1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số bài ca dao - tục ngữ Việt Nam

15 6,5K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số bài ca dao - tục ngữ Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 62,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bồng bồng mẹ bế con sang Đò to , nước lớn mẹ mang con về Mang về đến gốc bồ đề Xoay trở hết nghề mẹ bán con đi Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồngtiếng khóc nỉ non Con cò mà đi ăn

Trang 1

Ca dao

THAN THÂN

Bốn bề công nợ eo sèo Chỉ vì một nỗi tôi nghèo mà thôi Tôi làm tôi chẳng có chơi Nghèo đâu nghèo mãi, trời ơi hỡi trời!

Bồng bồng mẹ bế con sang Đò to , nước lớn mẹ mang con về Mang về đến gốc bồ đề Xoay trở hết nghề mẹ bán con đi

Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồngtiếng khóc nỉ non

Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Oâng ơi!Oâng vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

Con quan thì lại làm quan Con nhà kẻ khó đốt than cả ngày

Gánh cực mà đổ lên non Còng lưng mà chạy cực còn theo sau

Giàu từ trong trứng gìu ra Khó từ ngã ba, ngã bảy khó về

Người ta đi cấy lấy công Tôi nay đi cấy tay không trở về Trời sao trời ở chẳng cân Kẻ ăn không hết người lần không ra

Trang 2

Người thì mớ bảy mớ ba

Người thì áo rách như là áo tơi

CHÂM BIẾM

Ba cô đội gạo lên chùa

Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư

Sư về sư ốm tương tư

Oám lăn ốm lóc, cho sư trọc đầu

Ai làm cho dạ sư sầu

Cho ruột sư héo như bầu đứt dây

Bươm bướm mà đậu cành hồng

Đã yêu con chị lại bồng con em

Con ơi! Nhớ lấy câu này

Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan

Hòn đất mà biết nói năng

Thì thầy địa lý hàm răng không còn

Sư đi chùa mốc sân rêu

Mõ khuya ai gõ , chuông chiều ai khua

Vinh hoa là cái trò đùa

Đã tu không trót, lại mua trò cười

Thầy cúng ngồi cạnh giường thờ

Mồm thì lẩm bẩm, tay sờ đĩa xôi

Tiền buộc dải yếm bo bo

Trao cho thầy bói đâm lo vào mình

Tử vi xem số cho người

Số thầy thì để cho ruồi nó bâu

Trang 3

Vua Lê ba mươi sáu tàn vàng

Thấy gái đi đàng ngó ngó nom nom

Cô nào óng ả son son

Vua đóng cũi hòm, đem trẩy về kinh

CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG

Aên được ngủ được là tiên

Không ăn không ngủ mất tiến thêm lo

Aên quả nhớ kẻ trồng cây

Aên gạo nhớ kẻ đâm xay giần sàng

Ai ơi chớ vội cười nhau

Cây nào mà chẳng có sâu chạm cành

Ai ơi chớ vội cười nhau

Cười người hôm trước, hôm sau người cười

Ai ơi cứ ở cho lành

Tu nhân tích đức để dành về sau

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Bạn bè là nghĩa tương tri

Sao cho sau trước một bề mới nên

Chỉ đâu mà buộc ngang trời

Tay đâu mà bịt miệng người thế gian

Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

Chim khôn tránh bẫy tránh giò

Người khôn tránh kẻ hồ đồ mới khôn

Trang 4

Chớ thấy sóng cả mà lo

Sóng cả mặc sóng chèo cho có chừng

Dã tràng se cát biển Đông

Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì

Đi cho biết đó biết đây

Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

Giàu đâu những kẻ ngủ trưa

Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày

Giàu người ta chẳng có tham

Khó thì ta liệu ta làm ta ăn

Hoa sen mọc bãi cát lầm

Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen

Hoa thơm ai dễ bỏ rơi

Người khôn ai nỡ nặng lời với ai

Khi giàu chẳng có đỡ ai

Đến khi hoạn nạn chẳng ai đỡ mình

Khôn ngoan chẳng lọ là nhiều

Người khôn mới nói nửa điều đã khôn

Khó mà biết lẽ biết lời

Biết ăn, biết ở hơn người giàu sang

Kim vàng ai nỡ uốn câu

Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

Lòng ta ta đã chắc rồi

Dù ai giục đứng giục ngồi chớ nao

Trang 5

Mật ngọt càng tổ chết ruồi

Những nơi cay đắng là nơi thật thà

Muốn no thì phải chăm làm

Một hạt thóc vàng, chín hạt mồ hôi

Muốn sang thì bắc cầu Kiều

Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

Nghèo nhân nghèo nghĩa thì lo

Nghèo tiền nghèo bạc chẳng lo là nghèo

Người gian thì sợ người ngay

Người ngay chẳng sợ đường cày khúc khuyu

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng

Non cao ai đắp mà cao

Sông sâu do bởi ai đào mà sâu?

Nói chín thì nên làm mười

Nói mười làm chín kẻ cười người chê

Nói lời thì giữ lấy lời Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

Ra vời mới biết nông sâu

Ở trong lạch hói biết đâu mà dò

Sông sâu nước chảy đá mòn

Của kia ăn hết nghĩa còn ghi xương

Trang 6

Sự đời nghĩ cũng nực cười

Một con cá lội mấy người thả câu

Thà rằng ăn bát cơm rau

Còn hơn cá thịt nói nhau nặng lời

Thương ai củ ấu cũng tròn

Không thương quả bồ hòn cũng vuông

Thương ai thương cả đường đi

Ghét ai ghét cả tông ti họ hàng

Thức lâu mới biết đêm dài

Ở lâu mới biết là người có nhân

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người

Trăm năm ai chớ bỏ ai

Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim

Trăm năm ba đá thi mòn

Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Trăm năm lòng gắn dạ ghi

Dầu ai đem bạc đổi chi mặc ai

Vàng thì thử lửa thử than

Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời

LAO ĐỘNG VÀ NGHỀ NGHIỆP

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà chấm tương

Trang 7

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm mai

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi, bưng bát cơm đầy

Dẻo thơ một hạt đắng cay muôn phần

Con tằm nó nằm ăn lá dâu

Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

Con trai tát nước, nàng dâu đi mò

Cha chài, mẹ lưới, con câu

Đói thì ăn ráy ăn khoai

Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng

Những người đi biển làm nghề

Thấy dòng nước nóng thì về đừng đi

Sóng lừng, bụng biển ầm ì

Bão mưa ta tránh chớ hề ra khơi

Rủ nhau đi cấy đi cày

Bây khó nhọc có ngày phong lưu

Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa

Trâu ơi, ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Cấy vốn nghiệp nông gia

Ta đây trâu đấy, ai mà quản công

Bao giờ cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

Trên trời có ông sao Thần

Bốn mùa chỉ lối cho dân ăn làm

Sang xuân Thần cuối lom khom

Là mùa trồng đậu dân làng biết chăng ?

Trang 8

Bước sang tháng chin rõ trăng

Lưng Thần hơi đứng là đang gặt mùa

LỊCH SỬ VÀ ĐẤT NƯỚC

Ai lên Biên Thượng, Lam Sơn

Nhớ Lê Thái Tổ chặn đường quân Minh

Ai về Bình Định mà nghe

Nói về chàng Lía, hát vè Quảng Nam

Ai về Hậu Lộc, Phú Điền

Nhớ đây Bà Triệu trận tiền xung phong

Ai về Hà Tĩnh thì về Mặc lụa chợ Hạ, uống nước chè Hương Sơn

Ai về đến huyện Đông Anh

Ghé thăm phong cảnh Loa Thành Thục Vương

Cổ Loa hình ốc khác thường

Trải bao năm tháng nẻo đương còn đây

Ai về Phú Thọ cùng ta Vui ngày giỗ Tổ tháng ba mùng mười

Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba

Ai về Thọ Lão hát chèo

Có thương lấy phận nàng Kiều thì thong

Bắc Cạn có suối đãi vàng

Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh

Cầu Quan vui lắm ai ơi Trên thì chợ họp, dưới bơi thuyền rồng

Trang 9

Chiều chiều én liện truông Mây

Cảm thong chú Lía bị vây trong thành

Dịu dàng nết đất An Dương

Xưa nay là chốn văn chương nổi tài

Dù ai buồn đâu, bán đâu

Mồng mười tháng chín chọi trâu thì về

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Cương

Mịt mù khói tỏa ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ

Khôn ngoan qua cửa sông La

Dễ ai có cánh đi qua Luỹ Thầy

Lạy trời cho cả gió lên

Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành

Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu

Mồng chín đâu đâu trở về Hội Gióng

Đồng Đăng có phố Kì Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em

Tay cầm bầu rượu nắm nem

Mảng vui quên hết lời em dặn dò

Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

Nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm

Đức Thọ gạo trắng nước trắng

Ai về Đức Thọ thong dong con người

Trang 10

Đời vua Vĩnh Tộ lên ngôi

Cơm trắng đầy nồi, trẻ chẳng cho ăn

Ngó qua bên canh Tô Châu

Thấy em gánh trên đầu giắt trâm

Nhất cao là núi Tản Viên

Nhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vừng

Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

Nhong nhong ngựa ông lại về

Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn

Sa Nam trên chợ dưới đò

Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dụng binh

Sông Lam một dải nông sờ

Nhớ người quân tử bơ vơ nổi chìm

Sông Thao nước đục người đen

Ai lên phố Eûn cũng quên đường về

Vĩnh Long có cặp rồng vàng

Nhất Bùi Hữu Nghĩa nhì Phan Tuấn Thần

Vườn ai trồng trúc trồng tre

Ở giữa trồng chè, hai bên đào ao

Aáy nhà một đấng anh hào

Họ Phan, làng Thái, đồng bào kính yêu

Xứ Nam nhất chợ Bằng Vồi

Xứ Bắc: Vân Khánh, xứ Đoài: Hương Canh

Trang 11

Tục ngữ là những câu nói nhân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động, sản xuất, xã hội) được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hằng ngày Đây là một thể loại văn học dân gian

CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN

 Cần xuống muống lên

 Cây chọn mất lá cá chọn mất cây

 Cha chết không lo bằng đỏ lò tây bắc

 Chắc rễ bền cây

 Chữ tốt xem tay,ngựa hay xem xoáy

 Chớp đông nhay nháy ,gà gáy thì mưa

 Chớp thừng chớp chão ,chẳng bão thì mưa

 Chuồng gà hướng đông,cái lông chẳng còn

 Cóc nghiền răng đang nắng thì mưa

 Đông chết se hè chết lụt

 Được mùa nhãn hận nước lên

 Eách kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước

 Eùn bay thấp mưa ngập cầu ao;én bay cao mưa rào lại tạnh

 Kiến dạo tổ trời mưa

 Lá tre trôi lộc,mùa rét xộc đến

 Mây thành vừa hanh vưà giá

 Mây xanh thì nắng mây trắng thì mưa

 Mặt trời có quầng thì hạn,mặt trăng có tán thì mưa

 Mống cao gió táp mống áp mưa rào

 Mống dài trời lụt mông cụt trời mưa

 Một ngôi sao một ao nước

 Mỡ gà thời gió mỡ chó thời mưa

 Nắng chóng trưa mưa chóng tối

 Nắng tháng ba chó già lè lưỡi

 Nước chảy đá mòn

 Qua giêng hết năm qua rằm hết tháng

 Ráng vàng thời nắng ,ráng nắg thời mưa

 Sấm kêu,rêu mọc

 Thâm đông trống bác hễ nực thì mưa

 Thâm đông, hồng tây,dựng mây,ai ơi ở lại ba ngày hãy đi

 Tháng bảy nước chảy qua bờ

Trang 12

 Tháng chín mưa rơi tháng mười mưa cữ

 Tháng hè đóng bè làm phúc

 Tháng mười động gia tháng ba động rạm

 Tháng mườico sấm ,cấy trên nấm cũng được ăn

 Tháng tám gió mây tưới đồng

 Tháng bảy như gảy cần trám,tháng tám nắng ram ù trái bưởi

 Trống tháng bảy chẳn hội thì chay ,tháng sáu heo may chẳng mưa thì bão

 Trời đương nắng cỏ gà trắng thì mưa

 Vàng mây thời gió,đỏ mây thời mưa

KINH NGHIÊM LAO ĐỘNG

 Ao sâu tốt cá

 Bắt lợn tóm giò bắt bò tóm mũi

 Buộc trâu đâu nát rào nấy

 Cây chọn mất lá ,cá chọn mất vảy

 Cấy thưa hơn bừa kĩ

 Cao bờ thì tát gầu dai ; gầu sòng chỉ tát được nơi thấp bờ

 Chữ tốt xem tay, ngựa hay xem khoáy

 Chuồng gà hướng đông , cái lông chẳng còn

 Con trâu là đầu cơ nghiệp

 Dao thử trầu héo kéo thử lụa xô

 Được mùa nhãn ,hạn nước lên

 Gió heo mây mía bay lên ngọn

 Hòn đất nỏ bằng giỏ phân

 Làm ruộng ba năm không bằng chăn tằm một lứa

 Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc

 Làm ruộng tháng năm coi chăm tháng mười

 Lo trẻ mùa hè không bằng lo bò què tháng sáu

 Lúa chín hoa ngâu đi đâu chẳng gặt

 Lúa mùa thì cấy cho sâu, lúa chiêm thì gảy cành dâu mới vừa

 Lúa tháng bảy vợ chồng rẫy nhau

 Một lượt cỏ thêm giỏ thóc

 Muốn ăn lúa tháng năm trông trăng rằøm tháng tám

 Muốn giàu nuôi trâu cái muốn lụn bại nuôi bồ câu

 Nắng sớùm thì đi trồng cà , mưa sớm ở nhà phơi thóc

Trang 13

 Nắng tốt dưa ,mưa tốt lúa

 Nước cả, cá to

 Ruộng không phân như thân không cổ

 Sao rua đứng trốc, lúalốc được ăn

 Tằm đỏ cổ thì vỗ dâu vào

 Tháng chin ăn rươi, tháng mười ăn ruốc

 Tháng giêng trồng củ từ, tháng tư trồng củ lạ

 Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu

 Tháng tám mạgia, tháng ba mạ thóc

 Tháng tám mưa trai, tháng hai mưa thóc

 Tháng tám tre non làm nhà, tháng năm tre già làm lúa

 Thiếu tháng tư khó nuôi tằm, thiếu tháng năm khó làm ruộng

 Tre già là bà gỗ lim

 Trồng khoai đất lạ, gieo mạ đất quen

CON NGƯỜI & ĐỜI SỐNG

 Aên cá nhả xương ,ăn đường nuốt chậm

 Aên cơm lừa thóc , ăn cóc bỏ gan

 Aên có chỗ, đỗ có nơi

 Aên hết nhiều , ở hết bao nhiêu

 Aên lấy chắc , mặc lấy bền

 Aên sau là đầu cất dọn

 Aên vóc ,học hay

 Cau già khéo bổ thì non , nạ dòng trang điềm lai còn như xưa

 Cho ùtreo, mèo đậy

 Chọn bạn mà chơi , chọn nơi mà ở

 Cơm chín tới , cải ngồng non , gái một con , gà gại ổ

 Cơm và cháo húp

 Có an cư mới lạc nghiệp

 Có cà là nhà có phúc

 Có thực mới vực được đạo

 Của đời ông , ăn không cũng hết

 Đất lành chim đậu

 Đi hỏi già về nhà hỏi trẻ

 Đưa đũa ghét năm , đưa tăm ghét đời

Trang 14

 Kén cá chọn canh

 Làm cố được , ăn không cố được

 Lúa tốt xem biên

 Miệng ăn núi lở

 Một bát cơm rang bằng sàng cơm thổi

 Một con so lo bằng mười con dạ

 Một người nhà bằng ba người mượn

 Mua cá thì phải xem mang ,người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

 Nghĩa tử là nghĩa tận

 Người đi không bực bằng người chực mâm cơm

 Nhất ngon là đầu cá gáy ,nhất thơm là cháy cơm nếp

 Nhà gỗ xoan , quan ông nghè

 No cơm ấm cật giậm giật mọi nơi

 No dạ đã thèm

 Sinh dữ, tử lành

 Sống thì chả cho ăn , chết thì làm văn tế ruồi

 Tay làm hàm nhai , tay quai miệng trễ

 Thực túc binh cường

 Trẻ muối cà , già muối dưa

 Trời đánh còn tránh miếng ăn

 Vợ hiền hòa , nhà hướng nam

GIA ĐÌNH

 Anh em trong nhà đóng cửa dạy nhau

 Anh ngủ em thức anh chực em nằm

 Anh thuận em hòa là nhà có phúc

 Bà con vì tổ vì tiên , không phải vì tiền vì gạo

 Cây có cội , nước có nguồn

 Cắt dây bầu dây bí , ai nở cắt dây chị dây em

 Cá chuối đắm đuối vì con

 Cha anh hùng con hảo hán

 Cha mẹ giàu con có , cha mẹ khó con không

 Cha mẹ sinh con trời sinh tính

 Cha sinh mẹ dưỡng

 Chim có tổ , người có tông

Trang 15

 Chị ngã em nâng

 Công cha nghĩa mẹ

 Con chẳng chê cha mẹ khó , chó chẳng chê chủ nghèo

 Con có cha mẹ đẻ , không ai ở chô nẻ mà lên

 Con có cha như nhà có nóc

 Con dại cái mang

 Con hư tại mẹ , cháu hư tại bà

 Con hơn cha là nhà có phúc

 Có chuối non mới biết lòng cha mẹ

 Dì ruột thương cháu như con rủi mà không mẹ cháu còn cậy trông

 Đời cha ăn mặn , đời con khát nước

 Hùm dữ chẳng nở ăn thịt con

 Mài mực ru con , mài son đánh giặc

 Máu chảy ruột mềm

 Một giọt máu đào hơn ao nước lã

 Nhất con , nhì cháu , thứ sáu người dưng

 Nhất mẹ , nhì cha , thứ ba bà ngoại

 Nhất mẹ nhì con

***

Ngày đăng: 07/09/2013, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w