chuyên đề môn học
Trang 1Phần mở đầui.Lời mở đầu
Ngành du lịch trên thế giới đang ngày càng phát triển và trở thành một trong những ngành công nghiệp hấp dẫn bậc nhất tại các quốc gia trên thế giới Trong đó
du lịch biển luôn được 70% số lượng du khách ưu tiên cho chuyến đi nghỉ ngơi thư giản của mình Với các quốc gia lạnh giá quanh năm, thì việc được thả mình tắm nắng trên một bãi biển tràn ngập ánh nắng, biển xanh, cát trắng như TP Nha Trang thì quả thật là thiên đường Việt Nam là quốc gia có rất nhiều các tỉnh thành giáp với biển Đông, một điều kiện thuận lợi và tiên quyết trong việc phát triển ngành du lịch nghỉ biển Việc khai thác tốt du lịch biển, đảo không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội mà còn là chiến lược đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước
Nha Trang là thành phố ven biển đã có những đóng góp rất lớn vào sự phát triển du lịch quốc gia, được đánh giá là bãi biển đẹp nhất nước và đem lại nguồn thu lớn cho GDP của tỉnh Khánh Hòa và của Việt Na Vì vậy mà việc làm sao để du lịch biển Nha Trang phát triển trở thành một ngành kinh tế quan trọng và bền vững, đảm bảo nhu cầu của quốc gia nhưng vẫn giữ vững được những nét đẹp rạng rỡ cho con cháu đời sau cùng được thụ hưởng Đó là nhờ vào sự tâm huyết và trách nhiệm của lãnh đạo thành phố nói riêng và tỉnh Khánh Hòa nói chung, đặc biệt là sự chung tay đóng góp của mỗi công dân đang sống và làm việc tại Nha Trang,
ii.Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Ngày nay, cả thế giới đang phải đối mặt với những vấn nạn liên quan đến môi trường sống, tình trạng ô nhiễm, thiếu nguồn nước sạch, môi trường sống thu hẹp, rừng cây bị tàn phá con người ngày càng phát triển, đổi lại là môi trường xanh ngày càng mất đi
Ngành công nghiệp du lịch từng được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói, ngành kinh doanh dịch vụ cung ứng cho các thượng đế và ít tạo ra chất thải công nghiệp cho môi trường , tuy nhiên nó đang ngày càng đi xa khỏi những gì mà chúng ta từng nghĩ Ngày nay du lịch không còn được 100% số người hưởng ứng là
1
Trang 2ngành công nghiệp không khói nữa vì những tác hại của nó đến với môi trường, du lịch đã góp phần nhiều vào ô nhiễm không khí khi đi du khách di chuyển bằng các phương tiện như máy bay, tàu xe, tàu thuyền du lịch….,sản xuất sản phẩm du lịch cũng mang lại khí carbon khá cao! Đó là chưa kể tổn hại môi sinh do rác thải của khách du lịch đưa vào thiên nhiên, phá hủy môi trường để làm các khu du lịch, săn bắt thú vv Vậy làm sao để có thể phát triển một ngành du lịch sạch hơn, đảm bảo các giá trị được bảo tồn nguyên vẹn cho các thế hệ mai sau Đó là lý do mà đề tài du lịch biển bền vững TP Nha Trang được đưa ra nghiên cứu trong chuyên đề này.
iii.Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Bài nghiên cứu nhằm tìm hiểu về hoạt động du lịch biển tại thành phố Nha Trang, phân tích thực trạng các giá trị du lịch đây và đưa ra các giải pháp để phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang
iv.Ý nghĩa của nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học: đề tài hệ thống lại các thông tin có giá trị cho việc tìm hiểu, phân tích quá trình hoạt động phát triển du lịch biển của thành phố Nha Trang, đưa ra cái nhìn tổng quát hơn về sự tăng trưởng và phát triển của TP Nha Trang
Ý nghĩa thực tiễn: đưa ra các giải pháp và kiến nghị cá nhân để giúp cho Nha Trang có thể vừa phát triển du lịch phục vụ nhu cầu của du khách, vừa bảo đảm tính bền vững cho môi trường hoạt động du lịch biển Nha Trang
v.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Sự phát triển du lịch biển tại thành phố Nha Trang trong những năm 2000-2012
vi.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập các dữ liệu thứ cấp:
Bài nghiên cứu thu thập các dữ liệu, thông tin về Đại Nam, các báo cáo về tình hình hoạt động của khu du lịch Đại Nam để đưa ra cái nhìn tổng quát về hoạt động kinh doanh của Đại Nam trong thời gian qua
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
2
Trang 3Lập bảng khảo sát mức độ hài lòng của du khách đối với một sản phẩm dịch
vụ nhỏ trong những sản phẩm du lịch biển của thành phố Nha Trang, đối tượng là
100 sinh viên đại học Công Nghiệp đã từng tham gia tour này để thu thập một vài dữ liệu sơ cấp cần thiết cho việc nghiên cứu
Trang 4Nội dung Chương I: Cơ sở lý luận về du lịch biển bền vững
1.1 Du lịch biển
1.1.1 Tìm hiểu về du lịch
Khái niệm du lịch đã bắt đầu được biết đến từ trước Công nguyên, tuy nhiên cho đến thế kỷ thứ 19, người ta mới bắt đầu biết đến du lịch một cách rộng rãi và rõ ràng hơn, và người đã đặt nền móng đầu tiên cho ngành công nghiệp du lịch đó chính là Thomas Cook Thomas Cook (22/11/1808 - 18/7/1892, người Anh) được lịch sử ngành du lịch vinh danh với tư cách là ông tổ của ngành lữ hành, người sáng lập ra Thomas Cook Travel Inc - công ty du lịch lữ hành đầu tiên trên thế giới Vào năm 1841Thomas Cook tổ chức cho 570 người đi từ Leicester tới Longborough bằng tàu hoả để tham gia một cuộc biểu tình chống uống rượu Ông đã liên lạc với hãng tàu hoả để có giá vé giảm đặc biệt, cung cấp thực phẩm và nước uống trên tàu,
tổ chức sắp xếp cho 570 người ở Longborough - đó là những hoạt động thể hiện bản chất của ngành lữ hành hiện đại
Với tài năng và sự sáng tạo của mình, Thomas Cook đã biến du lịch trở thành một ngành công nghiệp mới của thời đại.Hậu thế vẫn còn phải nghiêng mình thán phục Thomas Cook, bởi ông là người đầu tiên nghĩ ra rất nhiều loại hình dịch vụ chính của ngành lữ hành, mà đến tận ngày nay các loại hình này vẫn còn hoạt động
và sinh lời một cách hiệu quả
Du lịch ngày càng phát triển, các loại hình du lịch không chỉ còn bó hẹp trong một phạm vi, mà bắt đầu mở rộng với nhiều loại hình du lịch khác nhau và ngày càng phức tạp hơn trong việc định nghĩa một cách chính xác về du lịch hiện đại Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc cho rằng Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi
4
Trang 5trường sống định cư; nhưng loại trừ các chuyến du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư Họ đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “ Du lịch (tourism) là những hoạt động của người đi du hành đến và lưu trú tại nơi ngoài môi trường thường xuyên của họ trong thời gian liên tục không quá 1 năm để nghỉ ngơi, kinh doanh và các mục đích khác.”
Ở Việt Nam, du lịch được hình thành và phát triển đã hơn 40 năm, nhưng chỉ mới thật sự diễn ra sôi động từ thập niên 90 gắn liền với chính sách mở cửa và hội nhập của Đảng và Nhà Nước Các khái niệm liên quan đến du lịch cũng đã được Nhà nước quy định rõ trong các văn bản pháp luật được ban hành
Theo Pháp lệnh Du lịch, 2/1999 do Quốc hội Việt Nam ban hành thì: “Du lịch
là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”
Theo TS Nguyễn Văn Hóa, trưởng khoa Thương mại – Du lịch Đại học Công Nghiệp TP.HCM thì du lịch được định nghĩa như sau:“ Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú của các cá thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với thời gian không quá 1 năm với mục đích hòa bình, nơi đến cư trú không phải là nơi đến làm việc.”
Và còn rất nhiều những định nghĩa khác đang được các nhà nghiên cứu tìm hiểu để đưa ra một định nghĩa chính xác hơn, phù hợp với sự phát triển của ngành công nghiệp du lịch
1.1.2 Du lịch biển
Việt Nam của chúng ta có bờ đường biển dài trên 3.260 km, hơn 1 triệu km2 diện tích mặt nước biển và trên 2773 đảo ven bờ cùng hàng loạt những bãi tắm cát trắng, nước trong xanh trải dài ven biển, là những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy du lịch biển, đảo của Việt Nam phát triển Dọc theo bờ biển Việt Nam đã có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc phát triển du lịch tiêu biểu như: Sầm Sơn (Thanh Hoá), Cửa Lò (Nghệ An), Thiên Cầm (Hà Tĩnh), Nhật Lệ (Quảng Bình), Cửa Tùng, Cửa
5
Trang 6Việt (Quảng Trị), Thuận An, Lăng Cô (Huế), Nha Trang, Vũng Tàu trên 30 bãi biển được đầu tư, khai thác Có thể thấy, du lịch biển, đảo đang trở thành một chiến lược phát triển của ngành du lịch Việt Nam trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài Vậy thì chúng ta đã hiểu được gì về du lịch biển, mặc dù hiện nay du lịch biển đảo của Việt Nam chiếm khoảng 70% trong hoạt động của ngành du lịch, nhưng chưa có một khái niệm chính thức nào được đưa ra cho ngành du lịch đặc trưng này.
Từ một vài các định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu tạm hiểu “Du lịch biển là các hoạt động di chuyển của con người ra khỏi nơi cư trú đến một địa điểm có tài nguyên biển để thực hiện các mục đích của mình như tham quan, vui chơi, giải trí, tại biển hay khám phá, , học hỏi về biển và sinh thái biển , trong một khoảng thời gian nhất định.”
1.2 Khái niệm cơ bản về du lịch bền vững
6
Trang 7Trái Đất nữa mới có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai cho nông nghiệp, rừng và chăn nuôi Nghiên cứu mới nhất của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) cho biết mỗi năm thế giới mất tới 13 triệu hécta rừng nhiệt đới, tương đương diện tích của Hy Lạp
Môi trường ô nhiễm, nguồn tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, con người đang mất dần những nguồn sống tự nhiên, để lại cho con cháu một thế giới đầy ô nhiễm,
và sự đe dọa từ các dịch bệnh.Với tốc độ phát triển như hiện nay, chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ phải đối diện với sự diệt vong Sự phát triển của xã hội văn minh được đánh đổi bằng thiên nhiên sẽ không phải là một sự phát triển bền vững, bởi nó sẽ hủy hoại sự sống của chúng ta trong tương lai
1.2.2 Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là xu hướng tất yếu của toàn cầu, phát triển phải gắn với bền vững vì nếu chỉ phát triển là chưa đủ Phát triển bền vững là phát triển để cải thiện nâng cao sức khỏe cộng đồng và phúc lợi xã hội Phát triển bền vững là tạo sự công bằng xã hội, công bằng giữa các thế hệ đi trước, đương đại và đi sau
Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới(IUNC/80) đưa ra quan điểm “ phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác của nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các
kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn, đan xen nhau”
Sự bền vững nói chung có ý nghĩa là sự hiện hữu của những điều kiện về sinh thái học cần thiết để hỗ trợ cho cuộc sống của con người ở mức độ đặc trưng nào đó
về tình trạng vững mạnh cho những thế hệ mai sau Nó bao gồm:
+ Không dùng những tài nguyên không có khả năng khôi phục nhanh, tốc độ tìm ra những thay thế có khả năng khôi phục
+ Không dùng những tài nguyên với khả năng khôi phục chậm hơn tốc độ chúng có thể được bổ sung
+ Không thải chất gây ô nhiễm nhanh hơn tốc độ bầu sinh quyển tự tiến triển sang vô hại
Việc phát triển bền vững cũng phải tuân theo những nguyên tắc riêng, 4 nguyên tắc của phát triển bền vững là: phát triển, lâu dài, công minh và đạo đức
7
Trang 8- Phát triển
Nguyên tắc này phát triển để đạt mục tiêu chính yếu là thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của cộng đồng địa phương Điều đó có nghĩa là để phát triển thì phải gắn với xã hội, nếu không gắn với xã hội thì chỉ là tăng trưởng chứ không phát triển
- Lâu dài – đảm bảo, bảo vệ nguồn sống lâu dài
Nguyên tắc này nhấn mạnh là “sự phát triển” và môi trường phải tương hợp, giữ gìn, bảo vệ lâu dài những nguồn sống và tôn trọng sức chịu đựng của môi trường sinh thái
- Công minh
Nguyên tắc này đòi hỏi phải có sự hợp lý, sự cân bằng trong việc sử dụng những nguồn tài nguyên tự nhiên nói chung, đảm bảo giữa hiện tại và tương lai
- Đạo đức - không xâm phạm văn hóa, giá trị văn hóa, xã hội, đạo đức của các dân tộc
Nguyên tắc này hỗ trợ phát triển bền vững, không làm thay đổi các giá trị, thái
độ và những hành vi Thiết lập – đề ra các chính sách, kinh tế xã hội, môi trường, kể
cả các hành vi của người dân nói chung
1.2.3 Du lịch bền vững
Du lịch thế giới đang ngày càng phát triển, và diện mạo đang ngày càng thay đổi, đa dạng hơn, phức tạp hơn và cũng gây ảnh hưởng đến môi trường xuang quanh nhiều hơn nếu nó không được không được kiểm soát, và thể hiện sự không tôn trọng đối với môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội.“Tính bền vững của sự phát triển du lịch được thừa nhận là tính chất để có các biện pháp phù hợp mang tính vĩnh cửu, cân bằng và nhân bản hơn của xã hội.”
Phát triển bền vững là mục tiêu lâu dài đối với ngành du lịch, hướng đến tinh thần trách nhiệm của con người đối với thiên nhiên sau khi đã sử dụng thiên nhiên
để phục vụ cho lợi ích trước mắt của mình
Một số các định nghĩa về du lịch bền vững như sau:
“Du lịch bền vững là đáp ứng các nhu cầu về du lịch hiện tại không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai Điều này được thực hiện
8
Trang 9bằng cách điều chỉnh mức độ sử dụng tài nguyên du lịch trong giới hạn của khả năng tái sinh là tăng trưởng tự nhiên của chúng”
Hội đồng thế giới về tham quan và du lịch(WTTC), tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) và Hội đồng về Trái đất(CT) năm 1999 đã đưa ra định nghĩa về du lịch bền vững : “Là loại du lịch đáp ứng được nhu cầu hiện tại của du khách và của những vùng đón tiếp, mà vẫn đảm bảo và cải thiện nguồn lực trong tương lai Du lịch bền vững dẫn tới một phương thức quản lý tất cả các nguồn lực, sao cho thỏa mãn nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ mà vẫn giữ gìn được sự trọn vẹn của văn hóa và môi trường sống.”
Việc phát triển du lịch bền vững phải đạt bốn mục đích chủ yếu là:
- Phát triển du lịch bền vững nhằm tối ưu hóa các lợi ích kinh tế xã hội
- Phát triển du lịch bền vững là để bảo tồn môi trường tài nguyên thiên nhiên, văn hóa xã hội và khai thác có hiệu quả các tài nguyên này
- Phát triển du lịch bền vững là để bảo vệ các giá trị văn hóa bản địa truyền thống và khai thác tốt các giá trị này
- Phát triển du lịch bền vững đảm bảo chia sẻ lợi ích kinh tế một cách công bằng cho cộng đồng dân cư và sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương trong hoạt động du lịch
- Phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương, hoạt động chỉ có thể thực hiện được với sự chấp thuận và cung cấp của họ, có sự giám sát với mức độ nhất định của địa phương
9
Trang 10- Đảm bảo tính công bằng, kể cả trong ý nghĩ Chẳng hạn như ý kiến phân phối hợp lý lợi tức và chi phí giữa nhà tổ chức du lịch với những người chủ và địa phương không chỉ hiện tại mà cả tương lai.
- Được hoạch định và quản lý trong mối quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường tự nhiên cho thế hệ tương lai
- Được hoạch định trong mối quan hệ thống nhất với các lĩnh vực kinh tế khác
- Được đánh giá đặt trên nền tảng đang tiến triển, đánh giá những mặt tác động
và cho phép hành động nhằm ngăn chặn bất cứ những tác động tiêu cực nào
Bản so sánh đặc trưng của phát triển du lịch bền vững và du lịch riêng lẻ, đại chúng, kém bền vững:
Phát triển du lịch bền vững Phát triển du lịch riêng lẻ, du lịch đại
chúng, kém bền vững
- Dựa vào thị trường mục tiêu để sử
dụng và khai thác tài nguyên du lịch,
phát triển sản phẩm
- Tài nguyên du lịch được khai thác
nhưng vẫn được bảo tồn, môi trường
được bảo vệ và chất lượng được nâng
cao
- Làm hài lòng du khách, mang lại lợi
ích cho địa phương
- Giáo dục về môi trường cho cả nhân
- Dựa vào tài nguyên du lịch để lôi kéo
và để làm hài lòng du khách và mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và ngành
du lịch
- Phát triển các loại hình du lịch riêng
lẻ không mang tính bền vững
10
Trang 11Đảm bảo thực hiện các nguyên tắc về phát triển bền vững sẽ mang đến nhiều lợi ích cho tương lai, xã hội và cho bản thân chúng ta Đây là những nguyên tắc rất quan trọng mà chúng ta cần phải nắm vững để không mắc phải sai lầm trong quá trình phát triển du lịch ở bất cứ một địa phương nào.
1.2.5 Cơ sở để đánh giá sự phát triển du lịch bền vững
Cơ sở để đánh giá sự phát triển bền vững là những tiêu chuẩn hoặc yếu tố đó
để đánh giá quá trình hoạt động, để so sánh về mặt không gian và thời gian ở phạm
vi vĩ mô hoặc vi mô của một chủ thể kinh tế - xã hội
Các tiêu chuẩn hoặc yếu tố dùng làm cơ sở để đánh giá sự phát triển bền vững gồm: kinh tế, xã hội, con người và môi trường
Được xem là phát triển về mặt kinh tế là giá trị của GDP hoặc GNP, mức độ và quy mô duy trì có khoản viện trợ từ các nước phát triển đối với các nước đang phát triển sự công bằng trong mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới Tiêu chuẩn đánh giá là:
+ Mức tăng trưởng kinh tế do quá trình phát triển đem lại
+ Mức đóng góp cho phát triển kinh tế địa phương
+ Sự phát triển phù hợp với mục tiêu đề ra trong quy hoạch phát triển kinh
tế xã hội của quốc gia và địa phương…
Nếu được đánh giá là phát triển bền vững thì đòi hỏi phải có sự công bằng về quyền lợi xã hội thể hiện ở các chính sách xã hội như: chính sách giáo dục, chính sách trợ cấp, chính sách thuế…nhằm tạo công ăn việc làm nâng cao trình độ dân trí,
11
Trang 12thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, con người có thói quen và phong cách sống không tác hại đến môi trường, xác lập những tập tục mới, nâng cao chất lượng cuộc sống…Tiêu chuẩn đánh giá là:
+ Khai thác hợp lý các giá trị văn hóa
+ Giáo dục và xây dựng kế hoạch phục hồi và phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc
Cùng với 2 tiêu chuẩn trên, đánh giá sự phát triển bền vững về môi truờng thể hiện ở: ý thức bảo vệ cảnh quan và môi trường của mỗi người dân trong xã hội, nguồn vốn mà xã hội dành cho việc bảo vệ môi trường, sự kiểm soát của chính quyền về mặt kinh tế xã hội có tác động đến môi trường, chất lượng của các thành phần thuộc về môi trường như sinh thái, không khí, nước, đất….Tiêu chuẩn đánh giá
là :
+ Mức độ khai thác và bảo vệ tài nguyên
+ Sức chứa của khu vực phát triển, mật độ phát triển cho phép
+ Quản lý môi trường của những hoạt động phát triển, quản lý chất thải
+ Bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái bằng việc giáo dục nâng cao nhận thức tôn trọng, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái cho các địa phương tham gia vào hoạt động phát triển
Các tiêu chuẩn dùng làm cơ sở để đánh giá sự phát triển bền vững ở trên có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc định lượng và định tính được những hoạt động phát triển của quốc gia, địa phương và từng doanh nghiệp như:
+ Giúp các nhà hoạch định chiến lược và đề ra chính sách xác định nhiệm vụ mục tiêu phát triển bền vững
12
Trang 13+ Đưa ra các quyết định, chương trình hoạt động để đạt được nhiệm vụ và mục tiêu phát triển bền vững.
Dựa vào các tiêu chuẩn trên chúng ta rút ra được một số các tiêu chuẩn chính yếu để đánh giá sự phát triển bền vững của một địa điểm du lịch bao gồm:
+ Số lượng các khu du kịch, điểm du lịch được bảo vệ và tôn tạo
+ Áp lực lên môi trường tại các điểm du lịch
+ Tác động xã hội từ điểm du lịch
+ Quá trình thực hiện quy hoạch
+ Sự hài lòng của du khách và cộng đồng địa phương
+ Mức độ đóng góp của du lịch vào sự phát triển của kinh tế địa phương
+ Đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch theo hướng phát triển bền vững
+ Tuyên truyền quảng bá để nâng cao nhận thức của du khách và dân cư địa phương về phát triển du lịch bền vững…
1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững của các nước
Nhiều quốc gia đã xác định phát triển du lịch bền vững là xu hướng phát triển nhanh chóng trong tương lai Phát triển du lịch bền vững cần phải gắn liền với lợi ích kinh tế và xã hội, biểu hiện là phải tối ưu hóa thu nhập cho nhà nước và tối ưu hóa thu nhập cho cộng đồng, giúp phát triển kinh tế xã hội một cách hợp lý
Chính phủ tăng thu nhập từ lợi nhuận của các hoạt động du lịch bằng việc ban hành các chính sách chế độ như: phí báo thuế người sử dụng, chính sách thuế, các chương trình tài trợ Cộng đồng địa phương có thu nhập bằng việc: thuê người dân
13
Trang 14địa phương làm các nghề dịch vụ liên quan đến du lịch, khuyến khích sản xuất và sử dụng các sản phẩm do địa phương sản xuất thu nhập từ hoạt động du lịch.
Điển hình như vườn quốc gia KHAO YAI, Bangkok – Thái Lan Chính phủ có thể giảm thuế hoặc miễn thuế trong một thời gian nhất định Giao đất cho tư nhân với mục đích du lịch dưới sự quản lý của nhà nước, với điều kiện là phải duy trì trạng thái tự nhiên Giảm thuế cho các khu đất được dùng cho các dự án du lịch sinh thái bảo tồn, miễn thuế và thuế hàng hóa, được vay các khoản với lãi suất thấp
Có nhiều dẫn chứng về sự thành công của phát triển du lịch bền vững với sự tham gia của cộng đồng, có thể dẫn chứng kinh nghiệm của các nước như:
Chính phủ Uganda cho phép chính quyền tại khu vực sinh thái rừng Budongo lập quỹ phát triển cộng đồng nhằm giúp người dân bản địa có cơ hội hưởng lợi từ dự
án phát triển này Các hạng mục công trình khu vực do người địa phương đảm nhận,
sử dụng nguyên vật liệu của địa phương Dự án có chương trình giáo dục môi trường, đặc biệt là giáo dục trẻ em Nguyên nhân chính dẫn đến sự thành công của
dự án là có sự kết hợp – liên kết chặt chẽ với chính phủ và cộng đồng địa phương quyết định sự phát triển của dự án
Khu bảo tồn Annapurna ở Nerpal, để giảm thiểu sự tác động tiêu cực của du lịch đến hệ sinh thái rừng Chính phủ Nepal đã trợ giúp khu bảo tồn xây dựng nhiều vườn ươm thực vật phục vụ cho các chương trình trồng mới và trồng lại rừng và có các quy chế chấm dứt sự suy thoái rừng Người dân địa phương tham gia các chương trình đào tạo về lâm nghiệp và được hưởng các quyền lợi đặc biệt từ tài nguyên rừng nếu họ cam kết và bảo vệ tốt rừng
Người dân Rio Blanco (Ecuador) đã thành lập ủy ban cộng đồng Khi du khách đến cần việc nấu nướng, dọn dẹp, biểu diễn văn hóa thì ủy ban giáo dục cho mọi người dân Từ đó mọi người dân điều có suy nghĩ tích cực về du lịch sinh thái bền vững và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống
1.4 Bài học từ sự phát triển du lich biển không bền vững tại Việt Nam
14
Trang 15Du lịch biển có vai trò quan trọng trong phát triển du lịch Việt Nam và ngày càng phát triển với tư cách là một trong những ngành kinh tế biển chủ yếu Trong quá trình phát triển, hoạt động du lịch biển hiện đang đứng trước nhiều vấn đề về môi trường như sự suy giảm các hệ sinh thái biển, đa dạng sinh học, ô nhiễm nước biển
Môi trường ven biển và vùng nước ven biển trực tiếp chịu ảnh hưởng tác động của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt ở những khu vực có hoạt động công nghiệp, cảng biển, phát triển đô thị tập trung; các vùng cửa sông - nơi các chất thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt ở vùng thượng lưu theo các dòng sông
đổ ra biển là những nguồn gây ô nhiễm, làm xuống cấp chất lượng môi trường, ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển du lịch biển bền vững
Kết quả khảo sát môi trường tại các khu vực trọng điểm phát triển du lịch vùng ven biển năm 2007 cho thấy:
+ Ở nhiều khu vực như vùng biển ven bờ cửa Lực (Quảng Ninh), cảng Thuận An (Thừa Thiên Huế), cảng Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, dọc tuyến hàng hải Hải Phòng - Đà Nẵng chỉ số nhiễm đo trong nước đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP), trong một số trường hợp lên tới 0,2 mg/1ít - 0,3mg/1ít Điều này ảnh hưởng đến chất lượng các bãi tắm, hạn chế khả năng cạnh tranh của sản phẩm du lịch biển Việt Nam
+ Hàm lượng kim loại nặng ở nhiều khu vực cũng vượt quá giới hạn cho phép Ví dụ: hàm lượng đồng (Cu) ở khu vực Hạ Long, vùng cửa Nam Triệu và quanh bán đảo Đồ Sơn phổ biến trong khoảng 0,080 – 0,086 mg/1ít; ở khu vực Huế,
Đà Nẵng ở trong khoảng 0,076 - 0,081 mg/1ít, vượt quá giới hạn cho phép là 0,02 mg/1ít
+ Hàm lượng các vật chất lơ lửng do các hoạt động công nghiệp, khai thác than đặc biệt nổi cộm ở Hạ Long, Hải Phòng, Đà Nẵng ở Hạ Long, dưới tác động của hoạt động khai thác than, môi trường không khí tại nhiều nơi đã vượt quá
xa chỉ tiêu cho phép về nồng độ bụi Những khu vực gần các mỏ khai thác than từ Hòn Gai đến Cửa Ông nồng độ đạt 3.000 - 6.000 hạt/cm3, vượt quá giới hạn cho phép từ 30 – 500 lần
15
Trang 16Tình trạng xói lở bờ biển ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của các khu du lịch ven biển Nhiều khu du lịch ở miền Trung, điền hình là khu du lịch Thuận An (Thừa Thiên – Huế) khu du lịch Phan Thiết - Mũi Né (Bình Thuận) và trên một số đảo ven bờ như Phú Quốc đã và đang chịu ảnh hưởng của tình trạng này Cá biệt như khu du lịch Thuận An, bãi biển đã bị sạt lở nghiêm trọng ảnh hưởng đến hoạt động tắm biển và xây dựng các công trình du lịch
Hiện nay chúng ta cũng đang phải đối mặt với tình trạng xói mòn bờ biển nghiêm trọng ở bãi tắm cửa Tùng, chỉ trong vòng 1 tháng biển đã xâm thực vào bờ đến 100m, nguyên nhân được xác định ban đầu là do việc xây dựng cảng cá, hút cát biển lên bờ, khiến cho bờ biển sụt lún, trồi, lõm, nước biển theo thủy triều đã cuốn cát biển ra xa và bồi tụ ngay cửa biển, các công trình đê chắn nước biển tràn vào đã làm mất cảnh quan bãi tắm khiến cho khách du lịch ngày càng thưa thớt
Tình trạng suy giảm rừng ven biển và trên các đảo: Trong tình trạng chung về suy giảm rừng ở khu vực ven biển và hải đảo ven bờ Việt Nam, tài nguyên sinh vật trong những năm gần đây cũng giảm sút đáng kể kéo theo sự suy giảm về tính đa dạng sinh học Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng trên là do đời sống của người dân vùng ven biển còn thấp, vì vậy dẫn đến việc khai thác cạn kiệt tài nguyên sinh vật, ảnh hưởng đến môi trường khu vực Trong xu thế đó, nhiều hệ sinh thái có giá trị du lịch như hệ sinh thái san hô, cỏ biển; hệ sinh thái rừng ngập mặn;
hệ sinh thái đầm phá; hệ sinh thái biển - đảo bị ảnh hưởng và suy giảm
Tóm lại, môi trường du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam đã có những dấu hiệu đáng lo ngại, đặc biệt ở các khu vực trọng điểm du lịch như Hạ Long - Cát Bà -
Đồ Sơn, Huế - Đà Nẵng, Vũng Tàu ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch biển bền vững ở Việt Nam
Hoạt động vận chuyển khách, vui chơi giải trí trên biển bằng các phương tiện động cơ cũng góp phần làm ô nhiễm dầu vùng nước biển ven bờ, tăng khả năng sự
cố tràn dầu do va chạm giữa các phương tiện Kết quả nghiên cứu về ô nhiễm dầu nước biển ở một số khu du lịch biển lớn như Hạ Long, Nha Trang, Vũng Tàu cho thấy ở nhiều khu vực chỉ số này đã vượt TCCP là 0,03mg/1 Mặc dù hiện nay, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do hoạt động vận tải biển, khai thác vận chuyển dầu
16
Trang 17- Ảnh hưởng đến cảnh quan tự nhiên: Do thiếu cân nhắc trong quy hoạch và thực hiện quy hoạch du lịch, nhiều cảnh quan đặc sắc, hệ sinh thái nhạy cảm, đặc biệt ở vùng ven biển, hải đảo và ở các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia bị thay đổi hoặc suy giảm cùng với việc phát triển các khu du lịch mới Điều này có thể nhận thấy qua sự phát triển các khu du lịch trên đảo Cát Bà, khu Hùng Thắng, đảo Tuần Châu (Hạ Long)
- Đa dạng sinh học bị đe dọa do nhiều loài sinh vật, trong đó có cả những loài sinh vật hoang dã quý hiếm như san hô, đồi mồi bị săn bắt phục vụ nhu cầu ẩm thực, đồ lưu niệm, buôn bán mẫu vật của khách du lịch Ngoài ra chu trình sống (di trú, kiếm ăn, mùa giao phối sinh sản) của động vật hoang dã ở các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia cũng bị tác động do lượng khách tập trung đông
*Nguồn dẫn: Sách quản trị du lịch bền vững và du lịch sinh thái(TS Nguyễn Văn Hóa)
17
Trang 18Chương II: Tìm hiểu chung về Thành phố Nha Trang
2.1 Khái quát về thành phố Nha Trang
Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam Trước khi trở thành phần đất của Việt Nam, Nha Trang thuộc về Chiêm Thành Các di tích của người Chăm vẫn còn tại nhiều nơi ở Nha Trang Nha Trang được Thủ tướng chính phủ Việt Nam công nhận là đô thị loại 1 vào ngày 22 tháng 4 năm 2009 Đây là một trong
8 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh của Việt Nam Nha Trang được mệnh danh là hòn ngọc của biển Đông, Viên ngọc xanh vì giá trị thiên nhiên, sắc đẹp cũng như khí hậu của
nó
2.1.1 Lịch sử hình thành
Từ 1653 đến giữa thế kỷ XIX, Nha Trang vẫn là một vùng đất còn hoang vu và nhiều thú dữ thuộc Hà Bạc, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh Chỉ qua hai thập niên đầu thế kỷ XX, bộ mặt Nha Trang đã thay đổi nhanh chóng Với Nghị định ngày 30 tháng 8 năm 1924 của Toàn quyền Đông Dương, Nha Trang trở thành một thị trấn (centre urbain) Thị trấn Nha Trang hình thành từ các làng cổ: Xương Huân, Phương Câu, Vạn Thạnh, Phương Sài, Phước Hải
Thời Pháp thuộc, Nha Trang được coi là tỉnh lỵ (chef lieu) của tỉnh Khánh Hòa Các cơ quan chuyên môn của chính quyền thuộc địa như Tòa Công sứ, Giám binh, Nha Thương chánh, Bưu điện… đều đặt tại Nha Trang Tuy nhiên, các cơ quan Nam triều như dinh quan Tuần vũ, Án sát (coi về hành chánh, tư pháp), Lãnh binh (coi việc trật tự trị an) vẫn đóng ở Thành Diên Khánh (cách Nha Trang 10km về phía Tây Nam)
18
Trang 19Đến Nghị định ngày 7 tháng 5 năm 1937 của Toàn quyền Đông Dương, Nha Trang được nâng lên thị xã (commune) Lúc mới thành lập, thị xã Nha Trang có 5 phường: Xương Huân là phường đệ nhất, Phương Câu là phường đệ nhị, Vạn Thạnh
là phường đệ tam, Phương Sài là phường đệ tứ, Phước Hải là phường đệ ngũ
Ngày 27 tháng 1 năm 1958, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành Nghị định 18-BNV bãi bỏ quy chế thị xã, chia Nha Trang thành 2 xã là Nha Trang Đông và Nha Trang Tây thuộc quận Vĩnh Xương
Ngày 22 tháng 10 năm 1970, sắc lệnh số 132-SL/NV của chính quyền Việt Nam Cộng hoa lấy 2 xã Nha Trang Đông, Nha Trang Tây và các xã Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Vĩnh Trường, Vĩnh Nguyên, các ấp Phước Hải (xã Vĩnh Thái), Vĩnh Điềm
Hạ (xã Vĩnh Hiệp), Ngọc Thảo, Ngọc Hội, Lư Cấm (xã Vĩnh Ngọc) thuộc quận Vĩnh Xương cùng các hải đảo Hòn Lớn, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Miễu, Hòn Tằm tái lập thị xã Nha Trang, tỉnh lỵ tỉnh Khánh Hòa Thị xã Nha Trang chia làm 2 quận: quận 1
và quận 2 Quận 1 gồm các xã Nha Trang Đông, Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, các ấp Ngọc Thảo, Ngọc Hội và Lư Cấm thuộc xã Vĩnh Ngọc, ấp Vĩnh Điềm Hạ thuộc xã Vĩnh Hiệp; Quận 2 gồm các xã Nha Trang Tây, Vĩnh Trường, Vĩnh Nguyên (kể cả các đảo Hòn Tre, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Tằm), ấp Phước Hải của xã Vĩnh Thái
Tiếp đó, nghị định số 357-ĐUHC/NC/NĐ ngày 5 tháng 6 năm 1971 chia thị xã Nha Trang thành 11 khu phố: quận 1 có các khu phố Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Ngọc Hiệp, Vạn Thạnh, Duy Tân; Quận 2 có các khu phố Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Phương Sài, Tân Phước, Tân Lập, Phước Hải Đến Nghị định số 553-BNV/HCĐP/NV ngày 22 tháng 8 năm 1972 đổi các khu phố thành phường Nghị định số 444-BNV/HCĐP/26.X ngày 3 tháng 9 năm 1974 sáp nhập các đảo Hòn Một, Hòn Cậu, Hòn Đụn, Hòn Chóp Vung, Hòn Đỏ vào phường Vĩnh Hải (quận 1) và Hòn Ngọc vào phường Vĩnh Nguyên (quận 2) thị xã Nha Trang
Ngày 2 tháng 4 năm 1975, Quân giải phóng tiếp quản Nha Trang Ngày 6 tháng
4 năm 1975, Ủy ban Quân quản Khánh Hòa chia Nha Trang thành 3 đơn vị hành chính: quận 1, quận 2 và quận Vĩnh Xương Tháng 9 năm 1975, hợp nhất hai quận: quận 1 và quận 2 thành thị xã Nha Trang
Trang 20Ngày 30 tháng 3 năm 1977, theo quyết định số 391-CP/QĐ củaHội đồng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thị xã Nha Trang được nâng lên cấp thành phố trực thuộc tỉnh và là tỉnh lỵ tỉnh Phú Khánh (bao gồm hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa hiện nay) Phần đất 7 xã của huyện Vĩnh Xương cũ trước đây là Vĩnh Thái, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Lương, Vĩnh Trung, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Phương được cắt ra khỏi huyện Khánh Xương sáp nhập vào Nha Trang.
Quyết định số 54-BT ngày 27 tháng 3 năm 1978 thành lập xã Phước Đồng thuộc Nha Trang Ngày 1 tháng 7 năm 1989, tái lập tỉnh Khánh Hòa từ tỉnh Phú Khánh cũ, Nha Trang là tỉnh lỵ tỉnh Khánh Hòa Ngày 22 tháng 4 năm 1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 106/1999 công nhận Nha Trang là đô thị loại 2 Ngày 22/4/2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định công nhận TP Nha Trang là đô thị loại 1
2.1.2 Vị trí địa lý, địa hình
Thành phố Nha Trang hiện nay có diện tích tự nhiên là 251 km², dân số 392.279 (2009) Phía Bắc giáp thị xã Ninh Hòa, phía Nam giáp huyện Cam Lâm, phía Tây giáp huyện Diên Khánh, phía Đông giáp Biển Đông
Địa hình Nha Trang khá phức tạp có độ cao trải dài từ 0 đến 900 m so với mặt nước biển được chia thành 3 vùng địa hình Vùng đồng bằng duyên hải và ven sông Cái có diện tích khoảng 81,3 km², chiếm 32,33% diện tích toàn thành phố; vùng chuyển tiếp và các đồi thấp có độ dốc từ 3 đến 15 chủ yếu nằm ở phía Tây và⁰ ⁰Đông Nam hoặc trên các đảo nhỏ chiếm 36,24% diện tích, vùng núi có địa hình dốc trên 15 phân bố ở hai đầu Bắc-Nam thành phố, trên đảo⁰ Hòn Tre và một số đảo đá chiếm 31,43% diện tích toàn thành phố
Nha Trang nằm ở phía Đông Đồng bằng Diên Khánh - Nha Trang Một đồng bằng được bồi lấp bởi sông Cái Nha Trang có diện tích gần 300 km², địa hình đồng bằng bị phân hóa mạnh:
Phần phía Tây dọc sông Chò từ Khánh Bình đến Diên Đồng bị bóc mòn, độ cao tuyệt đối khoảng 10–20 m
Trang 21 Phần phía Đông là địa hình tích tụ độ cao tuyệt đối dưới 10m, bề mặt địa hình
bị phân cắt mạnh bởi các dòng chảy
2.1.3 Sông ngòi, khí hậu vịnh Nha Trang
Thành phố có nhiều sông suối tập trung ở 2 hệ thống sông chính là sông Cái Nha Trang và sông Quán Trường
Sông Cái Nha Trang (còn có tên gọi là sông Phú Lộc, sông Cù) có chiều dài
75 km, bắt nguồn từ đỉnh Chư Tgo cao 1.475 m, chảy qua các huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh và thành phố Nha Trang rồi đổ ra biển ở Cửa Lớn (Đại Cù Huân) Đoạn hạ lưu thuộc địa phận Nha Trang có chiều dài khoảng 10 km Sông là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất công-nông nghiệp, du lịch-dịch vụ và sinh hoạt dân cư cho thành phố và các huyện lân cận
Sông Quán Trường (hay Quán Tường) là 1 hệ thống sông nhỏ có chiều dài khoảng 15 km, chảy qua địa phận các xã Vĩnh Trung, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Thái, Phước Đồng và 3 phường Phước Long, Phước Hải, Vĩnh Trường rồi đổ ra Cửa Bé Sông chia thành 2 nhánh: nhánh phía Đông (nhánh chính) có chiều dài 9 km và nhánh phía Tây (còn gọi là sông Tắc) dài 6 km
Thủy triều vùng biển Nha Trang thuộc dạng nhật triều không đều, biên độ trung bình lớn nhất từ 1,4 - 3,4 m Độ mặn biến thiên theo mùa từ 1 - 3,6%
Nha Trang có khí hậu nhiệt đới xavan chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương Khí hậu Nha Trang tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm là 26,3 C Có mùa⁰đông ít lạnh và mùa khô kéo dài Mùa mưa lệch về mùa đông bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 12 dương lịch, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm (1.025 mm) Khoảng 10 đến 20% số năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 7, 8 hoặc kết thúc sớm vào tháng 11 So với các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, Nha Trang là vùng có điều kiện khí hậu thời tiết khá thuận lợi để khai thác du lịch hầu như quanh năm Những đặc trưng chủ yếu của khí hậu Nha Trang là: nhiệt độ ôn hòa quanh năm (25 C - 26 C), tổng tích ôn lớn (> 9.5000C), sự phân mùa khá rõ rệt (mùa mưa⁰ ⁰
và mùa khô) và ít bị ảnh hưởng của bão
Trang 22Mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8, đây là thời điểm mà du lịch Nha Trang có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển các hoạt động du lịch tại thành phố Mùa mưa chủ yếu tập trung từ tháng 9 đến tháng 12 Không giống như thành phố Sài Gòn, Nha Trang trong mùa mưa thường trải dài cả ngày, mưa lất phất nguyên ngày và hầu như ít có nắng, cho nên, vào mùa này du lịch Nha Trang thường vắng khách du lịch.
2.1.4 Nông - Lâm - Ngư nghiệp
Sản xuất nông, lâm nghiệp không phải là thế mạnh của thành phố, chủ yếu tập trung tại 6 xã phía Tây Ngành nông nghiệp đang trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng tập trung trồng hoa, cây cảnh, rau thực phẩm cao cấp tạo được hàng hóa phục vụ cho tiêu thụ của dân cư và du khách, đồng thời cải thiện môi trường và trang trí cảnh quan đô thị Công tác bảo vệ rừng cũng được thực hiện hiệu quả Diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng hiện nay là 2332,7 ha, vào thời điểm cuối năm 2010 độ che phủ rừng của thành phố đạt 9,2% Thảm thực vật rừng Nha Trang đang được phục hồi xanh trở lại, góp phần tạo phong cảnh Nha Trang xanh sạch đẹp Đặc biệt là dự án trồng phục hồi cây Dó trầm, loài cây đặc sản của Khánh Hòa
Ngược lại, khai thác Thủy sản có xu hướng rất phát triển nhằm phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến và du lịch, ngư dân tập trung chủ yếu ở các phường Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Vĩnh Thọ và 2 xã Phước Đồng, Vĩnh Lương Tổng sản lượng thủy sản năm 2010 đạt 38926 tấn, trong đó sản lượng khai thác đạt 38621 tấn, tăng bình quân 6,4% mỗi năm Khai thác và đánh bắt xa bờ được khuyến khích đầu
tư phát triển Toàn thành phố hiện có 2.893 tàu thuyền với tổng công suất 166.000
CV, trong đó tàu thuyền có công suất lớn (≥ 90CV) đủ điều kiện khai thác xa bờ là
480 chiếc với 85.000 CV Tuy nhiên tàu nhỏ khai thác ven bờ (≤ 20CV) vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao với gần 1.500 chiếc
Diện tích nuôi trồng thủy sản có chiều hướng giảm do thực hiện các dự án di dời lồng bè ra khỏi Vịnh Nha Trang để tập trung phát triển Du lịch Sản lượng tôm nuôi năm 2012 đạt 295 tấn Nghề nuôi cá lồng trên biển bước đầu góp phần tăng thu nhập cho ngư dân
Trang 23Nghề đăng - một nghề truyền thống của ngư dân Nha Trang có sản lượng hàng năm đạt 200-250 tấn, trong đó cá thu xuất khẩu chiếm khoảng 60% Thành phố đã hoàn thành dự án quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản vịnh Nha Trang tại 5 khu vực: Bích Đầm ( Hòn Tre), Đầm Bấy( Hòn Tre), Vũng Ngán( Hòn Tre), Hòn Một và Hòn Miễu.
2.1.5 Thương mại - Du lịch - Dịch vụ
Thương mại- Dịch vụ- Du lịch là ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng tạo động lực phát triển đô thị và mang lại vị thế quan trọng cho Nha Trang Đặc biệt các hoạt động du lịch, văn hóa, vui chơi giải trí phát triển đa dạng, phong phú, nhờ đó Nha Trang thu hút ngày càng nhiều du khách trong nước và quốc tế đến tham quan -nghỉ dưỡng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2010 ước đạt 9350 tỷ đồng, tăng 20,54% so năm 2009 Hoạt động thương mại tư nhân phát triển mạnh, tạo nên một thị trường cạnh tranh Xu hướng kinh doanh hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi phát triển nhanh
Việc coi trọng khách hàng, phong cách phục vụ văn minh, lịch sự ngày càng được chú trọng hơn Các khu thương mại trên các tuyến phố chính được đầu tư xây dựng tạo nên bộ mặt đô thị và thu hút nhiều khách đến mua sắm Một số tuyến phố chuyên doanh bước đầu được hình thành như phố xe máy- điện lạnh (đường Quang Trung), phố trang trí nội thất (đường Thống Nhất), phố thời trang (đường Phan Chu Trinh, Lý Thánh Tôn), phố dịch vụ ăn uống- khách sạn (Trần Phú, Biệt Thự, Trần Quang Khải, Hùng Vường, Nguyễn Thiện Thuật ), Tài Chính-Ngân Hàng (Yersin,
Lê Thành Phương) Nha Trang hiện có 24 chợ, trong đó 3 chợ loại I, 2 chợ loại II,
18 chợ loại III và một số siêu thị, trung tâm thương mại lớn như Nha Trang Center, Fahasa,Maximark, Metro và các hệ thống cửa hàng tiện lợi như A-Mart, Thế giới di động Mặc dù hiện nay nhiều loại hình mua bán hiện đại, tiện ích
ra đời nhưng các chợ truyền thống vẫn là nơi thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham quan, mua sắm đặc biệt là chợ Đầm Trong ngành Du lịch, toàn thành phố hiện có 455 khách sạn, với tổng số gần 10.000 phòng Năm 2011, Nha
Trang 24Trang đón hơn 2 triệu lượt khách du lịch (tăng 18,54% so với năm 2010), trong đó hơn 440.000 lượt khách quốc tế (tăng 13,5%), số ngày lưu trú bình quân của du khách là 2,09 ngày/khách; tổng doanh thu du lịch và dịch vụ ước đạt 2.142,9 tỷ đồng (tăng 20,28%)…Ngành du lịch cũng thu hút khoảng gần 9.000 lao động trực tiếp.
Về Xuất khẩu, năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thành phố đạt
424 triệu USD với khoảng 50 loại sản phẩm xuất đến trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là thủy sản, may mặc, thủ công mỹ nghệ trong đó thủy sản là mặt hàng đóng góp giá trị xuất khẩu lớn, năm 2010 đạt khoảng 215 triệu USD, chiếm 50,7% tổng kim ngạch
2.1.6 Công nghiệp
Công nghiệp cũng là một ngành kinh tế quan trọng của thành phố Năm 2011, Nha Trang có 1.694 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhà nước là 12 cơ sở, tập thể 06 cơ sở , tư nhân hỗn hợp 400 cơ sở, cá thể 1.269 cơ
sở và 9 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài Năm 2010 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 7.546 tỷ đồng, tăng 10,16%, năm 2011 tăng 9,5% so năm 2010 đạt 8.107 tỷ đồng Tuy Nha Trang là thành phố chủ yếu phát triển về du lịch và dịch vụ, giá trị sản xuất công nghiệp của riêng thành phố vẫn cao hơn giá trị công nghiệp toàn tỉnh của nhiều tỉnh lớn trong cùng khu vực Đồng bằng duyên hải miền Trung như Thừa Thiên Huế, Bình Định, Bình Thuận Cơ cấu công nghiệp chủ yếu là các ngành chế biến thực phẩm,thuốc lá, dệt may, đóng tàu Một số sản phẩm phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu duy trì được tốc độ tăng cao như thủy sản đông lạnh, dệt may, nước mắm, hàng
mỹ nghệ Chế biến thủy sản là ngành công nghiệp thế mạnh của Nha Trang, tạo ra nhiều việc làm và đạt kim ngạch xuất khẩu cao Trên địa bàn thành phố có 35 xưởng chế biến thủy sản xuất khẩu, trong đó 18 xưởng chế biến đông lạnh, 3 phân xưởng chế biến đồ hộp và 13 cơ sở chế biến thủy sản khô
Các cơ sở sản xuất chế biến thủy sản này là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm trầm trọng tại một số khu vực ven sông trước đây, các nước
Trang 25thải ô nhiễm được đổ thẳng ra sông đã làm giảm giá trị sinh thái cửa biển, ảnh hưởng đến đa dạng sinh vật vịnh Nha Trang.
2.2 Tài nguyên du lịch Nha Trang
Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, giáp với Biển Đông về hướng đông, vì vậy mà nó có bờ biển dài hơn 200 km với gần 200 hòn đảo lớn nhỏ cùng nhiều vịnh biển đẹp như vịnh Vân Phong, Nha Trang, vịnh Cam Ranh với khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 26⁰C, có hơn 300 ngày nắng trong năm, và nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh nổi tiếng, nên dịch vụ -
du lịch là ngành phát triển nhất ở Khánh Hòa với số du khách hơn 1,6 triệu lượt vào năm 2009
Anh về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em Khánh Hòa là xứ trầm hương Non cao, biển rộng, người thương đi về
Nha Trang là tỉnh lỵ của tỉnh Khánh Hòa, là vịnh biển được CLB vịnh biển thế giới công nhận là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới TP Nha Trang được thiên nhiên ưu ái với rất nhiều tài nguyên phong phú, gồm hệ thống các biển đảo, hệ sinh thái đặc sắc, đa dạng, , bản sắc văn hóa vùng biển đặc trưng, con người thân thiện, chất phác, thật thà, cảnh quan rừng núi và biển hòa hợp với nhau, tạo nên một vùng vịnh có khí hậu ôn hòa, sóng yên, biển lặng rất thích hợp cho việc phát triển ngành
du lịch
2.2.1 Tài nguyên thiên thiên Vịnh Nha Trang
2.2.1.1 Hệ thống biển đảo trong vịnh Nha Trang
Vịnh Nha Trang là thành viên của Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới từ tháng 6-2003 Cùng với vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang là vịnh thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là vịnh đẹp thế giới
Là vịnh biển lớn thứ 2 của tỉnh Khánh Hòa (sau vịnh Vân Phong), Vịnh Nha Trang là một quần thể du lịch hấp dẫn nhiều du khách gần xa Vịnh Nha Trang có
Trang 26diện tích khoảng 507 km² bao gồm 19 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó Hòn Tre là đảo lớn nhất, với diện tích 3.250 ha; đảo nhỏ nhất là Hòn Nọc chỉ khoảng 4 ha.
Các bãi biển dài của thành phố này đã biến nó thành một thành phố du lịch Nơi đây cũng đã được chọn làm nơi tổ chức các sự kiện lớn như Festival Biển (Nha Trang) , hay các cuộc thi sắc đẹp lớn như Hoa hậu Việt Nam, Hoa hậu Thế giới người Việt 2007, Hoa hậu Hoàn vũ 2008, Hoa hậu Trái đất 2010
Nhờ thiên nhiên ưu đãi, Vịnh Nha Trang hội tụ khá đầy đủ các yếu tố núi non, sông biển, đầm phá, hải đảo, đồng ruộng, làng quê trù phú mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam
Vịnh Nha Trang không chỉ hiền hòa về sóng biển, xanh sạch đẹp về môi trường
mà còn là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Hòn Chồng, Bãi Trũ và các đảo Hòn Tre, Bích Đầm, Hòn Mun, Hòn Tằm, đang là những địa chỉ thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế Trong đó:
- Hòn Tre nằm đối diện trước thành phố biển Nha Trang, đảo lớn nhất trong
vịnh Nha Trang trên đảo có núi Hòn Tre, hay còn gọi là núi Ðàm Mông sừng sững như hình con cá sấu đang trườn mình xuống biển, che chắn cho vịnh Nha Trang, một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới Đảo nằm che chắn ngoài khơi nên vịnh Nha Trang kín gió và êm sóng Hòn Tre có diện tích trên 3.000 ha, nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 5 km về phía đông Đảo Hòn Tre có vị trí tương đối biệt lập, với thảm thực vật trong khu vực còn nguyên sơ, khí hậu ôn hoà, ít gió bão Nơi đây
có bãi tắm thiên nhiên thuộc loại đẹp nhất Việt Nam, rất thuận lợi cho việc phát triển
du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng
- Hòn Mun nằm ở phía nam vịnh Nha Trang, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh
Hòa Là hòn đảo thơ mộng nhất trong hệ thống đảo của vịnh Nha Trang Sở dĩ đảo
có tên là "Hòn Mun" vì phía đông nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá trên đảo đen tuyền như gỗ mun, rất hiếm thấy ở những nơi khác.Do địa thế của đảo rất gần với dòng hải lưu nóng từ phía xích đạo đưa tới nên thích hợp với điều kiện phát triển của san hô và nhiều loại sinh vật biển nhiệt đới cũng về đây quần tụ, đáy biển vùng Hòn Mun là một tập hợp
Trang 27quần thể sinh vật biển phong phú, đa dạng, là nơi quan sát, nghiên cứu rất lý thú, bổ ích cho các nhà nghiên cứu sinh vật biển, hải dương học và du khách muốn tìm hiểu
về biển
- Hòn Tằm là một đảo rộng hơn 110 ha, cách thành phố Nha Trang 7km về
phía Đông Nam Tên gọi Hòn Tằm cũng mang ý nghĩa tượng hình do người dân chài thuở xa xưa đặt vì hòn đảo trông giống như một con tằm màu xanh lục, đầu hướng
về phía Đông Từ Hòn Tằm có thể nhìn thấy cả thành phố Nha Trang về hướng Bắc
và bán đảo Cam Ranh về phía Nam
- Hòn Chồng - Hòn Vợ gồm 2 cụm đá lớn nằm bên bờ biển dưới chân đồi
Lasan Cụm đá lớn gọi là Hòn Chồng, gồm một khối đá lớn vuông vức nằm trên một tảng đá bằng phẳng, phía mặt đá quay ra biển có một vết lõm hình bàn tay rất lớn Cụm đá thứ hai gọi là Hòn Vợ vì có hình dáng của một người phụ nữ ngồi trông ra biển, nhưng cụm này ít được biết đến
Chạy dọc theo bờ biển Vịnh Nha Trang dài khoảng 7 km, trải dài từ xóm Cồn đến cảng Cầu Đá là đoạn đường Trần Phú con đường đẹp nhất Nha Trang nằm lượn theo bờ biển với rất nhiều ngôi biệt thự xinh xắn, những khách sạn cao cấp, nhà hàng sang trọng nối liền nhau Xen vào đó là một hệ thống dịch vụ gồm bưu điện, nhà bảo tàng, thư viện, câu lạc bộ, các cửa hàng bán đồ lưu niệm
Ngoài ra gần với Thành phố Nha trang còn có Ðầm Nha Phu, là tên gọi cả một
khu vực rộng lớn, trong đó có những hòn đảo du lịch như Hòn Thị, Hòn Sầm, Hòn
Đá Bạc (bãi tắm Công chúa), Hòn Lao - đảo Khỉ, Suối Hoa Lan, Khu nghỉ mát Ninh Vân Đầm Nha Phu rộng gần 1.500ha, tiếp giáp giữa vịnh Nha Trang và vịnh Vân Phong – thuộc tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố khỏang 15 km Hiện bến cảng du lịch nằm ở địa phận Lương Sơn, xã Vĩnh Lương Đầm Nha Phu là một trong hai đầm lớn của tỉnh Khánh Hòa vẫn còn hội đủ đặc điểm của một vùng sinh thái quý hiếm với núi rừng, sông suối, biển đảo Đầm Nha Phu là một trong những nơi hội tụ của rất nhiều địa hình: đảo,suối, biển, hồ, núi, và cả vịnh , v.vv v Đầm Nha Phu có những đoạn sóng lặng, nhưng cũng có những chổ có sóng nhẹ, phù hợp các chương
Trang 28trình tham quan du lịch Cảnh quan hoang sơ, dân cư thưa thớt, những bãi cát trắng tinh khiết trãi dài hàng cây số hay đa dạng với các loại địa hình khác.
Mặc dù phía Bắc khu vực đầm Nha Phu không thuộc địa phận Tp Nha Trang, nhưng những điểm du lịch nổi bật tại khu vực này như Hòn Thị, Hòn Hèo, Suối Hoa Lan vẫn thường được nhắc đến không các tour tuyến du lịch biển đảo ở Tp Nha Trang
Với Hòn Hèo, nhờ sự ban tặng của thiên nhiên mà nó đã trở thành một vùng du lịch sinh thái hấp dẫn với rừng ngập mặn, suối, thác, động cùng nhiều loài thực vật quý hiếm…
Suối Hoa Lan ( Hòn Hèo ) còn là nơi lưu giữ dấu tích của người Chăm từ
thuở xa xưa Trên một tảng đá dưới lòng suối còn nguyên vẹn dòng chữ Chăm cổ được khắc sâu rất đẹp, ghi dấu sự kiện một vị vua người Chăm trước đây đã từng hành hương đến suối Hoa Lan Con suối này được hình thành từ nhiều dòng suối nhỏ bắt nguồn từ những ngọn núi nằm trong dãy núi Hòn Hèo với đỉnh cao nhất khoảng 700m Sau khi chảy qua một quãng đường dài khoảng 7km, nó đổ trực tiếp vào đầm Nha Phu Dọc hai bên bờ suối có khoảng 40 loài lan với hơn 3.300 cây Giữa Nha Phu và dãy Hòn Hèo là một khoảng đất bằng phẳng có diện tích khoảng 20ha Như vậy là trong một khoảng không gian không rộng lắm nhưng suối Hoa Lan
đã trải mình qua 3 hình thế: núi cao, đồng bằng và biển cả
Đặc sắc hơn tại nơi đây là động Phong Lan với vô số các loài lan đẹp Ngòai ra, chúng ta còn bắt gặp “thế trận của Khổng Minh”, đó là Mê cung trận đồ, được trồng bởi 45.000 cây dương trên diện tích 13.500m² tại đây
Không kém gì vẻ đẹp của Hòn Thị và Hòn Hèo, Hòn Lao cũng là một điểm du
lịch khá thú vị và ấn tượng trong tour tham quan đầm Nha Phu của du khách Hòn Lao, hay còn gọi là đảo khỉ nằm trong khu vực đầm Nha Phu, là một điểm du lịch hấp dẫn du khách do tại đây có một đàn khỉ 800 con sống tự nhiên, thân thiện với khách Hòn Lao này hiện thuộc địa phận của Tp Nha Trang
Được gọi là Hòn Lao là vì hòn đảo này có hình dáng giống như một mũi lao hướng ra biển đông Hòn Lao còn có tên gọi khác là Đảo Khỉ vì trên đảo có rất nhiều
Trang 29khỉ Khỉ ở đây có nhiều giống: khỉ lông vàng, khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi dài, khỉ đuôi cụt, khỉ sư tử Chúng có thể đem đến cho du khách những giờ phút thú vị bởi sự thông minh, láu lỉnh, nhanh nhẹn mỗi khi được cho quà hay những trò biểu diễn dưới sự điều khiển của huấn luyện viên xiếc.
Nơi đây vẫn còn những nét hoang sơ của cỏ cây hoa lá, ghềnh đá, thấp thoáng đâu đó là những lều tranh xinh xắn, khu nhà nghỉ nằm ẩn mình dưới những rặng dừa xanh bạt ngàn
2.2.1.2 Hệ sinh thái vịnh Nha Trang
Vịnh Nha Trang có khí hậu tốt, quanh năm tràn ngập ánh nắng, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 26oC Vịnh có môi trường sống lý tưởng cho các loài động vật quý hiếm như: chim yến (còn gọi là vàng trắng của Khánh Hòa bởi tính quý hiếm của nó), đồi mồi, san hô đỏ, trai ngọc môi vàng, ốc kim khôi, bào ngư bầu dục
Là một quần thể thiên nhiên đặc sắc hiếm thấy, với những nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, quý giá bao gồm núi, biển, sông, đảo, vịnh Nha Trang đã trở thành ngôi nhà chung của các loài động vật quý hiếm, có giá trị kinh tế cao, là vùng
đa dạng sinh học biển
Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm
có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi nó có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ
Đặc biệt khu vực Hòn Mun của Vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao nhất với 350 loài rạn san hô chiếm 40% san hô trên thế giới Kết quả khảo sát đa dạng sinh học Khu bảo tồn biển cho thấy Hòn Mun là nơi có rạn san hô phong phú và đa dạng nhất Việt Nam người ta cũng đã tìm thấy 340 trong tổng số hơn 800 loài san
hô cứng trên thế giới Từ năm 2001, Khu bảo tồn biển Hòn Mun ra đời bao gồm các đảo như Hòn Tre, Hòn Miễu, Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Cau, Hòn Vung, Hòn Rơm, Hòn Nọc và vùng nước xung quanh Diện tích khoảng 160km2 bao gồm khoảng 38 km2 mặt đất và khoảng 122 km2 vùng nước xung quanh các đảo Vùng
Trang 30đảo Hòn Mun đã được xây dựng thành khu bảo tồn biển đa dạng sinh học biển đầu tiên của Việt Nam Đặc biệt rất phong phú về san hô Hiện tại đã phát hiện được khoảng 350 loài trong tổng số hơn 800 loài san hô cứng trên thế giới.
Hòn Nhiểu (còn gọi đảo Bồng Nguyên) nơi có Thủy Cung Trí Nguyên với những sinh vật biển kỳ lạ Cách hồ là bãi sỏi đủ màu, đủ dáng, trải thành từng lớp trên bờ thay cho cát trắng
Hòn Tằm một điểm du lịch sinh thái biển đảo hấp dẫn, nơi đây vẫn còn lưu lại
vẻ hoang sơ của thiên nhiên với thảm rừng nhiệt đới xanh mướt, bờ cát dài lãng mạn Phía sau đảo này có một hang đá rất đặc biệt, kỳ bí mới được ngành du lịch phát hiện và đưa vào khai thác Đó là hang Dơi, nơi có rất nhiều đàn dơi cư trú trên những vách đá cheo leo ở độ cao 60m Đảo được đầu tư phát triển nhiều loại hình thể thao bãi biển như dù bay, bóng chuyền bãi biển, đua xuồng Kayak, leo núi….Hòn Tre đảo lớn nhất trong vịnh Nha Trang với diện tích trên 32.5 km², nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 5 km về phía Đông, cách cảng Cầu Đá 3,5 km vị trí tương đối biệt lập, có bãi tắm thiên nhiên đẹp vào bậc nhất Việt Nam, thảm thực vật trong khu vực còn nguyên sơ, khí hậu ôn hoà, ít gió bão, rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng biển Khu vực quy hoạch đảo bao
gồm 2 khu vực chức năng: Khu Vũng Me - Bãi Trũ - Đầm Già - Bãi Rạn được
quy hoạch hướng tới một quần thể các dự án du lịch cao cấp bao gồm 7 dự án hiện có: Khu du lịch Con sẻ tre, Vinpearlresort & spa, Khu du lịch sinh thái và Thế giới nước Vinpearl, Công viên văn hóa Vinpearl, Công viên văn hóa Hòn Tre, Khu du lịch sinh thái Bãi Sỏi, Khu biệt thự và sân golf Vinpearl, giao thông đối ngoại của phân khu chủ yếu thông qua 2 cảng du lịch tại Vũng Me và tuyến cáp treo Vinpear
(tuyến cáp treo vượt biển dài nhất thế giới) Khu Đầm Bấy được quy hoạch theo mô
hình khu du lịch cộng đồng bao gồm khu vực dự án Khu du lịch thế giới biển và dự
án Làng du lịch sinh thái Đầm Bấy
Trong 19 hòn đảo ở Vịnh Nha Trang thì Hòn Nội và Hòn Ngoại là nơi có nhiều chim yến nhất Vì thế, Hòn Nội và Hòn Ngoại còn có tên là đảo yến Tuy nhiên, trong vịnh Nha Trang có gần 10 đảo có chim yến làm tổ nên “đảo yến” không phải là
Trang 31tên riêng của một đảo nào, mà cứ đảo nào có yến làm tổ thì có tên gọi như vậy Hòn Nội là đảo nằm phía trong, còn Hòn Ngoại nằm phía ngoài Hòn Nội còn có bãi tắm đôi (có hai bờ biển một mặt hướng ra Vịnh Nha Trang mặt còn lại hướng vào một vũng lớn) bị cô lập trong đảo mùa nước lên, nước sẽ tràn qua doi cát vào vũng) với cát trắng rất đẹp nhưng ít dùng cho du lịch chủ hoạt động chủ yếu trên đảo là khai thác Yến sào.
Tại Đầm Nha Phu còn đa dạng về hệ động thực vật Theo kết quả điều tra của Viện Hải dương học Nha Trang (Khánh Hòa), đầm Nha Phu hiện có 232 loài thực vật phù du được ghi nhận Trong đó, có 150 loài tảo Silic, chiếm 65%; tảo Hai Roi với loài, chiếm 32%… Đầm Nha Phu còn là nơi phát triển nghề nuôi trồng thủy hải sản
Theo báo cáo của Viện Hải dương học, vùng biển vịnh Nha Trang hiện có hơn
600 loài thủy sản, trong đó có 50 loài có giá trị kinh tế Trữ lượng thủy sản trong vịnh chiếm khoảng 30% trữ lượng thủy sản toàn tỉnh, khoảng 35.000/120.000 tấn.Trong đó, lượng cá nổi chiếm tới 70% như: cá thu, cá ngừ, bạc má, cá nhám, trích, nục…Lượng cá đáy chỉ chiếm khoảng 30% nhưng nhiều loài có giá trị xuất khẩu cao như: cá mú, cá đổng, cá hố… Ngoài cá biển, trong vịnh còn có nhiều loài thân mềm, giáp xác có giá trị kinh tế cao như: bào ngư, ốc đụn, mực, tôm, cua, ghẹ… Biển Khánh Hòa còn có ý nghĩa với việc sản xuất muối do nước biển có nồng
độ muối tương đối cao, thuận lợi cho việc sản xuất muối tập trung và các sản phẩm sau muối, nhất là muối công nghiệp
2.2.1.3 Tìm hiểu về rừng ngập mặn tỉnh Khánh Hòa
2.2.1.3.1 Rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn - tên gọi trước đây là rừng sác- là một hệ sinh thái đặc biệt ở vùng nhiệt đới, được hình thành bởi các loài thực vật có khả năng chịu ngập nước và chịu mặn, sinh trưởng và phát triển trên loại đất phù sa bồi tụ trong môi trường nước mặn & lợ, nơi có điều kiện khí hậu quanh năm nóng ẩm
Trang 32Rừng ngập mặn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ vùng ven biển
và các cửa sông Về mặt môi trường, rừng ngập mặn có tác dụng điều hòa khí hậu,
cố định đất bồi, ngăn ngừa xói lở bờ biển, hạn chế tình trạng xâm nhập mặn vào đất liền Bên cạnh đó, rừng ngập mặn có giá trị to lớn về mặt kinh tế, ngoài tài nguyên phong phú về lâm sản như gỗ, than củi, cung cấp thực phẩm, dược liệu, tanin, … rừng ngập mặn là môi trường sống thích hợp của nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao, còn là nơi trú ngụ và phát triển của nhiều loài chim thú rừng quý hiếm …
Tác dụng của rừng ngập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu
- Rừng ngập mặn có tác dụng làm chậm dòng chảy và phát tán rộng nước triều Nhờ hệ thống rễ dày đặc trên mặt đất của các loài đước, vẹt, mắm, và bần cản sóng cát tích lũy phù sa cùng mùn bã thực vật tại chỗ nên chúng có tác dụng làm chậm dòng chảy và thích nghi với mực nước biển dâng Nhờ các trụ mầm (cây con) và quả, hạt có khả năng sống dài ngày trong nước nên cây ngập mặn có thể phát tán rộng vào đất liền khi nước biển dâng làm ngập các vùng đất đó
- Rừng ngập mặn có tác dụng làm giảm mạnh độ cao của sóng khi triều cường
Nghiên cứu của Y.Mazda và cộng sự ở xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình trong thời gian có triều cường từ ngày 17 đến 21-11-1994 cho kết quả: rừng trang trồng 6 tuổi với chiều rộng 1,5 km đã giảm độ cao của sóng từ 1 m ở ngoài khơi xuống còn 0,05 km khi vào tới bờ đầm cua và bờ đầm không bị xói lở Còn nơi không có rừng ngập mặn ở gần đó, cùng một khoảng cách như thế thì độ cao của sóng cách bờ đầm 1,5 km là 1 m, khi vào đến bờ vẫn còn 0,75 m và bờ đầm bị xói
lở
- Rừng ngập mặn bảo vệ đê biển, có thể lấy thí dụ ở huyện Thái Thụy Huyện
có hai tuyến đê số bảy dài 45,1 km, đê số tám dài 41,5 km bao quanh huyện Hầu hết các tuyến đê điều được xây dựng từ lâu đời, việc đắp đê chủ yếu bằng lao động thủ công Các cơn bão số 6 và số 7 năm 2005 đúng vào lúc triều cường, sóng lớn nhưng các tuyến đê ở Thái Thụy không bị xói lở, đó là nhờ các dải rừng ngập mặn trồng từ sau khi đê Xuân Hải bị vỡ (1996)
Trang 33Rừng ngập mặn hạn chế xâm nhập mặn và bảo vệ nước ngầm Nhờ có nhiều kênh rạch cùng với hệ rễ cây chằng chịt trên mặt đất làm giảm cường độ của sóng nên hạn chế dòng chảy vào nội địa khi triều cường Ở TP Hồ Chí Minh, trong thời gian gần đây triều cường đã gây ngập nhiều khu dân cư, trong đó có một nguyên nhân là hầu hết các kênh rạch có những dải dừa nước và nhiều loài cây ngập mặn khác như bần, mắm, su, trang ở các quận Nhà Bè, quận Bình Chánh đã bị chặt phá
và lấp đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu dân cư nên không có chỗ cho nước thoát Ngược lại, ở các rừng phòng hộ như ở Thạch Phú (Bến Tre) và một số nơi khác, nhờ có rừng rậm, khi triều lên, sóng yếu, tiêu nước tốt cho nên nước mặn không vào sâu
-Rừng ngập mặn và đa dạng sinh học Rừng ngập mặn còn là nơi bảo vệ các động vật khi nước triều dâng và sóng lớn Nhiều loài động vật đáy sống trong hang hoặc trên mặt bùn, khi thời tiết bất lợi, nước triều cao, sóng lớn đã trèo lên cây để tránh sóng như cá lác, các loài còng, cáy, ốc Khi lặng gió và triều xuống thấp chúng trở lại nơi sống cũ Do đó tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tương đối ổn định Nhờ các mùn bã được phân hủy tại chỗ và các chất thải do sông mang đến được phân giải nhanh tạo ra nguồn thức ăn phong phú, thuận lợi cho sự hồi phục và phát triển của động vật sau thiên tai
2.2.1.3.2 Rừng ngập mặn tại Khánh Hòa
Theo các tài liệu từ trước năm 1975, rừng ngập mặn Khánh Hòa chiếm diện tích khoảng 2.500 ha, phân bố dọc theo suốt chiều dài của tỉnh ở vùng ven biển và hải đảo, tập trung chủ yếu ở các đầm Môn, đầm Nha Phu, đầm Thủy Triều, hòn Già, hòn Tre … chính rừng ngập mặn đã góp phần phát triển nguồn lợi hải sản tự nhiên
vô cùng to lớn tại các nơi đây
Dựa vào các kết quả điều tra khảo sát, hệ thực vật rừng ngập mặn Khánh Hòa rất phong phú và đa dạng so với các tỉnh duyên hải miền trung Thuộc địa phận phường Vĩnh Nguyên (thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), rừng Đầm Bấy với
sự hiện diện của nhiều loài cây ngập mặn như sú, vẹt, đước… từng một thời phủ xanh khu vực Đông Nam đảo Hòn Tre
Trang 34Hiện tại ở Khánh Hòa chỉ còn hơn 104ha rừng ngập mặn, phân bố rất phân tán trong phạm vi toàn tỉnh, hầu hết là trong vùng nuôi trồng thủy sản của các hộ dân Với 37,33ha ở vùng đầm Nha Phu; 15,64ha ở vùng cửa sông Vĩnh Trường (Nha Trang).
Rừng ngập mặn không chỉ có giá trị về mặt môi trường, sinh thái mà còn có thể trở thành một tài nguyên du lịch đáng giá tại khu vực Khánh Hòa nói chung và vịnh Nha Trang nói riêng Rừng ngập mặn giúp làm đa dạng sinh học tại vùng vịnh này, khiến cho các loài thủy sinh ngày càng phát triển, sinh sôi, nảy nở, giúp tái tạo hệ sinh thái tự nhiên Trong sự phát triển bùng nổ của hoạt động du lịch tại đây, việc duy trì hệ thống rừng ngập mặn phát triển sẽ giúp cho vịnh Nha Trang hướng đến một nền công nghiệp du lịch bền vững hơn, đa dạng hơn các loại hình du lịch trong vịnh
2.2.2 Văn hóa vùng biển vịnh Nha Trang
2.2.2.1 Giới thiệu về văn hóa biển Việt Nam
Trong khuôn khổ Festival “Nha Trang - biển hẹn” 2011, ngày 15.6, Bộ Văn hóa thể thao - du lịch phối hợp với Uỷ ban Nhân Dân tỉnh Khánh Hòa tổ chức hội thảo khoa học quốc gia về văn hóa biển đảo Đây là lần đầu tiên các chuyên gia đầu ngành về biển và văn hóa biển trong cả nước tập trung tại Nha Trang để công bố kết quả nghiên cứu cùng nhiều tài liệu, tư liệu mới về văn hóa biển của một quốc gia biển
Nhiều tài liệu nghiên cứu của chuyên gia nước ngoài kết luận: người Đông Sơn (người Việt Cổ) là cộng đồng cư dân thạo sông nước biển khơi Tại hội thảo, các nhà khoa học và chuyên gia văn hóa lịch sử đã công bố 50 kết quả nghiên cứu và tham luận Nhiều vấn đề được đặt ra nhằm trả lời các câu hỏi: Ai là chủ nhân văn hóa biển, văn hóa biển và văn hóa cận duyên, truyền thống văn hóa cận duyên và tâm thế tiến ra biển ?
Người Việt từ xưa đến nay đã sống chung, khai thác và chinh phục biển Những
di chỉ “đống vỏ sò” hay “cồn sò điệp” trong các nền văn hóa khảo cổ như: văn hóa
Trang 35Quỳnh Văn, văn hóa Bàu Tró, văn hóa Thạch Lạc, văn hóa Hạ Long là những dấu tích chứng minh rằng biển cả là nơi cung cấp nguồn sống chủ yếu cho các cộng đồng người tiền sử cư trú ở ven biển Việt Nam từ hàng ngàn năm trước
Người Việt đã biết dùng nước biển để làm muối từ hàng ngàn năm trước và kỹ thuật làm muối của người Việt cũng vô cùng độc đáo: nấu nước biển để lấy muối Chính vì thế, mà trong khi người Hoa gọi dân làm muối là diêm dân, thì người Việt lại gọi người làm muối là táo hộ hay táo công Cách thức làm muối độc đáo ấy không chỉ được phản ánh trong sách Đại Việt sử ký toàn thư mà còn được chứng thực bởi nghề làm muối ở làng Nại Hiên (thành phố Đà Nẵng) với những dấu vết còn lưu giữ trên thực địa và cả trong ký ức dân gian
Người Việt chúng ta đã có những thành tựu đáng tự hào trong công cuộc chinh phục, khai thác biển cũng như xác lập chủ quyền và đấu tranh bảo vệ biển, đảo tổ quốc Từ thế kỷ 16-17, các chúa Nguyễn ở đàng trong đã cử những đội thương thuyền vượt biển đi giao lưu, buôn bán với các lân bang, như Trung Hoa, Nhật Bản, Lưu Cầu, Nam Dương, Xiêm La Chúa Nguyễn Phúc Chu đã thành lập đội Hoàng
Sa, dong thuyền đến các quần đảo Hoàng Sa và Bắc Hải (Trường Sa) để khai thác nguồn lợi hải sản, đo đạc hải trình, xác lập chủ quyền của tổ quốc trên những vùng biển đảo xa xôi Năm 1644, thế tử Nguyễn Phúc Tần - con trai chúa Nguyễn Phúc Lan - đã chỉ huy thủy quân đánh bại một đội tàu của Hà Lan ở vùng biển Thuận An Năm 1789, Nguyễn Ánh đã sai người đóng 40 đại chiến thuyền và hơn 100 ghe bầu cung cấp cho Xiêm La để đổi lấy vũ khí và sắt thép Thuyền đóng ra không chỉ để bán cho Xiêm La, mà bán cho cả thương nhân người Hoa, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Tàu thuyền do người Việt đóng lúc ấy đã đạt trình độ kỹ thuật cao khiến người phương Tây phải khâm phục Ngành đóng tàu thuyền đã từng phát triển rất mạnh dưới thời chúa Nguyễn và thời Nguyễn
Tại sao một quốc gia mạnh về biển không để lại nhiều di sản văn hóa biển? Đó
là câu hỏi lớn khiến nhiều người băn khoăn Phải chăng theo những biến thiên lịch
sử, năng lực văn hóa biển suy thoái dần? Phải chăng người Việt thạo biển xưa kia và người Việt ngại biển sau này là những nhóm cư dân khác nhau? Đến thời điểm này,
Trang 36kết quả khảo cứu, nghiên cứu của các nhà khoa học vẫn dừng trước những câu hỏi ngỏ.
2.2.2.2 Văn hóa, lễ hội, ẩm thực biển Nha Trang, Khánh Hòa
2.2.2.2.1 Văn hóa, lễ hội tại Nha Trang, Khánh Hòa
Theo GS-TS Trần Ngọc Thêm (Đại học Quốc gia TP.HCM), văn hóa biển đảo
là những hệ thống, giá trị vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo, tích lũy trong quá trình tồn tại lấy biển làm nguồn sống Và Khánh Hòa được là địa phương nằm trong khu vực có nền văn hóa biển đảo phát triển mạnh nhất nước
Nhóm tác giả Trần Quý Thịnh (Viện Khảo cổ học Việt Nam) cũng cho rằng: Sau hơn 30 năm nghiên cứu, với 8 di tích khảo cổ như Văn Tứ Đông, Vĩnh Yên, Cù Hin cùng các tư liệu tích lũy được, đã cho phép khẳng định văn hóa Xóm Cồn ở tỉnh Khánh Hòa là một nền văn hóa hướng biển Đa số các di tích thuộc nền văn hóa này đều có vết tích của vỏ nhuyễn thể, nơi cư trú nằm gần mép nước trong vũng, vịnh biển và có các dãy núi liền kề
Nhiều nhà khoa học khác đã đưa ra các dẫn chứng, chứng tỏ Khánh Hòa có có nhiều dấu ấn đặc trưng về văn hóa biển như: Biển trong ngữ văn dân gian Khánh Hòa, tên địa danh gắn với nghề biển Hòn Rớ, Hòn Hèo, Bến Cá, đầm Thủy Triều, đảo Sinh Tồn, đảo Thuyền Chài nghề biển có nghề lưới đăng, câu cá biển; trong
ẩm thực nổi tiếng có nghề làm nước mắm, các loại mắm cá cơm, cá thu; văn hóa dân gian có Lễ hội Cầu ngư thờ cá voi
Không chỉ ở vùng bờ, Khánh Hòa còn có quần đảo Trường Sa, một thế mạnh của địa phương trong bảo tồn và phát huy văn hóa biển đảo
Khi tìm hiểu về bất cứ vùng biển nào của đất nước chúng ta cũng dễ dàng tìm
thấy cái tên gọi lễ hội cầu ngư Ở Nha Trang Lễ hội cầu ngư được tổ chức hàng
năm, đây là nét văn hóa đặc trưng của ngư dân miền biển với những nghi thức truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa và tín ngưỡng của người dân địa phương như: Lễ khai sắc, dâng hương để tỏ lòng biết ơn đến các vị anh hùng liệt sĩ, các bậc tiền hiền có công khai hoang, mở đất, lễ tế lăng ông Nam Hải và cúng Thần hòang bổn xứ cầu chúc quốc thái dân an, ngư dân có được mùa biển bội thu
Trang 37Với lễ hội cầu ngư tại Bích Đầm- TP Nha Trang, những năm gần đây ngư dân trên đảo đã phục dựng lại tiết mục Hò bá trạo nhờ sự hỗ trợ của Dự án hợp phần sinh kế bền vững bên trong các khu bảo tồn biển với hy vọng sẽ mang đến một lễ hội cuả các ngư dân trên biển cùng với vẻ đẹp của Vịnh Nha Trang - Một trong những vịnh đẹp nhất thế giới cho khách du lịch trong và ngoài nước cùng biết đến
và thưởng thức nét độc đáo của lễ hội đặc biệt này
Ngoài ra Nha Trang còn có một lễ hội gắn liền với đặc sản vùng đất Khánh Hòa
đó là Lễ hội Yến Sào Được tổ chức tại đảo Hòn Nội, vào ngày 10 tháng 5 âm lịch hàng năm Tên gọi đầy đủ của lễ hội này là “ Lễ hội ngành khai thác Yến Sào” Lễ hội do đông đảo bà con làm nghề lấy tổ yến tổ chức tại đảo Hòn Nội, nơi đặt Miếu thờ Bà Chúa Đảo Yến, với các nghi lễ trọng thể, trang nghiêm Nghề khai thác Yến Sào ở Khánh Hòa đã có trên 600 năm, đây là một nghề “hái ra vàng” nhưng đầy nguy hiểm, rủi ro vì luôn phải treo mình trên vách đá chênh vênh để thu tổ yến Do vậy, lễ hội là dịp người làm nghề cầu cúng, xin được ban ơn, ban phước lành
Và với Festival biển được tổ chức 2 năm/ lần, với rất nhiều tiết mục được dàn dựng công phu, mang đậm bản sắc văn hóa biển, thể hiện hình ảnh một vùng vịnh đa dạng sinh học, rực rỡ sắc màu biển cả cho công chúng địa phương và các du khách quốc tế cùng biết đến Lễ hội bắt đầu từ năm 2003 và đã trải qua 5 lần tổ chức, để lại rất nhiều ấn tượng đẹp trong lòng du khách về một Nha Trang vô cùng hấp dẫn và xứng đáng là điểm tham quan mà du khách nên lựa chọn
2.2.2.2.2 Con người và ẩm thực biển tại Nha Trang, Khánh Hòa
Người dân Nha Trang chân thành, cần cù, giản dị và hiếu khách Thiên nhiên đã ban tặng cho Nha Trang tất cả những gì mà một vùng duyên hải có thể có: từ những hòn đảo ngoài khơi tới những bãi tắm cát trắng mịn, từ những rặn san hô kì ảo dưới lòng đại dương tới những ngôi đền Chăm cổ kính rêu phong trên núi, từ những làng chài xôn xao ven biển tới những bảo tàng tĩnh lặng giữa lòng thành phố Những yếu
tố đó đã tạo nên tính cách chân thành, thân thiện, hiếu khách và cần cù của người dân Nha Trang Không kín đáo như người Hà Nội, không cầu kì như người Huế, và nhịp sống cũng chậm hơn người Sài Gòn, người Nha Trang có tính cách phóng
Trang 38khoáng mà giản dị hệt như những đặc tính của vùng biển Nha Trang kín gió, sóng nhẹ.
Gỏi cá Nha Trang tuy chưa có bề dày "truyền thống" và nổi tiếng như món chả
cá Lã Vọng ở Hà Nội nhưng cũng có những nét độc đáo riêng Gỏi cá Nha Trang chủ yếu làm từ cá Mai, cá Mú, hai loại cá biển rất sẵn của vùng Cá để làm gỏi phải thật tươi, thậm chí vài phút trước khi ăn vẫn đang bơi lội trong nước
Hơn thế, các loại gia giảm, rau sống ăn kèm cũng được lựa chọn công phu, cầu
kỳ Ngoài các loại rau thơm thông thường như húng quế, mùi, tía tô, rau răm, nhất thiết phải có một số loại rau, củ đặc biệt như đinh lăng, diếp cá, đọt sung, búp dâu,
củ riềng, chuối xanh, đọt xoài Các loại rau củ ăn kèm này có tác dụng khử mùi tanh của cá, làm ấm bụng, tiêu thực và giải độc rất tốt Do đó, tuy ăn thịt cá sống đấy nhưng với sự trợ giúp của các loại rau gia vị, bạn sẽ không còn cảm thấy mùi tanh
mà sẽ thấy một hương vị ngon miệng khó quên
Theo đông y, gỏi cá là món ăn mát, bổ, an thần, tạo cảm giác sảng khoái, nhẹ nhàng cho thực khách
Ngoài ra, dạo quanh thành phố Nha Trang vào các buổi sáng sớm, chúng ta cũng dễ dàng tìm thấy những quán ăn nho nhỏ, được dựng bạt rất thô sơ, nhưng bán những món ăn đặc sản thực sự rất ngon đó là bánh canh, bánh căn, bún cá, chả cá
Có thể nói, đối với người dân Nha Trang nói riêng và Khánh Hòa nói chung thì cái tên bánh canh, bún cá được gọi lên hàng ngày Sáng sớm thức dậy hoặc chiều tối họ đều nghĩ đến món ăn vặt đầu tiên là chúng Nó thể hiện rõ hơn ở các vùng Ninh Ích, Ninh Hòa…ở các vùng này, món được ưa thích nhất là bún cá, dường như ngày nào
họ cũng ăn ít nhất là một tô, một tô bún ở đây không lớn như ở Sài Gòn, nó chỉ có giá 5000 đ, và chỉ vừa đủ để họ phải kêu thêm 1 tô nữa cho mình Người Nha Trang thì thích ăn bánh canh hơn, tuy nhiên bánh canh bắt buộc phải có chả cá Nếu họ tìm
ra một địa điểm bán đồ ăn ngon thì nơi đó phải có chả cá thực sự ngon, người dân Nha Trang thậm chí không ngần ngại đi xa hơn nhà của mình 10 cây số chỉ để thưởng thức món chả cá ngon nhất Thành phố Chả cá được làm từ cá tươi giã nhuyễn, giã càng nhuyễn chả càng có độ dai, có thể thêm một ít gia vị vừa ăn nhưng
Trang 39tuyệt đối không pha bột nên chả vẫn giữ được vị ngon ngọt của cá sau khi chiên hoặc hấp Người ta thường ăn bún cá với sứa tươi hoặc khô đã được chần qua nước nóng kèm với các lọai rau sống, bắp chuối xắt sợi nhỏ Đây là một món ăn không thể không thưởng thức khi đến Nha Trang.
Đến với Nha Trang, nếu các bạn bỏ qua món bún sứa, xem như chưa biết hết biển Nha Trang Món bún sứa xuất hiện ở nhiều nơi, nhưng bún sứa Nha Trang từ xưa đến nay là nổi tiếng nhất Người dân biển xa quê lâu ngày, trở về Nha Trang nhất định phải tìm bún sứa, không câu nệ phải tìm đến những nơi nổi tiếng, bởi vì bản chất của món bún này đã đậm đà vị biển - hương vị quê nhà lắm rồi Sứa để làm bún sứa là loại nhỏ bằng đầu ngón chân cái hoặc ngón tay cái, màu trắng đục, thành dày, nhìn giống như cơm trái dừa nước Loại sứa này do các ngư dân vớt tận các đảo
xa Không nên lẫn lộn với các loại sứa thường gây ngứa Nước dùng được nấu bằng
cá liệt, loại cá chỉ lớn chừng ba ngón tay phần đuôi thắt lại trông như cái nơ nhỏ, không xương nhỏ và ngọt lừ
Ngoài ra, chúng ta không thể không nhắc đến Yến sào, nguồn tài nguyên quí hiếm, và là loại thực phẩm cao cấp có nhiều chất bổ dưỡng đặc biệt, có lợi cho sức khỏe Yến sào có nhiều chức năng phục hồi sức khỏe rất tốt, tăng cường hệ miễn dịch, đẩy nhanh quá trình tái tạo tế bào, giúp người bệnh nhanh phục hồi, và thậm chí còn được cho rằng hỗ trợ bệnh nhân AIDS chống lại virus HIV Nó còn chữa bệnh kinh niên như hen suyễn…Có 2 loại Yến sào chính là yến sào trắng và yến sào huyết Tuy nhiên yến sào huyết nên được hạn chế ở Nha Trang, vì nó không tốt cho sự phát triển bền vững sinh thái của vịnh
Trang 40Chương III: Thực trạng hoạt động phát triển du lịch
tại vịnh Nha Trang3.1 Sự phát triển du lịch tại TP Nha Trang
3.1.1 Sơ lược về quá trình phát triển du lịch
Từ sau ngày đất nước thống nhất (1975), các hoạt động du lịch nhanh chóng được triển khai Đầu năm 1976, Công ty Du lịch Phú Khánh (Công ty Du lịch Khánh Hòa nay), đơn vị kinh doanh du lịch đầu tiên của tỉnh ra đời Bên cạnh đó nhiều công ty và đơn vị kinh tế trực thuộc ngành hoặc trung ương tổ chức triển khai hoạt động dịch vụ du lịch kết hợp Cơ sở vật chất ban đầu chủ yếu được tận dụng lại từ
Từ sau ngày tái lập tỉnh (1989), lĩnh vực du lịch được chú trọng Năm 1993, tỉnh Khánh Hòa đã thành lập Sở Du lịch Tiếp đó, đầu năm 1994, tỉnh có Chỉ thị 06/ CT-UB “về củng cố và phát triển ngành du lịch” Năm 1995, “Chiến lược phát triển
du lịch đến năm 2000” và “Đề án Quy hoạch tổng thể Du lịch tỉnh Khánh Hòa” được thông qua Theo đó, tỉnh có 3 vùng du lịch chính: Nha Trang – Diên Khánh (Trung tâm), Vân Phong (phía Bắc), Cam Ranh (phía Nam) Quy hoạch tổng thể tạo
sự phối hợp đồng bộ trong việc đầu tư, xây dựng giữa các cấp, các ngành, mở đầu