Phân tích kế toán yêu cầu nhà phân tích điều chỉnh số liệu kế toán của công ty với việc sử dụng dòng tiền và thuyết minh thông tin để xóa bỏ mọi biến dạng của kế toán. Phân tích bảng cân đối kế toán được sử dụng để xác định liệu có bất kỳ bóp méo tài sản, nợ phải trả, hoặc vốn chủ sở hữu.
Trang 1CHƯƠNG 4: THỰC HIỆN PHÂN TÍCH KẾ TOÁN
Chúng tôi đã học trong Chương 3 rằng phân tích kế toán yêu cầu nhà phân tích điều chỉnh sốliệu kế toán của công ty với việc sử dụng dòng tiền và thuyết minh thông tin để xóa bỏ mọi biếndạng của kế toán Điều này đòi hỏi phải tính toán lại báo cáo tài chính của công ty theo tiêu chuẩn
và định dạng Các doanh nghiệp thường xuyên sử dụng các định dạng và thuật ngữ khác nhau đểtrình bày kết quả tài chính Do đó, việc trình bày các báo cáo tài chính bằng cách sử dụng một mẫuchuẩn giúp đảm bảo rằng các chỉ số hiệu suất được sử dụng cho phân tích tài chính được tính toánbằng cách sử dụng các định nghĩa so sánh giữa các công ty và theo thời gian
Khi báo cáo tài chính đã được chuẩn hóa, nhà phân tích đã sẵn sàng để xác định bất kỳ biếndạng nào trong báo cáo tài chính Trọng tâm chính của nhà phân tích nên dựa trên các ước tính vàphương pháp kế toán mà công ty sử dụng để đo lường các yếu tố thành công chính của nó và rủi ro.Nếu có sự khác biệt về ước tính và phương pháp giữa doanh nghiệp hoặc cho cùng một công ty theothời gian, công việc của nhà phân tích là để đánh giá liệu họ có phản ánh hợp pháp hay không sựkhác biệt về kinh doanh hoặc sự khác biệt trong phán quyết hoặc thiên vị quản lý Sự khác biệt phátsinh từ thiên vị quản lý sẽ yêu cầu điều chỉnh
Ngoài ra, ngay cả khi các quy tắc kế toán là tôn trọng một cách nhất quán, các biến dạng kếtoán có thể phát sinh do chính các quy tắc làm một công việc kém trong việc nắm bắt kinh tế vữngchắc, tạo cơ hội cho nhà phân tích điều chỉnh tài chính của một công ty theo cách trình bày một bứctranh thực tế hơn về hiệu suất
Ngoài ra, trong thế giới kinh doanh toàn cầu ngày nay, các đối thủ cạnh tranh thường đến từ
đa dạng các quốc gia và báo cáo sử dụng các chuẩn mực kế toán khác nhau, làm cho nó thách thứcđối với các nhà phân tích để so sánh hiệu quả tài chính của họ Hai phổ biến nhất tiêu chuẩn được
sử dụng là GAAP của Hoa Kỳ và các tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) Trong các tìnhhuống khi những khác biệt báo cáo này có ý nghĩa, nhà phân tích có thể điều chỉnh tài chính của cáccông ty để đưa chúng vào một sân chơi bình đẳng
Chương này bắt đầu bằng cách hiển thị cách tái phát biểu báo cáo tài chính của công tythành mẫu sử dụng thuật ngữ và phân loại chuẩn Tiếp theo, chúng tôi sử dụng thảo luận và các ví
dụ để minh họa các loại biến dạng kế toán phổ biến nhất có thể phát sinh và cho thấy cách điềuchỉnh các báo cáo tài chính tiêu chuẩn hóa hoàn tác những biến dạng này Sau đó, chúng tôi xácđịnh một số khác biệt đáng kể còn lại đáng kể giữa GAAP và IFRS của Hoa Kỳ và hiển thị cáchđiều chỉnh cho những khác biệt này Cuối cùng chúng ta trở lại so sánh TJX và Nordstrom củachúng tôi (được giới thiệu lần đầu trong Chương 2) để minh họa các điều chỉnh chúng tôi sẽ thựchiện để so sánh hai các công ty
Phân tích bảng cân đối kế toán được sử dụng để xác định liệu có bất kỳ bóp méo tài sản, nợphải trả, hoặc vốn chủ sở hữu Khi tài sản và trách nhiệm pháp lý sai lệch đã được xác định, nhàphân tích có thể điều chỉnh bảng cân đối kế toán vào đầu và / hoặc cuối năm hiện tại, cũng như bất
kỳ điều chỉnh cần thiết nào doanh thu và chi phí trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh mớinhất Cách tiếp cận này đảm bảo rằng các tỷ lệ tài chính được sử dụng để đánh giá kết quả gần đâynhất của công ty và dự đoán tương lai của nó hiệu suất dựa trên dữ liệu tài chính phản ánh một cáchphù hợp kinh tế kinh doanh của nó
Trong một số trường hợp, thông tin được lấy từ chú thích của một công ty và báo cáo lưuchuyển tiền tệ cho phép nhà phân tích thực hiện điều chỉnh chính xác cho sự biến dạng kế toán Tuynhiên, đối với nhiều loại điều chỉnh kế toán, công ty không tiết lộ tất cả thông tin cần thiết để hoàn
Trang 2tác hoàn toàn biến dạng, yêu cầu nhà phân tích thực hiện điều chỉnh gần đúng đối với báo cáo tàichính.
NHẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Đôi khi các công ty sử dụng các danh pháp và định dạng khác nhau để trình bày tài chínhcủa họ các kết quả Ví dụ: lợi thế thương mại của nội dung có thể được báo cáo riêng bằng cách sửdụng các tiêu đề như Lợi thế thương mại, vượt quá chi phí trên tài sản thuần của các công ty đã mua
và chi phí thừa của Giá trị hợp lý hoặc có thể được bao gồm trong chi tiết đơn hàng Tài sản vô hìnhkhác Quan tâm Thu nhập có thể được báo cáo dưới dạng danh mục phụ của Doanh thu, được hiểnthị thấp hơn báo cáo thu nhập như là một phần của thu nhập và chi phí khác, hoặc đôi khi là lãi Chiphí, thu nhập lãi thuần
Những khác biệt trong thuật ngữ tài chính, phân loại và định dạng có thể làm cho việc sosánh hiệu suất giữa các công ty trở nên khó khăn và đôi khi so sánh hiệu suất cho cùng một công tytheo thời gian Nhiệm vụ đầu tiên của nhà phân tích trong phân tích kế toán là, do đó, để recast báocáo tài chính thành một định dạng phổ biến Điều này liên quan đến thiết kế mẫu cho báo cáo thunhập, bảng cân đối kế toán và báo cáo lưu chuyển tiền tệ có thể được sử dụng để chuẩn hóa báo cáotài chính cho bất kỳ công ty nào Bảng 4-1, 4-2, và 4-3 trình bày định dạng được sử dụng trong toàn
bộ cuốn sách để chuẩn hóa báo cáo thu nhập, bảng cân đối kế toán, và bảng sao kê dòng tiền, tươngứng
BẢNG 4 -1 Định dạng báo cáo thu nhập được chuẩn hóa
Thu nhập ngoài lãi khácDoanh thu khác
Tiền bản quyền và phí liên quan đến nhượngquyền thương mại
Phí thành viên và phí dịch vụDịch vụ
Hoa hồngGiấy phép
Giá vốn hàng bánGiá vốn hàng bánChi phí sản phẩm đã bánChi phí doanh thuChi phí dịch vụChi phí dịch vụ tài chínhKhấu hao trên cơ sở sản xuấtTổng quát và hành chínhBán hàng và marketingLương và lợi íchDịch vụ và bảo trìKhấu hao đối với cơ sở bán hàng và hành chính
Trang 3Unusual Gains, Net of Unusual Losses
Gains bất thường, Net của thiệt hại bất thường
Cổ tức ưu tiên
Cổ phiếu phổ thông nổi bật
Khấu hao các vật vô hìnhPhát triển sản phẩmNghiên cứu và phát triển
Dự phòng lỗ bán tín dụngChi phí trước khi mởCác khoản phí đặc biệt
Thu nhập cổ phần (từ các công ty liên kết)Thu nhập từ cổ tức
Thu nhập cho thuê1Lãi bán các khoản đầu tư / tài sản dài hạnThu nhập ngoại hối
Lợi nhuận trước thuế từ các thay đổi kế toán
Lỗ bán tài sản đầu tư / tài sản dài hạn
Lỗ ngoại hối
Lỗ trước thuế từ thay đổi kế toánPhí cơ cấu lại
Chi phí sáp nhậpTài sản bị suy giảmThu nhập lãiLãi vay dài hạnLãi vay ngắn hạnLợi ích thiểu sốChi phí thuế
Dự phòng thuếBất kỳ khoản lãi hoặc lỗ nào được báo cáo trên
cơ sở sau thuế, chẳng hạn như:
Mục bất thườngPhí không định kỳẢnh hưởng của thay đổi kế toán
Cổ tức ưu tiên
Cổ phiếu phổ thông nổi bật
BẢNG 4 -2 Định dạng Bảng cân đối tiêu chuẩn hóa
Tài khoản Bảng cân đối tiêu chuẩn
Chi tiết đơn hàng mẫu trong tài khoản được báo cáo
Tài sản
- Tiền mặt và Thị -Tiền mặt
Nợ và Vốn chủ
Trang 4-Các khoản phải thukhách hàng / tàikhoản (thuần)-Con nợ thương mại
-Hàng tồn kho-Hàng hóa thànhphẩm
-Nguyên liệu thô-Làm việc trong quátrình
-Cổ phiếu
-Chi phí trả trước-Thuế được hoàn lại-Tài sản hiện tại củacác hoạt động bịgián đoạn
-Do các chi nhánh-Do nhân viên-Thuế thu nhập trảtrước
-Nhà máy, tài sản vàthiết bị
-Đất đai-Tài sản không hoạtđộng của các hoạtđộng bị gián đoạn
-Thiện chí-Chi phí phát triểnphần mềm
-Chi phí tài chínhhoãn lại
-Chi phí chuyển đổingười đăng ký trìhoãn
-Chi phí phải trả-Nợ phải trả-Các loại thuế phải nộp-Cổ tức phải trả
-Doanh thu hoãn lại (chưa thựchiện)
-Những tiến bộ của khách hàng
-Nợ dài hạn-Ghi chú kỳ hạn cao cấp-Nợ trực thuộc
-Nghĩa vụ cho thuê vốn-Nợ chuyển đổi
-Nghĩa vụ trợ cấp hưu trí / sau khinghỉ hưu
-Thuế thu nhập được hoãn lại
-Doanh thu hoãn lại (không kiếmđược) hiện tại
-Các khoản nợ dài hạn khác
Trang 5-Tài sản dài hạn
khác
-Nhãn hiệu-Quyền giấy phép
-Đầu tư dài hạn-Các khoản phải thudài hạn
-Đầu tư vào loạihình bán hàng hoặctài trợ trực tiếpcho thuê
-Lợi ích thiểu số
-Cổ phiếu ưu đãi
-Vốn chủ sở hữucủa cổ đông phổthông
-Lợi ích thiểu số
-Cổ phiếu ưu đãi-Cổ phiếu chuyển đổi ưu tiên
-Cổ phiếu phổ thông-Trả thêm vốn-Vốn vượt quá mệnh giá-Cổ phiếu quỹ
-Thu nhập còn lại-Tích lũy và lỗ ngoại tệ tích lũy-Tích luỹ thu nhập toàn diện khác
Tiêu chuẩn dòng tiền trong báo cáo Chi tiết các mục được báo cáo
Thu nhập sau thuế và lãi vay Lãi suất nợ dài hạn (tính ròng thuế)
Lãi suất nợ ngắn hạn (tính ròng thuế)Lợi nhuận không do hoạt động Lãi( Lỗ) Lãi (lỗ) khi bán các khoản đầu tư / tài sản dài hạn
Hiệu ứng tích lũy của các thay đổi kế toánLãi (lỗ) do ngoại hối
Lợi nhuận bất thường (lỗ)Khấu hao tích lũy tài sản Khấu hao tài sản hữu hình và vô hình
hữu hình và vô hình Khấu hao chi phí mua lại
Khấu hao chi phí vượt quá giá trị hợp lý của tài sảnròng
Tài sản dài hạn khác Thu nhập / chi phí hoãn lại
Thuế thu nhập được hoãn lại
Trang 6Giảm tài sản dài hạnCác khoản phí phi tiền mặt khác cho hoạt độngThu nhập vốn chủ sở hữu của các đơn vị liên kết / thuêbao chưa hợp nhất, thuần tiền mặt nhận được
Lợi ích cổ đông thiểu số
Cổ phiếu thưởng
Chi phí trả trướcCác khoản phải nộpChi phí phải trả (nợ phải trả)
Do các chi nhánhCác khoản phải trả và chi phí trích trướcThuế thu nhập phải nộp / phải nộpHàng tồn kho
Dự phòng rủi ro và nợ xấu
Nợ ngắn hạn khácTài sản hiện tại khác
Net (Đầu tư vào) hoặc Mua / bán tài sản đầu tư
Thanh lý hoạt động Mua lại nghiên cứu và phát triển
Chi phí vốnĐầu tư cổ phiếuMua lại cổ phiếu công ty conChi phí phát triển phần mềm máy tínhChi phí vượt quá giá trị hợp lý của tài sản ròng cóđược
Đầu tư vào loại hình bán hàng và cho thuê tài chínhtrực tiếp
Nợ ròng (Trả nợ) hoặc Thanh toán nợ gốc
Phát hành (trả nợ) nợ dài hạn
Trang 7Tăng ròng (giảm) trong các khoản vay ngắn hạnGhi chú phải trả
Trả cổ tức Cổ tức bằng tiền được trả trên cổ phiếu phổ thông
Cổ tức bằng tiền được trả trên cổ phiếu ưu đãiPhân phối
Mua lại hoặc phát hành Tiền thu được từ phát hành cổ phiếu phổ thông
Phát hành cổ phiếu phổ thông cho các dịch vụPhát hành (mua lại) chứng khoán ưu tiênPhát hành vốn chủ sở hữu
Mua (phát hành) cổ phiếu quỹ
Để tạo tài chính tiêu chuẩn cho một công ty cụ thể, nhà phân tích phân loại từng chi tiết các mụctrong báo cáo tài chính của công ty đó bằng cách sử dụng tên tài khoản thích hợp từ các mẫu ở trên.Điều này có thể yêu cầu sử dụng thông tin từ các chú thích để đảm bảo rằng các tài khoản đượcphân loại một cách thích hợp Ví dụ, áp dụng mẫu trên để chuẩn hóa báo cáo tài chính kết thúctháng 1 năm 2011 cho công ty The TJX, Inc., được trình bày trong Phụ lục A ở cuối chương này
ĐIỀU CHỈNH KẾ TOÁN
Khi các mục tài chính đã được chuẩn hóa, nhà phân tích có thể đánh giá liệu có cần điều chỉnh kếtoán để sửa bất kỳ biến dạng nào về tài sản, nợ, hoặc vốn chủ sở hữu, như được thảo luận dưới đây
Thay đổi nội dung
Kế toán xác định tài sản là tài nguyên mà công ty sở hữu hoặc kiểm soát do kết quả của quá khứgiao dịch kinh doanh và dự kiến sẽ tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai có thể được đo bằng mộtmức độ hợp lý chắc chắn Nội dung có thể có nhiều dạng khác nhau,bao gồm tiền mặt, chứng khoán
có thể bán được, các khoản phải thu từ khách hàng, hàng tồn kho, tài sản cố định, đầu tư dài hạnvào các công ty khác và vô hình Các biến dạng trong giá trị tài sản thường phát sinh do có sự mơ
hồ về việc liệu
Công ty sở hữu hoặc kiểm soát các nguồn lực kinh tế được đề cập,
Các nguồn lực kinh tế có khả năng cung cấp các lợi ích kinh tế trong tương lai có thể được
đo lường với sự chắc chắn hợp lý, hoặc
Giá trị hợp lý của tài sản thấp hơn hoặc cao hơn giá trị sổ sách của họ
Ai sở hữu hoặc kiểm soát tài sản?
Đối với hầu hết các tài sản được sử dụng bởi một công ty, quyền sở hữu hoặc kiểm soát là tươngđối đơn giản - công ty sử dụng tài sản sở hữu tài sản Tuy nhiên, một số loại giao dịch làm cho nókhó đánh giá ai sở hữu tài nguyên Ví dụ: bên cho thuê hoặc bên thuê có sở hữu hay không kiểmsoát tài sản đã được thuê? Hoặc xem xét một công ty chiết khấu khoản phải thu của khách hàng vớimột ngân hàng Nếu ngân hàng có quyền truy đòi công ty khách hàng nên mặc định, là chủ sở hữuthực sự của khoản phải thu là ngân hàng hay công ty?
Do tính chủ quan của việc xác định khi một công ty có quyền kiểm soát tài sản, kế toán thườngxuyên sử dụng các quy tắc máy móc để xác định kiểm soát Những quy tắc này làm cho nó dễ dàngcho kế toán để thực hiện các tiêu chuẩn kế toán, nhưng chúng có thể dẫn đến sự khác biệt trong cáctiêu chuẩn trên toàn quốc Họ cũng cho phép người quản lý giao dịch “đối phó” để đáp ứng các mục
Trang 8tiêu báo cáo tài chính của mình Ví dụ: cả GAAP của Hoa Kỳ và IFRS hiện đang cho phép các giaodịch thuê được cấu trúc theo cách mà tài sản cho thuê có thể được báo cáo trên bảng cân đối củabên thuê, bên cho thuê, hoặc trên cả hai Bảng cân đối kế toán của bên thứ hai Phân tích kế toán, do
đó, liên quan đến việc đánh giá xem liệu tài sản được báo cáo của công ty phản ánh đầy đủ các tàinguyên chính thuộc quyền kiểm soát của nó, và liệu có cần điều chỉnh để so sánh hiệu suất của nóvới hiệu suất của đối thủ cạnh tranh
Các vấn đề về quyền sở hữu tài sản cũng phát sinh gián tiếp từ việc áp dụng các quy tắc cho sựcông nhận doanh thu Doanh nghiệp chỉ được phép ghi nhận doanh thu khi sản phẩm của họ đãđược vận chuyển hoặc dịch vụ của họ đã được cung cấp cho khách hàng Doanh thu được xem xétsau đó "Kiếm được" và khách hàng có cam kết pháp lý để thanh toán cho sản phẩm hoặc dịch vụ.Kết quả là, đối với người bán, việc ghi nhận doanh thu thường xuyên trùng với "Quyền sở hữu" củakhoản phải thu được hiển thị dưới dạng tài sản trên bảng cân đối kế toán Vì thế, phân tích kế toánđặt ra câu hỏi về việc liệu doanh thu có được hay không kiếm được thường ảnh hưởng đến việc địnhgiá tài sản
Sự mơ hồ về việc liệu một công ty sở hữu một tài sản có tạo ra một số cơ hội hay không
để phân tích kế toán:
Mặc dù có ý định tốt của quản lý, báo cáo tài chính đôi khi làm một người ít kinh nghiệmviệc phản ánh tài sản kinh tế của công ty vì rất khó cho các quy tắc kế toán để nắm bắt tất cảcác tinh tế liên quan đến quyền sở hữu và quyền kiểm soát
Bởi vì các quy tắc kế toán về quyền sở hữu và kiểm soát cho phép các nhà quản lý các giaodịch như vậy về cơ bản các giao dịch tương tự được báo cáo ở rất khác nhau cách thức, tàisản quan trọng có thể được bỏ qua từ bảng cân đối kế toán mặc dù công ty chịu nhiều rủi ro
về quyền sở hữu kinh tế
Có thể có những khác biệt chính đáng trong quan điểm giữa người quản lý và nhà phân tích
về rủi ro, quyền sở hữu do công ty gây ra, dẫn đến sự khác biệt trong ý kiến về báo cáo chocác tài sản này
Nhận thức doanh thu tích cực, giúp tăng thu nhập được báo cáo, có khả năng ảnh hưởng giátrị tài sản
Các lợi ích kinh tế trong tương lai có thể được đo lường hay không với sự chắc chắn hợp lý?
Hầu như luôn luôn khó dự đoán chính xác các lợi ích trong tương lai gắn với đầu tư cho tài sản cốđịnh vì thế giới là không chắc chắn Một công ty không biết liệu một đối thủ cạnh tranh sẽ cung cấpmột sản phẩm hoặc dịch vụ mới làm cho việc cung cấp của chính nó trở nên lỗi thời Nó không biếtliệu các sản phẩm được sản xuất tại nhà máy mới sẽ là loại khách hàng muốn mua Một công tykhông biết liệu những thay đổi trong giá dầu sẽ làm cho các thiết bị khoan dầu mà công ty đó sảnxuất ra có bị hạ thấp giá trị
Theo Quy tắc kế toán đối phó với những thách thức này bằng cách quy định các loại tài nguyên cóthể được ghi lại dưới dạng tài sản và những nội dung không thể Phán quyết liên quan đến việc tạo
ra các quy tắc, tuy nhiên có thể dẫn đến sự khác biệt về báo cáo giữa các công ty và quốc gia Ví dụ,xem xét việc giải quyết các lợi ích kinh tế từ nghiên cứu và phát triển (R & D), mà thường được coi
là rất không chắc chắn Các dự án nghiên cứu không bao giờ có thể phân phối hứa hẹn sản phẩmmới, sản phẩm mà họ tạo ra có thể không khả thi về mặt kinh tế, hoặc sản phẩm có thể bị lỗi thờibởi sự nghiên cứu của đối thủ cạnh tranh Theo GAAP của Hoa Kỳ, chi tiết R & D được mở rộng,ngoại trừ chi phí phát triển phần mềm trên các sản phẩm đáp ứng công nghệ các tiêu chuẩn khả thi(xem SFAS 86) IFRS yêu cầu tất cả các chi phí nghiên cứu phải được mở rộng nhưng cho phép cáccông ty tận dụng chi phí phát triển một khi các tiêu chuẩn về kỹ thuật và thị trường và tính khả thiđược đáp ứng (IAS 38)
Trang 9Các quy tắc yêu cầu việc mở rộng ngay lập tức các chi tiêu cho một số tài nguyên chính có thể là tốtcho công việc kế toán, nhưng họ tạo ra một thách thức cho các nhà phân tích-họ làm cho nó khókhăn hơn để suy ra hiệu quả tài chính từ báo cáo tài chính Nếu tất cả các chi phí của các công ty
Mỹ R & D, báo cáo tài chính sẽ phản ánh sự khác biệt trong R & D thành công chỉ khi sản phẩmmới được thương mại hóa hơn là trong quá trình phát triển Sự khác biệt trong R & D mở rộng chocác công ty sử dụng GAAP và IFRS của Hoa Kỳ nó cũng sẽ làm khó khan cho nhà phân tích đánhgiá mức độ khác biệt về hiệu suất được báo cáo là do báo cáo tiêu chuẩn hơn là hiệu quả kinh tế.Một cách mà nhà phân tích có thể thử để sửa chữa những méo mó này bằng cách tận dụng các khóa
R & D chính và điều chỉnh giá trị của tài sản vô hình dựa trên các cập nhật R & D
Có giá trị hợp lý của tài sản thấp hơn giá trị sổ sách?
Tài sản bị suy giảm khi giá trị hợp lý của tài sản giảm xuống dưới giá trị sổ sách Tất nhiên, thịtrường tài sản hoạt động dài hạn kém thanh khoản và không đầy đủ cung cấp, làm cho nó rất chủquan để suy ra giá trị hợp lý của chúng Khi cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 được chứngminh, việc định giá tài sản có thể cũng là chủ quan tại các thị trường thường có tính thanh khoảncao nhưng tạm thời bị đóng băng Do đó, phán quyết liên quan đến việc quyết định liệu tài sản có bịsuy giảm hay không và xác định giá trị của bất kỳ tổn thất nào về mất mát
Đối với nhà phân tích, điều này làm tăng khả năng giá trị tài sản bị sai lệch Trong hầu hết các cácquốc gia, các chuẩn mực kế toán yêu cầu một khoản lỗ được ghi nhận vĩnh viễn suy giảm tài sản.Tuy nhiên, một lần nữa, các quy tắc cụ thể khác nhau giữa các quốc gia Ví dụ: các quy tắc của Hoa
Kỳ (SFAS 144) cho phép một số lượng nội dung nhất định kiểm tra về suy giảm tài sản so sánh giátrị sổ sách của tài sản với giá trị kỳ vọng của các luồng tiền trong tương lai (không chiết khấu) dựkiến sẽ được tạo ra từ việc sử dụng và bán tài sản trong tương lai Điều này có thể tạo ra các tìnhhuống không có báo cáo tài chính thể hiện một tài sản bị suy giảm về kinh tế Ngược lại, IFRS yêucầu kiểm tra suy giảm tài sản dựa trên dòng tiền chiết khấu (chứ không phải là chưa chiết khấu).Nhiệm vụ xác định liệu có sự suy giảm tài sản và định giá suy giảm được giao cho quản lý với sựgiám sát của các kiểm toán viên của công ty Điều này để lại cơ hội cho quản lý tiềm năng thiên vịtrong việc định giá tài sản và cho hợp pháp sự khác biệt về ý kiến giữa các nhà quản lý và các nhàphân tích về định giá tài sản Trong hầu hết các rường hợp, quản lý thiên vị sẽ dẫn đến tài sản phóngđại vì người quản lý sẽ không thích nhận ra một sự suy giảm Tuy nhiên, người quản lý thiên vịcũng có thể giảm giá trị tài sản xuống nâng cao mức độ suy giảm hiện tại, do đó giảm chi phí trongtương lai và tăng thu nhập trong tương lai
Do đó, cơ hội để điều chỉnh kế toán có thể phát sinh trong các tình huống được thảo luận
ở trên nếu
Các quy tắc kế toán không làm tốt công việc nắm bắt kinh tế của công ty,
Người quản lý sử dụng quyết định của mình để bóp méo hiệu suất của công ty hoặc
Có sự khác biệt chính đáng giữa các nhà quản lý và các nhà phân tích về những bất ổn kinh
tế đối diện với công ty được phản ánh trong các giá trị tài sản
Tài sản phóng đại
Các phát ngôn viên tài sản có khả năng phát sinh khi các nhà quản lý có ưu đãi tăng báo cáo thunhập Do đó, điều chỉnh đối với nội dung cũng thường yêu cầu điều chỉnh đối với báo cáo thu nhậpdưới hình thức tăng chi phí hoặc giảm doanh thu Các hình thức phổ biến nhất của tài sản (và thunhập) quá mức như sau:
1 Bản ghi tài sản bị trì hoãn Nếu tài sản trở nên bị suy yếu - tức là, họ có thể thực hiện đượcgiá trị thấp hơn giá trị sổ sách của chúng — các quy tắc kế toán thường yêu cầu chúng được ghinhận giảm giá trị hợp lý của họ Sự suy giảm tài sản ảnh hưởng đến thu nhập từ ghi giảm đượctính trực tiếp vào thu nhập Ghi trùng nội dung cũng tăng đòn bẩy của công ty, có khả năng hạn
Trang 10chế khả năng tiếp cận thị trường vốn Tuy nhiên, xác định giá trị hợp lý của một tài sản liênquan đến việc đánh giá khả năng cung cấp các cơ hội trì hoãn các tổn thất về tài sản của các nhàquản lý như một cách để thúc đẩy lợi nhuận được báo cáo và để nâng cao vị thế tài chính củacông ty.
Các nhà phân tích bao gồm các công ty nơi quản lý hàng tồn kho và khoản phải thu là yếu tốthành công chính (ví dụ: ngành bán lẻ thời trang và điện tử tiêu dùng) cần đặc biệt nhận thứcđược hình thức quản lý thu nhập này và tác động của nó về tài sản Ví dụ: nếu người quản lýmua quá mức hoặc sản xuất quá mức trong hiện tại thời gian, họ có khả năng cung cấp chokhách hàng giảm giá hoặc tín dụng hấp dẫn để loại bỏ hàng tồn kho dư thừa Giảm giá đáng kểcho khách hàng dẫn tới tác động tiêu cực đến thu nhập, trong khi cung cấp cho khách hàng tíndụng mang rủi ro mặc định Dấu hiệu cảnh báo cho sự chậm trễ trong loại tài sản ghi xuống baogồm hàng tồn kho tăng và các khoản phải thu, ghi sổ các sản phẩm tương tự của các đối thủcạnh tranh và doanh nghiệp suy thoái cho khách hàng lớn của công ty
Điều kiện kinh tế hoặc công nghiệp giảm sút cũng có thể ảnh hưởng đến giá trị tài sản phi tàichính dài hạn (như nhà máy và thiết bị) hoặc Tài sản vô hình Mặc dù các công ty được yêu cầuđưa ra những khiếm khuyết trong các giá trị của các tài sản này khi chúng phát sinh, thị trường
cũ cho các loại tài sản này thường kém thanh khoản, không đầy đủ hoặc không tồn tại, ước tínhtài sản định giá và suy giảm vốn chủ quan Kết quả là, người quản lý có thể sử dụng phán quyếtbáo cáo của họ để trì hoãn việc ghi nợ trên bảng cân đối kế toán và tránh hiển thị chi phí suygiảm trong báo cáo thu nhập Vấn đề này đặc biệt có liên quan cho các doanh nghiệp thâm nhậptài sản ở các thị trường dễ bay hơi (ví dụ: hãng hàng không) hoặc cho các công ty theo mộtchiến lược tăng trưởng tích cực thông qua việc mua lại (và do đó có số lượng lớn ưu đãi trênbảng cân đối kế toán của họ) Dấu hiệu cảnh báo về sự chậm trễ trong suy giảm tài sản phi tàichính dài hạn bao gồm tài sản dài hạn giảm doanh thu, giảm lợi nhuận trên tài sản xuống dướimức chi phí vốn cho công ty, làm giảm bởi các công ty khác trong cùng ngành công nghiệpcũng đã giảm giá trị sử dụng tài sản và thanh toán quá mức hoặc tích hợp không thành côngkhóa mua lại
2 Dự phòng được đánh giá thấp (ví dụ, các khoản dự phòng cho các khoản nợ xấu hoặc cáckhoản cho vay) Người quản lý ước tính giá trị mặc định của khách hàng dự kiến đối với cáckhoản phải thu và các khoản cho vay và tạo ra dự trữ để trang trải các chi phí dự kiến này Nếungười quản lý đánh giá thấp giá trị của các khoản dự trữ, tài sản và thu nhập sẽ được phóng đại.Dấu hiệu cảnh báo các khoản phụ cấp không đầy đủ bao gồm các khoản phải thu tăng, suy thoáikinh doanh cho một các khách hàng lớn của công ty và phát triển nợ quá hạn
3 Ghi nhận nhanh doanh thu (tăng các khoản phải thu) Người quản lý thường có thông tin tốt nhất
về việc không chắc chắn khi ghi nhận doanh thu – liệu một sản phẩm hoặc dịch vụ đã được cungcấp cho khách hàng hay chưa và liệu việc thu tiền mặt có chắc chắn được thực hiện không Tuynhiên, các nhà quản lý cũng có thể có lợi thế khi đẩy nhanh việc ghi nhận doanh thu, thúc đẩy báocáo thu nhập trong kỳ Khoản phải thu và thu nhập có thể được phóng đại Việc ghi nhận doanh thutăng đột biến là một trong những cách thức quản lý thu nhập phổ biến nhất theo SEC Dấu hiệucảnh báo bao gồm tăng trưởng các khoản phải thu vượt mức tăng trưởng doanh số bán hàng và tăng
số ngày phải thu
4 Khấu hao tài sản dài hạn hữu hình/vô hình Nhà quản lý ước tính thời gian hữu ích của tài sản,
giá trị thu hồi ước tính,và kế hoạch khấu hao đối với tài sản dài hạn Nếu những ước tính này là lạcquan, tài sản dài hạn và thu nhập sẽ được phóng đại Việc này thích hợp nhất đối với những doanhnghiệp kinh doanh sử dụng nhiều tài sản ví dụ như: hãng hàng không, các doanh nghiệp kinh doanhtiện ích) Việc so sánh các chính sách của công ty với những đối thủ cạnh tranh trong ngành với nềntảng cơ sở hạ tầng và chiến lược kinh doanh tương tự sẽ giúp nhà phân tích nhận định các báo cáotiềm năng quá mức
VÍ DỤ VỀ VIỆC LÀM SAO ĐỂ XÁC ĐỊNH ĐÚNG ĐỐI VỚI CÁC TÀI SẢN ĐƯỢC ĐÁNH
Trang 11GIÁ QUÁ CAO
Các ví dụ sau minh họa một vài sự bóp méo dẫn đến việc tài sản được đánh giá quá cao và các điềuchỉnh mà nhà phân tích có thể thực hiện để giảm sai lệch trong các báo cáo tài chính
Trì hoãn việc giảm giá trị sổ sách của tài sản
Trong những năm gần đây, máy nghe nhạc MP3 cầm tay thống trị ngành công nghiệp phân phối âmnhạc, ảnh hưởng đến mọi thứ từ định dạng để ghi lại chiến lược nhãn hiệu đến cách các nghệ sĩ tiếp thị
và phát hành âm nhạc của họ Apple đã thống trị thị trường bằng máy nghe nhạc iPod – chiếm hơn75% thị phần tại Mỹ kể từ khi ra mắt vào năm 2001 Các đối thủ như Creative Technology, Sony,Microsoft và Samsung đã phải cạnh tranh mạnh mẽ với nỗ lực giành lấy thị phần của thị trường đangphát triển nhanh chóng này Những rủi ro chính mà các công ty này phải đối mặt bao gồm việc thay đổinhanh chóng trong công nghệ máy nghe nhạc MP3 và quản lý hàng tồn kho khi đối mặt với cạnh tranhkhông ngừng và sư lỗi thời của công nghệ
Creative Technology trụ sở tại Singapore đã công bố mức tăng doanh thu ấn tượng nửa cuối năm 2003cho đến quý 1 năm 2005, với mức tăng đột biến có thể dự đoán được trong doanh số bán hàng kỳ nghỉ
lễ trong cả hai năm 2003 và 2004 Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận gộp giảm mạnh từ 35% đến 23% tronggiai đoạn này Một xu hướng đáng lo ngại hơn là quản lý hàng tồn kho của công ty Tăng trưởng vềhàng tồn kho vượt mức tăng trưởng về doanh số bán hàng, dẫn đến tăng 58% số ngày tồn kho, từ 100ngày trong quý kết thúc ngày 30 tháng 9 năm 2003, đến 158 ngày cho quý kết thúc ngày 31 tháng 3năm 2005 Hàng tồn kho vào cuối tháng 3 năm 2006 trị giá 451,2 triệu USD, tăng từ 183,9 triệu USD
so với chín tháng trước đó Sự gia tăng này đặt ra câu hỏi cho các nhà phân tích về giá trị hàng tồn khocủa Creative Technology và khả năng lỗi thời
Nhà phân tích có thể đánh giá liệu hàng tồn kho có bị suy giảm hay không bằng cách nói chuyện vớinhà cung cấp và khách hàng, quan sát tốc độ ra mắt sản phẩm mới cho máy nghe nhạc MP3, đánh giáhiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp khác trong cùng ngành và hiểu được quan điểm/ý kiến chung
về kỳ vọng tăng trưởng thị trường Dựa trên nghiên cứu này, một nhà phân tích có thể đánh giá liệu sựgiảm vòng quay hàng tồn kho của Creative Technology có thể vẫn tiếp tục, liệu những rủi ro công nghệnghiêm trọng, nếu có, và mức thiệt hại sẽ là bao nhiêu là đủ Trước khi công bố thu nhập vào ngày 31tháng 6 năm 2005, một số nhà phân tích đã nêu câu hỏi về sự tăng trưởng hàng tồn kho của CreativeTechonoly và đã dự báo rằng công ty sẽ buộc phải ghi nhận thiệt hại hàng tồn kho trong tương lai Một khi nhà phân tích kết luận rằng hàng tồn kho được đánh giá quá cao, thách thức là ước tính mức
độ giảm sút Đối với Creative Technology, điều này phụ thuộc vào việc giảm giá để giải phóng nhữngsản phẩm chậm tiêu thụ Chi phí sau thuế của những thiệt hại sẽ làm giảm thu nhập hiện tại và giữ lại.Ngoài ra, tác động của thuế của thiệt hại sẽ làm giảm chi phí thuế và nợ thuế thu nhập hoãn lại phải trảnếu hàng tồn kho giảm và không được ghi nhận cho mục đích thuế cho đến khi hàng tồn kho sẽ đượcbán đi Creative Technology giữ một vị thế đặc biệt tại Singapore khi được miễn một phần thuế thunhập Tuy nhiên, với mục tiêu minh họa, việc áp dụng thuế suất 20% theo luật tại địa phương, các báocáo tài chính có thể được điều chỉnh như sau với giả định hàng tồn kho được đánh giá vượt mức 20triệu đô la:
Điều chỉnh
Bảng Cân đối kế toán
Vốn chủ sở hữu của cổ đông
Trang 12Vào tháng 8 năm 2005, Creative Technology tuyên bố rằng có thể công ty sẽ phải chi 20 triệu đô la chiphí tồn kho được phản ánh trong việc giảm giá các thành phần nhất định được sử dụng để sản xuất nênmáy MP3 Trong quý kết thúc vào ngày 31/03/2006, công ty tiếp tục giảm giá hàng tồn kho do sự tuộtdốc về giá của các bộ phận như bộ nhớ flash và ổ cứng Không quá bất ngờ khi giá cổ phiếu củaCreative Technology giảm xuống do phản ứng với thông tin sụt giảm trên, từ mức cao 17 đô la/cổ phầnđầu năm 2005 xuống 5 đô la/cổ phần khi được giao dịch vào giữa năm 2006.
CHS đã nhận được các khoản thanh toán cho các dịch vụ của mình từ các cơ quan chính phủ, các công
ty bảo hiểm tư nhân, và trực tiếp từ bệnh nhân mà công ty phục vụ Medicare (Dịch vụ chăm sóc y tế
do chính phủ tài trợ) là hoạt động tạo ra doanh thu lớn nhất cho công ty, chiếm khoảng 33% doanh thuhoạt động thuần trong quý kết thúc 30 tháng 6 năm 2006 Dịch vụ chăm sóc y tế được quản lý cung cấpthêm 25% doanh thu, 10% đến từ Medicaid (Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe cho người có thu nhậpthấp), và 13% là từ các nguồn tự trả (bệnh nhân không có bảo hiểm, bệnh nhân được giảm trừ, cáckhoản thanh toán đồng bảo hiểm không được bảo hiểm và các bệnh nhân có nhà cung cấp bảo hiểmkhông chi trả)
Trước năm 2006, CHS ước tính khoản dự phòng của họ cho các tài khoản nghi ngờ bằng việc dự trữ
số tiền tương đương với tất cả các khoản phải thu quá 150 ngày, bất kể loại bệnh nhân nào Dựa trênphương pháp này, báo cáo hàng quý của CHS cho quý kết thúc ngày 30 tháng 6 năm 2006, cho thấy trợcấp đối với các tài khoản có nghi ngờ chiếm 32,5% tổng các khoản phải thu Tuy nhiên, phương phápnày không phân biệt mức độ rủi ro của các nhóm bệnh nhân khác nhau Cụ thể, không thể nhận ra tỷ lệthu thập thấp nhất đối với các tài khoản tự thanh toán và đã có sự gia tăng tỷ lệ doanh thu và các khoảnphải thu từ các bênh nhân này trong suốt quý
Nhà phân tích nhận thấy tầm quan trọng của việc gia tăng trong tỷ lệ khoản phải thu từ các khách hàng
tự chi trả có thể quyết định giảm các khoản trợ cấp tháng 6/2006, và thực hiện các điều chỉnh cần thiếttrên bảng cân đối kế toán đối với tài khoản phải thu (tổng thay đổi trong dự phòng), đối với thuế thunhập hoãn lại phải trả (do sự tác động của thuế từ việc gia tăng chi phí), và đối với thu nhập giữ lại (dohiệu ứng ròng) Ví dụ như nếu nhà phân tích quyết định dự phòng đối với những khoản có nghi vấncủa CHS sẽ chiếm 36% thay vì 32,5% khoản phải thu, điều này phản ánh sự thay đổi trong việc kếthợp các bệnh nhân, khoản phải thu có thể sẽ giảm 37,8 triệu đô la (Số dư tài khoản phải thu tháng6/2006 là 1,08 tỷ đô la và dự phòng phải thu là 351 triệu đô) Với mức thuế suất thực tế là 39% sẽ làmgiảm thu nhập và vốn chủ sở hữu 23,1 triệu đô và thuế thu nhập hoãn lại phải trả giảm 14,7 triệu đô.Các điều chỉnh báo cáo tài chính vào ngày 30/6/2006 do đó sẽ được trình bày như sau:
Điều chỉnh
Bảng Cân đối kế toán
Vốn chủ sở hữu của cổ đông
Trang 13khoản đáng ngờ vào quý kết thúc vào ngày 30/9 Với phương pháp mới này, Công ty dự tính tỷ lệ mặcđịnh riêng đối với khoản tự chi trả và các tài khoản phải thu khác, điều này phản ánh sự khác biệt dựatrên dữ liệu lịch sử Kết quả là, một sự gia tăng 65 triệu đô chi phí nợ xấu đã được ghi nhận trong quý
và ước tính tăng 38% trong tổng các khoản phải thu Ngoài ra các khoản trợ cấp tăng thêm vào năm
2008, 2009, tương ứng từ 40% lên 42% các khoản phải thu CHS giải thích rằng sự sụt giảm các khoản
có khả năng thu do nguyên nhân chính là nền kinh tế giảm sút đã làm tăng số lượng bệnh nhân đủ điềukiện được chăm sóc miễn phí, giảm số lượng tham gia chương trình chăm sóc sức khỏe cho người cóthu nhập thấp ở một số bang và tăng số lượng người không cư trú có nhu cầu chăm sóc sức khỏe
Ghi nhận tăng doanh thu quá mức
Vào năm 2006, SEC đã công bố một cuộc điều tra không chính thức về tài chính của Diebold Inc., nhàsản xuất thiết bị bầu cử của Hoa Kỳ, máy rút tiền tự động và hệ thống bảo mật ngân hàng Vào tháng 5năm 2007, Diebold thông báo rằng họ đã nhận được trát đòi hầu tòa từ việc SEC tìm được các tài liệuliên quan đến việc ghi nhận doanh thu thực tế của họ Vấn đề là sự ghi nhận một số khoản thu nhậpnhất định của Bắc Mỹ đối với các giao dịch “lập hóa đơn và giữ”, ở đó công ty đã lập hóa đơn trướccho khách hàng, việc giao hàng được thực hiện sau đó Theo nguyên tắc kế toán của Mỹ, các giao dịchnày có thể được ghi nhận là doanh thu cung cấp cho khách hàng nếu người bán giữ hàng hóa vì mụcđích kinh doanh hợp pháp, có một lịch trình giao hàng được chấp nhận, các sản phẩm đã sẵn sàng đểvận chuyển và người bán không có bất kỳ nghĩa vụ thực hiện trong tương lai nào
Từ năm 2002 đến năm 2003, số ngày khoản phải thu Diebold đã tăng từ 76 lên 97 ngày – mức tăng28% Khi điều tra, SEC phát hiện một số lượng các giao dịch ghi nhận doanh thu không đúng, bao gồmcác chuyến hàng từ nhà máy đến nhà kho đã được ghi nhận là doanh thu "lập hóa đơn và giữ" Một nhàphân tích đã quan sát thấy sự tăng lên số ngày khoản phải thu và SEC chú ý đến Diebold và muốn điềuchỉnh doanh thu của công ty và ước tính tác động đến việc tăng doanh thu và lợi nhuận Để giảm sốngày phải thu là 21 ngày, doanh thu và các khoản phải thu năm 2003 sẽ phải giảm 150
triệu đô, kéo theo yêu cầu những thay đổi sau đối với báo cáo tài chính năm 2003 của Diebold:
1 Cả hai khoản doanh thu và tài khoản phải thu sẽ giảm 150 triệu USD
2 Chi phí bán hàng sẽ giảm và Hàng tồn kho sẽ tăng để phản ánh mức giảm trong doanh số bán hàng
Sự điều chỉnh giá trị của chi phí bán hàng /hàng tồn kho có thể được ước tính bằng việc lấy doanh sốđiều chỉnh nhân với tỷ lệ chi phí bán hàng trên doanh số bán hàng (67% của Diebold vào năm 2003),hoặc 100,5 triệu USD (67% của 150 triệu USD)
3 Sự suy giảm thu nhập trước thuế sẽ dẫn đến chi phí thuế thấp hơn trên sổ sách báo cáo tài chính củacông ty (nhưng có lẽ không có trong số liệu sổ sách thuế) Hệ quả là, thuế thu nhập hoãn lại phải trả sẽgiảm xuống Thuế suất cận biên của Diebold là 35%, ngụ ý rằng việc giảm chi phí thuế và thuế thunhập hoãn lại phải trả sẽ là 17,3 triệu USD [($ 150 - $ 100,5)x 0,35]
Do đó, kết quả đầy đủ của việc điều chỉnh báo cáo tài chính năm 2003 sẽ như sau:
Điều chỉnh
Bảng Cân đối kế toán
Vốn chủ sở hữu của cổ đông
Trang 14Theo kết quả cuộc điều tra của SEC, Diebold đã đưa ra một đánh giá nội bộ về hoạt động kế toán đãcông bố của mình trong tháng 9 năm 2008 rằng họ điều chỉnh lại báo cáo tài chính của mình cho cácnăm tài chính từ 2003 đến 2006 cũng như quý kết thúc ngày 31 tháng 3 năm 2007 Trong Tháng 6 năm
2010, công ty cũng đã đồng ý nộp phạt 25 triệu USD tiền phạt theo quyết định của SEC
Tài sản bị đánh giá thấp
Thông thường việc báo cáo tài sản thấp hơn phát sinh vì nhà quản lý có lợi khi báo cáo mức thunhập thấp hơn Điều này có thể xảy ra khi công ty đang hoạt động rất tốt và các nhà quản lý quyếtđịnh giữ lại những khoản thu nhập lớn cho những thời điểm khó khăn Thu nhập được giảm đi như
đã đề cập có thể được thực hiện bằng cách báo cáo tăng chi phí định kỳ (và báo cáo thấp giá trị tàisản) trong suốt thời gian thuận lợi Báo cáo thấp tài sản (và chi phí) có thể phát sinh trong năm khókhăn cụ thể nào đó, khi mà nhà quản lý quyết định báo cáo lỗ bằng việc báo cáo thấp thu nhập hiệntại để tạo ra sự xoay ngược (bước ngoặt) trong những năm tiếp theo Phân tích kế toán liên quan đếnviệc đánh giá liệu các nhà quản lý có báo cáo thấp giá trị tài sản (cũng như thu nhập) và nếu cầnthiết có thể điều chỉnh bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh cho phù hợp
Việc báo cáo thấp giá trị tài sản cũng có thể phát sinh do chính các nguyên tắc kế toán Trong nhiềuquốc gia, các chuẩn mực kế toán yêu cầu các công ty phải trả chi phí cho R & D và quảng cáo bởi
vì, mặc dù các chi phí đó có thể tạo ra giá trị tương lai cho chủ sở hữu nhưng kết quả không chắcchắn cũng ở mức cao Việc báo cáo tài sản thấp cũng có thể phát sinh khi nhà quản lý có lợi trongviệc báo cáo giảm các khoản nợ Ví dụ: nếu công ty ghi nhận giao dịch thuê là hoạt động cho thuê
hoặc nếu giảm các khoản phải thu có khả năng thu, cả tài sản và các nghĩa vụ đi kèm đều khôngđược trình bày trên bảng cân đối kế toán Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những bút toán kếtoán này không phản ánh bản chất kinh tế của các giao dịch - bên thuê có thể sở hữu tài sản chothuê một cách hiệu quả và công ty bán các khoản phải thu vẫn có thể gánh chịu tất cả những rủi roliên quan đến quyền sở hữu Nhà phân tích sẽ muốn điều chỉnh bảng cân đối kế toán (và thậm chí cảbáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) cho những trường hợp thực tế này
Các hình thức phổ biến nhất báo cáo (kê khai) tài sản và thu nhập thấp hơn phát sinh trong cáctrường hợp sau:
1 Báo cáo tài sản cao hơn thực tế Các nhà quản lý khả năng thu lợi từ việc báo cáo (kê khai)
tài sản cao hơn thực tế trong cả những năm hoạt động đặc biệt thuận lợi cũng như nhữngnăm khánh kiệt về tài chính Bằng cách phóng đại các thiệt hại về tài sản và chi phí tronggiai đoạn hiện tại, nhà quản lý có thể báo cáo chi phí thấp hơn trong tương lai, tăng thu nhậptrong những năm hoạt động dưới mức trung bình hay để tạo bước ngoặt khi cần thiết Báocáo tài sản cao hơn thực tế có thể phát sinh khi nhà quản lý ít lạc quan về triển vọng tươnglai của công ty hơn so với nhà phân tích
2 Dự phòng được ước tính quá cao (ví dụ như dự phòng cho các khoản nợ xấu hoặc khoản cho vay tổn thất) Nếu nhà quản lý ước tính dự phòng quá cao cho các khoản nợ xấu hoặc
các khoản cho vay bị tổn thất, các khoản phải thu và các khoản cho vay sẽ báo cáo thấp
3 Khấu hao tài sản dài hạn hữu hình/vô hình Doanh nghiệp ước tính khấu hao thuế đối với sử
dụng các tài sản đang hoạt động, giá trị thu hồi hay tỷ lệ khấu hao giống như khấu hao tàisản nhanh hơn so với thời gian sử dụng hữu ích của tài sản dẫn đến báo cáo tài sản dài hạnthấp hơn thực tế
4 Cho thuê tài sản trên bảng cân đối kế toán Việc đánh giá liệu 1 hợp đồng cho thuê dài hạn
có thể coi như một hợp đồng cho thuê ngắn hạn (và do đó được ghi nhận bằng phương thứchoạt động) hoặc tương đương với mua hàng (và do đó được thể hiện dưới hình thức cho thuêvốn) là chính Điều này phụ thuộc vào người thuê có chấp nhận tất cả các rủi ro của quyền
sở hữu, chẳng hạn như là sự lạc hậu và sự hao tổn vật lý Để chuẩn hóa các báo cáo hoạtđộng cho thuê, chuẩn mực kế toán đã tạo ra các tiêu chí để phân biệt hai loại hoạt động chothuê Tại Mỹ, SFAS 13 quy định hoạt động cho thuê tương đương với việc mua một tài sảnnếu có bất kỳ điều kiện nào sau đây: (1) quyền sở hữu tài sản được chuyển cho người thuêvào cuối giai đoạn thuê, (2) người thuê có quyền chọn mua tài sản với mức giá thương
Trang 15lượng khi kết thúc thời hạn thuê, (3) thời hạn thuê là 75% thời gian sử dụng hữu ích dự kiếncủa tài sản và (4) giá trị thanh toán hiện tại của khoản thuê bằng ít nhất 90% giá trị hợp lýcủa tài sản cho thuê Theo các tiêu chí khách quan này, nhà quản lý báo cáo theo quy địnhcủa GAAP (Nguyên tắc kế toán Mỹ) có thể tạo ra các hợp đồng cho thuê để tránh né việcphân biệt giữa cho thuê tài sản và cho thuê vốn khả năng dẫn đến báo cáo cho thuê tài sảnthấp hơn thực tế Điều này có vẻ như là vấn đề quan trọng đối với nhà phân tích đối vớingành công nghiệp sử dụng nhiều tài sản, nơi có các lựa chọn cho thuê (ví dụ hãng hàngkhông và chuỗi bán lẻ) Ngược lại, chuẩn mực IFAS, IAS 17 tập trung vào việc chuyển giaorủi ro và quyền nhận được khi chuyển giao quyền sở hữu hơn là các nghĩa vụ bắt buộc.
5 Tài sản vô hình chính, như R & D và thương hiệu đã đăng ký nhãn hiệu, không được báo cáo trênbảng cân đối kế toán Một số tài sản quan trọng nhất của công ty được loại trừ khỏi bảng cân đối kếtoán Ví dụ bao gồm đầu tư vào R & D, phát triển phần mềm, thương hiệu và cơ sở thành viên đượctạo thông qua quảng cáo và khuyến mãi GAAP của Hoa Kỳ cấm viết hoa chi phí R & D và chi phímua lại thành viên (ngoại trừ một số chi phí phát triển phần mềm), trong khi các quốc gia báo cáotheo IFRS thường phải trả các chi phí này (với một số hạn chế bổ sung trong lĩnh vực chi phí pháttriển) - chủ yếu bởi vì người ta tin rằng những lợi ích gắn liền với những thứ như vậy là quá khôngchắc chắn Các sản phẩm mới có thể không bao giờ tiếp cận thị trường do sự thiếu công nghệ hoặc
sự ra đời của các sản phẩm cao cấp của các đối thủ cạnh tranh; và các thành viên mới đăng ký dịch
vụ như là kết quả của một chiến dịch quảng cáo có thể bị hủy bỏ Tăng chi phí của các vật thể vôhình có hai tác động đối với các nhà phân tích Đầu tiên, sự thiếu sót của tài sản vô hình từ bảng cânđối sẽ làm tăng tỷ lệ lợi nhuận trên vốn (hoặc lợi nhuận trên tài sản hoặc lợi tức trên vốn chủ sởhữu) không giống như các công ty không có khả năng cạnh tranh, các lực lượng cạnh tranh sẽkhông làm cho lãi suất hoàn vốn của họ hoàn toàn trở lại với chi phí vốn theo thời gian Ví dụ, cáccông ty dược phẩm đã cho thấy tỷ lệ hoàn vốn rất cao qua nhiều tháng một phần do tác động của kếtoán R & D Một hiệu ứng thứ hai của việc mở rộng outlays cho intangibles là nó làm cho nó khókhăn hơn cho các nhà phân tích để đánh giá xem mô hình kinh doanh của công ty có hoạt động haykhông Theo khái niệm phù hợp, lợi nhuận hoạt động là một chỉ báo có ý nghĩa về sự thành côngcủa mô hình kinh doanh của công ty vì nó so sánh doanh thu và chi phí cần thiết để tạo ra chúng.Ngay lập tức mở rộng chi phí cho tài sản vô hình chạy truy cập để phù hợp và, do đó, làm cho nókhó khăn hơn để đánh giá hiệu quả hoạt động của một công ty Phù hợp với điều này, nghiên cứucho thấy rằng các nhà đầu tư xem R & D và quảng cáo outlays như tài sản chứ không phải là chi
phí Tài sản vô hình không đánh giá hết (understated) có thể là quan trọng đối với các công ty
dược phẩm, phần mềm, sản phẩm tiêu dùng thương hiệu, và các doanh nghiệp đăng ký
CÁC VẤN ĐỀ LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÙ HỢP CHO TÀI SẢN KHÔNG ĐÚNG SỰ THẬT (understatement)
Các ví dụ sau đây minh họa một số loại biến dạng làm giảm giá trị tài sản và hiển thị các sửa chữa
mà một nhà phân tích có thể thực hiện để đảm bảo rằng các tài sản được phản ánh một cách thíchhợp
Khấu hao quá mức đối với tài sản dài hạn
Trong năm 2009 Lufthansa, hãng hàng không quốc gia Đức, cho biết họ đã khấu hao máy bay củamình trong 12 năm theo phương pháp đường thẳng, với giá trị còn lại ước tính là 15% chi phí banđầu Air France-KLM, một hãng hàng không được thành lập vào năm 2004 bởi sự hợp nhất củahãng hàng không Pháp Air France và hãng hàng không KLM Hà Lan, là một trong những đối thủcạnh tranh chính của Lufthansa Trái ngược với Lufthansa, Air France-KLM báo cáo rằng khấu haomáy bay của nó cũng được ước tính bằng phương pháp đường thẳng nhưng giả định tuổi thọ trungbình là 20 năm và không có giá trị còn lại
Trang 16Đối với các nhà phân tích, những khác biệt này đưa ra một số câu hỏi Do Lufthansa và Air KLM có các loại tuyến bay khác nhau, có khả năng giải thích sự khác biệt trong chính sách khấuhao của họ? Ngoài ra, họ có các chiến lược quản lý tài sản khác nhau không? Ví dụ, Lufthansa có
France-sử dụng các máy bay mới hơn để thu hút nhiều khách doanh nhân hơn, để giảm chi phí bảo trì haygiảm chi phí nhiên liệu không? Nếu dường như không có sự khác biệt về hoạt động giải thích sựkhác biệt về tỷ lệ khấu hao của hai công ty, nhà phân tích có thể quyết định điều chỉnh tỷ lệ khấuhao cho một hoặc cả hai công ty để đảm bảo hiệu suất của họ có thể so sánh
Để điều chỉnh hiệu ứng này, nhà phân tích có thể chọn giảm tỷ lệ khấu hao của Lufthansa để phùhợp với tỷ lệ khấu hao của Air France-KLM Sau đó, các điều chỉnh báo cáo tài chính sau đây đượcyêu cầu trong báo cáo tài chính của Lufthansa:
1 Tăng giá trị sổ sách của hạm đội vào đầu năm để điều chỉnh mức khấu hao tương đối cao đã được
sử dụng trong quá khứ Điều này cũng sẽ đòi hỏi một sự gia tăng bù đắp trong vốn chủ sở hữu (thunhập giữ lại) và trong nghĩa vụ thuế hoãn lại
2 Giảm chi phí khấu hao (và tăng giá trị sổ sách của hạm đội) để phản ánh mức khấu hao thấp hơncho năm hiện tại và tăng chi phí thuế (năm 2009, thuế suất của Lufthansa là 25%) Trên bảng cânđối kế toán, thể hiện mức tăng vốn chủ sở hữu và nợ phải trả hoãn lại
Lưu ý rằng những thay đổi này được thiết kế để hiển thị kết quả của Lufthansa như thể nó luôn sửdụng giả định khấu hao tương tự như Air France-KLM thay vì phản ánh thay đổi trong các giả địnhcho năm hiện tại trong tương lai Điều này cho phép nhà phân tích so sánh các tỷ lệ sử dụng tài sản(ví dụ: lợi nhuận trên tài sản) cho hai công ty
Lufthansa đã báo cáo trong Báo cáo thường niên 2009 tổng chi phí của máy bay vào đầu năm 2009
là 17.918 €, và khấu hao lũy kế là 10.547 triệu euro Điều này ngụ ý rằng tuổi thọ trung bình của độitàu của Lufthansa là 8,32 năm, được tính như sau:
Nếu Lufthansa sử dụng ước lượng tuổi thọ và cứu nạn tương tự như Air France-KLM, khấu hao lũy
kế sẽ chỉ là 7,454 €, do đó tăng Tài sản hữu hình dài hạn của Công ty lên € 3,093 m và Vốn chủ sởhữu của Cổ đông là 2,320 triệu euro, trong khi cũng tăng trách nhiệm pháp lý thuế hoãn lại € 773m: