Hiện các nhà khoa học đã thành công trong việc tổng hợp các sợi polymer tương tự như ở vi khuẩn ở phòng thí nghiệm và họ hy vọng rằng thành công này sẽ nở ra một hướng mới cho việc bắt c
Trang 1Trong một thời gian dài, các nhà khoa học đã tự hỏi tại sao một số vi sinh vật lại sử dụng một nguồn năng lượng đáng kể để kéo dài các sợi polymer vào vùng có nhiều chất
khoáng Một báo cáo trên tạp chí Nature cho rằng có thể vi khuẩn làm như thế để thu lấy
nguồn năng lượng cao hơn từ các phản ứng hóa học
Clara S Chan và cộng sự ở đại học California đã thu thập các vi sinh vật từ một sắt bỏ hoang ở tây nam Winconsin Các sinh vật này đã tiết ra các sợi mỏng đặc biệt bao quanh các tinh thể oxít sắt
Quá trình phân tích các sợi được tinh thể hóa này tiết lộ cho ta biết phản ứng hóa học tạo ra chúng Các nhà nghiên cứu cho rằng rất có thể, vi sinh vật đã sử dụng phản ứng oxy hóa khử để thu lấy năng lượng từ môi trường Sản phẩm tạo thành là các ion sắt kết tủa và các sợi polymer sau đó sẽ gắn chúng vào tế bào vi sinh vật
Phát hiện mới này có thể giúp cho các nhà khoa học chế tạo ra các vật liệu mới Hiện các nhà khoa học đã thành công trong việc tổng hợp các sợi polymer tương tự như ở vi khuẩn ở phòng thí nghiệm và họ hy vọng rằng thành công này sẽ nở ra một hướng mới cho việc bắt chước các quá trình sinh tổng hợp ở sinh vật
Vi sinh vật có thể giúp hình thành nên vàng
Thứ bảy, 15 Tháng bảy 2006, 07:39 GMT+7
Tags: vi sinh vật , nhà nghiên cứu , đã xác định , hạt kim loại , vi khuẩn , một loại , hình thành , có thể , vai trò , tìm
thấy , vảy , việc , giúp
Người ta không tìm thấy đá tạo vàng nhưng lại tìm được một loại vi sinh vật Một nhóm các nhà nghiên cứu đã xác định tại các mỏ vàng ở Australia có tồn tại một loại vi khuẩn đóng vai trò rất lớn trong việc tạo thành các vảy
hoặc các hạt kim loại quý.
Theo các kết quả nghiên cứu được công bố trên trang nhất của tạp chí KhoaKhoa học , Ralstonia metalliduran (loại vi khuẩn vừa được tìm thấy) có khả năng
chuyển hoá bụi thành vàng
Nhóm nghiên cứu đứng đầu là nhà nghiên cứu người Đức Frank Reith đã thu thập các hạt vàng trong hai mỏ vàng ở Australia cách nhau hơn 3.000 km Họ
đã phát hiện được một loại vi khuẩn có mặt trong hơn 80% số hạt vàng trên Ông Reith cho biết: Những gì tìm thấy cho phép chúng tôi nghĩ rằng, vi khuẩnKhoa Ralstonia metalliduran có thể kết tụ loại vàng này Theo ông, Ralstonia
Trang 2metalliduran hoạt động trong đất như một loại chất khử vi mô, đồng hoá các kim loại nặng thành dạng hoà tan để chuyển hoá chúng và biển chúng thành
dạng vững chắc và ít độc hơn
Với nhà nghiên cứu Frank Reith, những phát hiện này là yếu tố quan trọng nhất
để làm nòng cốt cho giả thiết về vai trò của các vi khuẩn trong việc hình thành nên vàng, mặc dù cơ chế hoạt động thực sự của chúng vẫn chưa thể xác định được Rất nhiều các nhà nghiên cứu không tin vào vai trò của các vi khuẩn và cho rằng các vảy vàng và hạt vàng là cặn bã của các mẩu vàng hoặc là kết quả
của một quá trình hoá học nào đó
Ông Reith nhấn mạnh: Những gì mà chúng tôi muốn nói, đó là các vi sinh vậtKhoa
có khả năng đóng góp vào việc hình thành nên các vảy vàng Tôi không nói rằng, các vi sinh vật này là cách duy nhất tạo thành các vảy vàng trong đất
nhưng đó cũng là một cách Theo ông Reith, vi khuẩn Ralstonia mettaliduran không thể di chuyển từ khuKhoa vườn của chúng đến các mỏ vàng được Ông nói: Chắc chắn chúng phải có mặtKhoa
ở đó từ trước Nếu không, chúng không thể tạo ra vàng
Thông tin số chứa trên DNA vi
sinh vật
Thứ năm, 05 Tháng tư 2007, 23:35 GMT+7
Tags: vụ nổ hạt nhân , vi sinh vật , thông tin số , nhà khoa học , có thể ghi , dữ liệu , lưu trữ , nghìn năm , hệ
thống , dựa trên , nghiên cứu , DNA , chứa , tới , tiến
Những hệ thống lưu trữ dựa trên tế bào vi sinh vật có thể ghi lại dữ liệu của hàng nghìn năm tiến hoá trong khi vẫn phải chống lại những tác hại của
những vụ nổ hạt nhân Các nguyên tử có thể lưu giữ tới 250 terabit dữ liệu
trên một inch vuông Có những cấu trúc film hữu cơ tuy mỏng manh nhưng
cho phép 20.000 chu trình ghi đi ghi lại.
Trang 3Đó là những chân trời mới đầy hứa hẹn nhằm thúc đẩy hệ thống lưu trữ với khả năng
vượt xa trí tưởng tượng của con người
Nghiên cứu từ hai trường đại học nổi tiếng đã chỉ ra rằng điều đó không chỉ là khả năng tiềm ẩn mà còn là thực tiễn cho phép lưu trữ dữ liệu số vào bộ gene của một sinh vật sống hữu cơ và có thể hàng trăm hay thậm chí hàng nghìn năm sau vẫn lấy lại được các thông tin đó sau khi sinh vật ấy đã tái sản xuất vật liệu di truyền của nó thông qua hàng trăm thế hệ hậu duệ
"Hãy hình dung rằng một mm3 chất lỏng có thể chứa đựng tới 1 tỷ vi khuẩn, và bạn có thể nhìn thấy khả năng tiềm ẩn của bộ nhớ dựa trên vi khuẩn là một dung lượng khổng lồ" nhà khoa học Pak Wong, trưởng Phòng thí nghiệm Quốc gia Tây bắc Thái Bình Dương (PNNL) cho biết Ba năm trước, ông Wong và một nhóm nhà nghiên cứu của PNNL tiến hành một thí nghiệm trong đó cho cất giữ khoảng 100 cặp thông tin số vào nhiễm sắc thể của một vi khuẩn
Năm nay, những nhà khoa học tại Viện sinh học tiến bộ ĐH Keio cũng tuyên bố đã thực hiện thành công những kết quả nghiên cứu tương tự khi mã hoá lý thuyết “E = MC2” của Albert Einstein và số “1905” là năm mà nhà bác học này công bố thuyết lực hấp dẫn, lên vi sinh vật Bacillus Theo những nhà khoa học, dữ liệu lưu trữ trên cơ sở DNA có thể còn bảo quản được những tệp dữ liệu khổng lồ một cách dài hạn, ít nhất là một nghìn năm sau
Tuy nhiên, các nhà quan sát cho rằng nhóm nghiên cứu của nhà khoa học Wong đang gặp phải một trong những thách thức lớn là phải tìm ra một môi trường an toàn cho
Trang 4những phân tử DNA phát triển bởi chúng rất dễ bị phá huỷ ở môi trường tự nhiên nơi
có nhiệt độ cao hay khô hanh Và một khó khăn nữa trong việc đưa kỹ thuật này vào
ứng dụng thực tiễn là cho tới nay việc truy hồi lại thông tin do vi sinh vật lưu trữ mới chỉ thực hiện được trong điều kiện ẩm ướt của phòng thí nghiệm, trong khi các hệ thống
điện toán lại không ưa độ ẩm
Tạo ra vi sinh vật có khả năng
phát hiện chất độc
Thứ ba, 13 Tháng bảy 2004, 22:14 GMT+7
Tags: Crown Vision Systems , đại học bách khoa , vi sinh vật , có khả năng , vật phát sáng ,
tạo ra , chất độc , phát hiện , có thể
Đại học Bách khoa Nanyang (Singapore) và công ty Crown Vision Systems của Anh đang nghiên cứu để tạo ra các vi sinh vật phát sáng có khả năng trở nên mờ hơn khi chúng phát hiện chất độc.
Vi sinh vật này được biến đổi gen, để chúng có thể sáng lên như bóng đèn Ánh sáng của chúng giảm bớt khi chúng tiếp xúc với các vi khuẩn có hại cũng như các chất độc gây ra ung thư
Bác sĩ Li Xingmin, phụ trách dự án này, nói: "Chúng tôi đang tạo ra những vi sinh vật mới có các đặc tính độc đáo là phản ứng lại nhiều lọai chất độc có hại” Ông giải thích rằng thực phẩm, dược phẩm và môi trường hiện đang đầy dẫy các chất ô nhiễm, như thuốc trừ sâu, các chất độc do nấm và vi khuẩn tiết ra là những thứ có thể gây ra các chứng ung thư và các loại bệnh khác nhau
Crown Vision Systems sẽ biến đổi DNA của các tế bào sống để tạo ra các tế bào nhạy cảm với chất độc Các nhà khoa học dự kiến đưa gen có khả năng phản ứng nhanh với các chất độc, để các tế bào có thể cho kết qủa trong vòng vài giờ thay vì vài ngày như phương pháp hiện nay, và có thể được dùng cho một lượng lớn sản phẩm với giá rẻ
Làm sạch nước thải
độc hại bằng vi sinh
vật
Trang 5Thứ ba, 04 Tháng mười hai 2007, 09:02 GMT+7
Tags: Kim Bảng , Hà Nam , xử lý nước thải , làm sạch nước thải , bệnh viện đa khoa , vi sinh vật , bộ y tế , sử dụng , quá trình , mô hình , hệ thống , trong nước , độc hại , chất
Mô hình DEWATS tại Bệnh viện Kim Bảng- Hà Nam
là mô hình xử lý nước thải phân tán qua sử dụng
các vi sinh vật có trong nước thải hoặc nhờ quá
trình tự nhiên, không hề sử dụng hóa chất.
Đây là quy trình công nghệ cao, chi phí thấp mà vẫn
đảm bảo chất lượng nước thải đầu ra đạt tiêu chuẩn
Ông Vũ Đình Phụng - Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Kim
Bảng (Hà Nam), cho biết: Với công suất 250 giường,
bệnh viện thường xuyên phải hoạt động trong tình trạng quá tải, lúc cao điểm tỷ lệ sử dụng
giường bệnh lên tới 250%
Điều đó dẫn đến tình trạng toàn bộ nước thải của nhà vệ sinh, nhà tắm, các khu khám và chữa bệnh đều thải trực tiếp vào môi trường theo cơ chế thấm ngấm, phần còn lại chưa kịp
thấm ngấm chảy ra cánh đồng xung quanh
Bên cạnh đó, nước thải từ khu khám cận lâm sàng có chứa hóa chất nguy hại từ phòng chụp X quang và phòng thí nghiệm cũng không được thu gom một cách hợp lý mà thải trực
tiếp vào môi trường
Các chất ô nhiễm có trong nước thải đã gây sự tích tụ sinh học trong cá, trong cây trồng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của khu vực, biến nơi đây thành một “điểm
nóng” về ô nhiễm trong tỉnh
Sau khi tiến hành nghiên cứu thực địa, các chuyên gia của Hiệp hội Nghiên cứu và Phát triển Bremen (BORDA )- tổ chức phi chính phủ của Đức - nhận thấy, nước thải của Bệnh viện Đa khoa Kim Bảng có đặc tính giống như nước thải sinh hoạt với hàm lượng ô nhiễm
hữu cơ cao và hoàn toàn có thể xử lý bằng công nghệ sinh học
“Sau khi khảo sát, chúng tôi đã quyết định chọn Bệnh viện đa khoa Kim Bảng, một địa bàn
khá nổi bật về vấn đề vệ sinh nước thải làm nơi thí điểm DEWATS
Hệ thống xử lý nước thải phân tán cho phép xử lý nước thải hữu cơ với quy mô dưới 1.000
Khu lọc thực vật trong hệ thống
DEWATS
Trang 6m /ngày đêm với ưu điểm là hiệu quả xử lý cao, có thể thích ứng với sự dao động về lưu lượng, không cần tiêu thụ điện năng (nếu khu vực xử lý có độ dốc thích hợp)
Công nghệ xử lý thân thiện với môi trường, xử lý nước thải nhờ các vi sinh vật có trong nước thải hoặc nhờ quá trình tự nhiên mà không sử dụng đến hóa chất” - Ông Lutz R.Meyer - Giám đốc BORDA khu vực Mêkông, Trung Quốc cho hay
Sau nhiều cuộc họp bàn, tháng 12/2006, hệ thống DEWATS đầu tiên ở Việt Nam được khởi công xây dựng tại Bệnh viện Đa khoa Kim Bảng (Kim Bảng, Hà Nam) với công suất 125 m3/
ngày đêm
Toàn bộ chi phí đầu tư 720 triệu đồng xây dựng ban đầu do Bộ Hợp tác Phát triển Kinh tế CHLB Đức tài trợ Bệnh viện chỉ phải bỏ tiền thuê chăm sóc bãi lọc ngầm trồng cây và vớt
tảo làm sạch hồ chỉ thị
Kết quả kiểm nghiệm chất lượng nước sau khi được xử lý bằng DEWATS cho thấy: Nước thải sau quá trình lọc giúp loại vi khuẩn đến 95 - 97%, chỉ số BOD (nhu cầu ôxy hóa sinh học) đạt 4mg/lít (chuẩn của Bộ Y tế là 20), COD (nhu cầu ôxy hóa sinh học) là 16mg/lít
(chuẩn của Bộ Y tế cho bệnh viện là 80)
“Trước đây, bệnh viện sử dụng cách xử lý nước thải thông thường là đào bể tự ngấm, gây
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải kiểu cũ này phải mất hơn 3 tỷ đồng và chi phí vận hành hàng tháng lên tới 20 - 30 triệu đồng
Kết quả kiểm tra cho thấy, nước được xử lý bằng DEWATS hoàn toàn “sạch” và đáp ứng được các quy định về nước thải của Bộ Y tế” - Ông Vũ Đình Phụng - Giám đốc bệnh viện
Kim Bảng hồ hởi
Mô hình DEWATS tại Bệnh viện Kim Bảng đánh dấu bước ngoặt trong việc giải quyết ô nhiễm do chất thải hữu cơ bằng chi phí thấp, hiện được rất nhiều đơn vị quan tâm
Hiện DEWATS đang trong quá trình xây dựng hệ thống tại Trung tâm cứu hộ gấu Tam Đảo
và sắp sửa triển khai tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa
DEWATS đã có mặt tại nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ, Indonesia, Ethiopia, Trung Quốc từ những năm 1977 Mặc dù vậy, phải đến gần đây, hệ thống ưu việt này mới được
áp dụng tại Việt Nam
DEWATS sử dụng công nghệ vi sinh, qua bốn giai đoạn chính Giai đoạn xử lý sơ bộ bậc
Trang 71 là quá trình lắng loại bỏ các cặn lơ lửng qua Bể phản ứng kỵ khí vách ngăn.
Giai đoạn hai, các chất rắn lơ lửng và hòa tan trong nước thải được loại bỏ nhờ các vi sinh vật dị khí qua Bể lọc kỵ khí và Bể lắng kỵ khí Nước thải sau đó sẽ được chuyển sang giai đoạn xử lý hiếu khí qua Khu lọc thực vật và cuối cùng là được khử trùng trong
Hồ chỉ thị
Chống hạn bằng vi
sinh vật
Thứ tư, 22 Tháng hai 2006, 14:31 GMT+7
Tags: Viện Khoa , TS Tống Kim Thuần , Viện Công nghệ Sinh học , vi sinh vật , nhà khoa học ,
chống hạn , màng nhầy , sử dụng , nấm men , nghiên cứu , chế phẩm , đất , tạo
Mới đây, PGS.TS Tống Kim Thuần và các nhà khoa học Viện Công nghệ Sinh học (Viện Khoa học và Công nghệ VN) đã nghiên cứu sử dụng các vi sinh vật có màng nhầy để tạo ẩm cho đất.
Điều quan trọng hơn là các chủng nấm men này đã được phân lập và sản xuất thành hàng hóa ở quy mô nhỏ, đồng thời đưa ra thử nghiệm, có hiệu quả hỗ trợ tốt cho việc phủ xanh đất trống đồi trọc
Chế phẩm sinh học này có tên là Lipomycin - M, bởi thành phần chính là của nó là chủng nấm men Lipomyces PT7.1 được phân lập từ vùng đất trống đồi trọc huyện Hạ Hòa (Phú Thọ) Ưu điểm của chúng là có khả năng tạo màng nhầy trong điều kiện đất khô hạn và sinh trưởng ở nhiệt độ cao
Lợi dụng các đặc tính này, nhóm nghiên cứu đã đưa chúng vào môi trường nuôi cấy có nhiệt độ và độ ẩm thích hợp Trong thời gian lên men 5 ngày, sinh khối nấm men được lấy
ra, bổ sung chất bảo quản và đưa vào sấy, đóng gói
Sử dụng chế phẩm này cũng rất đơn giản: chỉ cần bón Lipomycin - M quanh gốc cây với liều lượng vừa phải, rồi lấp một lớp đất lên Đối với vùng khô hạn không có nước tưới thì phải bón chế phẩm vào cuối mùa khô hoặc đầu mùa mưa Trong điều kiện không mưa, nấm
Trang 8men sinh trưởng chậm và có thể tồn tại suốt mùa khô dưới dạng nang bào tử.
Khi mùa mưa đến, bào tử nảy chồi và sinh sôi nảy nở tạo màng nhầy có tác dụng làm giảm
sự bốc thoát hơi nước, tăng khả năng giữ nước của đất, duy trì độ ẩm cho đất trong điều kiện địa hình không có nước tưới thời gian dài, góp phần nâng cao tỷ lệ sống của cây trồng Đặc biệt, chế phẩm này nếu trộn với phân NPK thì hiệu quả giữ ẩm tăng 15 - 30% so với bón riêng rẽ Ngoài những ưu điểm kể trên, vi sinh Lipomycin - M còn có nhiều đặc tính có lợi khác như không gây tổn hại cho hệ vi sinh vật đất, động vật đất cũng như đối với môi trường sinh thái, đồng thời không gây độc hại cho cây trồng
Ông Tống Kim Thuần cho biết hiện nay Viện Công nghệ Sinh học rất cần có sự đầu tư để sản xuất trên quy mô lớn, tăng hiệu quả phục vụ nông dân, hoặc chuyển giao công nghệ cho những vùng khô hạn
Dùng vi sinh vật duy
trì độ ẩm cho đất
Thứ năm, 23 Tháng hai 2006, 09:55 GMT+7
Tags: Viện Công nghệ Sinh học , Chế Phẩm Sinh Học , vi sinh vật , độ ẩm , duy trì , nghiên cứu ,
sản xuất , vừa phải , thành công , tạo , bón , chất , dùng
Viện Công nghệ Sinh học đã nghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm sinh học tạo ẩm cho đất có tên là Lipomycin-M Chỉ cần bón Lipomycin-M quanh gốc cây với liều lượng vừa phải, rồi lấp một lớp đất lên là có thể duy trì độ ẩm trong đất.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tống Kim Thuần và các nhà khoa học Viện Công nghệ Sinh học, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là tác giả của nghiên cứu nói trên.
Trang 9PGS-TS Tống Kim Thuần
Để giữ ẩm cho đất, người ta đã sử dụng các chất giữ ẩm nhân tạo và đã thu được một số kết quả khả quan Tuy nhiên về lâu dài, chất giữ ẩm nhân tạo lai làm cho đất kết vón, pH tăng làm ảnh hưởng xấu tới chất lượng môi trường đất
Khắc phục nhược điểm trên, Phòng Nghiên cứu các chất có Hoạt tính sinh học, Viện Công nghệ Sinh học, Viên Khoa học-Công nghệ Việt Nam trong 5 năm qua đã điều tra khu hệ vi sinh vật đất trống đồi trọc 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ
Trên cơ sở đó, các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ Sinh học đã phân lập được một bộ giống vi sinh vật sinh màng nhày và tiến tới nghiên cứu thành công qui trình sản xuất chất giữ ẩm Lipomycin-M từ vi sinh vật sinh màng nhày Lipomyces starkeyi PT7.1
Chủng nấm men Lipomyces PT7.1 được phân lập từ vùng đất trống đồi trọc ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ có ưu điểm là có khả năng tạo màng nhầy trong điều kiện đất khô hạn và sinh trưởng ở nhiệt độ cao, đặc biệt hỗ trợ tốt cho việc phủ xanh đất trống đồi trọc
Theo nhóm nghiên cứu, sử dụng chế phẩm này rất đơn giản, chỉ cần bón Lipomycin-M quanh gốc cây với liều lượng vừa phải, rồi lấp một lớp đất lên
Đối với vùng khô hạn không có nước tưới thì phải bón chế phẩm vào cuối mùa khô hoặc đầu mùa mưa
Trong điều kiện không mưa, nấm men sinh trưởng chậm và có thể tồn tại suốt mùa khô
Trang 10dưới dạng nang bào tử.
Khi mùa mưa đến, bào tử nảy chồi và sinh sôi nảy nở tạo màng nhày có tác dụng làm giảm
sự bốc thoát hơi nước, tăng khả năng giữ nước của đất, duy trì độ ẩm cho đất trong điều kiện địa hình không có nước tưới thời gian dài, góp phần nâng cao tỷ lệ sống của cây trồng Đặc biệt, chế phẩm này nếu trộn với phân NPK thì hiệu quả giữ ẩm sẽ tăng thêm từ 15 - 30% so với bón riêng rẽ Ngoài những ưu điểm kể trên, vi sinh Lipomycin-M còn có nhiều đặc tính quý khác là không gây tổn hại cho hệ vi sinh vật đất, động vật đất cũng như đối với môi trường sinh thái; đồng thời không gây độc hại cho cây trồng
PGS-TS Tống Kim Thuần cho biết, hiện nay, Viện rất cần có sự đầu tư để sản xuất trên quy
mô lớn, tăng hiệu quả phục vụ nông dân, hoặc chuyển giao công nghệ cho những vùng khô hạn
Ô nhiễm vi sinh
vật trong thịt và
sữa
Thứ bảy, 25 Tháng hai 2006, 04:27 GMT+7
Tags: Hà Nội , tình hình kinh doanh , vi sinh vật , đáng lo ngại , Cục Thú y , ô nhiễm , tỉ lệ ,
không đạt , thịt , sữa , bò , TP.HCM , mẫu
TS (Hà Nội) - “Khảo sát của Cục Thú y cho thấy tình hình kinh doanh thịt và sữa ở
Hà Nội và TP.HCM rất đáng lo ngại Tỉ lệ mẫu thịt gà, bò, lợn không đạt cả bốn chỉ tiêu
về vi sinh vật (E.coli, coliform, samonella, clostridium) ở Hà Nội là 81,3%, ở thịt bò là 100%, tại TP.HCM là 32%.
Tỉ lệ mẫu sữa không đạt tiêu chuẩn ở các cửa hàng bán lẻ ở Hà Nội rất cao, tới 90% số mẫu” - báo cáo của Bộ Y tế gửi Ủy ban Khoa học - công nghệ và môi trường của Quốc hội cho biết