1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ứng dụng của vi sinh vật

10 887 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng dụng của vi sinh vật
Tác giả Clara S. Chan, cộng sự
Trường học Đại học California
Chuyên ngành Sinh học vi sinh vật
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2006
Thành phố California
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 260,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện các nhà khoa học đã thành công trong việc tổng hợp các sợi polymer tương tự như ở vi khuẩn ở phòng thí nghiệm và họ hy vọng rằng thành công này sẽ nở ra một hướng mới cho việc bắt c

Trang 1

Trong một thời gian dài, các nhà khoa học đã tự hỏi tại sao một số vi sinh vật lại sử dụng một nguồn năng lượng đáng kể để kéo dài các sợi polymer vào vùng có nhiều chất

khoáng Một báo cáo trên tạp chí Nature cho rằng có thể vi khuẩn làm như thế để thu lấy

nguồn năng lượng cao hơn từ các phản ứng hóa học

Clara S Chan và cộng sự ở đại học California đã thu thập các vi sinh vật từ một sắt bỏ hoang ở tây nam Winconsin Các sinh vật này đã tiết ra các sợi mỏng đặc biệt bao quanh các tinh thể oxít sắt

Quá trình phân tích các sợi được tinh thể hóa này tiết lộ cho ta biết phản ứng hóa học tạo ra chúng Các nhà nghiên cứu cho rằng rất có thể, vi sinh vật đã sử dụng phản ứng oxy hóa khử để thu lấy năng lượng từ môi trường Sản phẩm tạo thành là các ion sắt kết tủa và các sợi polymer sau đó sẽ gắn chúng vào tế bào vi sinh vật

Phát hiện mới này có thể giúp cho các nhà khoa học chế tạo ra các vật liệu mới Hiện các nhà khoa học đã thành công trong việc tổng hợp các sợi polymer tương tự như ở vi khuẩn ở phòng thí nghiệm và họ hy vọng rằng thành công này sẽ nở ra một hướng mới cho việc bắt chước các quá trình sinh tổng hợp ở sinh vật

Vi sinh vật có thể giúp hình thành nên vàng

Thứ bảy, 15 Tháng bảy 2006, 07:39 GMT+7

Tags: vi sinh vật , nhà nghiên cứu , đã xác định , hạt kim loại , vi khuẩn , một loại , hình thành , có thể , vai trò , tìm

thấy , vảy , việc , giúp

Người ta không tìm thấy đá tạo vàng nhưng lại tìm được một loại vi sinh vật Một nhóm các nhà nghiên cứu đã xác định tại các mỏ vàng ở Australia có tồn tại một loại vi khuẩn đóng vai trò rất lớn trong việc tạo thành các vảy

hoặc các hạt kim loại quý.

Theo các kết quả nghiên cứu được công bố trên trang nhất của tạp chí Khoa“Khoa học , Ralstonia metalliduran (loại vi khuẩn vừa được tìm thấy) có khả năng

chuyển hoá bụi thành vàng

Nhóm nghiên cứu đứng đầu là nhà nghiên cứu người Đức Frank Reith đã thu thập các hạt vàng trong hai mỏ vàng ở Australia cách nhau hơn 3.000 km Họ

đã phát hiện được một loại vi khuẩn có mặt trong hơn 80% số hạt vàng trên Ông Reith cho biết: Những gì tìm thấy cho phép chúng tôi nghĩ rằng, vi khuẩn“Khoa Ralstonia metalliduran có thể kết tụ loại vàng này Theo ông, Ralstonia

Trang 2

metalliduran hoạt động trong đất như một loại chất khử vi mô, đồng hoá các kim loại nặng thành dạng hoà tan để chuyển hoá chúng và biển chúng thành

dạng vững chắc và ít độc hơn

Với nhà nghiên cứu Frank Reith, những phát hiện này là yếu tố quan trọng nhất

để làm nòng cốt cho giả thiết về vai trò của các vi khuẩn trong việc hình thành nên vàng, mặc dù cơ chế hoạt động thực sự của chúng vẫn chưa thể xác định được Rất nhiều các nhà nghiên cứu không tin vào vai trò của các vi khuẩn và cho rằng các vảy vàng và hạt vàng là cặn bã của các mẩu vàng hoặc là kết quả

của một quá trình hoá học nào đó

Ông Reith nhấn mạnh: Những gì mà chúng tôi muốn nói, đó là các vi sinh vật“Khoa

có khả năng đóng góp vào việc hình thành nên các vảy vàng Tôi không nói rằng, các vi sinh vật này là cách duy nhất tạo thành các vảy vàng trong đất

nhưng đó cũng là một cách Theo ông Reith, vi khuẩn Ralstonia mettaliduran không thể di chuyển từ khu“Khoa vườn của chúng đến các mỏ vàng được Ông nói: Chắc chắn chúng phải có mặt“Khoa

ở đó từ trước Nếu không, chúng không thể tạo ra vàng

Thông tin số chứa trên DNA vi

sinh vật

Thứ năm, 05 Tháng tư 2007, 23:35 GMT+7

Tags: vụ nổ hạt nhân , vi sinh vật , thông tin số , nhà khoa học , có thể ghi , dữ liệu , lưu trữ , nghìn năm , hệ

thống , dựa trên , nghiên cứu , DNA , chứa , tới , tiến

Những hệ thống lưu trữ dựa trên tế bào vi sinh vật có thể ghi lại dữ liệu của hàng nghìn năm tiến hoá trong khi vẫn phải chống lại những tác hại của

những vụ nổ hạt nhân Các nguyên tử có thể lưu giữ tới 250 terabit dữ liệu

trên một inch vuông Có những cấu trúc film hữu cơ tuy mỏng manh nhưng

cho phép 20.000 chu trình ghi đi ghi lại.

Trang 3

Đó là những chân trời mới đầy hứa hẹn nhằm thúc đẩy hệ thống lưu trữ với khả năng

vượt xa trí tưởng tượng của con người

Nghiên cứu từ hai trường đại học nổi tiếng đã chỉ ra rằng điều đó không chỉ là khả năng tiềm ẩn mà còn là thực tiễn cho phép lưu trữ dữ liệu số vào bộ gene của một sinh vật sống hữu cơ và có thể hàng trăm hay thậm chí hàng nghìn năm sau vẫn lấy lại được các thông tin đó sau khi sinh vật ấy đã tái sản xuất vật liệu di truyền của nó thông qua hàng trăm thế hệ hậu duệ

"Hãy hình dung rằng một mm3 chất lỏng có thể chứa đựng tới 1 tỷ vi khuẩn, và bạn có thể nhìn thấy khả năng tiềm ẩn của bộ nhớ dựa trên vi khuẩn là một dung lượng khổng lồ" nhà khoa học Pak Wong, trưởng Phòng thí nghiệm Quốc gia Tây bắc Thái Bình Dương (PNNL) cho biết Ba năm trước, ông Wong và một nhóm nhà nghiên cứu của PNNL tiến hành một thí nghiệm trong đó cho cất giữ khoảng 100 cặp thông tin số vào nhiễm sắc thể của một vi khuẩn

Năm nay, những nhà khoa học tại Viện sinh học tiến bộ ĐH Keio cũng tuyên bố đã thực hiện thành công những kết quả nghiên cứu tương tự khi mã hoá lý thuyết “E = MC2” của Albert Einstein và số “1905” là năm mà nhà bác học này công bố thuyết lực hấp dẫn, lên vi sinh vật Bacillus Theo những nhà khoa học, dữ liệu lưu trữ trên cơ sở DNA có thể còn bảo quản được những tệp dữ liệu khổng lồ một cách dài hạn, ít nhất là một nghìn năm sau

Tuy nhiên, các nhà quan sát cho rằng nhóm nghiên cứu của nhà khoa học Wong đang gặp phải một trong những thách thức lớn là phải tìm ra một môi trường an toàn cho

Trang 4

những phân tử DNA phát triển bởi chúng rất dễ bị phá huỷ ở môi trường tự nhiên nơi

có nhiệt độ cao hay khô hanh Và một khó khăn nữa trong việc đưa kỹ thuật này vào

ứng dụng thực tiễn là cho tới nay việc truy hồi lại thông tin do vi sinh vật lưu trữ mới chỉ thực hiện được trong điều kiện ẩm ướt của phòng thí nghiệm, trong khi các hệ thống

điện toán lại không ưa độ ẩm

Tạo ra vi sinh vật có khả năng

phát hiện chất độc

Thứ ba, 13 Tháng bảy 2004, 22:14 GMT+7

Tags: Crown Vision Systems , đại học bách khoa , vi sinh vật , có khả năng , vật phát sáng ,

tạo ra , chất độc , phát hiện , có thể

Đại học Bách khoa Nanyang (Singapore) và công ty Crown Vision Systems của Anh đang nghiên cứu để tạo ra các vi sinh vật phát sáng có khả năng trở nên mờ hơn khi chúng phát hiện chất độc.

Vi sinh vật này được biến đổi gen, để chúng có thể sáng lên như bóng đèn Ánh sáng của chúng giảm bớt khi chúng tiếp xúc với các vi khuẩn có hại cũng như các chất độc gây ra ung thư

Bác sĩ Li Xingmin, phụ trách dự án này, nói: "Chúng tôi đang tạo ra những vi sinh vật mới có các đặc tính độc đáo là phản ứng lại nhiều lọai chất độc có hại” Ông giải thích rằng thực phẩm, dược phẩm và môi trường hiện đang đầy dẫy các chất ô nhiễm, như thuốc trừ sâu, các chất độc do nấm và vi khuẩn tiết ra là những thứ có thể gây ra các chứng ung thư và các loại bệnh khác nhau

Crown Vision Systems sẽ biến đổi DNA của các tế bào sống để tạo ra các tế bào nhạy cảm với chất độc Các nhà khoa học dự kiến đưa gen có khả năng phản ứng nhanh với các chất độc, để các tế bào có thể cho kết qủa trong vòng vài giờ thay vì vài ngày như phương pháp hiện nay, và có thể được dùng cho một lượng lớn sản phẩm với giá rẻ

Làm sạch nước thải

độc hại bằng vi sinh

vật

Trang 5

Thứ ba, 04 Tháng mười hai 2007, 09:02 GMT+7

Tags: Kim Bảng , Hà Nam , xử lý nước thải , làm sạch nước thải , bệnh viện đa khoa , vi sinh vật , bộ y tế , sử dụng , quá trình , mô hình , hệ thống , trong nước , độc hại , chất

Mô hình DEWATS tại Bệnh viện Kim Bảng- Hà Nam

là mô hình xử lý nước thải phân tán qua sử dụng

các vi sinh vật có trong nước thải hoặc nhờ quá

trình tự nhiên, không hề sử dụng hóa chất.

Đây là quy trình công nghệ cao, chi phí thấp mà vẫn

đảm bảo chất lượng nước thải đầu ra đạt tiêu chuẩn

Ông Vũ Đình Phụng - Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Kim

Bảng (Hà Nam), cho biết: Với công suất 250 giường,

bệnh viện thường xuyên phải hoạt động trong tình trạng quá tải, lúc cao điểm tỷ lệ sử dụng

giường bệnh lên tới 250%

Điều đó dẫn đến tình trạng toàn bộ nước thải của nhà vệ sinh, nhà tắm, các khu khám và chữa bệnh đều thải trực tiếp vào môi trường theo cơ chế thấm ngấm, phần còn lại chưa kịp

thấm ngấm chảy ra cánh đồng xung quanh

Bên cạnh đó, nước thải từ khu khám cận lâm sàng có chứa hóa chất nguy hại từ phòng chụp X quang và phòng thí nghiệm cũng không được thu gom một cách hợp lý mà thải trực

tiếp vào môi trường

Các chất ô nhiễm có trong nước thải đã gây sự tích tụ sinh học trong cá, trong cây trồng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của khu vực, biến nơi đây thành một “điểm

nóng” về ô nhiễm trong tỉnh

Sau khi tiến hành nghiên cứu thực địa, các chuyên gia của Hiệp hội Nghiên cứu và Phát triển Bremen (BORDA )- tổ chức phi chính phủ của Đức - nhận thấy, nước thải của Bệnh viện Đa khoa Kim Bảng có đặc tính giống như nước thải sinh hoạt với hàm lượng ô nhiễm

hữu cơ cao và hoàn toàn có thể xử lý bằng công nghệ sinh học

“Sau khi khảo sát, chúng tôi đã quyết định chọn Bệnh viện đa khoa Kim Bảng, một địa bàn

khá nổi bật về vấn đề vệ sinh nước thải làm nơi thí điểm DEWATS

Hệ thống xử lý nước thải phân tán cho phép xử lý nước thải hữu cơ với quy mô dưới 1.000

Khu lọc thực vật trong hệ thống

DEWATS

Trang 6

m /ngày đêm với ưu điểm là hiệu quả xử lý cao, có thể thích ứng với sự dao động về lưu lượng, không cần tiêu thụ điện năng (nếu khu vực xử lý có độ dốc thích hợp)

Công nghệ xử lý thân thiện với môi trường, xử lý nước thải nhờ các vi sinh vật có trong nước thải hoặc nhờ quá trình tự nhiên mà không sử dụng đến hóa chất” - Ông Lutz R.Meyer - Giám đốc BORDA khu vực Mêkông, Trung Quốc cho hay

Sau nhiều cuộc họp bàn, tháng 12/2006, hệ thống DEWATS đầu tiên ở Việt Nam được khởi công xây dựng tại Bệnh viện Đa khoa Kim Bảng (Kim Bảng, Hà Nam) với công suất 125 m3/

ngày đêm

Toàn bộ chi phí đầu tư 720 triệu đồng xây dựng ban đầu do Bộ Hợp tác Phát triển Kinh tế CHLB Đức tài trợ Bệnh viện chỉ phải bỏ tiền thuê chăm sóc bãi lọc ngầm trồng cây và vớt

tảo làm sạch hồ chỉ thị

Kết quả kiểm nghiệm chất lượng nước sau khi được xử lý bằng DEWATS cho thấy: Nước thải sau quá trình lọc giúp loại vi khuẩn đến 95 - 97%, chỉ số BOD (nhu cầu ôxy hóa sinh học) đạt 4mg/lít (chuẩn của Bộ Y tế là 20), COD (nhu cầu ôxy hóa sinh học) là 16mg/lít

(chuẩn của Bộ Y tế cho bệnh viện là 80)

“Trước đây, bệnh viện sử dụng cách xử lý nước thải thông thường là đào bể tự ngấm, gây

ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải kiểu cũ này phải mất hơn 3 tỷ đồng và chi phí vận hành hàng tháng lên tới 20 - 30 triệu đồng

Kết quả kiểm tra cho thấy, nước được xử lý bằng DEWATS hoàn toàn “sạch” và đáp ứng được các quy định về nước thải của Bộ Y tế” - Ông Vũ Đình Phụng - Giám đốc bệnh viện

Kim Bảng hồ hởi

Mô hình DEWATS tại Bệnh viện Kim Bảng đánh dấu bước ngoặt trong việc giải quyết ô nhiễm do chất thải hữu cơ bằng chi phí thấp, hiện được rất nhiều đơn vị quan tâm

Hiện DEWATS đang trong quá trình xây dựng hệ thống tại Trung tâm cứu hộ gấu Tam Đảo

và sắp sửa triển khai tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa

DEWATS đã có mặt tại nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ, Indonesia, Ethiopia, Trung Quốc từ những năm 1977 Mặc dù vậy, phải đến gần đây, hệ thống ưu việt này mới được

áp dụng tại Việt Nam

DEWATS sử dụng công nghệ vi sinh, qua bốn giai đoạn chính Giai đoạn xử lý sơ bộ bậc

Trang 7

1 là quá trình lắng loại bỏ các cặn lơ lửng qua Bể phản ứng kỵ khí vách ngăn.

Giai đoạn hai, các chất rắn lơ lửng và hòa tan trong nước thải được loại bỏ nhờ các vi sinh vật dị khí qua Bể lọc kỵ khí và Bể lắng kỵ khí Nước thải sau đó sẽ được chuyển sang giai đoạn xử lý hiếu khí qua Khu lọc thực vật và cuối cùng là được khử trùng trong

Hồ chỉ thị

Chống hạn bằng vi

sinh vật

Thứ tư, 22 Tháng hai 2006, 14:31 GMT+7

Tags: Viện Khoa , TS Tống Kim Thuần , Viện Công nghệ Sinh học , vi sinh vật , nhà khoa học ,

chống hạn , màng nhầy , sử dụng , nấm men , nghiên cứu , chế phẩm , đất , tạo

Mới đây, PGS.TS Tống Kim Thuần và các nhà khoa học Viện Công nghệ Sinh học (Viện Khoa học và Công nghệ VN) đã nghiên cứu sử dụng các vi sinh vật có màng nhầy để tạo ẩm cho đất.

Điều quan trọng hơn là các chủng nấm men này đã được phân lập và sản xuất thành hàng hóa ở quy mô nhỏ, đồng thời đưa ra thử nghiệm, có hiệu quả hỗ trợ tốt cho việc phủ xanh đất trống đồi trọc

Chế phẩm sinh học này có tên là Lipomycin - M, bởi thành phần chính là của nó là chủng nấm men Lipomyces PT7.1 được phân lập từ vùng đất trống đồi trọc huyện Hạ Hòa (Phú Thọ) Ưu điểm của chúng là có khả năng tạo màng nhầy trong điều kiện đất khô hạn và sinh trưởng ở nhiệt độ cao

Lợi dụng các đặc tính này, nhóm nghiên cứu đã đưa chúng vào môi trường nuôi cấy có nhiệt độ và độ ẩm thích hợp Trong thời gian lên men 5 ngày, sinh khối nấm men được lấy

ra, bổ sung chất bảo quản và đưa vào sấy, đóng gói

Sử dụng chế phẩm này cũng rất đơn giản: chỉ cần bón Lipomycin - M quanh gốc cây với liều lượng vừa phải, rồi lấp một lớp đất lên Đối với vùng khô hạn không có nước tưới thì phải bón chế phẩm vào cuối mùa khô hoặc đầu mùa mưa Trong điều kiện không mưa, nấm

Trang 8

men sinh trưởng chậm và có thể tồn tại suốt mùa khô dưới dạng nang bào tử.

Khi mùa mưa đến, bào tử nảy chồi và sinh sôi nảy nở tạo màng nhầy có tác dụng làm giảm

sự bốc thoát hơi nước, tăng khả năng giữ nước của đất, duy trì độ ẩm cho đất trong điều kiện địa hình không có nước tưới thời gian dài, góp phần nâng cao tỷ lệ sống của cây trồng Đặc biệt, chế phẩm này nếu trộn với phân NPK thì hiệu quả giữ ẩm tăng 15 - 30% so với bón riêng rẽ Ngoài những ưu điểm kể trên, vi sinh Lipomycin - M còn có nhiều đặc tính có lợi khác như không gây tổn hại cho hệ vi sinh vật đất, động vật đất cũng như đối với môi trường sinh thái, đồng thời không gây độc hại cho cây trồng

Ông Tống Kim Thuần cho biết hiện nay Viện Công nghệ Sinh học rất cần có sự đầu tư để sản xuất trên quy mô lớn, tăng hiệu quả phục vụ nông dân, hoặc chuyển giao công nghệ cho những vùng khô hạn

Dùng vi sinh vật duy

trì độ ẩm cho đất

Thứ năm, 23 Tháng hai 2006, 09:55 GMT+7

Tags: Viện Công nghệ Sinh học , Chế Phẩm Sinh Học , vi sinh vật , độ ẩm , duy trì , nghiên cứu ,

sản xuất , vừa phải , thành công , tạo , bón , chất , dùng

Viện Công nghệ Sinh học đã nghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm sinh học tạo ẩm cho đất có tên là Lipomycin-M Chỉ cần bón Lipomycin-M quanh gốc cây với liều lượng vừa phải, rồi lấp một lớp đất lên là có thể duy trì độ ẩm trong đất.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tống Kim Thuần và các nhà khoa học Viện Công nghệ Sinh học, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là tác giả của nghiên cứu nói trên.

Trang 9

PGS-TS Tống Kim Thuần

Để giữ ẩm cho đất, người ta đã sử dụng các chất giữ ẩm nhân tạo và đã thu được một số kết quả khả quan Tuy nhiên về lâu dài, chất giữ ẩm nhân tạo lai làm cho đất kết vón, pH tăng làm ảnh hưởng xấu tới chất lượng môi trường đất

Khắc phục nhược điểm trên, Phòng Nghiên cứu các chất có Hoạt tính sinh học, Viện Công nghệ Sinh học, Viên Khoa học-Công nghệ Việt Nam trong 5 năm qua đã điều tra khu hệ vi sinh vật đất trống đồi trọc 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ

Trên cơ sở đó, các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ Sinh học đã phân lập được một bộ giống vi sinh vật sinh màng nhày và tiến tới nghiên cứu thành công qui trình sản xuất chất giữ ẩm Lipomycin-M từ vi sinh vật sinh màng nhày Lipomyces starkeyi PT7.1

Chủng nấm men Lipomyces PT7.1 được phân lập từ vùng đất trống đồi trọc ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ có ưu điểm là có khả năng tạo màng nhầy trong điều kiện đất khô hạn và sinh trưởng ở nhiệt độ cao, đặc biệt hỗ trợ tốt cho việc phủ xanh đất trống đồi trọc

Theo nhóm nghiên cứu, sử dụng chế phẩm này rất đơn giản, chỉ cần bón Lipomycin-M quanh gốc cây với liều lượng vừa phải, rồi lấp một lớp đất lên

Đối với vùng khô hạn không có nước tưới thì phải bón chế phẩm vào cuối mùa khô hoặc đầu mùa mưa

Trong điều kiện không mưa, nấm men sinh trưởng chậm và có thể tồn tại suốt mùa khô

Trang 10

dưới dạng nang bào tử.

Khi mùa mưa đến, bào tử nảy chồi và sinh sôi nảy nở tạo màng nhày có tác dụng làm giảm

sự bốc thoát hơi nước, tăng khả năng giữ nước của đất, duy trì độ ẩm cho đất trong điều kiện địa hình không có nước tưới thời gian dài, góp phần nâng cao tỷ lệ sống của cây trồng Đặc biệt, chế phẩm này nếu trộn với phân NPK thì hiệu quả giữ ẩm sẽ tăng thêm từ 15 - 30% so với bón riêng rẽ Ngoài những ưu điểm kể trên, vi sinh Lipomycin-M còn có nhiều đặc tính quý khác là không gây tổn hại cho hệ vi sinh vật đất, động vật đất cũng như đối với môi trường sinh thái; đồng thời không gây độc hại cho cây trồng

PGS-TS Tống Kim Thuần cho biết, hiện nay, Viện rất cần có sự đầu tư để sản xuất trên quy

mô lớn, tăng hiệu quả phục vụ nông dân, hoặc chuyển giao công nghệ cho những vùng khô hạn

Ô nhiễm vi sinh

vật trong thịt và

sữa

Thứ bảy, 25 Tháng hai 2006, 04:27 GMT+7

Tags: Hà Nội , tình hình kinh doanh , vi sinh vật , đáng lo ngại , Cục Thú y , ô nhiễm , tỉ lệ ,

không đạt , thịt , sữa , bò , TP.HCM , mẫu

TS (Hà Nội) - “Khảo sát của Cục Thú y cho thấy tình hình kinh doanh thịt và sữa ở

Hà Nội và TP.HCM rất đáng lo ngại Tỉ lệ mẫu thịt gà, bò, lợn không đạt cả bốn chỉ tiêu

về vi sinh vật (E.coli, coliform, samonella, clostridium) ở Hà Nội là 81,3%, ở thịt bò là 100%, tại TP.HCM là 32%.

Tỉ lệ mẫu sữa không đạt tiêu chuẩn ở các cửa hàng bán lẻ ở Hà Nội rất cao, tới 90% số mẫu” - báo cáo của Bộ Y tế gửi Ủy ban Khoa học - công nghệ và môi trường của Quốc hội cho biết

Ngày đăng: 07/09/2013, 01:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

"Hãy hình dung rằng một mm3 chất lỏng có thể chứa đựng tới 1 tỷ vi khuẩn, và bạn có thể nhìn thấy khả năng tiềm ẩn của bộ nhớ dựa trên vi khuẩn là một dung lượng khổng  lồ" nhà khoa học Pak Wong, trưởng Phòng thí nghiệm Quốc gia Tây bắc Thái Bình  - Ứng dụng của vi sinh vật
34 ;Hãy hình dung rằng một mm3 chất lỏng có thể chứa đựng tới 1 tỷ vi khuẩn, và bạn có thể nhìn thấy khả năng tiềm ẩn của bộ nhớ dựa trên vi khuẩn là một dung lượng khổng lồ" nhà khoa học Pak Wong, trưởng Phòng thí nghiệm Quốc gia Tây bắc Thái Bình (Trang 3)
Tags: Kim Bảng, Hà Nam, xử lý nước thải, làm sạch nước thải, bệnh viện đa khoa, vi sinh vật, - Ứng dụng của vi sinh vật
ags Kim Bảng, Hà Nam, xử lý nước thải, làm sạch nước thải, bệnh viện đa khoa, vi sinh vật, (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w