Dùng côn trùng kiểm soát sâu hại cây trồng Kiểm soát sâu hại bằng sinh học liên quan tới việc sử dụng các thiên địch kẻ thù tự nhiên của sâu hại để kiểm soát chúng, thay vì sử dụng hoá
Trang 1Trêng THPT Th¨ng Long
Líp 10A4 – Tæ 1
Hµ néi th¸ng 11 n¨m 2006
Trang 3I Mét sè bµi viÕt vÒ s©u, bÖnh
1 Dũng sĩ trừ sâu - Khuẩn Thuring (Bacillus thuringiensis)
Trong vương quốc vi sinh vật có rất nhiều dũng sĩ trừ sâu Hàng trăm ngàn năm về trước, chúng vẫn âm thầm giúp đỡ con người diệt sâu trừ hại, bảo vệ ruộng đồng Những thành tích của chúng chỉ mới được phát hiện khoảng 100 năm gần đây.
Năm 1911, Bernard - người Đức, tìm thấy trong một xưởng
bột mì ở Thuringia, một giống vi khuẩn ký sinh trong cơ thể côn
trùng, có sức trừ sâu rất mạnh, gọi là khuẩn Thuring
Khuẩn Thuring trông như chiếc gậy gộc, dài chưa đầy
5/1000mm Khi nó lớn đến một mức nhất định, ở một đầu sẽ
hình thành một nha bào hình trứng để sinh sản, đầu kia sinh ra
một thể kết tinh khối thoi hoặc gần khối vuông Vì cùng sinh ra
đồng thời với nha bào, người ta gọi là tinh thể bạn, rất độc Khi
sâu hại phá hoại mùa màng ăn phải khuẩn Thuring, tinh thể bạn
sẽ phá hỏng hệ thống tiêu hóa của sâu, khiến chúng ngừng ăn,
nôn mửa, ỉa chảy; còn nha bào vào máu sẽ gây bệnh thiếu máu
cho sâu, cuối cùng sâu chết
Phát hiện khuẩn Thuring đã mở ra một triển vọng sáng sủa của biện pháp trừ sâusinh học Hiện nay người ta đã sản xuất khuẩn Thuring quy mô lớn, rồi chế biến thànhcác loại thuốc như Thuricide, Biotrol, Bathurin có tác dụng diệt hàng trăm giống sâuhại
Trang 42 Dùng côn trùng kiểm soát sâu hại cây trồng
Kiểm soát sâu hại bằng sinh học liên quan tới việc sử dụng các thiên địch (kẻ thù tự nhiên) của sâu hại để kiểm soát chúng, thay vì sử dụng hoá chất chẳng hạn như thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ Nói cách khác, đó là việc dùng côn trùng hữu ích để kiểm soát côn trùng gây hại.
Laydybeetle đang ăn sâu hại cây trồng
Phần lớn các loài gây hại là thực vật (cỏ) hoặc động vật (đặc biệt là côn trùng).Chúng xâm lược một môi trường sống mới mà không có các thiên địch đi kèm đểkiểm soát chúng như ở quê hương bản địa Với hoạt động giao thương và đi lại quốc
tế ngày càng tăng, vấn đề này ngày càng nghiêm trọng
• Nguy cơ, có hay không?
Giống như các biện pháp kiểm soát sâu hại khác, các thiên địch giúp giảm những loàikhông được mong muốn Tuy nhiên, tác động tới môi trường của biện pháp kiểm soátsinh học ít hơn so với các phương pháp kiểm soát sâu hại khác do thiên địch khônglàm ô nhiễm đất hoặc nước, cũng không để lại dư lượng hoặc mùi vị Ngoài ra, sâu hạikhông kháng lại thiên địch như chúng đã làm đối với thúôc trừ sâu
Việc kiểm soát mọi loại sâu hại đều có nguy cơ Ba lo lắng chính khi thả cácthiên địch là:
1) Liệu chúng có áp đảo các thiên địch khác cùng tấn công một loại sâu hại haykhông?
2) Liệu chúng có tấn công các loài hữu ích? và
3) Ngay khi được thả vào môi trường, liệu chúng có trở thành mối phiền toái trongtương lai? Thật may là hầu hết các thiên địch được thương mại hoá là những loài bảnđịa hoặc giống nhập ngoại hữu ích, đã được thử nghiệm để đảm bảo chúng không gâyrắc rối sau này
Trang 5Mặc dù một số loài sâu hại có thể được kiểm soát bằng thiên địch song những loàikhác đòi hỏi phải sử dụng nhiều phương pháp và kỹ thuật, trong đó có hoá chất, cơhọc, vệ sinh, canh tác, bẫy và giám sát.
• Ba hình thức kiểm soát sinh học
Kiểm soát sinh học được chia làm ba loại chính: cổ điển, bảo tồn và gia tăng
Giống như một nền dân chủ, tự nhiên đầy các biện pháp kiểm soát và cân nằng đểđiều hoà dân số của các loài Tuy nhiên, sự cân bằng tự nhiên này có thể bị lật đổ khicác sinh vật đột nhiên được đưa vào những khu vực nơi chúng không tồn tại trước
đó Loại kiểm soát sinh học cổ điển lần đầu tiên được sử dụng tại Mỹ vào năm 1888khi bọ ladybeetle Vedalia (Rodalia cardinalis) được thu thập ở Australia và thả ởnhững vườn cam chanh ở California Những vườn này bị vảy đệm bông - một loài bảnđịa ở Australia - tàn phá Ngay khi Rodalia cardinalis được đưa vào, vảy đệm bôngđược kiểm soát trong vòng một vài năm
Loại duy trì liên quan tới việc thực hiện nhiều bước đềđảm bảo môi trường sống cung cấp những thứ cơ bản màthiên địch cần để phát triển, chẳng hạn thức ăn, nước vànơi cư ngụ Trồng cây ra hoa gần vườn ohặc giảm lượngthuốc trừ sâu là một vài cách bảo tồn dân số hiện có củacác sinh vật hữu ích
Gia tăng số lượng côn trùng hữu ích có thể giúp phòng ngừa các đợt dịch bệnhtrước khi chúng lan rộng Loại kiểm soát sinh học này giống việc sử dụng thuốc sâunhất song không gây các tác hại như kháng thuốc trừ sâu, dư lượng thuốc trừ sâu hoặcgiảm các loài hữu ích
• Các thiên địch
Thu thập bọ chét cánhcứng (trên) và thả chúngvào cánh đồng để diệt cỏdại
Tiến trình ấu trùng sâu
ngô bị nấm Beauvaria
bassiana tiêu diệt
Trang 6Có bốn tác nhân được sử dụng trong kiểm soát sinh học Đó là loài bắt mồi, vật
ký sinh, mầm bệnh và côn trùng ăn cỏ dại Mầm bệnh bao gồm các loại nấm, vikhuẩn, virut gây bệnh cũng như các động vật nguyên sinh Chúng tiêu diệt động vậtchân đốt gây hại bằng cách lây nhiễm Các loại mầm bệnh ảnh hưởng tới côn trùngđược lựa chọn cẩn thận để tiêu diệt các loài chân đốt song không lây nhiễm cho người.Một số mầm bệnh có thể được phun lên cây trồng giống như thuốc trừ sâu, chẳng hạnchế phẩm Bt (Bacillus thuringiensus) và các chế phẩm chứa nấm Beauvaria bassiana
Các loài bắt mồi bao gồm mọi sinh vật ăn các sinh vật khác, thường yếu hoặcchậm chạp hơn Nhện dệt mạng là một ví dụ về loài bắt mồi ăn các côn trùng bay Cácloài bắt côn trùng, có phạm vi vật chủ hẹp, được coi là hiệu quả nhất trong kiểm soátsâu bệnh hại cây trồng
Vật ký sinh thường là ong bắp cày và ruồi ký sinh Chúng tiêu diệt sâu hại bằngcách đẻ trứng bên trong hoặc trên một vật chủ, chẳng hạn trứng, ấu trùng, nhộng hoặccon trưởng thành Ngay khi trứng của chúng nở, con non sẽ tiêu diệt vật chủ bằngcách ăn vật chủ đó Vật ký sinh thường là thiên địch rất hiệu quả bởi vật ký sinh cái cóthể sống ký sinh trên một lượng lớn sâu hại trong một thời gian tương đối ngắn
Vật ăn cỏ dại thường là côn trùng ăn các loại cỏ dại ngoại lai hoặc gây hại nhấtđịnh Một ví dụ điển hình là bọ cánh chét cánh cứng ăn cỏ spurge
II Mét sè lo¹i s©u, bÖnh h¹i
A s©u h¹i
1 Rầy chổng cánh
Trang 7Rầy chổng cánh (trưởng thành) Rầy chổng cánh (sâu non)
Tên khoa học: Diaphorina citri
Là loại rầy nhỏ, trưởng thành dài 2,5- 3mm, có cánh dài màu nâu đậm xen kẽ có vệt trắng chạy từ đầu đến cuối cánh, khi đậu phần cuối cánh nhô cao hơn đầu (vì vậy
có tên là rầy chổng cánh)
Sâu hại đặc biệt quan trọng vì chúng là môi giới gây truyền bệnh vàng lá gân xanh (bệnh Greening) rất khó phòng trừ cho các loại cây cam quýt Trong năm rầy non có đỉnh cao số lượng trùng với thời điểm ra lộc, đặc biệt là lộc xuân và lộc thu Rầy non và trưởng thành thường tập trung trên lộc non của cây
Biện pháp phòng trừ
Thường xuyên điều tra, theo dõi mật độ rầy chổng cánh trên vườn cam, đặc biệt làgiai đoạn lộc xuân là thời kỳ rầy có nhiều tiềm năng truyền bệnh vàng lá Tiến hành phòng trừ rầy bằng thuốc hoá học, ngăn chặn khả năng truyền bệnh của rầy Sử dụng một số loại thuốc như Trebon 0,15-0,2%, Sherpa 0,1-0,2%, Sherzol 0,1-0,2%, phun 600-800 lít nước thuốc đã pha /ha vào lúc lộc non mới nhú và 7-10 ngày sau Đối với cây mới trồng thường xuyên có lá non, nên cần theo dõi thật kỹ trên vườn quả, tiến hành phòng trừ sớm hạn chế lây nhiễm bệnh Tạo tán cây thấp, tỉa cành trong tán, duy trì kiến vàng
2 Sâu vẽ bùa
Sâu vẽ bùa (sâu non gây hại trên lá) Sâu vẽ bùa (trưởng thành)
Tên khoa học: Phyllocnistis citrella
Sâu trưởng thành là một loại bướm rất nhỏ, dài khoảng 2mm, cánh có ánh bạc với
Trang 8màu vàng nhạt và nhiều đốm đen nhỏ Hại chủ yếu trên cây 1-3 tuổi và trong vườn ươm.
Biện pháp phòng trừ
Theo dõi chặt chẽ các đợt lộc xuất hiện rộ trên vườn quả, nhất là các đợt lộc xuân, đợt lộc sau khi mưa, sau khi bón phân và sau khi tưới nước Sử dụng một số loại thuốcnhư Decis 0,2%, Sumicidin 0,2%, Polytrin 0,2%, lượng phun từ 600-800 lít nước đã pha /ha, tiến hành phòng trừ sớm khi độ dài của lộc đạt 1-2cm hoặc thấy triệu trứng gây hại đầu tiên của sâu
Trang 93 Sâu bướm phượng
Sâu non bướm phượng Bướm phượng
Tên khoa học: phổ biến là 2 loài:
• Papilio polytes
• Papilio demoleus
Sâu trưởng thành là bướm phượng có màu sắc sặc sỡ, bướm hoạt động ban ngày,
đẻ trứng rời rạc từng quả vào các đọt non Ấu trùng nở ra, ăn rải rác trên các là non
Biện pháp phòng trừ
Thường xuyên kiểm tra vườn quả, nếu mật độ thấp có thể bắt bằng tay, mật độ cao phòng trừ sâu non bằng các thuốc trừ sâu thông thường
4 Ngài chích hút
Bướm chích hút hại quả
Tên khoa học: Othreis fullonia, Othreis sp.
Trang 10Trưởng thành là một loại bướm khá to, cánh trước có màu nâu, cánh sau màu vàng với một đốm đen hình chữ C ở giữa cánh Đầu có vòi dài xếp lại như những vòng tròn.
Bướm gây hại vào ban đêm ở giai đoạn quả to và bắt đầu chín có màu vàng Vết chích của bướm làm cho quả úa vàng, thối dần và rụng
Biện pháp phòng trừ
• Vào mùa quả chín, ban đêm có thể soi đèn dùng vợt bắt bướm
• Sử dụng bẫy chua, ngọt 15-20 bẫy/ha, thành phần bẫy gồm nước dứa ép + Dipterex 1% ban đêm đặt xung quanh vườn cây bẫy bướm gây hại
• Vệ sinh vườn quả, hạn chế nơi trú ngụ của bướm gây hại
5 Rệp cam
Rệp muội cam Rệp muội cam gây hại trên lá
Tên khoa học: Toxoptera citidus
Là loài côn trùng nhỏ bé, trưởng thành dài khoảng 2mm, mình căng tròn có màu nâu đen Rệp sống tập trung chích hút các búp non, lá non Rệp cam là môi giới truyềnbệnh virus trong đó có bệnh Tristeza rất nguy hiểm cho các vùng trồng cam
Biện pháp phòng trừ
Thường xuyên thăm vườn, khi thấy mật độ rệp cao cần tiến hành phòng trừ bằng các loại thuốc hoá học như Sherpa 0,2%, Trebon 0,2%, Sherzol 0,2% Lượng phun là 600- 800 lít nước thuốc đã pha /ha
Trang 116 Các loại rệp sáp
Rệp sáp gây hại trên cây có quả Rệp sáp hại cây có múi
Là những côn trùng nhỏ bé, kích thước từ 1-4mm Cơ thể thường có một lớp sáp hoặc lớp bột phấn bao phủ
Các loại rệp sáp sống thành tập đoàn, từng đám, bám dính chặt trên các cành non hoặc quả Chúng chích hút nhựa cây làm cây sinh trưởng kém Rệp gây hại trên quả, làm giảm chất lượng sản phẩm Ngoài ra rệp sáp cũng là môi giới truyền bệnh virus
Biện pháp phòng trừ
Sử dụng một số loại thuốc như Sumicidin 0,2%, Supracide 0,15-0,2%, Decis 0,2% Tiến hành phòng trừ khi mật độ chưa cao Phun dầu khoáng Caltex, DC Tron 800-1000 lít /ha
7 Ruồi đục quả
Ruồi đục quả Dòi gây hại trong quả
Tên khoa học: Bactrocera dorsalis
Trưởng thành là một loại ruồi to hơn ruồi nhà, cơ thể có mùa vàng, cánh trong, khi đậu 2 cánh giang ngang vuông góc với thân
Trang 12Ruồi dùng ống đẻ trứng chích sâu vào trong thịt quả, đẻ trứng thành từng ổ ở những quả chín và bắt đầu chín Sâu non nở ra phá hoại phần thịt quả, làm quả bị thối,ủng và rụng.
Biện pháp phòng trừ
• Thu dọn hết quả rụng trên vườn, chôn sâu xuống dưới đất
• Thu hoạch quả kịp thời
• Phun phòng trừ trước khi thu hoạch một tháng bằng hỗn hợp 5% bả Protein +1% Pyrinex 20EC, mỗi cây phun 50ml (tương đương 1m2, thời gian trong khoảng 5-6 giây) tập trung vào nơi có nhiều lá, tiến hành phun định kỳ tuần 1 lần đến thu hoạch là xong
8 Nhện đỏ
Nhện đỏ Nhện đỏ gây hại trên lá
Tên khoa học: Panonychus citri
Là loại sâu hại rất nhỏ bé, khó nhìn được bằng mắt thường Trưởng thành có hình
ô van, dài từ 0,3-0, 5mm màu nâu đỏ
Nhện đỏ thường tập trung sống, chích hút mặt dưới của lá làm cho các lá mất màu xanh bóng, chuyển sang màu trắng bạc, bị nặng lá sẽ bị rụng hàng loạt
Trên quả nhện gây ra các đám sần sùi, làm giảm năng suất và phẩm chất quả Nhện đỏ thường phát triển mạnh vào mùa khô hạn và trời nắng ấm Mùa mưa bão mật độ nhện giảm rõ rệt
Biện pháp phòng trừ
Nhện đỏ dễ có khả năng kháng thuốc nên chú ý thường xuyên thay đổi thuốc Thường xuyên kiểm tra vườn quả Cần tiến hành phòng trừ khi mật độ nhện còn thấp, tránh giết chết thiên địch của nhện
Một số loại thuốc có hiệu quả phòng trừ nhện như: Pegasus 500 ND 0,1%, Ortus
3 SC 0,1%, lượng phun 800 lít nước thuốc đã pha /ha, phun ướt đẫm lá, đặc biệt là mặt dưới Dầu phun trừ sâu Caltex, DC- Tron plus 0,5%, lượng phun 800- 1000 lít /ha
Trang 139 Nhện ống hại cam
Nhện ống hại quả Nhện ống (trứng, sâu non, trưởng thành)
Tên khoa học: Phyllocoptruta oleivora
Nhện ống hại cam rất nhỏ, chiều dài thân 0,1- 0,15mm, có màu vàng nhạt, không thể nhìn thấy bằng mắt thường Hình dáng nhện như củ cà rốt Nhện ống xuất hiện và gây hại trên các lá non ở mùa xuân, sau đó di chuyển gây hại trên quả non, chích hút, phá huỷ các túi tinh dầu, gây hiện tượng rám quả, giảm chất lượng quả Những quả bị hại nặng vỏ sần cứng, quả nhỏ không lớn được và chua hơn
Biện pháp phòng trừ
Ở những vùng thường xuyên bị rám quả, tiến hành phòng trừ nhện hai đợt bằng Ortus 5 SC 0,1% hoặc Comite 73 EC 0,1% Dầu phun trừ sâu Caltex 0,5%
Đợt 1: Khi quả lớn bằng đầu ngón tay hay có đường kính khoảng 1cm
Đợt 2: Phun sau đợt 1 khoảng từ 7- 10 ngày
Trang 14b bÖnh h¹i
1 Bệnh vàng lá Greening.
Cây bị bệnh vàng lá Greening
Tên khoa học: Liberobacterium asiaticum
Nguồn lây bệnh là vật thể giống vi khuẩn, có hình gậy hoặc đa hình, kích thước cực nhỏ sống tồn tại trong các mạch dẫn libe của cây
Triệu chứng tiêu biểu của những cây bị bệnh là lá có gân và vùng phụ cận biến vàng, với các đốm khảm hoặc cả lá biến vàng, đôi khi gân lá bị sưng nứt, tiếp theo là cành bệnh bị rụng lá sớm, các chồi ngọn khô chết dần Các rễ nhỏ và rễ nhánh bị huỷ hoại, cây bị suy thoái nhanh và chết dần Những đợt lá non ra sau nhỏ và biến vàng như hiện tượng thiếu kẽm Cây bị bệnh còi cọc, thường ra trái vụ, quả nhỏ, căng và tâm bị lệch, hạt lép nhiều
Bệnh lây lan qua côn trùng môi giới là rầy chổng cánh (Daphorina citri) và mắt ghép hoặc cành chiét nhiễm bệnh
Trang 15• Phòng trừ tốt rầy chổng cánh, hạn chế sự lây lan và tái nhiễm bệnh (Xem thêm phần rầy chổng cánh)
2 Bệnh cam buồn Tristeza
Nguồn gây bệnh
Chuẩn đoán bệnh bằng kỹ thuật PCR
(Phản ứng chuỗi Polyme)
Trang 16Tên khoa học: Closterovirus CTV
Nguồn lây bệnh là virus hình sợi kích thước cực nhỏ, có nhiều chủng loại gây bệnh nặng và có những chủng loại gây bệnh nhẹ Các chủng nhẹ chỉ gây biến vàng lá
và cây bị hại nhẹ Các chủng nặng là cây bị suy thoái nghiêm trọng, lá vàng và nhỏ Trên thân cây và cành bị bệnh có nhiều vết lõm Lá biến vàng do Tristeza thường vàng cả phiến lá với những đoạn gân lá bị trong
Bệnh lây lan qua mắt ghép, cành chiết bị bệnh và côn trùng, môi giới truyền bệnh
là rệp, muội đen Toxoptera citridus và rệp muội Aphis gossipii
Biện pháp phòng trừ
Tương tự như phòng từ bệnh vàng lá Greening
3 Bệnh loét
Tên khoa học: Xanthomonas campestris PV citri
Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn có tên là Xanthomonas campestris PV citri gây ra
Vi khuẩn xâm nhập vào cây qua các lỗ khí hoặc qua các vết thương cơ giới Trong điều kiện ẩm độ không khí cao, nhiệt độ từ 25- 35 độ C, mưa nhiều dịch bệnh phát triển mạnh, gây hại nặng cho các vùng trồng cam
Bệnh gây hại trên cành non, trên lá và quả Vết bệnh lúc đầu là các mụn sần
khoảng 3-5mm, sau đó chuyển sang màu nâu vàng, xung quanh có viền màu vàng Lá
bị nhiễm bệnh nặng úa vàng và rụng sớm
Biện pháp phòng trừ
• Phòng trừ bệnh triệt để trên vườn ươm, chỉ trồng cây giống sạch bệnh
• Cắt bỏ các lá cành bị bệnh để hạn chế nguồn bệnh lây lan- Phun phòng trừ bệnhbằng Boóc đô 1% hoặc Casuran nồng độ 0,1% tập trung vào lá, liều lượng 600-
800 lít /ha