Triết luận trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. Nghiên cứu triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, có ý nghĩa không nhỏ trong việc khẳng định những giá trị quý báu của văn hóa dân tộc. Trên cơ sở đó, việc làm rõ, đánh giá những giá trị của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, sẽ góp phần làm tăng cường sức sống của đời sống tinh thần xã hội, củng cố niềm tin, lý tưởng sống cho mỗi người Việt Nam hiện nay dưới tác động của toàn cầu hóa.
Trang 2MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Cơ sở lí luận và phương pháp nguyên cứu 5
5 Đóng góp mới của tiểu luận 6
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của tiểu luận 6
7 Kết cấu tiểu luận 6
B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TRIẾT LÍ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 1.1 Quan niệm về triết lí nhân sinh 7
1.2 Triết lí nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam: cơ sở hình thành và đặc điểm 8
1.2.1 Quan niệm về tục ngữ và ca dao: một số vấn đề lí luận 8
1.2.2 Cơ sở hình thành triết lí nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam 12 1.2.3 Đặc điểm và vai trò của triết lí nhân sinh trong tục ngữ và ca dao Việt Nam 13
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT LÍ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ VÀ CA DAO VIỆT NAM 2.1 Triết lí về nguồn gốc, bản chất, vị thế con người 16
2.1.1 Triết lí về nguồn gốc con người 16
2.1.2 Triết lí về bản chất, vị thế con người 17
2.2 Triết lí về quan hệ con người với tự nhiên 18
2.3 Triết lí về quan hệ con người với con người ……… 19
2.3.1 Triết lí về sự làm người 19
2.3.2 Triết lí về đối nhân xử thế 21
2.3.2.1 Triết lí về công lao sinh thành của cha mẹ 21
2.3.2.2 Triết lí về vai trò của người thầy 21
2.3.2.3 Triết lí về tình nghĩa vợ chồng 22
2.3.2.4 Triết lí về tình cảm anh, chị, em 22
2.3.2.5 Triết lí về tình nghĩa bạn bè 23
2
Trang 32.4 Triết lí về đạo đức, nhân cách và ý nghĩa cuộc sống 23
2.4.1 Triết lí về đạo đức, nhân cách 23
2.4.2 Triết lí về ý nghĩa cuộc sống 24
2.5 Những nét độc đáo của triết lí nhân sinh trong tục ngữ, ca dao 25
2.5.1 Thừa nhận thực tế đầy mâu thuẫn 25
2.5.2 Phạm vi ứng dụng rộng, bao quát 26
2.5.3 Trình độ khái quát cao 26
CHƯƠNG 3 Ý NGHĨA CỦA TRIẾT LÍ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 3.1 Thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam hiện nay: những vấn đề đặt ra 27
3.2 Ý nghĩa định hướng của triết lí nhân sinh trong tục ngữ, ca dao đối với đời sống xã hội 27
3.2.1 Triết lí nhân sinh trong ca dao, tục ngữ góp phần thúc đẩy tư duy lành mạnh, định hướng hành động hợp lẽ phải 27
3.2.2 Triết lí nhân sinh trong tục ngữ, ca dao góp phần giáo dục quan niệm sống tốt đẹp và lối sống nhân văn 28
3.2.3 Hạn chế của triết lí nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam 30
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ MINH HỌA VẬN DỤNG CA DAO, TỤC NGỮ VỚI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC 4.1 Vận dụng ca dao, tục ngữ minh họa về quan điểm duy vật, quan điểm duy tâm trong triết học 32
4.2 Vận dụng ca dao, tục ngữ minh họa tư tưởng biện chứng, siêu hình 33
4.3 Vận dụng ca dao, tục ngữ minh họa về nhận thức và thực tiễn 34
C KẾT LUẬN
3
Trang 4A LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tục ngữ, ca dao là một bộ phận đồng thời là chỉ báo tin cậy phản ánh sự pháttriển của đời sống tinh thần của người Việt Nam từ trong lịch sử xa xưa Bằng nghệthuật ngôn từ trau chuốt, sâu sắc nhưng dung dị, mộc mạc, quen thuộc với người nôngdân, ca dao, tục ngữ, và triết lý nhân sinh chứa đựng trong đó đã thực sự là vũ khí tinhthần sắc bén, là những chỉ dẫn thế giới quan và nhân sinh quan sáng suốt, định hướngcho con người sống, lao động, sáng tạo và yêu thương… trong suốt chiều dài lịch sửdân tộc Ngày nay, triết lý nhân sinh trong ca dao tục ngữ vẫn là hành trang đắt giá của
xã hội hiện đại
Nói đến triết lý nhân sinh ở Việt Nam, trước tiên, người ta không thể không tìmkiếm trong văn học dân gian Việt Nam, trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam Dĩnhiên, triết học là tri thức hệ thống, bác học về thế giới quan và phương pháp luận, còntục ngữ, ca dao lại là tri thức dân gian (Folk Knowledge) - tri thức của sự phản ánh cái
cụ thể, cái thuộc về những kinh nghiệm, lẽ phải thông thường Quần chúng nhân dân,bằng kinh nghiệm và trí khôn của nhiều thế hệ là tác giả của loại hình tri thức này Sứcmạnh của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao là ở đó
Như nhiều tài liệu đã khẳng định, tục ngữ, ca dao Việt Nam, trên khắp các vùngmiền, ở tất cả các lĩnh vực, đều chứa đựng trong nó hệ thống phong phú các triết lýnhân sinh sâu sắc Mấy nghìn năm dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển, cũng là mấynghìn năm triết lý nhân sinh luôn nối tiếp nhau xuất hiện và thực hiện chức năng địnhhướng của mình trong tục ngữ, ca dao Kinh nghiệm sống, lao động và đấu tranh, cácgiá trị làm người, các bản sắc đặc trưng về lối sống và ứng xử… không ngừng đượcđúc kết và cất giữ trong ca dao, tục ngữ, kể cả trong xã hội hiện đại
Vấn đề là ở chỗ, hiện hay việc xác định hệ thống triết lý nhân sinh trong kho tàngtục ngữ, ca dao Việt Nam trên thực tế chưa được tìm hiểu một cách hệ thống Đại đa sốcác tác giả tuy đánh giá cao giá trị của các triết lý nhân sinh, chỉ ra sự tồn tại của một sốtriết lý nhân sinh cụ thể trong kho tàng tục ngữ, ca dao và phân tích nội dung của chúng,nhưng lại chưa tiến hành hệ thống hóa, phân loại, và đánh giá ý nghĩa nhiều tầng, đa diệncủa tục ngữ, ca dao đối với các xã hội ở từng giai đoạn lịch sử và trong toàn bộ đời sống
xã hội nói chung Việc xem xét cũng chủ yếu tiến hành trong khuôn khổ những nghiêncứu văn học, văn hóa học… hầu như rất ít được nghiên cứu từ góc độ triết học
Đối với việc nghiên cứu từ góc độ triết học, những vấn đề cần phải giải đáp là:Những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam gồmnhững gì? Làm thế nào để phân loại, xác định và nhận diện hợp lý các triết lý nhânsinh phong phú, đa dạng trong đời sống xã hội Việt Nam ở các thời kỳ lịch sử khácnhau? Ý nghĩa định hướng của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao đối với đời sống
xã hội hiện nay thể hiện như thế nào? Cần phải làm gì và làm như thế nào để giữ gìn
và phát huy những nội dung của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam vào
4
Trang 5giáo dục con người trong bối cảnh hiện nay
Nghiên cứu triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, do vậy có ý nghĩakhông nhỏ trong việc khẳng định những giá trị quý báu của văn hóa dân tộc Trên cơ sở
đó, việc làm rõ, đánh giá những giá trị của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao ViệtNam, sẽ góp phần làm tăng cường sức sống của đời sống tinh thần xã hội, củng cốniềm tin, lý tưởng sống cho mỗi người Việt Nam hiện nay dưới tác động của toàn cầuhóa
Vì những lý do đó, tác giả đã chọn: “Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội ở nước ta hiện nay” để làm đề tài tiểu luận
môn Triết học này
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
- Nghiên cứu, xác định những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, cadao Việt Nam
- Phân tích, đánh giá giá trị và ý nghĩa của những triết lý nhân sinh đó đối với đời sống
xã hội ở nước ta hiện nay
2.2 Nhiệm vụ
Phù hợp với mục đích nghiên cứu nói trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan và xác định khung lý thuyết để
nghiên cứu đến đề tài
- Nghiên cứu, xác định triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
- Phân tích nội dung cơ bản của các loại triết lý nhân sinh chủ yếu trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam
- Đánh giá ý nghĩa với những giá trị và hạn chế của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận giới hạn nghiên cứu những ca dao, tục ngữ đã được tuyển chọn trongkho tàng tục ngữ, ca dao các tỉnh Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ Chủ yếu là trong các tácphẩm về tục ngữ, ca dao đã xuất bản
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận của tiểu luận là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịchsử: Tiểu luận được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con người và đờisống con người, về tồn tại xã hội và ý thức xã hội…
Cùng với cơ sở lý luận cơ bản đó, tiểu luận còn chú ý khai thác và sử dụng những
5
Trang 6giá trị lý luận của các công trình nghiên cứu ngoài triết học về chủ đề đời sống conngười được phản ánh trong tục ngữ, ca dao.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng phương pháp logic lịch sử, quy nạp diễn dịch, tổng hợp phân tích, so sánh - đối chiếu, thống kê,…
-5 Đóng góp mới của tiểu luận
Xác định được những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, cadao Việt Nam Bước đầu phân loại các loại triết lý nhân sinh theo đặc thù của đời sốngngười Việt thể hiện trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam
Chỉ ra những nét độc đáo, góp phần khẳng định giá trị của triết lý nhân sinh trongtục ngữ, ca dao Việt Nam
Phân tích làm rõ ý nghĩa của các triết lý nhân sinh trong việc xây dựng nhân sinhquan lành mạnh của con người Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của tiểu luận
7 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luậnđược bố cục làm 4 chương
6
Trang 7Chương 1
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ CA DAO VIỆT NAM: MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Quan niệm về triết lý nhân sinh
1.1.1 Triết học và triết lý: phân biệt triết lý với triết học 1.1.1.1. Triết học
Có nhiều quan niệm khác nhau về triết học Tựu trung, các định nghĩa hợp lý vềtriết học đều thể hiện rằng, triết học nghiên cứu toàn bộ vũ trụ và con người (hay thếgiới, con người, xã hội và tư duy) trong hệ thống chỉnh thể toàn vẹn vốn có của nó vàcủa tư duy triết học Triết học giải thích tất cả các quan hệ trong và ngoài chỉnh thể đóbằng các nguyên nhân tất yếu, chỉ ra những quy luật phổ biến nhất chi phối, quy định
sự vận động của các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ, trong xã hội loài người, trongcon người và trong tư duy Những tri thức đó được triết học khái quát thành các chỉdẫn có tính hệ thống về thế giới quan và nhân sinh quan
1.1.1.2 Triết lý
Ở nước ta có nhiều quan niệm khác nhau về triết lý, các quan niệm đó có những điểm thống nhất là:
Thứ nhất, triết lý khác triết học Triết học nghiên cứu những vấn đề chung nhất,
phổ biến nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Triết lýkhông nghiên cứu những vấn đề chung nhất của thế giới như triết học, mà chỉ đề cậptới từng mặt, từng lĩnh vực hẹp của đời sống xã hội, chủ yếu là vấn đề nhân sinh
Thứ hai, từ những nguyên lý triết học cụ thể nhất định, người ta có thể rút ra
những triết lý về phương diện nào đó của cuộc sống
Thứ ba, triết lý chủ yếu hướng con người về những vấn đề nhân sinh, có ý nghĩa
làm phương châm cho đối nhân, xử thế, cho hành vi của con người trong đời sốnghàng ngày
Thứ tư, triết lý có thể được nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người.
Nghĩa là từ hoạt động thực tiễn hàng ngày, con người có thể rút ra những triết lý sống,triết lý hành động cho bản thân và cộng đồng
Thứ năm, có nhiều loại triết lý khác nhau, như triết lý phát triển, triết lý nhân sinh,
triết lý kinh doanh,.v.v
1.1.1.3. Phân biệt triết học với triết lý
Luận án chỉ ra mối liên hệ giữa triết học và triết lý như sau:
- Triết học là một hệ thống tri thức, có thể là một bộ môn khoa học (có thời kỳ còn đượcxem là khoa học của mọi khoa học), triết lý không phải là hệ thống chặt chẽ, hay bộmôn khoa học Như vậy, triết lý hẹp hơn triết học
- Từ triết học người ta có thể rút ra những triết lý, cách ứng xử, phương châm sống vàhành động của những cá nhân và cộng đồng nào đó Từ triết lý, chưa thấy hệ thống lýluận triết học nào được xây dựng
- Trong đời sống tinh thần xã hội, có hiện tượng là khi chưa có một nền triết học thành
Trang 8văn hoàn chỉnh, nhưng đã có triết lý Như vậy, triết lý có thể có trước triết học.
- Triết lý có thể được rút ra từ triết học Nhưng phần lớn triết lý nảy sinh từ đời sốngthường ngày, từ ý nghĩa trong một số áng văn thơ, công trình kiến trúc, điêu khắc, hộihoạ; từ một số lễ hội, y học, võ thuật, truyền thuyết, cổ tích, thần thoại,… Triết lý cònđược thể hiện qua những hành động, đó chính là triết lý hành động Lại có cả triết lý imlặng, triết lý vô ngôn của nhà Phật
1.1.2. Nhân sinh, nhân sinh quan và triết lý nhân sinh
1.1.2.1. Quan niệm về nhân sinh
Nhân sinh (với tính cách là khái niệm dùng để chỉ một lĩnh vực thuộc đối tượng
của nhận thức được phản ánh ở các trình độ khác nhau - từ ý thức thông thường,
triết lý dân gian đến tôn giáo, tư tưởng triết học hay triết học…) là quan niệm về giá trị của đời sống con người, về ý nghĩa của cuộc đời, về mục đích của cuộc sống, về giá trị làm người của mỗi cá nhân, về giá trị xã hội của mỗi con người, về vị thế của con người trong xã hội và trong thế giới…
1.1.2.2. Nhân sinh quan
Nói đến nhân sinh quan là nói tới quan điểm, quan niệm sống với hệ thống giá
trị cá nhân và xã hội định hướng hành vi và hoạt động của con người Quan điểm sống,
quan niệm sống và hệ giá trị (nhân sinh quan) quy định cách sống, lối sống và hành vi
và phẩm chất của hành vi, quy định việc xác định ý nghĩa của cuộc sống và ý nghĩacủa sự làm người
1.1.2.3. Khái niệm triết lý nhân sinh.
Triết lý nhân sinh là những chiêm nghiệm, chỉ dẫn, khái quát ở tầm thế giới quan và nhân sinh quan về giá trị của đời sống con người – con người trong hoạt động
thường ngày, trong đời sống xã hội, trong quan hệ với tự nhiên và với vũ trụ Triết lýnhân sinh trong mọi loại hình tri thức thường được biểu hiện trước hết dưới dạng cácquan niệm và thái độ sống, cách sống và cách ứng xử của con người đối với thế giớixung quanh Triết lý nhân sinh được hình thành trước hết từ những kinh nghiệm sốngkết hợp với các tri thức văn hóa – xã hội được tiếp nhận từ bên ngoài, kể cả từ triết họchay tôn giáo
Hình thức phổ biến của triết lý nhân sinh là những chiêm nghiệm thường ngàycủa mỗi cá nhân về mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống
Hầu hết các triết lý nhân sinh đều hướng con người tới một cuộc sống tốt đẹphơn, một xã hội tiến bộ hơn không chỉ cho mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng mà còn cho cảnhân loại
1.2 Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam: cơ sở hình thành và
Trang 9nhịp điệu, có hình ảnh nên thể loại văn học dân gian này có sức mạnh đặc biệt.
Tục ngữ phản ánh những điều kiện và phương thức lao động của người dân,những kinh nghiệm sống và lao động, sáng tạo, phản ánh những đặc điểm của đời sốngdân tộc Ví như tục ngữ về thiên nhiên và lao động, sản xuất
1) Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng,
Ngày tháng mười chưa cười đã tối
2) Nhiều sao thì nắng, vắng sao thì mưa
3) Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ
4) Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt
5) Tấc đất, tấc vàng
6) Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền
7) Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống
8) Nhất thì, nhì thục…
Hay như tục ngữ về con người và xã hội:
1) Một mặt người bằng mười mặt của
2) Cái răng, cái tóc là gốc con người
3) Đói cho sạch, rách cho thơm
4) Học ăn, học nói, học gói, học mở
5) Không thầy đố mày làm nên
6) Học thầy không tày học bạn,
7) Thương người như thể thương thân
8) Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
9) Uống nước nhớ nguồn
10) Một cây làm chẳng lên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
11) Người sống, đống vàng
12) Muốn lành nghề chớ nề học hỏi
13) Có công mài sắt, có ngày nên kim
14) Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo
15) Chết trong còn hơn sống đục,…
Những kinh nghiệm được nảy sinh trong quá trình đấu tranh, cải tạo và chinhphục thiên nhiên được đúc kết trong tục ngữ, trở thành những chỉ dẫn thế giới quan vànhân sinh quan, định hướng cho cuộc sống của nhiều thế hệ
1.2.1.2. Phân biệt tục ngữ và thành ngữ.
Tục ngữ thường là là một mệnh đề hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý; Tục ngữthiên về đúc rút kinh nghiệm sống Ví dụ như:
1) Uống ước nhớ nguồn
2) Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
3) Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng
4) Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ
Trang 105) Đói cho sạch, rách cho thơm
Còn thành ngữ chỉ một cụm từ, một bộ phận của mệnh đề, diễn đạt một quy tắc,một quan hệ tất nhiên, một định hướng nhận thức và hành động Thành ngữ lại nặng vềkhái quát, ẩn dụ bằng nghệ thuật tu từ để định hướng con người Ví như:
1) Thầy bói xem voi
2) Ếch ngồi đáy giếng
3) Ông nói gà, bà nói vịt
4) Lãi mẹ đẻ lãi con
5) Cháy nhà mới ra mặt chuột
6) Gắp lửa bỏ tay người
7) Tam sao thất bản
8) Ông nói gà, bà nói vịt
Thành ngữ và tục ngữ được dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân.Không dễ phân biệt thành ngữ với tục ngữ Hầu hết thành ngữ và tục ngữ đều do nhândân sáng tác thông qua các hoạt động lao động sản xuất, đời sống tinh thần Tuy nhiêncũng có một số ít câu rút ra từ các thi phẩm nổi tiếng, hoặc từ ca dao, dân ca Ví nhưthành ngữ “Nóng tính như Trương Phi, đa nghi như Tào Tháo” được rút ra từ tiểuthuyết chương hồi “Tam quốc diễn nghĩa”,… Hay như thành ngữ “Thầy bói xem voi”,
“Ếch ngồi đáy giếng”,… được rút ra từ truyện ngụ ngôn cùng tên Thầy bói xem voi vàẾch ngồi đáy giếng,…
1.2.1.3. Quan niệm về ca dao
Ca dao là những tác phẩm thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khidiễn xướng Đôi khi là lời những đoạn dân ca đã thoát ra khỏi đời sống âm nhạc của
nó Ca dao để lại dấu ấn rõ rệt nhất trong văn học và trong đời sống Phần lớn nội dung
ca dao thể hiện tình yêu - tình yêu nam nữ hay than thân, yêu thương tình nghĩa 1) Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
2) Còn duyên kẻ đón người đưa,
Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng
3) Đôi ta cách một con sông,
Muốn sang anh ngã cành hồng cho sang
4) Trèo lên cây khế nửa ngày,
Ai làm chua xót lòng này khế ơi!
Mặt trăng sánh với mặt trời,
Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng
Mình ơi! Có nhớ ta chăng?
Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời
Trang 115) Ước gì song rộng một gang,
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi
6) Muối ba năm muối đang còn mặn,
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa…
Hay như tình yêu gia đình, nghĩa mẹ cha, anh em, yêu quê hương đất nước vàdiễn tả các mối quan hệ trong đời sống xã hội cũng được người dân lao động thểhiện
1) Anh em như thể tay chân,
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần
2) Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mrj như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
3) Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông
Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!
Công cha nặng lắm ai ơi,
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang
4) Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Hòa,
Hỏi trong ba chữ, thờ cha chữ nào?
Chữ Trung thì để thờ cha,
Chữ Hiếu thờ mẹ, chữ Hòa thờ anh
5) Đường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
6) Đường đi xa lắm ai ơi
Nước non ngàn dặm, bể trời mênh mông
Đi qua muôn chợ vạn rừng,
Thuyền con một chiếc, vẫy vùng biển khơi…
Trang 121.2.2 Cơ sở hình thành triết lý nhân sinh trong tục ngữ ca dao Việt Nam
Ví như những câu ca dao, tục ngữ sau:
1) Được mùa chớ phụ ngô khoai
Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng
2) Làm ruộng ăn cơm nằm,
Chăn tằm ăn cơm đứng
3) Lúa chiêm ăn nhánh, lúa mùa ăn cây
4) Đói thì ăn ráy, ăn khoai
Chớ thấy lúa trỗ tháng hai mà mừng
5) Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cái cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây, trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
Sự gắn bó giữa con người với con người trong cộng đồng làng quê không chỉ làquan hệ sở hữu trên đất làng, đình làng, chùa làng những nơi diễn ra sinh hoạt vănhóa, tín ngưỡng chung mà còn là sự gắn bó về chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực xã hội
Ví như bài ca dao sau:
1) Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Ít bữa lấy chồng anh sẽ giúp cho
Giúp em một thúng xôi vò,
Trang 13Một con lợn béo, một vò rượu tăm.
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau
1) Nước An Nong vừa trong vừa mát,
Truông Phú Bài nhỏ cát dễ đi
2) Ơi o bán cốm hai lu,
Có về An Thuận cho tui về cùng
3) Cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp
Anh theo không kịp
Tội lắm em ơi
Bấy lâu mang tiếng chịu lời
Em có xa anh đi nữa
Cũng tại ông trời nên xa
4) Quýt Hương Cần em gửi ra Đồng Hới
Ruốc Bảo Ninh em chở tới Đông Ba
5) Tôm rằn lột vỏ bỏ đuôi,
Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già
6) Trèo lên Ba Dội tôi coi,
Bốn dội tôi ngồi năm dội tôi trông
Nồi đồng lại úp vung đồng,
Con gái xứ Huế lấy chồng Đồng Nai
Giậm chân xuống đất kêu trời,
Lấy chồng trong Quảng biết đời nào ra
Những câu ca dao, tục ngữ về tự nhiên, kinh nghiệm lao động sản xuất đượcngười đi trước đúc kết lại từ kinh nghiệm thực tế truyền lại cho đời sau Mặc dù khoahọc nông nghiệp ngày càng phát triển, kỹ thuật canh tác đã thay đổi rất nhiều, nhưngnhững kinh nghiệm mà cha ông truyền lại vẫn có tính ứng dụng trong cuộc sống sảnxuất hiện tại
1.2.3 Đặc điểm và vai trò của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
1.2.3.1. Đặc điểm của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt
Nam Thứ nhất, ca dao tục ngữ chính là những sáng tạo của người dân, một loại hình
nghệ thuật mang tính tập thể mà tác giả là những người lao động Triết lý nhân sinh
Trang 14trong ca dao, tục ngữ, do vậy đa dạng, phong phú, phản ánh hầu hết các mặt của đờisống xã hội.
Ca dao tục ngữ về cây trồng, các loại vật nuôi:
1) Được mùa chớ phụ ngô khoai
Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng
2) Làm ruộng ăn cơm nằm
Chăn tằm ăn cơm đứng
3) Làm ruộng ba năm
Chăn tằm ba lứa
4) Gió heo may, đường leo lên ngọn
5) Thứ nhất canh trì Thứ nhì canh viên Thứ ba canh điền
6) Lúa chiêm ăn nhánh Lúa mùa ăn cây
7) Chiêm bóc vỏ, mùa xỏ tay
8) Đói thì ăn ráy, ăn khoai
Chớ thấy lúa trỗ tháng hai mà mừng
9) Chiêm cập cội, mùa đợi nhau
Ca dao tục ngữ về kĩ thuật canh tác:
1) Chắc rễ bền cây
2) Chuối sau cau trước
3) Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm, phất cờ mà lên
4) Phân tro không bằng no nước
5) Tháng sáu thì cấy cho sâu
Tháng chạp cấy nhảy mau mau mà về
6) Trồng trầu đắp nấm cho cao
Che cho sương nắng khỏi vào gốc cây
Nửa năm bén rể bén dây
Khôn dầu bã đậu bón tay cho liền
7) Nắng sớm trồng cà
Mưa sớm ở nhà phơi thóc
8) Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa
9) Bao giờ đom đóm bay ra
Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng
10)Hòn đất nỏ là một giỏ phân
11) Được mùa lúa, úa mùa cau
Được mùa cau, đau mùa lúa
12)Khoai đất lạ, mạ đất quen
13)Lúa chiêm đào sâu chôn chặt
Lúa mùa vừa đặt vừa đi
14)Cấy thưa thừa thóc, cấy dày cóc ăn
15)Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống
16)Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn
Ca dao, tục ngữ về thiên nhiên
1) Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng,
Ngày tháng mười chưa cười đã tối
2) Nhiều sao thì nắng, vắng sao thì mưa
3) Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ
Trang 154) Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt.
5) Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm
6) Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa
7) Mưa tháng ba hoa đất
Mưa tháng tư hư đất.1
Thứ hai, ca dao tục ngữ là một loại hình nghệ thuật vừa sâu sắc vừa dân dã Triết
lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ, do vậy có sức thu hút và thích hợp với mọi tầng lớpnhân dân
1) Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi
2) Nắng lên cho lúa chín vàng
Cho anh đi gặt, cho nàng đưa cơm
3) Bao giờ cho đến tháng hai
Con gái làm cỏ, con trai be bờ
4) Hạt thóc vàng, cây lúa cũng vàng
Anh yêu em, bác mẹ họ hàng cũng yêu
5) Tay mang bó mạ xuống đồng
Miệng ca tay cấy mà lòng nhớ ai
6) Anh về cuốc đất trồng cau
Cho em giâm ké dây trầu một bên
Chừng nào trầu nọ bén lên
Cau kia ra trái lập nên cửa nhà
Những bài ca dao được lưu truyền từ đời này sang đời khác, phù hợp với mọitầng lớp, lứa tuổi, ngành nghề khác nhau
Thứ ba, ca dao tục ngữ là một loại hình nghệ thuật mang tính truyền miệng Triết
lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ, do vậy lưu truyền rộng rãi, xuyên thời gian vàkhông gian Chính vì đặc tính này nên ca dao tục ngữ thường có nhiều dị bản Qua mỗivùng miền sẽ có nhiều dị bản khác nhau
Ví như câu ca dao sau:
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
Đã có dị bản ở Huế:
“Đường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
1 Vũ Ngọc Phan (2010), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb Thời đại Hà Nội, tr.43
Trang 161.2.3.2. Vai trò của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao đối với
đời sống con người
Trong đời sống hàng ngày của người dân, những kinh nghiệm trong lao động sảnxuất, những tri thức đúc kết từ văn hóa bên ngoài, được sử dụng trong những tìnhhuống sống - đơn giản và phức tạp, gay cấn và bình thường… được thể hiện qua tụcngữ, ca dao, được cô đọng trong các triết lý lại là vũ khí tinh thần sắc bén, là kim chỉnam định hướng hoạt động, là ngọn lửa hy vọng dẫn dắt các thế hệ người Chínhnhững triết lý này đã đồng hóa nhiều tư tưởng ngoại lai, là cơ sở tiếp thu có chọn lọccác giá trị văn hóa – văn minh bên ngoài, biến thành thế giới quan, nhân sinh quan chỉđạo, định hướng cuộc sống và phương thức ứng xử của người dân lao động
Không hệ thống đến mức trở thành học thuyết, nhưng triết lý nhân sinh trong tụcngữ ca dao lại có sức sống mãnh liệt trường tồn cùng với dân tộc Ngày nay, nhữngquan niệm, tư tưởng đó không hề cản trở chúng ta trong hội nhâp, trái lại lại là cơ sở,điều kiện, là hành tranh giúp chúng ta hội nhập và hội nhập thành công với các nềnvăn hoá khác
Kết luận chương 1
Tục ngữ, ca dao là một hình thức của nghệ thuật ngôn từ tồn tại bằng phươngthức truyền miệng Nó từ tồn tại xã hội mà ra, phản ánh tồn tại xã hội, dẫn dắt conngười sống, sáng tạo trong tồn tại xã hội
Tri thức của tục ngữ, ca dao là tri thức dân gian được rút ra trên cơ sở quan sát vàmiêu tả cái cụ thể, đó là những tri thức kinh nghiệm, những “lẽ phải thông thường”.Tục ngữ, ca dao là một trong những thể loại của Văn học dân gian nên tác giả là tậpthể, là quần chúng nhân dân Tục ngữ, ca dao Việt Nam chứa đựng trong nó triết lýnhân sinh, thứ triết lý có sức mạnh đặc biệt trong việc phát hiện ra bản chất và tính quyluật của các sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người
Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM
2.1 Triết lý về nguồn gốc, bản chất, về vị thế con người
2.1.1 Triết lý về nguồn gốc của con người
Từ xa xưa, khi trình độ tư duy khái quát của con người chưa cao, khả năng nhìnnhận vấn đề chưa bao quát, vậy mà người Việt đã có sự nhìn nhận, đánh giá rất sâu
sắc về con người Người ta là hoa đất 2 là tư tưởng thể hiện một triết lý sâu sắc - Conngười không phải là thực thể tách khỏi hoàn toàn giới tự nhiên mà bản thân con người
là một phần của giới tự nhiên, là một thực thể phát triển cao của tự nhiên, luôn gắn kếtvới tự nhiên Quan niệm người ta sinh ra từ đất rất gần gũi với quan niệm của các nhàtriết học Hylạp cổ đại, khi họ cho thế giới, con người do nước, lửa, không khí hayApeirôn sinh ra Cũng có thể thấy điểm giống nhau giữa triết lý dân gian Việt Nam vớicác quan điểm
Trang 172 Nguyễn Lân (2003): Từ điển Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.403
Trang 18triết học phương Đông Nhưng ở đây, dĩ nhiên không có căn cứ để nói quan niệm nào bịảnh hưởng, chi phối.
Chúng tôi quan tâm đến sự gần gũi, bắt gặp của tư tưởng, quan niệm của ông cha
ta với quan niệm của triết học nhân loại cùng thời Và quan niệm của người Việt xưa
đã rất gần, đã đạt được tầm mà tri thức nhân loại thời bấy giờ đạt được Khi nói tớinguồn gốc của con người, mỗi quốc gia sẽ có những cách lí giải riêng Với đất nướcViệt Nam ta cũng vậy, từ truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên”, mỗi người dân ViệtNam dù ở nơi đâu cũng đều tự hào có chung nguồn cội, hằng năm đều nhớ về ngày giỗ
tổ Trong ca dao, tục ngữ nói về nguồn gốc con ngườ cũng rất nhiều Ví như:
1) Cây có cội, nước có nguồn,
Con chim có tổ, con người có tông
2) Tháng ba nô nức hội đền,
Nhớ ngày giỗ Tổ bốn nghìn năm nay
3) Con người có tổ có tông,
Như cây có cội như sông có nguồn
4) Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
Ăn khoai nhớ kẻ cho dây về trồng
5) Cây có gốc mới nở cành xanh lá,
Nước có nguồn mới bể cả sông sâu,
Người ta nguồn gốc từ đâu
Có tổ tiên trước rồi sau có mình
Ca dao, tục ngữ ra đời trong xã hội phong kiến, giữa một nền sản xuất tiểu nông,khi đất nước ta phải đương đầu với âm mưu đồng hoá – nô dịch của ngoại bang, nên
nó mang nội dung tư tưởng tích cực Nó thể hiện tình yêu gia đình, làng xóm, quêhương Nó biểu thị ý thức tự chủ và niềm tự hào dân tộc chính đáng
2.1.2 Triết lý về bản chất con người
Tục ngữ, ca dao Việt Nam khi xem xét nguồn gốc và bản chất con người có thể
có sự giao thoa tư tưởng ở chỗ cho rằng, bản chất con người là sự kết hợp giữa tư chấtsẵn có với sự giáo dục Bên cạnh đó triết lý dân gian cũng lại chú trọng đến tư chất ditruyền Nhiều câu tục ngữ khẳng định bản tính con người do thiên định – tiền định.1) Cha mẹ sinh con, trời sinh tính
2) Học tài thi phận
Hơn thế nữa, người Việt đã thấy được tính di truyền đó không phải là yếu tố duynhất làm nên bản tính con nguời Yếu tố giáo dục cũng đã được khẳng định Conngười sinh ra trong môi trường tốt, nhận được sự giáo dục ngay từ nhỏ thì nhân cáchcủa con người sẽ phát triển tốt
1) Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng
2) Không thầy đố mày làm nên
3) Sang sông phải bắc cầu cầu Kiều,
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy
Trang 194) Học thầy không tày học bạn.
5) Rèn đức luyện tài
6) Học ăn, học nói, học gói, học mở
7) Muốn lành nghề chớ nề học hỏi
8) Dốt đến đâu học lâu cũng biết
9) Khi măng không uốn thì tre trổ vòng
10) Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học
Mối quan hệ đầu tiên mà con người tiếp xúc đó là quan hệ gia đình, mà từ đó,nhân cách sẽ dần dần hình thành và phát triển Truyền thống gia đình được lĩnh hội quacách giáo dục của cha mẹ:
1) Cha hiền con thảo
3) Con có cha như nhà có nóc4) Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà5) Mẹ dạy thì con khéo, cha dạy thì con khôn6) Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh7) Con dại cái mang
2.2 Triết lý về quan hệ con người với tự nhiên
Trong quá trình sống của mình, con người trước hết phải dựa vào tự nhiên, phảithừa huởng từ tự nhiên, luôn cố gắng tìm cho mình cái ăn, cái mặc, chỗ ở, và luôn luônđấu tranh với tự nhiên để vươn lên với mức sống cao hơn Với phương thức canh tácchủ yếu là trồng trọt, người Việt hiểu được rằng đất đai là vô cùng quan trọng Cũnggiống như quan niệm của nhiều dân tộc khác, ở buổi đầu của nhân loại, người Việtcũng thần thánh hóa tự nhiên Mỗi lĩnh vực của tự nhiên đều được gán cho các vị thần,đều được khoác cho các sức mạnh siêu nhiên Trong tín ngưỡng dân gian người Việt
có thần Sông, thần Núi, thần Mưa, thần Biển… Hiểu được giá trị của tự nhiên, ngườiViệt biết quý trọng tự nhiên Đối với người Việt, rừng là vàng, biển là bạc;
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu
2) Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, Ngày tháng mười chưa cười đã tối
3) Nhiều sao thì nắng, vắng sao thì mưa
4) Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ
5) Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt
6) Tấc đất, tấc vàng
7) Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền
8) Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống
9) Qụa tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa
Người Việt coi trọng tự nhiên, thấy được tầm quan trọng của tự nhiên, nhưng