thiện
năng suất
Lập kế hoạch năng suất Đánh giá năng suất
Trang 13Hình 2.1 Chu kỳ năng suất (trích trong Sisalem và cộng sự, 2000).
Một tổ chức khi bắt đầu một chương trình năng suất chính thức lần đầu tiên cóthể bắt đầu với đo lường năng suất Khi xác định được các mức năng suất, cầnphải đánh giá các mức năng suất hoặc so sánh với giá trị đã định Dựa trên mụctiêu đánh giá này, các mức năng suất được lập kế hoạch trên cơ sở ngắn hạn vàdài hạn Để đạt được những mục tiêu đã định, trong kỳ tiếp theo sẽ phải tiếnhành cải thiện năng suất; lúc này phải đo lại mức năng suất
Vì vậy, chu kỳ này tiếp tục cho đến khi nào chương trình năng suất áp dụngtrong tổ chức (Armstrong, 1988)
Khái niệm chu kỳ năng suất cho chúng ta thấy rằng cải thiện năng suất phải đượcbắt đầu bằng đo lường, phát triển, và lập kế hoạch Tất cả bốn giai đoạn đều quantrọng chứ không chỉ đo lường năng suất hoặc cải tiến năng suất Đồng thời, chu
kỳ này nhấn mạnh bản chất quá trình của vấn đề năng suất Chương trình năngsuất không phải là một dự án thời gian mà là một quá trình diễn ra liên tục
2.1.6 Năng suất cơ khí xây dựng
Năng suất cơ khí xây dựng là tập trung vào giá trị tiền thu được từ khách hàng cơ
khí xây dựng Kiến thức về năng suất là một phần thiết yếu trong quản lý cơ khíxây dựng Ứng dụng đo lường năng suất chính xác nhất trong lĩnh vực quản lýnguồn lực Tuy nhiên, tỷ lệ năng suất liên quan đến nhiều chủ thể khác trong quátrình thực hiện chẳng hạn như dự toán chi phí, lập kế hoạch các hoạt động, kiểmsoát chi phí, nguồn nhân lực, và bảng lương (Herbsman và cộng sự, 1990) Vìvậy, xác định chính xác năng suất là rất quan trọng nhưng đo lường năng suấttrong cơ khí xây dựng là một vấn đề phức tạp vì sự tương tác giữa lao động, vốn,vật tư, và thiết bị và yếu tố thay đổi các điều kiện công trường khác nhau trên tỷ
lệ năng suất của các hạng mục xây dựng tiêu chuẩn nhất
2.1.7 Năng suất theo cách tiếp cận mới - Hướng nhìn cho các DN Việt Nam.
13
Trang 14Năng suất ở cấp DN được hiểu là phương pháp sản xuất hàng hóa/dịch vụ có chấtlượng và giá trị cao với chi phí thấp nhất có thể Điều nầy cho phép DN cung cấphàng hóa/dịch vụ với giá cạnh tranh Kết quả là nếu tiêu thụ tốt thì lợi nhuận của
DN sẽ tăng Như vậy, năng suất hiện nay bao gồm những nội dung sau:
- Đáp ứng được yêu cầu của khách hàng
- Giảm đến mức tối thiểu các tác động xấu tới môi trường
- Thỏa mãn người lao động
- Hướng vào việc tạo ra giá trị cho khách hàng
- Làm đúng việc ngay từ đầu để giảm lãng phí trong sản xuất
Đối với mỗi nhân viên , năng suất và hiệu quả kinh doanh của DN cũng có nghĩa
là công việc ổn định hơn, nhiều cơ hội hơn, mức lương cao hơn và chất lượngcuộc sống cũng sẽ tốt hơn
1.1.1 Tầm quan trọng của năng suất và nâng cao năng suất
1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới năng suất
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cơ khí xây dựng đã là chủ đề phân tích củanhiều nhà nghiên cứu Để cải thiện năng suất, cần phải nghiên cứu những yếu tốảnh hưởng đến năng suất, bất kể tích cực hay tiêu cực Sử dụng các yếu tố cóảnh hưởng tích cực, và loại bỏ (hoặc kiểm soát) những yếu tố có ảnh hưởng tiêucực sẽ cải thiện được năng suất
Nếu biết được tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, cũng có thể dự đoánđược năng suất (lema, 1995) Nhiều nhà nghiên cứu đã kiểm tra các yếu tố ảnhhưởng đến năng suất lao động Các nhà nghiên cứu này bao gồm Liên hiệp quốc(1965), Kane và cộng sự (1980), Thomas, và cộng sự (1991), Yates và cộng sự(1993), Lim và cộng sự (1995), lema (1995), Olomolaiye và cộng sự (1996),Heizer và cộng sự (1996) , Olomolaiye và cộng sự (1998), Kaming, và cộng sự(1998), Teicholz (2001), Thomas và cộng sự (2001), Wachira (2001), Rojas vàcộng sự (2003) Mặc dù đã điều tra chuyên sâu như vậy, theo sự tìm hiểu của tác
14
Trang 15giả, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất về một tập hợp chung các yếu tố cóảnh hưởng đáng kể đến năng suất cũng như chưa thỏa thuận về việc phân loạicác yếu tố này.
1.1.3 Đo lường năng suất
1.2 Lý thuyết liên quan
1.2.1 Năng suất và cạnh tranh
1.2.2 Năng suất - hiệu quả
1.2.3 Năng suất - giá trị gia tăng
1.2.4 Năng suất và những mục tiêu của xã hội
1.2.5 Năng suất và tăng trưởng năng suất
1.2.6 Năng suất lao động chân tay và lao động tri thức
1.2.7 Năng suất theo cách tiếp cận mới - Hướng nhìn cho các DN Việt Nam
1.3 Tổng quan các nghiên cứu trước về năng suất và các nhân tố ảnh
hưởng đến năng suất
1.3.1 Nghiên cứu trong nước
1.3.2 Nghiên cứu ngoài nước
1.4 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất
1.4 Phương pháp nghiên cứu và phương pháp
1.4.1 Giới thiệu
Các phương pháp được lựa chọn cho nghiên cứu này là phương pháp nghiên cứu trường hợp dạng Case Study , phương pháp nghiên cứu khu vực và phương pháp
so sánh Sự kết hợp của các nghiên cứu so sánh và nghiên cứu trường hợp là hợp
lý theo các căn cứ sau đây Các nghiên cứu trường hợp cung cấp cái nhìn sâu sắc vào các cơ chế công ty cấp cơ sở, mà không thể được nghiên cứu ở mức độ ngành.Nghiên cứu này sử dụng số liệu chính từ các công ty trường hợp để điều tra các
15