1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Noi dung copy

15 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 47,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề thi trắc nghiệm được dùng trong nhiều trường hợp: Khi số thí sinh rất đông; khi muốn chấm bài nhanh; khi muốn có điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào người chấm bài; khi phải coi

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành ở các kỳ thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, giảng dạy đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học, hoặc để tuyển chọn những người có năng lực vào học một khóa học

Đề thi trắc nghiệm được dùng trong nhiều trường hợp: Khi số thí sinh rất đông; khi muốn chấm bài nhanh; khi muốn có điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào người chấm bài; khi phải coi trọng yếu tố công bằng, vô tư, chính xác; khi muốn kiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng, muốn ngăn nạn học tủ và giảm thiểu sự may rủi

Để phục vụ cho quá trình học tập và giảng dạy của cán bộ, giảng viên, giáo viên các trường Cao Đẳng, Trung cấp, Quân sự quân khu, quân đoàn, chuyên đề trình bày về phương pháp xây dựng đề thi đáp án trắc nghiệm và giới thiệu về tổ chức thi trắc nghiệm trên máy tính

Trang 2

Phần I PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG ĐỀ THI, ĐÁP ÁN TRẮC NGHIỆM

I KHÁI NIỆM ĐỀ THI TRẮC NGHIỆM VÀ CÁC DẠNG CÂU HỎI THI TRẮC NGHIỆM

1 Khái niệm đề thi trắc nghiệm:

- Đề thi trắc nghiệm là một nhóm các câu hỏi đưa ra trong các kỳ thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của người học, trong đó có các phương án trả lời

đã có sẵn để thí sinh lựa chọn hoặc nếu thí sinh phải viết câu trả lời thì câu trả lời phải là câu ngắn và chỉ duy nhất có một cách viết đúng

+ Đề thi trắc nghiệm có nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cấn thiết sao cho thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt cho từng câu

Thông thường đề thi trắc nghiệm gồm có nhiều câu hỏi hơn đề thi tự luận

và mỗi câu hỏi thường có thể được trả lời bằng dấu hiệu đơn giản

+ Bài trắc nghiệm được chấm điểm bằng cách đếm số lần mà người làm trắc nghiệm đã chọn được câu trả lời đúng trong số những câu trả lời đã được cung cấp

+ Bài trắc nghiệm được gọi là khách quan vì hệ thống cho điểm là khách quan chứ không chủ quan như đối với bài trắc nghiệm tự luận

Với loại đề trắc nghiệm, khi đã có sẵn đáp án, việc chấm bài là hoàn toàn khách quan, chính xác, không phụ thuộc vào người chấm, nhất là khi bài được chấm bằng máy Tuy nhiên, cũng không thể nói đề thi trắc nghiệm là tuyệt đối khách quan, vì việc soạn thảo các câu hỏi và định điểm cho các câu hỏi có phần tùy thuộc vào người soạn

- Câu hỏi: Trong hai loại đề thi tự luận và trắc nghiệm, thì sử dụng loại đề thi nào tốt hơn?

Trả lời: Không thể nói loại đề thi nào hoàn toàn tốt hơn, mỗi loại đề thi đều

có các ưu và nhược điểm nhất định Cụ thể:

- Ưu thế của đề thi tự luận

+ Đề thi tự luận có các câu hỏi buộc trả lời theo dạng mở, thí sinh phải tự trình bày ý kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra; thông thường số lượng câu hỏi trong một đề thi tự luận không nhiều Đối với loại đề tự luận, kết quả chấm thi phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan của người chấm; những người chấm cùng một bài thi có thể cho điểm không thống nhất

Để hạn chế mức độ chủ quan đó, người ta cải tiến việc chấm bài tự luận bằng cách đề ra các đáp án có thang điểm rất chi tiết Tuy nhiên nhiều thử nghiệm cho thấy sự thiên lệch của việc chấm bài tự luận thường rất lớn

+ Đề thi tự luận có ưu thế hơn đề thi trắc nghiệm ở những vấn đề sau:

Trang 3

* Ít tốn công sức ra đề

* Đánh giá được khả năng diễn đạt, đặc biệt là diễn đạt tư duy hình tượng

- Đề thi trắc nghiệm có ưu thế hơn đề thi tự luận ở những vấn đề sau:

+ Đề thi phủ kín nội dung môn học

+ Ít may rủi do trúng tủ, lệch tủ

+ Ít tốn công chấm thi

+ Khách quan trong chấm thi

+ Áp dụng được công nghệ mới trong chấm thi và phân tích kết quả

- Các chuyên gia về đánh giá cho rằng:

+ Đề thi tự luận nên dùng trong các trường hợp sau:

* Thí sinh không quá đông;

* Muốn khuyến khích và đánh giá cách diễn đạt;

* Muốn tìm hiểu ý tưởng của thí sinh

* Có thể tin tưởng khả năng chấm bài tự luận của người dạy là chính xác;

* Không có nhiều thời gian soạn đề nhưng có đủ thời gian để chấm bài + Đề thi trắc nghiệm nên dùng trong các trường hợp sau:

* Số thí sinh rất đông;

* Muốn chấm bài nhanh;

* Muốn có điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào người chấm

* Muốn kiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng,

* Ngăn nạn học tủ và giảm thiểu sự may rủi

2 Các dạng câu hỏi trắc nghiệm

a) Câu hỏi đúng – sai

- Câu hỏi đúng - sai là câu hỏi trắc nghiệm đưa ra một nhận định, thí sinh phải lựa chọn một trong 2 phương án trả lời để khẳng định nhận định đó là đúng hay sai

* Câu hỏi: Pháp luật mang tính giai cấp

A Đúng

B Sai

(Đáp án: A)

* Câu hỏi: Ghi Đúng (Đ) hoặc Sai (S) vào ô trống

Nhà nước tồn tại trong tất cả các hình thái kinh tế - xã hội

Đáp án:

Trang 4

Nhà nước tồn tại trong tất cả các hình thái kinh tế - xã hội

b) Câu ghép đôi (ghép hợp, nối cột)

Câu ghép đôi là câu hỏi trắc nghiệm đưa ra yêu cầu thí sinh phải ghép đúng từng cặp nhóm thông tin ở hai cột với nhau sao cho phù hợp về nội dung

Câu hỏi: Hãy tìm ở cột bên phải Nghị định của Chính phủ có nội dung nêu

ở cột bên trái?

1 Quản lý, bảo vệ an ninh, trật tự

tại cửa khẩu cảng biển

2 Quản lý cảng biển và luồng

hàng hải

3 Quản lý cửa khẩu biên giới đất

liền

a Nghị định số 21/2012/NĐ-CP ngày 21-3-2012 của Chính phủ

b Nghị định số 50/2008/NĐ-CP ngày 21-4-2008 của Chính phủ

c Nghị định số 112/2014/NĐ-CP ngày 21-11-2014 của Chính phủ

d Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17-8-2007 của Chính phủ Đáp án: 1b, 2a 3 c

+ Đối với loại câu hỏi ghép đôi, người ta thường cho số yếu tố ở cột bên trái không bằng số yếu tố ở cột bên phải; vì khi yếu tố ở hai phía bằng nhau, thì hai yếu tố cuối cùng sẽ mặc nhiên được ghép với nhau mà không phải lựa chọn + Ở cột bên trái thường có từ 3, 4 yếu tố trở lên

c) Câu điền khuyết

Câu hỏi điền khuyết là câu hỏi trắc nghiệm trong đó có nêu một mệnh đề, nhưng khuyết một hoặc một số nội dung, thí sinh phải nghĩ ra nội dung thích hợp để bổ sung vào chỗ khuyết đó

Câu 1: Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống:

“Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm……của các bên chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật ấy”

Đáp án: quyền và nghĩa vụ pháp lý

Lưu ý: Chỗ trống cần điền phải là những từ, cụm từ quan trọng

d) Câu trả lời ngắn

Câu trả lời ngắn là câu hỏi trắc nghiệm chỉ đòi hỏi trả lời bằng nội dung rất ngắn

Câu hỏi: Hình thức thực hiện pháp luật nào bắt buộc phải có sự tham gia của Nhà nước?

Đáp án: Áp dụng pháp luật

Trang 5

Lưu ý: Đáp án của câu trả lời ngắn thường là nội dung cốt lõi, trọng tâm hoặc thuật ngữ bắt buộc thí sinh phải nhớ

e) Câu nhiều lựa chọn

- Câu nhiều lựa chọn là loại câu trắc nghiệm đưa ra những thông tin cần thiết và nhiều phương án trả lời, thí sinh phải chọn để đánh dấu vào một phương

án đúng

Câu hỏi: Hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa là:

A Tập quán pháp

B Tiền lệ pháp

C Văn bản quy phạm pháp luật

D Văn bản pháp luật

Đáp án: C

Câu hỏi: C chết, di sản thừa kế là 600 triệu đồng, không để lại di chúc Những người thân còn sống gồm: Bình (cha ruột), Minh (mẹ ruột), Nam (cha nuôi), Hoa (vợ), Hải (anh ruột), Mận (chị ruột), Thắng (con ruột) Số tiền được hưởng của mỗi người thừa kế theo pháp luật là:

A 120 triệu đồng

B 85,7 triệu đồng

C 300 triệu đồng

D 150 triệu đồng

Đáp án: A

- Câu nhiều lựa chọn có hai phần: phần đầu được gọi là phần dẫn, phần sau

là các phương án để chọn

+ Phần dẫn (hay còn gọi là phần gốc) nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu một câu hỏi

+ Các phương án được lựa chọn, thường được đánh dấu bằng chữ cái A, B,

C, D… Trong các phương án để chọn chỉ có duy nhất một phương án đúng Các phương án khác được đưa vào có tác dụng “gây nhiễu” đối với thí sinh

* Lưu ý: Cũng có thể xây dựng câu trắc nghiệm có nhiều phương án đúng

- Nếu thí sinh đánh dấu hú họa để trả lời câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa

chọn với n phương án trả lời thì xác xuất làm đúng là 1/n.

- Loại câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn thường dùng nhất là loại có 4 hoặc 5 phương án trả lời vì số phương án như vậy vừa đủ để giảm xác xuất làm đúng xuống còn 25%, 20%, đồng thời cũng không quá phức tạp, khó xây dựng

- Trong các kiểu câu trắc nghiệm, kiểu câu nhiều lựa chọn được sử dụng phổ biến nhất

Trang 6

II PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CỦA ĐỀ THI TRẮC NGHIỆM

1 Phương pháp xây dựng câu hỏi trắc nghiệm

Trong phần này chỉ trình bày phương pháp xây dựng câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn

a) Cách viết các phần của câu hỏi

- Cách viết phần câu dẫn:

+ Có thể dùng một câu hỏi hay câu nhận định không đầy đủ (câu bỏ lửng)

làm câu dẫn

Ví dụ:

* Hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa là hình thức nào?

* Hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa là:

+ Đưa ra các thông tin, sau đó đặt một câu hỏi hoặc một câu bỏ lửng

Ví dụ: C chết, di sản thừa kế là 600 triệu đồng, không để lại di chúc Những người thân còn sống gồm: Bình (cha ruột), Minh (mẹ ruột), Nam (cha nuôi), Hoa (vợ), Hải (anh ruột), Mận (chị ruột), Thắng (con ruột) Số tiền được hưởng của mỗi người thừa kế theo pháp luật là:

Lưu ý:

+ Phần câu dẫn phải ngắn gọn, rõ ràng (không nên đưa quá nhiều tư liệu vào câu dẫn)

+ Tránh sử dụng câu dẫn mang tính phủ định Tuy nhiên, nếu đưa câu phủ định vào câu dẫn thì cần gạch dưới (hoặc in nghiêng) chữ “không” để nhấn mạnh

- Cách viết các phương án trả lời:

+ Các phương án trả lời cần được viết theo cùng một văn phong và tương đương với nhau về độ dài

Ví dụ:

* Với phần dẫn: Hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa là:

Ta viết phần các phương án trả lời như sau:

A Tập quán pháp

B Tiền lệ pháp

C Văn bản quy phạm pháp luật

D Văn bản pháp luật

+ Lưu ý:

* Phương án đúng không được gây tranh cãi

Trang 7

* Phương án đúng phải được đặt ở vị trí ngẫu nhiên.

* Không nên xây dựng các phương án nhiễu quá giống nhau, làm cho phương án đúng trở nên nổi bật; các phương án “nhiễu” cần diễn đạt sao cho có

vẻ hợp lý và có sức hấp dẫn như nhau

Ví dụ: Xây dựng phương án nhiễu cho câu hỏi về thừa kế nêu trên

600 triệu : 7 = 87, 5 (những người thừa kế: Cha và mẹ ruột, cha nuôi, vợ, anh, chị và con 14 tuổi)

600 triệu : 2 = 300 triệu (những người thừa kế: vợ và con)

600 triệu : 4 = 150 triệu (những người thừa kế: Cha và mẹ ruột, vợ và con) b) Trình tự xây dựng câu hỏi

- Xác định chủ đề (ý tưởng) của câu hỏi

Ví dụ: Hình thức của pháp luật xã hội chủ nghĩa

- Viết phần câu dẫn dưới dạng một câu hỏi hoặc một câu bỏ lửng

Ví dụ:

+ Hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa là hình thức nào?

+ Hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa là:

- Viết phương án lựa chọn đúng

Ví dụ: Văn bản quy phạm pháp luật

- Viết các phương án nhiễu:

Ví dụ:

+ Tập quán pháp

+ Tiền lệ pháp

+ Văn bản pháp luật

- Sắp xếp các phương án trả lời theo thứ tự ngẫu nhiên

Ví dụ:

A Tập quán pháp

B Tiền lệ pháp

C Văn bản quy phạm pháp luật

D Văn bản pháp luật

- Viết phần đáp án

+ Cách 1: Câu lựa chọn dùng làm đáp án thì gạch chân

Ví dụ:

Hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa là:

Trang 8

A Tập quán pháp

B Tiền lệ pháp

C Văn bản quy phạm pháp luật

D Văn bản pháp luật

Cách 2: Ghi rõ phương án đúng

Ví dụ: Đáp án C

- Hoàn thiện câu hỏi trắc nghiệm

+ Cần “gọt dũa” về văn từ, cú pháp và logic của câu hỏi để đảm bảo cho câu hỏi trắc nghiệm gọn, rõ ràng, hợp logic và không gây hiểu lầm

+ Tham khảo ý kiến của đồng nghiệp để đánh giá chất lượng của câu hỏi; phát hiện ra câu có chất lượng tốt, câu chưa đảm bảo yêu cầu môn học, câu không có phương án nào đúng, câu có phương án nhiễu chưa hợp lý để từ đó đưa vào sử dụng hoặc chỉnh sửa, loại bỏ

+ Kỹ thuật trình bày:

* Đánh số câu hỏi:

Câu n: Ví dụ Câu 1:

Câu n) Ví dụ Câu 1)

Câu n Ví dụ Câu 1

* Phần các lựa chọn nhập theo dạng

A <lựa chọn 1>

B <lựa chọn 2>

C <lựa chọn 3>

D <lựa chọn 4>

Có thể trình bày các lựa chọn trên cùng 1 hàng hoặc nhiều hàng đều được nhưng A, B, C, D phải theo thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới

Dấu chấm (.) sát với các ký hiệu A, B, C, D (thống nhất dùng chữ in hoa)

2 Đánh giá chất lượng của đề thi trắc nghiệm

Chất lượng của các câu trắc nghiệm và của đề thi trắc nghiệm được đánh giá dựa trên các đại lượng cơ bản; các đại lượng này được tính toán cụ thể (trong phạm vi của bài giảng sẽ không trình bày cách tính toán này)

a) Độ khó

Khi nói đến độ khó, phải xem câu trắc nghiệm là khó đối với đối tượng nào Nhờ việc thử nghiệm trên các đối tượng thí sinh phù hợp, người ta có thể đo độ khó dựa trên tỷ số phần trăm thí sinh làm đúng câu trắc nghiệm đó trên tổng số thí sinh dự thi

Trang 9

b) Độ phân biệt

- Khi ra một câu hoặc một bài trắc nghiệm cho một nhóm thí sinh nào đó, người ta thường muốn phân biệt trong nhóm ấy những người có năng lực khác nhau: giỏi, trung bình, kém, … Khả năng của câu trắc nghiệm thực hiện được phân biệt ấy được gọi là độ phân biệt

- Độ phân biệt của một câu hoặc một bài trắc nghiệm liên quan đến độ khó + Nếu một bài trắc nghiệm dễ đến mức mọi thí sinh đều làm tốt, các điểm

số đạt được chụm ở phần điểm cao, thì độ phân biệt của nó rất kém

+ Nếu một bài trắc nghiệm khó đến mức mọi thí sinh đều làm không được, các điểm số đạt được chụm ở phần điểm thấp, thì độ phân biệt của nó cũng rất kém

+ Muốn có độ phân biệt tốt thì bài trắc nghiệm phải có độ khó ở mức trung bình

Có hai đại lượng đặc trưng khác hẳn với cả một bài trắc nghiệm chứ không phải chỉ với từng câu hỏi, rất quan trọng để đánh giá chất lượng của bài trắc nghiệm: độ tin cậy và độ giá trị của bài trắc nghiệm

c) Độ tin cậy

- Trắc nghiệm là một phép đo: dùng thước đo là đề thi trắc nghiệm để đo lường một năng lực nào đó của thí sinh

+ Độ tin cậy của đề thi trắc nghiệm chính là đại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo nhờ đề thi trắc nghiệm Khoa học thống kê cho nhiều phương pháp để tính độ tin cậy của một bài trắc nghiệm

d) Độ giá trị:

Độ giá trị của đề thi trắc nghiệm là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mục tiêu đề ra khi xây dựng đề thi trắc nghiệm

- Với tư cách là một phép đo lường trong giáo dục, yêu cầu quan trọng nhất của đề thi trắc nghiệm là đo được cái cần đo Nói cách khác phép đo ấy cần phải đạt được mục tiêu đề ra cho nó

Cụ thể: Mục tiêu đề ra cho tuyển sinh đại học là kiểm tra xem thí sinh có nắm chắc những kiến thức và kỹ năng cơ bản được trang bị qua chương trình phổ thông trung học hay không để chọn vào đại học Phép đo bởi đề thi trắc nghiệm đạt được mục tiêu đó là phép đo giá trị

- Để đề thi trắc nghiệm có độ giá trị cao, cần phải xác định mục tiêu tỉ mỉ cần đo qua đề thi trắc nghiệm và bám sát quá trình đó trong quá trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

- Khi bài trắc nghiệm không có độ tin cậy thì nó cũng không có độ giá trị

Trang 10

Độ tin cậy và độ giá trị của đề thi trắc nghiệm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Khi bài trắc nghiệm không có độ tin cậy, tức là phép đo nhờ bài trắc nghiệm rất kém chính xác, thì chúng ta không thể nói đến độ giá trị của nó

- Câu hỏi: Một đề thi trắc nghiệm có độ tin cậy cao thì có nhất thiết là có độ giá trị cao hay không?

Trả lời: Không nhất thiết; vì: Đôi khi phép đo nhờ bài trắc nghiệm có thể đo chính xác, nhưng nó đo một cái gì khác chứ không phải cái cần đo, trong trường hợp đó thì bài trắc nghiệm có độ tin cậy cao nhưng độ giá trị thấp

Ví dụ: Trong kỳ thi tuyển sinh đại học Mục tiêu của chúng ta thông qua kỳ thi để xác định được năng lực của học sinh thu nhận được qua quá trình học trung học phổ thông để lựa chọn những học sinh vào học tốt chương trình đại học

Tuy nhiên, cách thức thi, đặc biệt cách ra đề thi không thích hợp sẽ không đảm bảo cho kỳ thi đạt được muc tiêu đó Chẳng hạn, nếu trong đề thi có những bài tập rất khó, nhiều mẹo làm bài tập, sẽ dẫn đến:

Có nhiều học sinh phổ thông trung học dù nắm vững kiến thức phổ thông cũng không thể làm kịp trong một thời gian ngắn

Các thí sinh đã qua nhiều lớp luyện thi được huấn luyện để có kỹ năng thành thạo làm các dạng bài tập kiểu đó mới làm kịp Họ là người có khả năng đạt điểm cao và được tuyển chọn

Qua kỳ thi, chúng ta sẽ chọn được những anh thợ làm bài tập giỏi chứ không phải những học sinh có năng lực nắm vững chương trình phổ thông trung học, đặc biệt là những học sinh ở nông thôn không có điều kiện luyện thi

Kỹ năng làm bài tập của những anh “thợ làm bài tập” chưa chắc đã cần cho quá trình học đại học Như vậy, có thể kỳ thi của chúng ta đo chính xác, nhưng

đo một kỹ năng khác chứ không phải năng lực mà chúng ta cần đo

Phần II THI, KIỂM TRA BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM

TRÊN MÁY TÍNH

Phần này chỉ giới thiệu về thi, kiểm tra bằng phương pháp trắc nghiệm trên máy tính ở Học Viện Biên phòng

I CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CHO VIỆC TỔ CHỨC THI, KIỂM TRA BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM TRÊN MÁY TÍNH

1 Ban hành kế hoạch xây dựng ngân hàng đề thi trắc nghiệm

Ngày 16 tháng 9 năm 2015, Giám đốc Học viện Biên phòng ban hành Kế hoạch số 1582/KH-HVBP về xây dựng ngân hàng đề thi trắc nghiệm

Mục đích của việc xây dựng ngân hàng đề thi trắc nghiệm là để sử dụng cho việc thi học phần bằng phương pháp trắc nghiệm trên máy tính, qua đó nâng

Ngày đăng: 29/07/2019, 08:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w