Hay nói cách khác là MNCs thúc đẩythương mại phát triển với ba dòng lưu thông hàng hoá cơ bản là: hàng hoá xuất nhậpkhẩu từ công ty mẹ, hàng hoá bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và h
Trang 1Vai trò của các công ty đa quốc gia (MNCs) trong quá
trình toàn cầu hoá
1 Vai trò của MNCs trong thương mại thế giới
1.1 Thúc đẩy hoạt động thương mại thế giới phát triển
Một trong những vai trò nổi bật của các MNCs là thúc đẩy hoạt động thương mạithế giới Trong quá trình hoạt động của mình các MNCs đã thúc đẩy hoạt động xuấtnhập khẩu giữa các quốc gia và gia công quốc tế Hay nói cách khác là MNCs thúc đẩythương mại phát triển với ba dòng lưu thông hàng hoá cơ bản là: hàng hoá xuất nhậpkhẩu từ công ty mẹ, hàng hoá bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và hàng hoá traođổi giữa các công ty trong cùng một tập đoàn MNCs chi phối hầu hết chu chuyểnhàng hoá giữa các quốc gia bởi các kênh lưu thông xuyên quốc gia của mình
Thật vậy, nếu tổng giá trị xuất khẩu của chi nhánh nước ngoài năm 1982 là 647 tỷUSD thì đến năm 1990 là 1.366 tỷ USD, năm 2004 là 3.733 tỷ USD Và đến năm
2005, con số này đã tăng gấp 6,5 lần năm 1982 và đạt 4,214 tỷ USD Hiện nay, MNCs
đã chi phối mạnh mẽ đến hoạt động thương mại quốc tế khi vốn hoá của các công tynày sánh ngang tầm tổng giá trị quốc nội của các quốc gia phát triển Ví dụ: đến 2/8 vốhoá của Apple là 1000 tỉ USD, Amazon là 880 tỷ USD gấp khoảng 2 lần GDP ThaiLan (2016)
Hơn nữa, trong tổng giá trị xuất khẩu của các quốc gia thì giá trị xuất khẩu củacác chi nhánh MNCs chiếm một tỷ trọng tương đối lớn Chẳng hạn giá trị xuất khẩucủa các chi nhánh MNCs tại nước ngoài trong tổng giá trị xuất khẩu của thế giới trongcác năm 2003 và năm 2004 lần lượt là 54,1% và 55,8%, cụ thể như sau:
Bảng 1: Tỷ trọng xuất khẩu của chi nhánh nước ngoài năm 2001
Quốc gia
Gía trị xuất khẩu
(Triệu USD)
Giá trị xuất khẩu của TNCs (Triệu USD)
Tỷ trọng xuất khẩu của TNCs (% )
Trang 2Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2006.
Qua Bảng 1 ta thấy các MNCs chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị xuất khẩu củacác quốc gia, đối với Airland là 66%, với Trung Quốc là 44% Một đặc điểm kháccần chú ý là thương mại nội bộ giữa các công ty trong tập đoàn ngày càng chiếm tỷtrọng lớn trong tổng giá trị thương mại thế giới Nhìn chung trao đổi nội bộ giữa cácchi nhánh MNCs chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị thương mại thế giới Giá trị trao đổinội bộ này ngày càng tăng nhanh và cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thươngmại của các nước Ví dụ, trao đổi trong nội bộ các MNCs trong ngành sản xuất thiết bịđiện, điện tử của Mỹ chiếm 21,5% tổng giá trị xuất khẩu của MNCs trong ngành nàynăm 1983 và tăng lên 30,6% năm 1998 [3] Hoạt động thương mại nội bộ MNCsthường tạo điều kiện cho các chi nhánh tiếp cận với trình độ công nghệ và bí quyết kỹthuật tiên tiến của công ty mẹ và các chi nhánh khác trong cùng hệ thống
Trong những năm gần đây MNCs chiếm khoảng 40% giá trị nhập khẩu và 60%xuất khẩu của toàn thế giới Với các hoạt động hướng về xuất khẩu, MNCs hiện đangchiếm tỷ trọng lớn trong giá trị xuất khẩu của các quốc gia, đặc biệt là các nước đangphát triển ở Châu Á Chẳng hạn xuất khẩu của các chi nhánh MNCs đã chiếm tới 50%tổng giá trị hàng hoá chế tạo tại một số quốc gia như Philippin, Srilanka, Malaysia
1.2 Làm thay đổi cơ cấu thương mại quốc tế
Ngày nay, kinh tế thế giới càng phát triển thì vai trò của các TNCs cũng ngàycàng cao Với tỷ trọng lớn trong thương mại thế giới thì các TNCs chính là chủ thểchính làm thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu đối tác trong thương mại thế giới
Trang 3* Thay đổi trong cơ cấu hàng hoá
Chiến lược phát triển của MNCs gắn liền với các hoạt động thương mại, xuấtnhập khẩu Qua đó ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu
Trong những năm gần đây, tỷ suất lợi nhuận trong ngành dịch vụ tăng cao còntrong ngành nông nghiệp và công nghiệp giảm dần Do đó, các công ty nói chung vàcác MNCs nói riêng cũng chuyển mạnh sang đầu tư vào các ngành dịch vụ và thúc đẩygiá trị xuất khẩu của hàng hoá dịch vụ tăng cao Bên cạnh đó, hiện nay giao dịch trênthế giới đang thay đổi theo chiều hướng tăng tỉ trọng hàng hoá có hàm lượng vốn hoặc
kỹ thuật cao và giảm dần tỉ trọng hàng sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu Thậtvậy, nếu trong tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới năm 1983, sản phẩm có hàmlượng công nghệ cao chỉ chiếm 24% thì đến năm 1998 con số này đã tăng lên 39,3%.Những sản phẩm quan trọng nhất trong thương mại thế giới hiện nay chủ yếu thuộcngành sản xuất không dựa vào nguyên liệu trong đó các sản phẩm bán dẫn là một trongnhững sản phẩm mũi nhọn
Nguyên nhân của xu hướng này xuất phát từ chiến lược tập trung phát triển cácngành có trình độ công nghệ cao của MNCs nhằm duy trì khả năng cạnh tranh cao vàthu lợi nhuận tối đa Điều này được thể hiện qua tỉ trọng hàng xuất khẩu của hàng hoá
có hàm lượng công nghệ cao trong nội bộ MNCs chiếm tới 43,1% tổng gía trị hànghoá xuất khẩu Như vậy, sự thay đổi trong chiến lược toàn cầu của MNCs tác độngtrực tiếp tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là cácnước hướng về xuất khẩu Ví dụ tại Mêhico, trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ yếuthì phần lớn những sản phẩm thuộc ngành ô tô, điện tử do các chi nhánh của MNCssản xuất
* Thay đổi trong cơ cấu đối tác
Cùng với sự thay đổi trong cơ cấu hàng hoá thì cơ cấu đối tác trong thương mạithế giới hiện nay cũng đang dần thay đổi Tỷ trọng của hàng hoá xuất khẩu của cácnước đang phát triển ngày càng cao, đặc biệt là các nước mới công nghiệp Sự thayđổi chiến lược của các TNCs và hệ thống sản xuất quốc tế của chúng mở ra nhiều cơhội cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi tham gia vào các hoạt
Trang 4động hướng về xuất khẩu Theo báo cáo của UNCTAD năm 2005, trong cơ cấu thươngmại thế giới, tỷ trọng thương mại của các nước đang phát triển chiếm 33,6% trong khinăm 1985 là 30.3% Mặc dù các nước phát triển vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong thươngmại thế giới (63.5%) song tỉ trọng thương mại của các nước đang phát triển ngày càngtăng lên Xét một cách riêng rẽ thì bên cạnh các nền kinh tế phát triển (Mỹ, Nhật Bản,Đức) thì chính những nền kinh tế đang phát triển (Trung Quốc, Singapore, Ấn Độ, ĐàiLoan…) lại chiếm thị phần xuất khẩu lớn trong thương mại thế giới [4].
2 Vai trò của MNCs đối với di chuyển nguồn vốn quốc tế.
2.1 Thúc đẩy lưu thông dòng vốn đầu tư trên toàn thế giới:
Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua kênhcông ty đa quốc gia Các công ty đa quốc gia hiện chi phối trên 90% Tổng FDI trên toànthế giới Chỉ tính riêng các công ty đa quốc gia của tam giác kinh tế (Mỹ, Nhật Bản, TâyÂu) đã chiếm 1/3 lượng FDI toàn cầu Giá trị của lượng vốn FDI thực sự là thước đo vaitrò to lớn của các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế thế giới vì FDI là công cụ quantrọng nhất của các công ty đa quốc gia trong việc thực hiện chiến lược toàn cầu củamình
Với tư cách là chủ thể của hoạt động đầu tư trên thế giới, các công ty đa quốcgia là nhân tố đặc biệt quan trọng có ảnh hưởng mang tính quyết định tới toàn bộ hoạtđộng đầu tư quốc tế Vai trò điều tiết hoạt động đầu tư trên quy mô toàn cầu của cáccông ty đa quốc gia thể hiện như sau:
Vào thời kỳ suy thoái kinh tế năm 2001, hầu hết các ngành đều có tốc độ tăngtrưởng chậm lại Các công ty đa quốc gia giảm hoạt động trên hầu hết các lĩnh vực.Động thái đó ảnh hưởng trực tiếp tới dòng lưu chuyển FDI trên thế giới Tổng đầu tưvào các nước giảm 51%, từ 1492 tỉ USD xuống còn 735 tỉ USD Trong xu thế đó thì cácnước phát triển lại bị ảnh hưởng nhiều nhất do hầu hết các hoạt động sáp nhập và mualại (M&A) đều diễn ra tại các nước phát triển Trong giai đoạn 1982-1994 dòng vốn FDInước ngoài tăng lên 4 lần và đạt con số 3,2 nghìn tỉ USD vào năm 1996 Trong thời kỳ
Trang 5những năm 2004-2006 nguồn vốn FDI lại tăng lên Tổng vốn FDI trên toàn cầu năm
2005 tăng 29% và đạt 916 tỉ USD Nguyên nhân chủ yếu là do các vụ M&A tănglên cả về số lượng và giá trị, chủ yếu là từ các công ty đa quốc gia của Mỹ và Tây Âu.Trong thời kỳ này, giá trị của các vụ M&A tăng đến 16% (năm1996), chiếm 47%dòng vốn FDI toàn cầu Dòng vốn FDI tăng lên cả ở các nước phát triển và đang pháttriển Tuy nhiên Tốc độ tăng trưởng giảm hơn so với cuối những năm 90
Hơn nữa, các công ty đa quốc gia làm thay đổi xu hướng đầu tư giữa các quốcgia Khác với hai cuộc bùng nổ trước (lần 1: 1979- 1981 đầu tư vào các nước sản xuấtdầu mỏ, lần 2: 1987-1990: đầu tư giữa các nước công nghiệp phát triển) cuộc bùng nổđầu tư lần 3 (1995-1996) có sự tham gia đáng kể của các nước đang phát triển Trong cơcấu vốn FDI trên thế giới tỷ trọng vốn FDI vào các nước phát triển chiểm phần lớn Tuynhiên tỷ trọng này có xu hướng giảm dần trong khi các nước đang phát triển lại có tỷtrọng ngày càng cao
Cơ cấu dòng vốn FDI đã thay đổi do có sự điều chỉnh trong chiến lược kinhdoanh của các công ty đa quốc gia Cũng chính nhờ mở rộng chính sách tự do hoá FDI,các công ty đa quốc gia ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với thúc đẩy dòng vốnFDI vào các nước đang phát triển
Nếu trước đây, hầu hết nguồn vốn FDI được thực hiện bởi các công ty đa quốcgia của các nước phát triển thì ngày nay số lượng các công ty đa quốc gia của các nướcđang phát triển cũng tăng lên và có ngày càng nhiều vốn FDI đến từ các nước đang pháttriển Theo Hội nghị về thương mại và phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNCTAD),lượng FDI mới từ các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi như Nga
và các nước Xô Viết cũ tăng 5% lên mức 133 tỉ USD trong năm 2005 Ngày càng cónhiều công ty của các nước đang phát triển mở rộng hoạt động đầu tư của mình ở các thịtrường nước ngoài Nếu như năm 1990, các công ty của các nước đang phát triển sở hữu
148 tỉ USD vốn FDI thì đến năm 2005 con số này lên tới 1.400 tỉ USD Tuy nhiên,nguồn vốn này chỉ tập trung vào một số quốc gia nhất định Trong các nước đang phát
Trang 6triển thì Trung Quốc là nước đầu tư ra nước ngoài nhiều nhất (chiếm tới 1/3 tổng lượngvốn nói trên) sau đó là Singapore, Hàn Quốc, Malaysia Các công ty đa quốc gia lớn củacác nước này là Hutchison Whampa (67 tỉ USD), Petronas (22tỉ USD), Singtel (18tỉ),Samsung (14tỉ USD).
2.2 Làm tăng tích luỹ vốn của nước chủ nhà:
Với thế mạnh về vốn, các công ty đa quốc gia đóng vai trò là động lực thúc đẩytích luỹ vốn của nước chủ nhà Thông qua kênh công ty đa quốc gia, nước chủ nhà cóthể tăng cường thu hút vốn FDI đầu tư vào nước mình Vai trò này của các công ty đaquốc gia được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
Thứ nhất: Bản thân các công ty đa quốc gia khi đến hoạt động ở các quốc gia
đều mang đến cho nước này một số lượng vốn nào đó Hơn nữa, trong quá trình hoạtđộng, các công ty đa quốc gia cũng đóng cho ngân sách của nước chủ nhà qua các khoảnnhư: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, chi phí về viễn thông, điệnnước… Mặt khác, nhờ có các công ty đa quốc gia mà một bộ phận đáng kể người dân cóthêm thu nhập do làm việc trực tiếp trong các công ty chi nhánh nước ngoài hoặc giántiếp thông qua việc cung cấp các dịch vụ cho các công ty đa quốc gia và hoặc nhữngngười lao động khác Tại các nước có thị trường chứng khoán phát triển thì các công ty
đa quốc gia làm ăn hiệu quả chính là kênh để thu hút tiền nhãn rỗi của người dân và củacác nhà đầu tư trong việc mua cổ phiếu của các công ty này
Thứ hai: Ngoài việc vốn ban đầu để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh, các công ty đa quốc gia còn thực hiện các biện pháp huy động thêm vốn từ Công
ty mẹ, từ các chi nhánh thành viên của tập đoàn, từ các đối tác, các tổ chức tài chính vàtín dụng thế giới… Đây chính là hình thức thu hút đầu tư của các nước đang phát triểnhiện nay
Thứ ba: Các công ty đa quốc gia góp phần cải thiện cán cân thanh toán của các
nước thông qua việc tích luỹ ngoại hối nhờ các hoạt động xuất khẩu Như đã phân tích ởtrên, hoạt động xuất khẩu của các công ty đa quốc gia chiếm một tỷ trọng đáng kể trong
Trang 7tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước Điều đó không chỉ thể hiện ở vai trò thúc đẩythương mại thế giới của các công ty đa quốc gia mà còn đem lại một nguồn ngoại tệquan trọng, góp phần tạo thế cân bằng cho cán cân thanh toán của nước chủ nhà.
Tóm lại, các công ty đa quốc gia đóng vai trò rât to lớn trong hoạt động đầu tưquốc tế Xét trên góc độ nền kinh tế toàn cầu thì công ty đa quốc gia thúc đẩy lưu thôngdòng vốn FDI trên phạm vi toàn thế giới Mặt khác, ở góc độ từng quốc gia riêng thì cáccông ty đa quốc gia góp phần làm tăng tích luỹ vốn cho nước chủ nhà
3 Vai trò của MNCs trong di chuyển quốc tế về lao động
3.1 Tạo việc làm
MNCs là lực lượng cơ bản, có vị trí quan trọng trong việc tạo việc làm trực tiếp vàgián tiếp Cách trực tiếp là thông qua các dự án, MNCs tạo ra một khối lượng công việckhổng lồ Cách gián tiếp là MNCs đã tạo ra nhiều cơ hội cho việc phát triển nguồn nhânlực Đây là một tất yếu phổ biến của MNCs bởi vì tranh thủ lao động giá rẻ là một trongnhững mục tiêu của MNCs Nhìn chung MNCs thường tạo việc làm ở các ngành côngnghiệp và dịch vụ Tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp chiếm khoảng 4/5 tổng
số lao động được MNCs tạo ra Nhiều việc làm được tạo ra một cách gián tiếp thông quacác hoạt động liên kết kinh tế, cung cấp dịch vụ cho các công ty nội địa
Tầm quan trọng của MNCs đối với việc làm luôn gắn với động thái dòng FDI trênthế giới Đối với các nước đang phát triển, đầu tư trực tiếp của MNCs tạo ra những công
ty, nhà máy, cơ sở sản xuất mới, tăng thêm cơ hội việc làm cho người lao động Đối vớiMNCs việc tìm kiếm nguồn lao động giá rẻ, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa làđộng cơ chủ yếu của các công ty này
Như vậy, MNCs làm tăng khối lượng việc làm trên thế giới, bao gồm tăng việc làm
ở cả chính quốc và ở các nước chủ nhà Số lượng lao động làm việc tại các chi nhánhnước ngoài liên tục tăng lên Nếu như năm 1982 chỉ có 19,537 triệu lao động làm việctrong các chi nhánh của các công ty đa quốc gia tại nước ngoài thì đến năm 2005 con số
Trang 8này là 62,092 triệu lao động, tức tăng gấp 3 lần so với năm 1982 Cũng theo Báo cáoĐầu Tư thế giới của UNCTAD năm 2004 thì tỷ lệ lao động làm việc tại các chi nhánhnước ngoài cũng chiếm phần lớn trong tổng cơ cấu lao động của các công ty mẹ Chẳnghạn, hãng General Electric của Mỹ có 307.000 nhân viên thì trong đó có 142.000 nhânviên tại các chi nhánh, Siemens AG của Đức có 430.000 nhân viên (trong đó có 266.000nhân viên làm việc tại các chi nhánh), IBM của Mỹ có 329.000 nhân viên (trong đó có175.832 nhân viên làm việc tại các chi nhánh), Nissan của Nhật có 183.000 nhân viên(trong đó có 112.530 nhân viên làm việc tại các chi nhánh) Như vậy, tỷ lệ lao động tạicác chi nhánh nước ngoài của các hãng Siemens AG, Nissan, IBM, General Electric lầnlượt là 62%, 61%, 53%, và 44% Tại nhiều nước, các chi nhánh nước ngoài đóng vai tròsống còn trong việc tạo ra việc làm cho người lao động Tại Singapore, số người làmcho các chi nhánh nước ngoài chiếm trên 50% tổng số lao động trong các ngành sảnxuất, tại Ấn Độ, chỉ riêng số người làm trong ngành công nghệ phần mềm đã giải quyết
5 triệu việc làm cho nước này
Do nhu cầu về nguồn nhân lực của MNCs là rất lớn, đặc biệt là nguồn nhân lựcchất lượng cao nên MNCs luôn đưa ra những chính sách tuyển dụng nhân lực toàn cầu.MNCs tìm kiếm nguồn nhân lực cao ở khắp mọi nơi trên thế giới sau đó tuyển dụng vềlàm việc và chuyển những người giỏi nhất về trụ sở chính ở nước chủ nhà Bằng cácchính sách tuyển dụng và đãi ngộ tốt, MNCs luôn thu hút được các nhân tài trên phạm viquốc tế, nhân tài từ các quốc gia đang phát triển di chuyển đến các quốc gia phát triển cóđãi ngộ tốt hơn
3.2 Phát triển nguồn nhân lực
Trong MNCs, việc thay đổi vị trí làm việc diễn ra rất phổ biến, đặc biệt là nhữngcông nhân có tay nghề, những chuyên gia hoặc các nhà quản trị cấp cao MNCs hoạtđộng trên toàn thế giới, họ tìm kiếm những quốc gia có lợi thế về nguồn lao động như sốlượng lao động dồi dào, giá thuê nhân công rẻ để tiến hành xây dựng các nhà máy sảnxuất Tuy nhiên lượng nhân công này là lực lượng lao động phổ thông chưa qua đào tạo
Trang 9bài bản nên tay nghề còn thấp Vì vậy để sử dụng hiệu quả nguồn lao động này, MNCsphải cử các chuyên gia đến các nước sở tại để tiến hành đào tạo công nhân Ngoài ra cáccông nhân có tay nghề cao ở chính quốc cũng được cử sang nước tiếp nhận đầu tư đểhướng dẫn cách làm việc cho những công nhân mới Không những thế, các công ty mẹcòn thường bố trí những vị trí quản trị lãnh đạo ở các công ty con ở nước ngoài là nhữngnhà quản trị cấp cao ở chính quốc để có thể dễ dàng quản lý các công ty con của mình
và có được sự yên tâm nhất định do năng lực của các nhà quản trị đã được kiểm chứng.Như vậy, quá trình di chuyển quốc tế về lao động đã diễn ra ngay chính trong MNCs,thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc hơn
MNCs đã giúp các nước chủ nhà cải cách và đầu tư cho nền giáo dục bằng nhiềuhình thức khác nhau như các khoản trợ giúp tài chính, mở lớp đào tạo dạy nghề Ngoài
ra có một hình thức hiệu quả là cung cấp giáo dục qua Internet Chủ yếu tập trung vàosức khỏ nguồn nhân lực, giáo dục đào tạo và năng lực quản lý MNCs đầu tư vào cácnước tiếp nhận thường kèm theo hoạt động chuyển giao công nghệ Quá trình chuyểngiao công nghệ thường đi kèm với việc phải cử đội ngũ chuyên gia, kỹ thuật viên sanghướng dẫn cách thức vận hành công nghệ đó cho các đối tác ở nước nhận đầu tư Trongbối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ và sự áp dụng công nghệ vào tất cả các lĩnhvực hoạt động thì việc đào tạo cán bộ trở thành tất yếu không thể thiếu trong chiến lượchoạt động của các công ty, xí nghiệp và chính sách của nhà nước, nó là yếu tố quantrọng tạo khả năng cạnh tranh
3.3 Phân công thị trường lao động
Phân công lao động quốc tế là quá trình tập trung sảm xuất và cung cấp một sốsản phẩm và dịch vụ cho một quốc gia nhất định dựa trên ưu thế của quốc gia mình như
về trình độ khoa học công nghệ, khoa học, xã hội, điều kiện tự nhiên để dáp ứng nhu cầucủa quốc gia thông qua trao đổi quốc tế Phân công lao động quốc tế đã phá vỡ sự biệtlập, khép kín của nền kinh tế dân tộc, mở ra một môi trường rộng đáp ứng số lượng lớnngười lao động ở nhiều trình độ khác nhau
Trang 10Sự chênh lệch về số lượng cũng như trình độ của người lao động là vấn đề lớn màMNCs gặp phải trong quá trình đầu tư Vì vậy, việc di chuyển lao động từ quốc gia nàysang quốc gia khác là điều tất yếu xảy ra Muốn lao động di chuyển thuận lợi thì cácquốc gia cần mở của thị trường lao động, từ đó dần dần tham gia vào quá trình toàn cầuhóa kinh tế Ngoài ra khi di chuyển lao động quốc tế trong một thời gian sẽ tạo ra sựchuyên môn hóa thị trường lao động theo từng khu vực Sự chuyên môn hóa thị trườnglao động này làm tăng mối liên kết giữa các thị trường lao động của các quốc gia trongkhu vực, thúc đấy quá trình toàn cầu hóa kinh tế.
4 Vai trò của MNCs đối với các quốc gia
4.1 Vai trò của MNCs đến các quốc gia đi đầu tư
*Tích cực
Thúc đẩy tự do hóa thương mại
Một trong những vai trò nổi bật của các công ty đa quốc gia là thúc đẩy hoạt độngthương mại thế giới Trong quá trình hoạt động của mình, các công ty đa quốc gia thúcđẩy thương mại phát triển với ba dòng lưu thông hàng hoá cơ bản là: hàng hoá xuấtnhập khẩu từ công ty mẹ, hàng hoá bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và hàng hoátrao đổi giữa các công ty trong cùng một tập đoàn Các công ty đa quốc gia chi phối hầuhết chu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia bởi các kênh lưu thông xuyên quốc gia củamình Thương mại nội bộ giữa các công ty trong tập đoàn ngày càng chiếm tỷ trọng lớntrong tổng giá trị thương mại thế giới Nhìn chung trao đổi nội bộ giữa các chi nhánhcủa công ty đa quốc gia chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị thương mại thế giới Giá trị traođổi nội bộ này ngày càng tăng nhanh và cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trịthương mại của các nước
Quốc tế hóa ngành sản xuất và thị trường
Tránh những rào cản thương mại, hạn ngạch, thuế nhập khẩu ở nước nhận đầu tư.Đồng thời tận dụng được nguồn nguyên liệu thô và nhân công giá rẻ, mở rộng quy mô