Với tính chất lí hóa gần như Trái Đất, nhóm hành tinh bên trong đều có bề mặt là đá nên lưu giữ được nhiều dấu vết những vụ va chạm với các thiên thạch, nhưng chỉ trên Trái Đất mới có m
Trang 2Hoàng Quốc Việt
Trang 4Hoàng Quốc Việt
Nhóm I
Nhóm II
Trang 5Vùng III gồm vùng của các vật thể bên kia của Hải Vương Tinh như vành đai Kuiper, Đám Oort và vùng rộng lớn ở giữa.
Trang 6Hoàng Quốc Việt
Trang 7I Các hành tinh vòng trong
II Các hành tinh vòng ngoài
Trang 8Hoàng Quốc Việt
Thuỷ
Tinh Kim Tinh Trái Đất Hoả Tinh
Trang 9Bốn hành tinh kiểu Trái Đất ở vòng trong có
đặc trưng ở sự rắn đặc của chúng, được tạo
thành từ đá Chúng được tạo thành trong những vùng nóng hơn gần Mặt Trời, nơi các vật liệu
dễ bay hơi hơn đã bay mất chỉ còn lại những
thứ có nhiệt nóng chảy cao, như silicate, tạo
thành vỏ rắn của các hành tinh và lớp phủ bán lỏng bên ngoài, và như sắt, tạo thành lõi của
các hành tinh này
Trang 10Hoàng Quốc Việt
Tất cả đều có các hố tạo ra bởi va chạm và
nhiều đặc trưng kiến tạo bề mặt, như các thung lũng nứt rạn và các núi lửa Chúng tự quay
quanh trục chậm chạp và có rất ít hoặc không
có vệ tinh nào cả Tổng cộng cả nhóm chỉ có 3
vệ tinh
Trang 11Với tính chất lí hóa gần như Trái Đất, nhóm hành
tinh bên trong đều có bề mặt là đá (nên lưu giữ được nhiều dấu vết những vụ va chạm với các thiên
thạch), nhưng chỉ trên Trái Đất mới có mặt các hợp chất hữu cơ.
Trang 12Hoàng Qu c Vi t ố ệ
Trang 13Sao Thủy hay Thủy Tinh là hành tinh gần Mặt Trời nhất, và cũng là hành tinh nhỏ nhất trong Thái Dương Hệ (chỉ lớn hơn Sao Diêm
Vương) Sao Thủy không có một vệ tinh tự
nhiên nào Độ sáng biểu kiến của Sao Thủy
thay đổi từ −2,0 đến 5,5, nhưng vì quá gần Mặt Trời nên sự quan sát hành tinh này qua viễn
vọng kính hay qua các kỹ thuật khác rất khó khăn và ít khi thực hiện được
Trang 14Hoàng Quốc Việt
Tên tiếng Việt của hành tinh này
được chọn dựa theo nguyên tố thủy
của Ngũ Hành.Các văn hóa Tây
phương đặt tên hành tinh này dựa
vào tên thần Mercury, vị thần của
thương mại và của trộm cướp trong thần thoại La Mã; trong thần thoại
Hy Lạp tên của vị thần này là
Hermes
Trang 15Sao Thủy có một cấu tạo gồm 70% kim loại và 30% chất silicat Sắt chiếm một tỉ lệ rất lớn
trong cấu tạo kim loại của Sao Thủy – tỉ lệ cao nhất trong các hành tinh của Thái Dương Hệ Ở giữa tâm của Sao Thủy là một lõi hình cầu
bằng sắt chiếm 42% thể tích của hành tinh và tạo ra từ trường cho hành tinh này, bằng
khoảng 1% của Trái Đất Phần đất và đá ở phía trên của lõi dầy vào khoảng 600 km
Trang 16Hoàng Quốc Việt
• Nhiệt độ và ánh sáng từ Mặt Trời
• Khí quyển
• Bề mặt
• Qu ỹ đạo và vận tốc quay
Trang 17• Nhiệt độ trung bình tại bề mặt của Sao Thủy là
440°K, thay đổi từ 90°K đến 700°K Đây là một sự khác biệt hơn 600°K, trong khi sự khác biệt tại Trái Đất chỉ khoảng 20°K Sự khác biệt về nhiệt độ trên Sao Thủy rất lớn vì chu kỳ quay quanh trục của
hành tinh này rất dài – hơn 58 ngày của Trái Đất –
và một bầu khí quyển rất mỏng.
• Trung bình một mét vuông trên Sao Thủy nhận 9 lần
Trang 18Hoàng Quốc Việt
Sao Thủy có một bầu khí quyển cực mỏng, mỏng
đến nỗi Sao Thủy được coi như một hành tinh
không có không khí Các phần tử chính của bầu khí quyển là: kali, natri và ôxy Với một khối lượng quá nhỏ, Sao Thủy không đủ sức bảo tồn bầu khí quyển của nó – các nguyên tử trong bầu khí quyển liên tục
bị mất vào trong không gian vì sức hút của trọng lực quá yếu May thay, những nguyên tử đó được thay thế bằng các nguyên tử khác đến từ sự bức xạ của
Mặt Trời, sự bốc hơi của các phần tử nằm trong
băng đá hay lòng đất và từ các thiên thạch hay vệ
tinh nhỏ khi đập vào Sao Thủy
Trang 20Hoàng Quốc Việt
Bề mặt của Sao Thủy có rất nhiều hố to nhỏ và lởm chởm
như bề mặt của Mặt Trăng Hố được chụp hình rõ nhất là
Caloris Basin, được tạo ra khi một thiên thạch từ ngoài
không gian đập vào Sao Thủy, với đường kính khoảng 1350
km và một rặng núi cao gần 2 km ở chung quanh
Trang 21Sao Thủy còn có những rãnh sâu, nhìn từ
xa giống như những vết cào, hình thành hàng triệu năm trước đây khi lõi của hành tinh nguội, co lại và tạo nên những nếp
nhăn ở lớp đất phía trên.
Trang 22Hoàng Quốc Việt
Quỹ đạo của Sao Thủy là một
hình elip rất hẹp, bán kính của
trục chính là 70 triệu km trong
khi bán kính của trục phụ chỉ có
46 triệu km Vận tốc quỹ đạo
của Sao Thủy rất thấp vì ảnh
hưởng trọng lực của Mặt Trời
Sao Thủy quay một vòng chung
quanh Mặt Trời vào khoảng 88
ngày Vận tốc quỹ đạo của Sao
Thủy thay đổi từ 39 km/s đến 59
km/s
70
46
o
Trang 24Hoàng Quốc Việt
Trục quay của Sao Thủy gần như thẳng đứng
đối với mặt phẳng của quỹ đạo Mãi đến năm
1965 các nhà khoa học, dùng radar, mới khám phá ra Sao Thủy tự quay chung quanh chính
mình với một vận tốc quay quanh trục là 58,6
ngày cho mỗi vòng – một ngày Sao Thủy, do
đó, dài hơn 58 ngày của Trái Đất Nói một cách
dễ hiểu là 2 năm Sao Thủy bao gồm 3 ngày
Sao Thủy, hay một ngày Sao Thủy dài bằng 2/3
của một năm Sao Thủy.
Trang 26Hoàng Quốc Việt
Trang 27Hiện nay, đang trên đường đến Sao Thủy
là Tàu vũ trụ Messenger Theo dự định thì Messenger sẽ đến phạm vi của sao Thủy vào đầu năm
2011
Tàu vũ trụ Messenger
Trang 28Hoàng Qu c Vi t ố ệ
Trang 29Sao Kim (còn gọi là Kim Tinh, sao Hôm, sao Mai) là hành tinh gần Mặt
Trời thứ nhì của Thái Dương Hệ và là loại hành tinh có đất và đá giống như Trái Đất Kích thước, khối lượng và trọng lực của Sao Kim suýt soát với Trái Đất nên hai hành tinh này vẫn
thường được coi như hai hành tinh
Trang 30Hoàng Quốc Việt
Ngoại trừ các điểm đó, Trái Đất và Sao
Kim, trên thực tế, khác hẳn nhau: một nơi
có khí hậu ôn hoà, nơi kia cực kỳ nóng; áp suất khí quyển ở một nơi thì vừa phải, áp suất nơi kia cực cao đủ để bóp bẹp một
chiếc xe bọc sắt; không khí một nơi có
nhiều hơi nước, dưỡng khí và thuận lợi
cho sự sống, không khí nơi kia dầy đặc với chất độc, thán khí và các axít ăn thủng
được kim loại
Trang 31Với mắt trần Sao Kim
là thiên thể sáng thứ ba trên bầu trời, sau Mặt
Trời và Mặt Trăng.
Trang 32Hoàng Quốc Việt
Tên tiếng Việt của sao Kim dựa vào
nguyên tố kim của Ngũ Hành Nhưng
người Việt còn gọi là sao Hôm, khi
hành tinh này mọc lên lúc hoàng hôn,
và sao Mai, khi hành tinh này mọc
lên lúc bình minh Các văn hóa Tây
phương dùng tên thần Venus (tiếng
Việt là Vệ nữ) để gọi hành tinh này
Trang 33• Khí quyển
• Nhiệt độ và ánh sáng từ mặt trời
• Bề mặt
• Qu ỹ đạo và vận tốc quay
Trang 34Hoàng Quốc Việt
Sao Kim có một bầu khí quyển rất đặc với 96% thán khí, 3% nitơ và các loại axít khác nhau Áp suất khí quyển của Sao Kim cao hơn 90 lần áp suất khí
quyển tại mặt biển của Trái Đất Sao Kim hấp thụ
nhiệt mà không bức xạ được nhiệt ra ngoài không
gian vì bầu khí quyển có quá nhiều thán khí Nhiệt
độ bề mặt của Sao Kim, do đó, rất cao – nóng hơn Sao Thủy mặc dù Sao Kim cách xa Mặt Trời gấp đôi Sao Thủy và rất ít ánh sáng Mặt Trời chiếu thẳng
vào bề mặt của Sao Kim.
Trang 35Hình ảnh bầu khí quyển Sao Kim
Trang 36Hoàng Quốc Việt
Một hậu quả của các chất hóa học nặng
trong không khí là những lớp mây dầy đặc che kín hành tinh này Mây của Sao Kim
chứa những hạt chất lỏng nhỏ li ti; nhưng thay vì những hạt nước như tại Trái Đất,
đây là những hạt axít Nếu không có
những lớp mây này, nhiệt độ của Sao Kim,
dù đã quá nóng, sẽ còn nóng hơn nữa vì sẽ không có gì ngăn cản ánh sáng Mặt Trời
Trang 38Hoàng Quốc Việt
Trang 39• Sự cách biệt về nhiệt độ tại bề mặt giữa
ban ngày và ban đêm của Sao Kim rất ít vì ảnh hưởng của ánh sáng Mặt Trời trên
nhiệt độ rất ít Sao Kim có thể xem như là hành tinh với khí hậu nóng nhất Thái
Dương Hệ.
• Ánh sáng Mặt Trời, vì bị mây che, chỉ còn khoảng 1/3 khi đến bề mặt của Sao Kim – hay hơn 1000 watt cho mỗi mét vuông.
Trang 40Hoàng Quốc Việt
Trong bốn hành tinh thuộc loại hành
tinh có đất và đá của Thái Dương Hệ, Sao Kim có một bề mặt tương đối
phẳng nhất – hơn 90% bề mặt của Sao Kim được phủ bằng dung nham
Trang 41vào từ ngoài không gian
cũng không thể nào quá
to hay quá lởm chởm vì
áp suất cực cao của khí
quyển đè xuống bề mặt
Trang 42Hoàng Quốc Việt
Trên mặt, Sao Kim có hai cao nguyên khổng lồ chính, vượt hẳn lên trên những bình nguyên ở phía dưới Cao nguyên ở
bắc bán cầu có tên là Ishtar Terra Đây là một vùng đất cao,
rộng vào cỡ châu Úc và chứa ngọn núi cao nhất của Sao
Kim: Maxwell (cao khoảng 11 km) Cao nguyên ở nam bán cầu rộng vào cỡ Nam Mỹ và có tên là Aphrodite Terra Nằm
xen vào hai cao nguyên này là những cao nguyên nhỏ và thấp hơn
Trang 44Hoàng Quốc Việt
Quỹ đạo của Sao Kim, tuy là hình elip như quỹ đạo của các hành tinh khác, nhưng tương đối tròn – độ lệch tâm của quỹ đạo này gần như 0 Sao Kim quay một
vòng xung quanh Mặt Trời trên quỹ đạo này vào khoảng 225 ngày
Trang 45• Vì Sao Kim quá giống Trái Đất ở nhiều điểm nên đại đa số mọi người của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 tin rằng Sao Kim
có cùng một vận tốc quay với Trái Đất Không có ai có thể làm thí nghiệm kiểm chứng vì Sao Kim lúc nào cũng bị mây che kín Mãi cho đến 1964, nhờ kỹ thuật radar, các nhà khoa học mới tìm ra là Sao Kim quay rất chậm và quay ngược
chiều với các hành tinh khác: từ đông sang tây thay vì từ tây sang đông
• Vận tốc quay của sao Kim, do đó, là -6.5 km/h – vận tốc
quay nhỏ nhất của các hành tinh trong Thái Dương Hệ Với một vận tốc nhỏ như vậy, Sao Kim phải mất 243 ngày để
quay một vòng xung quanh chính nó
Trang 46Hoàng Quốc Việt
Trang 47Từ 1961 cho đến nay 2004, Liên Xô và Hoa Kỳ đã phóng 30 phi thuyền lên thám hiểm hành tinh này Đại đa số các phi
thuyền này đều thất bại, một phần lớn vì kỹ nghệ không gian hãy còn quá thô sơ ở thập niên 1960, một phần vì trạng thái thiên nhiên của Sao Kim quá khắc nghiệt Phi thuyền đầu tiên đến gần Sao Kim là Mariner 2, do NASA phóng lên vào
tháng 8 năm 1962, nhưng đến đầu tháng 1 năm 1963 thì liên lạc với phi thuyền này bị mất
Trang 48Hoàng Quốc Việt
Phi thuyền đầu tiên
đáp được xuống Sao
Trang 49Những Venera sau đó cũng thất bại, mãi cho đến Venera 7, phóng lên vào tháng 8 năm 1970 và đến nơi vào
tháng 12 cùng năm, thì kỹ thuật mới
đủ tân tiến để phi thuyền này đáp
được xuống Sao Kim an toàn và gửi các dữ liệu về Trái Đất
Trang 50Hoàng Quốc Việt
Bản đồ Sao Kim đầy đủ và chính xác nhất hiện nay được
Magellan vẽ, phi thuyền này phóng lên vào tháng 5 năm 1989
và đến nơi vào tháng 8 năm 1990 Phi thuyền này đã thám hiểm được 98% bề mặt của Sao Kim với độ chi tiết khá cao, tiếc thay Magellan đã bị chấm dứt hoạt động vào tháng 10 năm 1994.
Bề mặt sao Kim do các con tàu chup lại Bề mặt sao Kim do các con tàu chup lại
Trang 52Hoàng Quốc Việt
Trái Đất, cũng còn được gọi là Địa Cầu
hay Quả Đất, là hành tinh thứ ba trong
Thái Dương Hệ tính từ Mặt Trời trở ra
Địa Cầu là hành tinh lớn nhất trong các
hành tinh có đất và đá của Thái Dương Hệ Cho đến nay đây là nơi duy nhất trong
toàn vũ trụ được biết là có sự sống Tuổi
của Địa Cầu được ước lượng vào khoảng 4,6 tỷ năm
Trang 53Trái Đất tự quay quanh trục của nó, nếu xét so với nền sao, hết 23 giờ 56 phút và 4,09 giây (1 ngày thiên văn) Vì thế từ Trái Đất các chuyển động biểu kiến của các thiên thể trên bầu trời (ngoại trừ hiện tượng sao băng là diễn ra trong bầu khí quyển cũng như các vệ tinh quỹ đạo
thấp) là chuyển động về phía Tây với tốc độ
Trang 54Hoàng Quốc Việt
• Trái Đất quay một vòng quanh Mặt Trời hết
365,2564 ngày Mặt Trời trung bình (1 năm
thiên văn) Vì thế từ Trái Đất nó tạo ra chuyển động biểu kiến của Mặt Trời tương đối với các ngôi sao với vận tốc góc khoảng 1°/ngày, hay đường kính góc của Mặt Trăng hay Mặt Trời cứ sau mỗi 12 giờ về phía đông
• Vận tốc quỹ đạo của Trái Đất khoảng 30 km/s,
đủ để đi hết quãng đường bằng đường kính
Trái Đất trong 7 phút, hay khoảng cách đến
Mặt Trăng (384.000 km) trong 4 giờ
Trang 56Hoàng Quốc Việt
Mặt phẳng quỹ đạo và trục quay Trái Đất là
không vuông góc: trục Trái Đất nghiêng một
góc khoảng 66,5° so với mặt phẳng quỹ đạo
của nó Điều này sinh ra các mùa và thời gian ban ngày mùa hè dài, thời gian ban ngày mùa đông ngắn; vùng cận cực có 6 tháng sáng, 6
tháng tối Mặt phẳng quỹ đạo của Mặt Trăng
nghiêng khoảng 5 độ so với mặt phẳng quỹ đạo Trái Đất xung quanh Mặt Trời (nếu không như vậy thì hàng tháng đều có hiện tượng nhật thực hay nguyệt thực)
Trang 5723,5
Trang 58Hoàng Quốc Việt
So với nền sao, trục Trái Đất
chuyển động với tuế sai có chu kỳ khoảng 25.800 năm, cũng như
chương động với chu kỳ chính
khoảng 18,6 năm Các chuyển động này sinh ra bởi lực hấp dẫn khác
nhau của Mặt Trời và Mặt Trăng
lên hình dạng không thuần túy là
hình cầu của Trái Đất
Trang 59Trái đất có một vệ tinh tự nhiên,
đó là Mặt Trăng
Trang 60Hoàng Quốc Việt
với hầu hết các vệ tinh tự nhiên của các
hành tinh khác trong hệ Mặt Trời, Mặt
Trăng có mặt phẳng quỹ đạo nằm gần với mặt phẳng hoàng đạo chứ không gần mặt phẳng xích đạo của hành tinh Mặt phẳng
quỹ đạo của Mặt Trăng nghiêng khoảng
5° so với mặt phẳng hoàng đạo Giao điểm của hai mặt phẳng này trên thiên cầu là 2 điểm nút mặt trăng.
Trang 61
Hiện tượng nhật thực và nguyệt thực chỉ xảy ra khi Trái Đất, Mặt
Trăng và Mặt Trời thẳng hàng.
Trang 62Hoàng Quốc Việt
Trang 64Hoàng Quốc Việt
Mặt trăng quay một vòng quanh Trái Đất
hết 27,3333 ngày Vì thế từ Trái Đất tạo ra chuyển động biểu kiến của Mặt Trăng
tương đối với Mặt Trời và các ngôi sao với vận tốc góc khoảng 12°/ngày, tức đường
kính góc Mặt Trăng sau mỗi giờ về phía
đông.
Quan sát từ cực bắc Trái Đất, chuyển
động của Trái Đất, Mặt Trăng và sự tự
quay quanh trục Trái Đất là ngược chiều
kim đồng hồ.
Trang 66Hoàng Quốc Việt
• Trong cuộc sống hàng ngày của con người, Măt Trăng luôn được coi là một hành ảnh đẹp, mộng mơ.
• Trong dân gian hình ảnh cua Mặt
Trăng được gắn với nhiều truyền
thuyết, với những câu truyện cổ
tích….
Trang 68Hoàng Quốc Việt
Trang 70Hoàng Quốc Việt
Trang 71Ngoài ra xung quanh trái đất còn có rất
nhiều vệ tinh nhân tạo
Trang 72Hoàng Quốc Việt
Trang 74Hoàng Quốc Việt
Trang 75Trái Đất là nơi duy nhất trong vũ trụ đã
biết có sự sống tồn tại
Trang 76Hoàng Quốc Việt
Trang 77
Sao Hỏa là hành tinh thứ tư gần Mặt Trời
trong Hệ Mặt Trời và cũng là hành tinh thứ nhất có quỹ đạo nằm ở ngoài quy đạo của Trái Đât Sao Hỏa giống Trái Đất về nhiều điểm: bốn mùa, hai cực có băng đá, một
bầu khí quyển có mây, gió, bão cát, một
ngày dài độ 24 giờ, Vì sự có mặt của một khí quyển tương đối dầy nên nhiều người
Trang 78Hoàng Quốc Việt
Tên tiếng Việt của hành tinh này dựa vào nguyên tố
hỏa của Ngũ Hành Vì Sao Hỏa phản chiếu ánh sáng
mầu đỏ, các văn hóa Tây phương dùng tên Mars của
vị thần chiến tranh trong thần thoại La Mã để đặt tên cho hành tinh này
Trang 79• Khí quyển
• Nhiệt độ và ánh sáng từ Mặt Trời
• Bề mặt
Trang 80Hoàng Quốc Việt
Người đầu tiên chỉ ra các bằng chứng khoa học
về sự hiện diện của một khí quyển trên Sao
Hỏa là William bằng quan sát về các dấu hiệu của mây và khói qua kính viễn vọng năm 1783 Bốn năm sau đó, Johann cũng có những kết
luận tương tự bằng quan sát của ông
Trang 82Hoàng Quốc Việt
Ngày nay Sao Hỏa có một bầu khí quyển với khí hậu sa mạc Vào ban ngày, lớp bụi lơ lửng trong khí
quyển tạo nên bầu trời màu hồng Lúc hoàng hôn và bình minh, bầu trời trở nên có màu xanh lam
Trang 83Sao Hỏa có một bầu khí quyển mỏng với một
áp suất ít hơn 1% áp suất tại Trái Đất Hơn
95% của khí quyển là thán khí hay cacbon
điôxít (CO2), tiếp đến là 3% đạm khí (N2) và 1,6% agon (Ar)
hơi nước được thấy trong tầng khí quyển thấp của Sao Hỏa, thỉnh thoảng tụ lại thành những dải mây nước đá hoặc, trong vài trường hợp
hiếm, các cơn sương mù nước đá Cũng được tìm thấy với lượng nhỏ trong khí quyển Sao
Trang 84Hoàng Quốc Việt
Mặc dù khí quyển Sao Hỏa mỏng, gió luôn thổi khá mạnh trên Sao
Hỏa, đủ sức cuốn tung lớp bụi rất mịn trên bề mặt Sao Hỏa Tốc độ gió nhẹ khoảng 2 đến 7 m/s vào
mùa hè, trung bình khoảng 5 đến
10 m/s vào mùa thu, và mạnh
khoảng 17 đến 30 m/s, vào những mùa bão bụi