1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài kinh tế

20 152 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Và Lấy Một Ví Dụ Minh Hoạ Về Một Hãng Cạnh Tranh Hoàn Hảo
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 214 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích và lấy một ví dụ minh hoạ về một hãng cạnh tranh hoàn hảo và chỉ rõ cách thức hãng này lựa họn sản lượng và lợi nhuận khi giá thị trường thay đổi trong cả ngắn hạn và dài hạn.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Sau khi gia nhập WTO, Thị trường hàng hoá Việt Nam ngày càng sôi động Thị trường nông sản không nằm ngoài quy luật

đó Cạnh tranh hoàn hảo là cạnh tranh trong một mô hình kinh tế được mô tả là một mẫu kinh tế thị trường lý tưởng, ở đó có nhiều người mua và nhiều người bán độc lập với nhau, không người mua người bán nào có ảnh hưởng đến giá thị trường Cạnh tranh hoàn hảo được cho là sẽ dẫn đến hiệu quả kinh tế cao Thị trường nông sản là sự lựa chọn tối ưu nhất để minh hoạ cho thị trường CTHH vì nó mang khá đầy đủ đặc trưng của một thị trường CTHH Vì vậy nhóm lựa chọn các hộ trồng cà phê ở Tây Nguyên mà không phải một doanh nghiệp để minh hoạ cho một hãng CTHH Trước tình hình thị trường cà phê luôn có sự biến động về giá từng giờ, từng ngày việc lựa chọn sản lượng bán ra và bán vào thời điểm nào là quyết định quan trọng ảnh hưởng lớn đến lợi

nhuận và thu nhập của các hộ trồng cà phê Dựa trên cơ sở lý thuyết đã được cô giáo giảng dạy, nhóm thực hiện đề tài: “Phân tích

và lấy một ví dụ minh hoạ về một hãng cạnh tranh hoàn hảo và chỉ rõ cách thức hãng này lựa họn sản lượng và lợi nhuận khi giá thị trường thay đổi trong cả ngắn hạn và dài hạn.”

1

Trang 2

A.CƠ SỞ LÝ THUYẾT

I.KHÁI NIỆM THỊ TRƯỜNG

Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì thị trường chỉ địa điểm hay không gian của trao đổi hàng hoá, đó là nơi gặp gỡ giữa người bán, người mua, hàng và tiền và ở đó diễn ra các hoạt động mua bán Như vậy, phạm vi của thị trường được giới hạn thông qua việc xem xét bản chất hành vi tham gia thị trường, ở đâu có sự trao đổi, buôn bán, có sự lưu thông hàng hoá thì ở đó có thị trường Đây

là cách hiểu thị trường gắn với yếu tố địa lý của hành vi tham gia thị trường, đòi hỏi phải có sự hiện hữu của đối tượng được đem

ra trao đổi

Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thị trường là các hiện tượng kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi và lưu thông hàng hoá cùng với các quan hệ kinh tế giữa người và người trong quá trình trao đổi, mua bán hàng hoá và các dịch vụ

Thị trường là tổng thể những thoả thuận, cho phép những người bán và người mua trao đổi hàng hoá và dịch vụ Như vậy, thị trường không nhất thiết phải là một địa điểm cụ thể như cách hiểu theo nghĩa hẹp trên Người bán và người mua có thể không trực tiếp trao đổi, mà có thể qua các phương tiện khác để thiết lập nên thị trường Theo David Begg, thị trường là tập hợp các sự thoả thuận thông qua đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ Theo cách hiểu này thì người

ta nhấn mạnh đến các quan hệ trao đổi cũng như thể chế và các điều kiện thực hiện việc mua bán

I.KHÁI NIỆM THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO.

Khi xem xét trên góc độ cạnh tranh hay độc quyền, tức là xem xét hành vi của thị trường, các nhà kinh tế phân loại thành các cấu trúc thị trường dựa trên các tiêu thức cơ bản như:số lượng người bán và người mua,loại sản phẩm, sức mạnh thị trường của người bán và người mua,các trở ngị gia nhập thị trường, hình thức cạnh tranh phi giá.cạnh tranh hoàn hảo là một cấu trúc thị trường cơ bản

Trang 3

Khái niệm: Cạnh tranh hoàn hảo là cạnh tranh trong một mô hình kinh tế được mô tả là một mẫu kinh tế thị trường lý tưởng, ở đó có nhiều người mua và nhiều người bán độc lập với nhau, không người mua người bán nào có ảnh hưởng đến giá thị trường Cạnh tranh hoàn hảo được cho là sẽ dẫn đến hiệu quả kinh tế cao

II.CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO.

1, Có nhiều người mua và nhiều người bán độc lập với nhau.

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo có rất nhiều người mua và người bán, mà mỗi người trong họ hành động độc lập với tất cả những người khác và chỉ bán ( hoặc mua ) môt phần rất nhỏ trong lượng cung thị trường.Những giao dịch bình thường của một người mua ( người bán ) không ảnh hưởng đến giá mà các giao dịch được thực hiện

2, Tất cả đơn vị hàng hoá được coi là giống nhau.

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, sản phẩm là đồng nhất tức có khả năng thay thế hoàn hảo Chẳng hạn thị trường than

đá thuộc cùng một cấp chất lượng, hoặc thị trường xăng, mỗi đơn vị là bản sao cả một đơn vị bất kì khác, Bởi vậy người mua không bao giờ phải quan tâm đến việc họ mua các đơn vị đó của ai

3, Tất cả người mua và người bán đều có thông tin đầy đủ liên quan đến việc trao đổi hàng hoá.

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, mọi người biết tất cả đặc trưng của các mặt hàng trao đổi; biết tất cả giá người bán đòi và giá người mua trả Mọi người có liên hệ mật thiết với nhau và các thông tin giữa họ là liên tục

4, Không có gì cản trở việc gia nhập hoạc rút lui khỏi thị trường

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, mỗi người đều phải được tự do trở thành người mua hoặc người bán, được tự do gia nhập thị trường và đươc trao đổi ở cùng một mức giá như những người trao đổi hiện hành Tương tự, nó đòi hỏi không có trở ngại nào ngăn không cho một người nào đó thôi không là người mua hoặc người bán trong thị trường và vì thế rút khỏi thị trường

3

Trang 4

III ĐẶC TRƯNG CỦA HÃNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO.

Hãng cạnh tranh hoàn hảo không có sức mạnh thị trường, không có khả năng kiểm soát giá do sản lượng của hãng là nhỏ so với cung của thị trường

Hãng cạnh tranh hoàn hảo có thể bán tất cả sản lượng của mình ở mức giá thị trường, nếu hãng đặt giá cao hơn thì sẽ không bán được hàng hoá vì người tiêu dùng sẽ mua của hãng khác

Hãng cạnh tranh hoàn hảo có sản lượng quá nhỏ so với thị trường, do đó các quyết định sản lượng cả hãng không có ảnh hưởng đáng kể đến tổng sản lượng hoặc giá trên thị trường

Đường doanh thu cận biên của hãng CTHH co dãn hoàn toàn, là đường nằm ngang song song với trục hoành và trùng với đường cầu

IV.ĐƯỜNG CẦU CỦA THỊ TRƯỜNG VÀ ĐƯỜNG CẦU CỦA HÃNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO.

Trang 5

1, Đường cầu thị trường.

Đường cầu thị trường của thị trường luôn là đường

dốc xuống dưới

H1, Đường cầu thị trường

2, Đường cầu của hãng cạnh tranh hoàn hảo.

Đường cầu của hãng CTHH luôn là đường nằm ngang song song với trục hoành tại mức giá thị trường

Đường doanh thu cận biên của.hãng CTHH chính là đường cầu và trùng với đường doanh thu bình quân

H2, Đường cầu của hãng CTHH

V.ĐIỀU KIỆN TỐI ĐA HOÁ LỢI NHUẬN CỦA HÃNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO TRONG NGẮN HẠN.

Lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, nên để tìm ra sản lượng tối đa hoá lợi nhuận ta phải phân tích doanh thu

và chi phí của nó.Tổng doanh thu là TR = P*Q tổng chi phí cũng phụ thuộc vào sản lượng Do đó, lợi nhuận của doanh nghiệp là:

Π(Q) = TR(Q) – TC(Q)

Để tối đa hoá lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ chọn sản lượng sao cho chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí là lớn nhất

Hình(c) cho thấy đường tổng doanh thu là đường thẳng vì với một

P

Q

P

0

D

Q

5

0

TC

TR

Q

A

TR,TC H3, Tối đa hoá lợi nhuận trong ngắn hạn

Trang 6

mức giá đã cho, tổng doanh thu tỉ lệ thuận với sản lượng.Độ dốc của đường

tổng doanh thu là doanh thu cận biên Độ dốc này cho thấy tổng doanh thu

tăng thêm bao nhiêu khi sản lượng tăng thêm một đơn vị Vì có chi phí cố

định và chi phí biến đổi, nên tổng chi phí không phải là đường thẳng độ

dốc của đường tổng chi phí là chi phí cận biên – nó cho biết tổng chi phí

tăng bao nhiêu khi sản lượng tăng thêm một đơn vị Ở các mức sản lượng

thấp lợi nhuận âm ( Π < 0 ) vì doanh thu không đủ để bù đắp chi phí Doanh

thu cận biên lớn hơn chi phí cận biên nói lên rằng,, tăng sản lượng sẽ làm

tăng lợi nhuận, khi sản lượng tăng lợi nhuận có thể dương ( với Q > Q0 )

và tăng cho đến khi sản lượng đạt tới Q* Ở đó doanh thu cận bên bằng chi

phí cận biên, Q* là sản lượng tối đa hoá lợi nhuận Tại Q* hãng có Πmax

Sau mức sản lượng Q*,doanh thu cận biên nhỏ hơn chi phí cận biên, lơị

nhuận giảm

Ta cũng có thể chứng minh quy tắc này bằng đại số như sau:

Π = TR – TC Π đạt cực đại ở điểm một đơn vị sản lượng tăng làm

cho Π không thay đổi, nghĩa là: ΔΠ/ΔQ = 0

ΔΠ = ΔTR _ ΔTC

ΔQ ΔQ ΔQ

Mà ΔTR/ΔQ = MR, ΔTC/ΔQ = MC Do đó lợi nhuận đạt cực đại

khi: MR = MC

Vì doanh nghiệp CTHH có P = MR nên điều kiện tối đa hoá lợi

nhuận của hãng CTHH là: P = MC

Trang 7

VI LỰA CHỌN SẢN LƯỢNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA HÃNG CTHH TRONG NGẮN HẠN.

4 trường hợp có thể xảy ra đối với một hãng CTHH trong ngắn hạn

1, Trường hợp 1:

Đường giá đi qua trên điểm chi phí bình quân tối

thiểu: P>ATCmin

Hãng có lợi nhuận dương: Π>0

2, Trường hợp 2

Đường giá đi qua điểm tổng chi phí bình quân tối thiểu:

P=ATCmin

Hãng hoà vốn: Π=0 Khi điều này xảy ra, hãng không

có động cơ rời bỏ hoặc gia nhập thị trường này

7

P,C,R

P0

A

E

MC

P=MR=AR

ATC ATC

min

Lợi nhuận

0

ATCmin

P,C, R

P0

0

E

MC

ATC

P=MR=AR ATCmin

H4, Hãng có lợi nhuận dương

H5, Hãng hoà vốn

Trang 9

3, Trường hợp 3:

Đường giá đi qua dưới điểm tổng chi phí bình quân tối

thiểu và trên điểm chi phì biến đổi bình quân tối thiểu: AVC

min<P<ATCmin

Hãng sẽ bị thua lỗ (S1) nhưng vẫn tiếp tục sản xuất để

tối thiểu hoá lỗ vốn, bù đắp được một phần chi phí cố định

4, Trường hợp 4 :

Đường giá đi qua hoặc qua dưới điểm tổng chi phí bình quân

tối thiểu: P ≤ ATCmin

Hãng lỗ vốn

Chi phí cố địmh không liên quan đến quyết định sản lượng của hãng trong ngắn hạn, nhưng lại là yếu tố quyết định đối với việc xem xét có nên rời bỏ nghành trong dài hạn hay không

0

ATC

P

0

LỖ MAX

MC

AVC P=MR=AR P

H7, Hãng có lợi nhuận âm bằng hoặc lớn hơn chi phí cố định

9

P,C,R

C

0

P0

C1

0

MC ATC AVC

S1 S2

Lỗ vốn Một phần chi phí cố định được bù đắp

A B C

H6, Hãng có lợi nhuận âm nhỏ hơn chi phí cố định

Trang 10

VII ĐƯỜNG CUNG TRONG NGẮN HẠN.

1, Đường cung ngắn hạn của hãng cạnh tranh hồn hảo.

Đường cung của hãng cho thấy, hãng sẽ sản xuất sản

lượng nào ở mõi mức giá Như ta đã biết, các hãng CTHH sẽ

tăng sản lượng đến điểm mà ở đĩ giá bằng chi phí cận biên, và

sẽ đĩng cửa nếu giá nhỏ hơn chi phí biến đổi bình quân tối

thiểu Vì thế đường cung ngắn hạn của hãng CTHH là đường

chi phí cận biên MC, phần nằm trên điểm AVCmin

Đường cung ngắn hạn của hãng CTHH dốc lên, do ảnh

hưởng của quy luật hiệu suất giảm dần đối với một hoặc nhiều

yếu tố sản xuất

2, Đường cung ngắn hạn của thị trường CTHH.

Đường cung ngắn hạn của thị trường cho thấy, khối lượng sản phẩm mà nghành sẽ sản xuất trong ngắn hạn ở mỗi mức giá Sản lượng vủa nghành là tổng lượng cung của tất cả các hãng Vì thế đường cung thị trường là tổng chiều ngang đường cung của các hãng

MC P

0

Q

C D

∙ B

P1 P2 P3

ATC AVC

AVCmin

H7, Đường cung ngắn hạn của hãng CTHH

Trang 11

Đường cung ngắn hạn của thị trường thực chất là đường đứt quãng do đường cung thị trường là tổng chiều ngang đường cung của các hãng Mà mỗi hãng bắt đầu cung ứng sản phẩm ở cácmức giá khác nhau Nhưng ta coi nó là đường nét liền vì trên thị trường có rất nhiều hãn cund ứng sản phẩm

Đường cung ngắn hạn của thị trường thoải hơn so với Đường cung ngắn hạn của hãng CTHH

VIII LỰA CHỌN SẢN LƯỢNG VÀ LỢI NHUẬN TRONG DÀI HẠN.

Trong dài hạn hãng có thể thay đổi tất cả các đầu vào.Trong thị trường CTHH hãng có thể tự do gia nhập hoặc rời bỏ nghành mà không có một hạn chế pháp lý hoặc một chi phí đặc biệt nào

Sản luợng tối ưu của hãng CTHH trong dài hạn được xác định theo nguyên tắc: P=LMC.

( Trong lý thuyết xết tại điểm mà đường LMC đang đi lên )

3 trường hợp có thể xảy ra đối với một hãng CTHH trong dài hạn trong việc lựa chọn sản lượng và lợi nhuận

P,C,R

P2

0

Q D2≡MR2

LMC

LAC D1≡MR1 D1≡MR1

P1 P3

11

Trang 12

1, trường hợp 1:

Hãng có lợi nhuận kinh tế dương khi: Đường giá đi qua trên điểm tổng chi phí bình quân tối thiểu trong dài hạn P>LACmin

2, trường hợp 2:

Hãng có lợi nhuận kinh tế bằng 0 khi: Đường giá đi qua điểm tổng chi phí bình quân tối thiểu trong dài hạn P=LACmin

3, trường hợp 3:

Hãng có lợi nhuận kinh tế âm khi: Đường giá đi qua dưới điểm tổng chi phí bình quân tối thiểu trong dài hạn.P<LACmin ,=>Hãng có động cơ rời khỏi thị trường.

IX CÂN BẰNG CẠNH TRANH TRONG DÀI HẠN

Cân bằng dài hạn xảy ra khi tất cả các hãng trong nghành tối đa hoá được lợi nhuận, không có hãng nào gia nhập hoặc rút lui khỏi nghành, vì tất cả các hãng trong nghành thu được lợi nhuận bằng không, giá của sản phẩm ở mức mà lượng cung của nghành bằng lượng cầu của tất cả những người tiêu dùng

X TƯƠNG QUAN LỢI NHUẬN CỦA HÃNG CTHH TRONG NGẮN HẠN VÀ DÀI HẠN.

Khả năng sinh lợi của hãng CTHH trong dài hạn lớn hơn trong ngắn hạn (Do tính cứng nhắc trong ngắn hạn còn trong dài hạn thì hãng có thể thay đổi được cả vốn và lao động )

Trang 13

P

c B

C’

SMC SAC

LMC

LAC

Phần lợi nhuận trong dài hạn lớn hơn trong ngắn hạn

0

F

Đường LMC cắt đường SMC tại mức sản lượng mà đường LAC tiếp xúc với đường SAC

13

Trang 14

B CƠ SỞ THỰC TIỄN.

CTHH là cạnh tranh trong một mô hình kinh tế lý tưởng Những đặc trưng của thị trường CTHH hiếm khi xảy ra đồng thời trong thực tế nên CTHH khó có thể tìm ra một hãng để minh hoạ.Nhóm không lựa chọn một hãng nào mà lựa chọn các hộ nông dân trồng cà phê ở Tây nguyên để minh hoạ cho hãng CTHH vì thị trường cà phê (nông sản ) có nhiều người mua và nhiều người bán độc lập với nhau Các sản phẩm cà phê cùng loại là đồng nhất nên các doanh nghiệp không phải quan tâm đến việc họ mua cà phê từ ai Sản lượng cà phê mà mỗi hộ cung ứng ra thị trường là rất nhỏ nên họ có thể tự do gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường

và không có khả năng tự đặt giá.Thông tin trên thị trường là minh bạch và liên tục

Ngành cà phê nước ta đứng thứ nhì thế giới (chỉ sau Brazin ) với quy mô sản xuất không ngừng được mở rộng Tình hình thị trường trong nước tập trung vào những thay đổi then chốt của nền kinh tế cà phê thế giới, cán cân cung cầu và vận động của giá cả thị trường.Cà phê là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng (niên vụ 2009 -2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 1,7 tỷ USD).Theo Tổng cục Thống kê, trong 10 tháng đầu năm nay, Việt Nam xuất khẩu 980.000 tấn cà phê, trị giá hơn 1,4 tỷ USD, tăng tương ứng 2,7% và 1,5% so với cùng kỳ năm ngoái, thu về 1,4 tỉ đô la

Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: ĐăkLăk, ĐăkNông, Lâm Đồng, Gia Lai và Kon Tum Tổng dân số toàn vùng là 4868,9 triệu (2006), diện tích là 5447 ngàn ha, mật độ dân số 89 người/km2 Với 60 vạn ha đất đỏ Bazan, Tây Nguyên chiếm 40% tiềm năng phát triển cây công nghiệp dài ngày của cả nước, là vùng sản xuất cây công nghiệp lớn nhất của Việt Nam.Trong đó,cây cà phê đóng góp rất lớn vào thành tựu phát triển kinh tế ở đây

Các hộ trồng cà phê có thu nhập chủ yếu từ lợi nhuận của cây cà phê Lợi nhuận này do hai yếu tố năng suất và giá cả quyết định, trong đó yếu tố giá cả rất quan trọng Mọi biến động về giá cả sẽ tác động trực tiếp đến những quyết định sản xuất và giao bán của người dân

Những gì mà các hộ trồng cà phê quan tâm đến là sản lượng, chi phí, lợi nhuận và những biến động về giá cả Các tỉnh Tây Nguyên hiện có trên 452.000ha cà phê, sản lượng mỗi năm đạt từ 950.000 tấn trở lên Ước tính năm nay tổng sản lượng cà phê các

Trang 15

tỉnh Tây Nguyên chỉ đạt khoảng 900.000 tấn, giảm hơn 1,5 triệu ( 1bao=60kg ) bao so với niên vụ 2009 – 2010 Năng suất cà phê giảm bình quân 30%, thậm chí cá biệt có nhà vườn hái 40 cây cà phê chỉ thu được 50kg quả tươi, tương đương 11kg nhân xô.Bà Loan – chủ nhân 1ha cà phê ở Ia Sao – khu vực trọng điểm cà phê của tỉnh Gia Lai, dự kiến năm nay sẽ thu được khoảng 14 tấn quả tươi Thế nhưng rốt cục bà chỉ thu được 10 tấn Sự sụt giảm quá mức dự đoán khiến bà hụt hẫng.Tuy nhiên vườn bà Loan vẫn còn “may” so với nhiều vườn khác Lớp cà phê được trồng từ những năm 1978 sản lượng sụt giảm đến xấp xỉ 30%.Tại Công ty

Cà phê Ia Sao, năng suất bình quân chỉ đạt 8 tấn quả tươi; lô cao nhất cũng chỉ đến 17 tấn Sản lượng trung bình là từ 10tấn quả tươi/ha đến 14 tấn quả tươi/ha tương đương từ 2200kg nhân xô/ha đến 3080kg nhân xô/ha

Cà phê mất mùa nhưng chi phí lại tăng Hầu hết các vườn cây đều phải tưới nước bổ sung đợt 4 Giá vật tư cũng tăng, nhất

là phân vô cơ – tăng từ 20 -30%; công lao động cũng tăng tương tự Năm 2009 giá nhân công ở mức từ 70 000đ/người/ngày-80 000đ/người/ngày Niên vụ năm nay đã tăng mạnh lên tới từ 100000/người/ngày đến 120000đ/người/ngày Ngoài ra người trồng cà phê còn phải chịu thêm chi phí lãi ngân hàng do phương thức bán cà phê chủ yếu của người sản xuất niên vụ này vẫn là ký gửi hàng cho các doanh nghiệp thu mua, tạm ứng trước tiền để chi dùng sau đó cắt giá theo thời điểm.Ông Trần Quang Đính – Giám đốc Công ty Cà phê 331 cho biết: Vào thời điểm hiện tại, công ty đã phải vay ngân hàng với lãi suất thoả thuận là 16,8%/năm Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn phải vay với mức lãi hơn 19% Theo họ, với lãi suất “cắt cổ” như vậy, mỗi tháng mỗi kg cà phê phải tăng giá từ 500 đồng trở lên thì mới “trụ” nổi.Lãi suất cao, gánh nặng người trồng cà phê phải lãnh là chủ yếu bởi doanh nghiệp cũng chỉ đóng vai trò “đi vay để cho vay” Thêm nữa thời hạn cho vay chỉ từ 3 – 4 tháng, doanh nghiệp không có điều kiện găm hàng để chờ giá cao cũng là sự thiệt thòi cho người sản xuất

15

Ngày đăng: 06/09/2013, 17:58

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w