1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYÊN đề THA bắc ninh

22 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 42,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để ngăn chặn các hành vi nêu trên của người phải thi hành án, kịp thời khắc phục những bất cập và tạo hành lang pháp lý cho Chấp hành viên thực thi nhiệm vụ, biện pháp bảo đảm thi hành á

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN

Trong quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên đã gặp rất nhiều trường hợp người phải thi hành án có tài sản nhưng cố tình trốn tránh, tẩu tán, hủy hoại tài sản dẫn đến không còn điều kiện thi hành án Trong khi đó, thời gian từ khi có bản án, quyết định thi hành án, xác minh đến khi tổ chức cưỡng chế phải thực hiện khá nhiều thủ tục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác thi hành án dân sự

Để ngăn chặn các hành vi nêu trên của người phải thi hành án, kịp thời khắc phục những bất cập và tạo hành lang pháp lý cho Chấp hành viên thực thi nhiệm vụ, biện pháp bảo đảm thi hành án và những nội dung liên quan trong quá trình ban hành và tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm thi hành án được quy định tại nhiều điều, khoản của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (13/183 điều, gồm:

Trang 2

Khoản 5 Điều 20, khoản 3 Điều 31, Khoản 2 Điều 45 và 04 điều tại Mục 1

Chương IV, từ Điều 66 đến Điều 69, Khoản 1 Điều 130, Điểm a, b Khoản 2 Điều

140, Khoản 1 và 2 Điều 146, Điều 175, khoản 2 Điều 176 và Khoản 2 Điều 177) Các quy định trên của Luật Thi hành án dân sự đã được quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể tại Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày

13/7/2009 Đây hoàn toàn là điểm mới của Luật thi hành án dân sự và Nghị định hướng dẫn thi hành so với các quy định về thi hành án dân sự trước đây, đặt những

cơ sở pháp lý đầu tiên để Chấp hành viên tiến hành các hoạt động thi hành án nhằmmục đích kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành

án của người phải thi hành án, đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa án và cơ quan có thẩm quyền được thi hành một cách triệt để và hiệu quả

Tuy nhiên, qua thực tế 05 năm thi hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008, các Chấp hành viên rất hạn chế áp dụng các biện pháp bảo đảm vì quá trình áp dụng gặp không ít khó khăn, vướng mắc như hình thức áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ chưa rõ ràng, sự phối hợp hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức thiếu hiệu quả, thời hạn phong tỏa tài sản quá ngắn không phù hợp với thời hạn tự nguyện thi hành án.Theo số liệu thống kê kết quả thi hành áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án từ 01/10/2014 đến 30/9/2015 trên toàn quốc cho thấy: số việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản là 760 việc, áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ là 94 việc, áp dụng biện pháp tạm dừng đăng ký, chuyển dịch tài sản là 2521 việc; có đơn vị chưa ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm nào như Bến Tre, Quảng Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn , hoặc có đơn vị áp dụng rất ít (dưới 05 việc) như Hải Dương, Trà Vinh, Hưng Yên, Hà Tĩnh

Chính vì vậy, nhằm khắc phục các bất cập của Luật thi hành án dân sự 2008 và thực tiễn tổ chức thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành án, Luật sửa đổi, bổ sung

một số điều của Luật Thi hành án dân sự (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ sung)

được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015

Trang 3

đã sửa đổi, bổ sung 06 Điều liên quan đến biện pháp bảo đảm thi hành án, cụ thể là: Điểm a khoản 1 Điều 7, điểm a khoản 1 Điều 7b, khoản 3 Điều 31, Điều 67, Điều 68 và Điều 69 Vấn đề này đã được hướng dẫn và quy định chi tiết tại 08 điềugồm Điều 13, Điều 15, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 23, Điều 34 và Điều 38 của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (sau đây gọi là Nghị định số 62/2015/NĐ-CP)

Về cơ bản, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự vẫn giữ nguyên các quy định về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án như số lượng 03 biện pháp bảo đảm, người có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm Bên cạnh đó, để khắc phục một số khó khăn, vướng mắc, Luật sửa đổi, bổ sung và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã có nhiều quy định mới trong nội dung của từng biện pháp bảo đảm

I NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN

1 Về quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thông báo tham gia vào việc thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành án

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 không quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền được thông báo và tham gia vào việc thực hiện biện pháp bảo đảm của cơ quan thi hành án Tại Khoản 3 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm

2008 quy định người yêu cầu thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân

sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 của Luật này Trong thực tế cho thấy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền được thông báo từ khi cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, nhiều trường hợp

cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án mà không thông báo cho họ dẫn đến thực tế chính người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người biết

về thực trạng, nguồn gốc tài sản đang áp dụng biện pháp bảo đảm, hoặc chính họ

có liên quan đến tài sản đó nên việc thông báo và cho họ quyền tham gia vào việc

Trang 4

thực hiện biện pháp bảo đảm của cơ quan thi hành án là cần thiết Vì vậy, bên cạnh việc quy định tại Khoản 3 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được đưa lên Điểm a Khoản 1 Điều 7, Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 7b về việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có quyền được thông báo, tham gia vào việc thực hiện biện pháp bảo đảm mà họ có liên quan.

2 Về biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

Thứ nhất, bổ sung quy định phong tỏa tài sản tại nơi gửi giữ:

Trước đây, theo quy định tại Điều 67 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Điều

11 Nghị định số 58/2008/NĐ-CP ngày 13/7/2008 của Chính phủ quy định biện pháp bảo đảm là phong tỏa tài khoản mà không quy định biện pháp phong tỏa tài sản tại nơi gửi giữ Theo đó, phong tỏa tài khoản là một biện pháp làm cho mọi hoạt động rút tiền ra từ một tài khoản nhất định bị hạn chế và bị kiểm soát; đối tượng bị áp dụng biện pháp phong toả tài khoản là người phải thi hành án có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước

Thực tế hoạt động thi hành án dân sự trong thời gian qua cho thấy nhiều trường hợp người phải thi hành án có tài sản không phải là tiền mà còn là các loại tài sản như kim khí quý, đá quý đang gửi người khác giữ (có thể là ngân hàng, các tổ chức tín dụng hoặc người thứ ba khác ), nhưng Luật Thi hành án dân sự 2008 không quy định Chấp hành viên được quyền áp dụng biện pháp bảo đảm phong tỏađối với loại tài sản này dẫn đến người phải thi hành án dễ dàng tẩu tán, trốn tránh nghĩa vụ Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung biện pháp bảo đảm “phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ” vào Điều 67 và quy định cách thức thực hiện tương tự như biện pháp phong tỏa tài khoản, nhằm tạo điều kiện tốt hơn để bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án

Đồng thời, bổ sung đối tượng “cá nhân” đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án được nhận và phải thực hiện quyết định áp dụng biện pháp bảo

Trang 5

đảm Theo đó, Chấp hành viên phải giao quyết định phong tỏa cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án.

Thứ hai, quy định đã rõ hơn về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi

có tài khoản, tài sản:

Trước đây, việc cung cấp thông tin về tài khoản của người phải thi hành án cũng như trách nhiệm phối hợp của các tổ chức tín dụng, ngân hàng, kho bạc nhà nước với cơ quan thi hành án dân sự rất khó khăn Các tổ chức này viện dẫn các quy định tại Điều 17 và Điều 104 Luật Các tổ chức tín dụng để từ chối cung cấp thông tin về tài khoản, số dư tài khoản, tài sản của người phải thi hành án Tuy nhiên, hiện nay mối quan hệ phối hợp giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng với cơ quan thi hành án đã được cải thiện hơn rất nhiều kể từ sau ngày 18/3/2015, Thống đốc Ngânhàng Nhà nước Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quy chế phối hợp số

01/QCLN/NHNNVN-BTP giữa Ngân hàng nhà nước Việt Nam với Bộ Tư pháp trong hoạt động thi hành án dân sự; tại các địa phương, các cơ quan thi hành án dân

sự tỉnh, thành phố đã ký kết Quy chế phối hợp với các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước (tính đến ngày 30/11/2015 đã có 44/63 tỉnh ký Quy chế phối hợp) Đồng thời,tại Khoản 2 Điều 20 của Nghị định 62/2015/NĐ-CP đã bổ sung quy định mới về trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của tổ chức tín dụng, ngân hàng nói riêng và những cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nói chung có trách nhiệm nhận văn bản mà không nhận quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ thì Chấp hành viên có trách nhiệm lập biên bản về việc họ không nhận quyết định, có chữ

ký của người làm chứng hoặc chứng kiến và tiến hành niêm yết quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải thi hành án tại trụ sở cơ quan, tổ chức đó Người đại diện theo pháp luật hoặc người có trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức không nhận quyết định phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và phải bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra Chính vì vậy, việc Luật sửa đổi, bổ sung cũng như Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã quy định trách nhiệm

Trang 6

phối hợp của các cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự đã tạo điều kiện cho Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phong tỏa tài khoản, tài sản ởnơi gửi giữ được thuận lợi hơn.

Thứ ba, về việc ra quyết định và gửi quyết định phong toả tài khoản

Khoản 2 Điều 67 Luật Thi hành án dân sự 2008 quy định “Khi tiến hành phong toả tài khoản, Chấp hành viên phải giao quyết định phong toả tài khoản cho cơ quan,

tổ chức đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án” Như vậy, việc phong

toả tài khoản được thể hiện dưới hình thức quyết định Sau khi có thông tin về tài khoản của người phải thi hành án, để ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án, Chấp hành viên tự mình hoặc theo yêu cầu của người được thi hành án ra quyết định phong toả tài khoản vàgiao quyết định đó cho cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án

Đến nay, theo quy định tại Điều 44 Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung về trách nhiệm ký vào biên bản của các cơ quan, tổ chức trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp Việc bổ sung này nhằm tạo điều kiện để Chấp hành viên dễ dàng lựa chọn hình thức xác minh trực tiếp hay bằng văn bản Trong nhiều trường hợp, việc Chấp hành viên đến xác minh trực tiếp và lập biên bản xác minh hiệu quảhơn nhiều so với việc gửi văn bản đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin và chờ đợi sự phản hồi của họ Trong thực tế, trước đây theo quy định của Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 sửa đổi, bổ sung một

số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân

sự về thủ tục thi hành án dân sự, Thông tư liên tịch số BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để thi hành án dân sự thì chỉ quy định duy nhất một hình thức trả lời bằng văn bản của

Trang 7

02/2014/TTLT-BTP-BTC-các Ngân hàng, tổ chức tín dụng trong thời hạn 03 ngày làm việc, dẫn đến nhiều Ngân hàng, tổ chức tín dụng từ chối ký vào biên bản xác minh trực tiếp của Chấp hành viên với lý do pháp luật không quy định Như vậy, với quy định mới này, trong thực tế Chấp hành viên có thể sử dụng hình thức xác minh trực tiếp và trườnghợp cần phong tỏa ngay tài khoản, tài sản của người phải thi hành án ở nơi gửi giữ

mà chưa ban hành quyết định phong tỏa thì Chấp hành viên lập biên bản yêu cầu

cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành

án phong tỏa tài khoản, tài sản đó Tuy nhiên, để đảm bảo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc phong tỏa tài khoản, tài sản thì hình thức quyết định cần phải được thực hiện ngay sau đó Vì thế, tại Khoản 2 Điều 67 Luật sửa đổi, bổ sung và Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản; đồng thờiQuyết định phong tỏa tài khoản, tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan, tổ chức,

cá nhân nơi có tài khoản, tài sản đã bị phong tỏa

Thứ tư, về thời hạn phong toả tài khoản, tài sản

Trước đây, theo quy định tại Khoản 3 Điều 67 Luật thi hành án dân sự 2008 thì thời hạn phong toả tài khoản là 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định phong toả tài khoản Trong thời hạn phong toả tài khoản, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án theo quyết định thi hành án Tuy nhiên, quy định thời gian nhưvậy chưa hợp lý vì việc áp dụng biện pháp bảo đảm có thể được thực hiện trong thời hạn tự nguyện thi hành án, mà theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì thờihạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, vì thế có trường hợp ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án khi chưa hết thời hạn tự nguyện thi hành dẫn đến khiếu kiện của người phải thi hành án

Khắc phục bất cập đó, tại Khoản 3 Điều 67 Luật sửa đổi, bổ sung đã nâng thời hạn phong toả tài khoản từ 05 ngày lên thành 10 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết

Trang 8

định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, trong thời hạn này, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa theo quy định Quy định mới về thời hạn này cũng phù hợp với thời hạn

tự nguyện thi hành án được sửa đổi từ 15 ngày xuống 10 ngày, kể từ ngày đương

sự nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, phù hợp với thực tiễn, tránh tình trạng phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án không cần thiết khi chưa hết thời gian 10 ngày tự nguyện thi hành án

3 Về biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Thứ nhất, về trách nhiệm phối hợp của các cơ quan hữu quan:

Biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự trước đây được quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án dân sự 2008 và Điều 9 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ, theo đó Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ để tạm giữ tài sản, giấy tờ mà đương sự đang quản lý, sử dụng Nếu Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án thực hiện quyền tạm giữ, thì trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên có thể yêu cầu lực lượng cảnh sát hoặc tổ chức, cá nhân khác

hỗ trợ việc tạm giữ giấy tờ, tài sản của đương sự

Quy định trên cho thấy Chấp hành viên có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ để tạm giữ tài sản, giấy tờ mà đương sự đang quản lý, sử dụng, trên thực tế thi hành trong nhiều trường hợp còn gặp khó khăn

Ví dụ: Chấp hành viên trong quá trình tống đạt quyết định thi hành án cho đương

sự là ông Lê Văn Vượng về việc ông Vượng phải trả cho ông Lê Văn Quang số tiền 30.000.000đ và lãi chậm thi hành án Qua đơn yêu cầu thi hành án của ông Quang được biết hiện nay ông Vượng đang sử dụng một chiếc xe máy hiệu Vision biển kiểm soát 29F26288 Chi cục Thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án và giao cho chấp hành viên tổ chức thi hành Chấp hành viên tiến hành tống đạt quyết định thi hành án theo đúng quy định Khi đến nhà ông Vượng, chấp hành

Trang 9

viên phát hiện trong nhà ông Vượng có chiếc xe máy đúng như ông Quang đã cung cấp Chấp hành viên tiến hành lập biên bản tạm giữ ngay chiếc xe máy Trong quá trình lập biên bản tạm giữ tài sản, ông Vượng cho rằng, chiếc xe máy này không phải của ông mà do em trai ông gửi, ông Vượng quyết liệt chống đối việc Chấp hành viên tạm giữ tài sản Chấp hành viên đã yêu cầu công an xã (được Chấp hành viên mời đến làm việc) và trưởng thôn hỗ trợ để tạm giữ chiếc xe, nhưng công an xã không phối hợp với lý do họ không có trách nhiệm trong việc tạm giữ tài sản của đương sự, nhất là lại không có chỉ đạo của cấp trên về việc tạm giữ tài sản Do đó, việc lập biên bản tạm giữ và việc tạm giữ chiếc xe máy trên không thực hiện được

Phân tích tình huống trên thấy rằng, mặc dù Luật Thi hành án dân sự trao quyền cho Chấp hành viên được áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án tại bất cứ thời điểm nào của quá trình thi hành án, nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản của người phải thi hành án Tuy nhiên, nếu không có được sự phối hợp của các cấp, các ngành liên quan, nhất là lực lượng tại chỗ như công an xã, trưởng thôn…, thì Chấp hành viên hoàn toàn “đơn thương độc mã”, rất khó thực hiện được nhiệm vụ này và có thể thấy quy định này sẽ chỉ nằm trên giấy mà không có giá trị trên thực tế

Chính vì vậy, Điều 68 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) đã quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và bổ sung trách nhiệmcủa cá nhân hữu quan trong việc thực hiện quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ; theo

đó, cơ quan, tổ chức cá nhân hữu quan có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên trong việc tạm giữ tài sản, giấy tờ Quy định này đã nhấn mạnh trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan chứ không phải chỉ là việc tham gia hỗ trợ, điều đó đã khẳng định vai trò của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp Chấp hành viên phải ra Quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ

Trang 10

Thứ hai, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ không chỉ là người phải thihành án mà cả người được thi hành án hoặc tổ chức, cá nhân khác nếu họ đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án Khoản 1 Điều 68 Luật sửa đổi, bổ sung làm rõ hơn thẩm quyền của Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành

án mà đương sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng

Các tài sản, giấy tờ bị tạm giữ là các tài sản, giấy tờ có liên quan đến việc thi hành

án như: giấy đăng ký xe mô tô, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… hoặc các tài sản có thể xử lý được để thi hành án Khi áp dụng biện pháp này, Chấp hành viên cần lưu ý nghiên cứu các tài sản không được kê biên theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án dân sự để quyết định khi tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Thứ ba, việc ra quyết định, lập biên bản và giao biên bản tạm giữ tài sản, giấy

tờ của đương sự

Trước đây, theo quy định tại Khoản 2 Điều 68 Luật Thi hành án dân sự 2008 thì việc tạm giữ tài sản, giấy tờ phải lập biên bản Biên bản có chữ ký của Chấp hành viên và đương sự Trường hợp đương sự không ký thì phải có chữ ký của người làm chứng Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được giao cho đương sự

Từ vướng mắc của thực tiễn áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định rõ hơn việc tạm giữ tài sản, giấy tờ phải bằng hình thức quyết định; mặt khác bổ sung quy định quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải xác định rõ loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ Quy định này nhằm khắc phục tình trạng không rõ ràng của Luật Thi hành án dân sự 2008 không quy định Chấp hành viên phải ban hành quyết định mà chỉ yêu cầu lập biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ Việckhẳng định hình thức áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án bằng quyết định sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ này Đồng thời, Chấp hành viên phải giao quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ cho đương

Trang 11

sự hoặc tổ chức, cá nhân đang quản lý, sử dụng.

Trong trường hợp Chấp hành viên chưa kịp ra quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ,

để có thể thực hiện biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ, Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định cách thức thực hiện tạm giữ tài sản, giấy tờ trong trường hợp chưa ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ Trường hợp cần tạm giữ ngay tàisản, giấy tờ mà chưa ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ thì Chấp hành viên yêu cầu giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ Trong thời hạn

24 giờ, kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ Biên bản, quyết định tạm giữ tài sản phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp

Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung tại Khoản 4 Điều 68 quy định: Chấp hành viên yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng và thông báo cho đương sự, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định người có quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ Việc bổ sung này đã tạo thêm điều kiện cho Chấp hành viên xác định đúng đắn hơn quyền sở hữu, sử dụng tài sản, giấy tờ để xử lý theo đúng quy định

Thứ tư, về thời hạn tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 68 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, thời hạn ápdụng biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự là 15 ngày kể từ ngày tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tạmgiữ tài sản, giấy tờ, Chấp hành viên ra một trong các quyết định sau đây:

- Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nếu xác định được tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc sở hữu của người phải thi hành án

- Quyết định trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ cho đương sự trong trường hợp đương

Ngày đăng: 19/07/2019, 22:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w