1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI TẬP HỌC KÌ LUẬT DÂN SỰ 1

15 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 30,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài: So sánh di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng. Sưu tầm một vụ việc tranh chấp có liên quan đến di sản dùng vào việc thờ cúng và phân tích vụ việc theo quy định của BLDS 2015 I. KHÁI QUÁT VỀ DI TẶNG DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG VÀ DI TẶNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BLDS 2015. 1. Di sản dùng vào việc thờ cúng. Thờ cúng tổ tiên là phong tục đã có từ rất xa xưa của người Việt và hiện nay vẫn được coi trọng. Việc thờ cúng tổ tiên được thực hiện trên cơ sở của quan niệm mang tính chất đạo đức và văn hóa: tôn trọng và biết ơn công sinh thành, dưỡng dục; con người có nguồn cội, tổ tông vì vậy con, cháu phải tôn trọng và biết ơn thế hệ cha ông đã sinh ra mình. Thờ cúng tổ tiên, di sản thờ cúng có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ mang ý nghĩa về mặt vật chất mà còn có giá trị về mặt tinh thần. Vì vậy, đối với di sản dùng vào việc thờ cúng có những quy ước rất chặt chẽ của gia đình, dòng tộc, đồng thời nhà nước cũng có những quy định pháp luật cụ thể công nhận và bảo vệ quyền của cá nhân được để lại di sản dùng vào việc thờ cúng.

Trang 1

Đề bài: So sánh di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng Sưu tầm một vụ việc tranh chấp có liên quan đến di sản dùng vào việc thờ cúng và phân tích vụ việc theo quy định của BLDS 2015

MỞ ĐẦU

C.Mác đã từng nhận định: “ con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Theo đó

ta có thể thấy, trong cuộc sống, con người có rất nhiều mối quan hệ xã hội như quan

hệ với gia đình, với bạn bè, với công việc Từ đó cũng nảy sinh các tình cảm khác nhau với từng đối tượng cụ thể Khi chết, theo ý chí của mình, họ có quyền định đoạt tài sản của mình thông qua di chúc Di sản họ để lại có thể giành cho người thân ruột thịt như cha mẹ, con cái, hay họ cũng có thể để một phần di sản dùng vào việc thời cúng và di tặng Vấn đề di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng khá phổ biến trong cộng đồng người Việt Để hiểu rõ hơn về quy định của BLDS 2015 về di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng cũng như những điểm giống và khác nhau của chúng, đồng thời có cái nhìn tổng quan hơn về các vụ việc tranh chấp có liên quan

đến di sản dùng vào việc thờ cúng, em đã chọn đề tài: “So sánh di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng Sưu tầm một vụ việc tranh chấp có liên quan đến di sản dùng vào việc thờ cúng và phân tích vụ việc theo quy định của BLDS 2015” cho

bài tập học kì của mình

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT VỀ DI TẶNG DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG VÀ DI TẶNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BLDS 2015

1 Di sản dùng vào việc thờ cúng

Thờ cúng tổ tiên là phong tục đã có từ rất xa xưa của người Việt và hiện nay vẫn được coi trọng Việc thờ cúng tổ tiên được thực hiện trên cơ sở của quan niệm mang tính chất đạo đức và văn hóa: tôn trọng và biết ơn công sinh thành, dưỡng dục; con

Trang 2

người có nguồn cội, tổ tông vì vậy con, cháu phải tôn trọng và biết ơn thế hệ cha ông đã sinh ra mình Thờ cúng tổ tiên, di sản thờ cúng có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ mang ý nghĩa về mặt vật chất mà còn có giá trị về mặt tinh thần Vì vậy, đối với di sản dùng vào việc thờ cúng có những quy ước rất chặt chẽ của gia đình, dòng tộc, đồng thời nhà nước cũng có những quy định pháp luật cụ thể công nhận và bảo vệ quyền của cá nhân được để lại di sản dùng vào việc thờ cúng

Điều 645,BLDS 2015 quy định:

“1 Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng

Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng

Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật

2 Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.” Theo đó, ta có thể tiếp cận quy định trên những phương diện sau:

a Căn cứ xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng:

Trang 3

Trước hết, ta phải hiểu: di sản gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác Thành phần di sản bao gồm các loại

tài sản khác nhau và không bị hạn chế về số lượng hay giá trị

Điều 645 BLDS quy định về căn cứ xác lập tài sản dùng vào việc thờ cúng trong trường hợp cụ thể liên quan tới việc cá nhân người để lại di sản đó với tư cách là chủ

sở hữu tài sản định đoạt tài sản của mình theo quy định của pháp luật Như vậy, di sản dùng vào việc thờ cúng của gia đình, dòng họ còn do nhiều người lập di chúc để lại nhưng xác định loại di sản này trong từng quan hệ độc lập việc người để lại di sản dùng vào việc thờ cúng định đoạt theo di chúc

Ngoài căn cứ xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng do người lập di chúc định đoạt trong di chúc, di sản dùng vào việc thờ cúng còn do con, cháu tự sắm sửa trong một năm, nhiều năm để dùng vào việc thờ cúng, thậm chí di sản dùng vào việc thờ cúng còn do con, cháu trong dòng họ hiến tặng cho nhà thờ họ hoặc di sản dùng vào việc thờ cúng do các thế hệ trước để lại một cách tự nhiên mà không có bất cứ lời dặn dò hay văn bản xác định đó là di sản dùng vào việc thờ cúng

Như vậy, có thể khẳng định di sản dùng vào việc thờ cúng một người hay các thành viên đã chết của gia đình, dòng họ được xác lập từ nhiều căn cứ khác nhau, nhưng pháp luật quy định căn cứ xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng do một người để lại theo di chúc và căn cứ này có ý nghĩa pháp lý trong việc giải quyết những tranh chấp liên quan đến di sản dùng vào việc thờ cúng do người lập di chúc để lại Những loại tài sản khác là di sản dùng vào việc thờ cúng được hình thành từ các căn

cứ khác nhau, vẫn là di sản dùng vào việc thờ cúng thuộc về một gia đình, trưởng họ dùng vào việc thờ cúng và loại tài sản này pháp luật không đề cập

b Loại tài sản và giá trị tài sản dùng vào việc thờ cúng

Trang 4

Có nhiều ý kiến trái chiều về di sản dùng vào việc thờ cúng và di sản dùng để thờ cúng, phải chắc chắn rằng di sản dùng vào việc thờ cúng và di sản dùng để thờ cúng

là rất khác nhau Pháp luật không quy định loại tài sản nào được dùng vào việc thờ cúng mà điều 645 BLDS quy định người lập di chúc có để lại một phần di sản của mình dùng vào việc thờ cúng Như vậy tài sản theo quy định tại điều 105 BLDS đều

là đối tượng dùng vào việc thờ cúng

Trước hết di sản dùng vào việc thờ cúng được hiểu là tài sản được dùng vào mục đích thờ cúng Tài sản này không nên hiểu theo nghĩa đen của chính nó mà phải hiểu theo bản chất tài sản, có chứa đựng bản chất giá trị tài sản được dung vào việc thờ cúng Như vậy di sản dùng vào việc thờ cúng trước hết phải là tài sản, tài sản này xét về giá trị phục vụ cho mục đích thờ cúng Như vậy di sản dùng vào việc thờ cúng trước hết là tài sản, tài sản này xét về giá trị phục vụ cho mục đích thờ cúng

Di sản để thờ cúng: nếu hiểu theo nghĩa vật chất của tài sản thì không phải vật nào cũng được dung để thờ cúng Vật dụng để thờ cúng là vật được sử dụng trực tiếp để thờ cúng: mâm cỗ, hoa, quả, rượu, nước, hương, nhang…Còn những vật tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể khác không thể đặt lên bàn thờ để cúng như: xe hơi, xe máy, quyền sử dụng đất, quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ

Về giá trị kinh tế của di sản dùng vào việc thờ cúng: nội dung điều 645 BLDS không quy định cụ thể giá trị kinh tế của di sản dùng vào việc thờ cúng chiếm tỷ lệ nhất định trong tổng giá trị khối di sản của người chết để lại, do vậy xung quanh vấn

đề di sản dùng vào việc thờ cúng theo tỷ lệ nào theo giá trị di sản của người chết để lại là hợp lí

Cần phải xác định di sản dùng vào việc thờ cúng được quy định tại điều 645 BLDS nên được hiểu như thế nào cho phù hợp với bản chất pháp luật quy định về loại di sản này Pháp luật không chỉ điều chỉnh những quan hệ xá hội thuộc đối tượng của luật mà còn có ý nghĩa phản ánh bản chất của quan hệ xã hội do nó điều chỉnh Như

Trang 5

vậy một phần di sản dùng vào việc thờ cúng không nên hiểu theo cách chia nhỏ tổng giá trị tài sản của người chết thành nhiều phần bằng nhau để có căn cứ xác định một phần theo cách chia nhỏ di sản Ngoài ra quyền định đoạt của người lập di chúc định đoạt tài sản dùng vào việc thờ cúng không bị ràng buộc vào bất kì quy định nào khác, trừ trường hợp di sản đó bị tiêu huỷ do có sự biến pháp lý tuyệt đối (bão lụt, động đất, hiện tượng thiên tai khác và chiến tranh…)

c Nghĩa vụ của người thực hiện thờ cúng theo di chúc và theo thỏa thuận của những người thừa kế

- Thực hiện nghĩa vụ thờ cúng theo di chúc:

Người được chỉ định quản lý di sản theo di sản dùng vào việc thờ cúng để thực hiện nghĩa vụ thờ cúng theo sự định đoạt của người lập di chúc thì phải thực hiện nghĩa

vụ của mình Tuy nhiên, nếu người được chỉ định quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng và thực hiện việc thờ cúng nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ đó thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng có quyền giao phần

di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng Cách thức chuyển giao di sản cho người khác quản lý dùng vào việc thờ cúng theo thỏa thuận của những người thừa kế thì người được chỉ định có nghĩa vụ quản lý di sản đó để dùng vào việc thờ cúng theo thỏa thuận Như vậy, chủ thể quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng được xác định dựa trên một trong hai căn cứ: theo sự chỉ định của người lập di chúc để lại di sản đó và theo thỏa thuận của những người thừa kế của người để lại di sản

- Thực hiện nghĩa vụ thờ cúng theo chỉ định của những người thừa kế theo pháp luật:

Theo đoạn 2 khoản 1 điều 645 BLDS thì “ trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng”,những người thừa kế theo quy định là những người thừa kế theo pháp luật của

Trang 6

người để lại di sản thờ cúng Khẳng định này dựa trên cơ sở của phong tục, truyền thống thờ cúng những người thân thích đã tồn tại từ ngàn đời xưa trong nhân dân ta Theo phong tục thì những người ngoài dòng tộc không có nghĩa vụ thờ cúng người thuộc dòng tộc khác

d Xử lý di sản dùng vào việc thờ cúng:

Khoản 1 điều 645 BLDS quy định: “ trường hợp tất cả người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp

di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật” Theo quy định này thì người đang quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng cũng đồng thời là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản là chủ sở hữu của di sản dùng vào việc thờ cúng nếu tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết

2 Di tặng

Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác Phần tặng cho này chỉ có hiệu lực cùng với hiệu lực của di chúc tức là khi người lập

di chúc chết Bên cạnh việc để lại thừa kế, pháp luật còn quy định quyền của người lập di chúc trong việc để di tặng việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc

Điều 646 BLDS 2015 quy định:

“1 Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc

2 Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh

ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại

di sản chết Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Trang 7

3 Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.”

Trước hết, bản chất của di tặng không phải là hợp đồng tặng cho, bởi vì: hợp đồng

tặng cho là sự thỏa thuận giữa người được tặng cho và người tặng cho Chủ thể tặng cho và chủ thể được tặng cho đều phải còn sống để thể hiện ý chí cho và nhận tài sản Nhưng di tặng chỉ phát sinh từ cơ sỏ định đoạt của người có di sản lập di chúc

và người được chỉ định nhận di tặng khi người đẻ lại di tặng chết Người được di tặng chỉ có thể là môt người hay nhiều người cụ thể, là người này mà không phải là người khác, tùy thuộc vào sự định đoạt của người có di sản lập di chúc

Thứ hai, di tặng là một nội dung của di chúc, theo đó:

Người có tài sản có quyền lập di chúc để tặng cho người khác tài sản của mình sau khi chết Di chúc tặng cho tài sản có giá trị pháp lý khi người lập di chúc chết Người lập di chúc có thể định đoạt tài sẩn cho người khác hưởng thừa kế theo di chúc và có thể di tặng một phần tài sản của mình cùng một di chúc

Người được di tặng là cá nhân thì có năng lực chủ thể giống như người thừa kế Khi

mở thừa kế làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan trong đó có người được di tặng, cho nên người hưởng di tặng còn phải sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng hình thành thai trước khi người để lại di sản chết Đối với pháp nhân phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, có nghĩa là pháp nhân đâng hoạt động và có năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, trong đó có quyền hưởng tài sản theo di chúc

Thứ ba, Người được di tặng có quyền nhận hoặc từ chối di sản di tặng.

Trang 8

Người được di tặng có quyền nhận cũng có quyền từ chối quyền hưởng di tặng mà không hạn chế quyền định đoạt như đối với người thừa kế Người được di tăngh không phải là người thừa kế theo di chúc và theo pháp luật của người để lại di tặng Người thừa kế theo di chúc hay người thừa kế theo pháp luật chỉ được hưởng di sản sau khi đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại từ di sản của chính người đó Người được di tặng không phải dung di tặng để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết, nếu di sản khác của người để lại di tặng vẫn còn đủ thanh toán Phần di tặng liên quan đến sự từ chối quyền hưởng của người được di tặng là

di sản để chia thừa kế theo pháp luật - tương tự như phần di sản liên quan đến phần

di chúc không có hiệu lực thi hành

Thứ tư, Người hưởng di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ của người chết.

Kể từ thời điểm mở thừa kế người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ của người chết

để lại thừa kế trong phạm vi di sản được hưởng Ngược lại, người được hưởng di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ đó Pháp luật dự liệu trường hợp phần di sản để chia thừa kế không đủ để thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người đã chết, thì người được di tặng phải trích một phần tài sản di tặng để thực hiện nghĩa vụ Trường hợp này người được hưởng di tặng có hai tư cách, trước hết là tư cách của người được tặng cho, người được di tặng có quyền được sở hữu đối với phần di sản di tặng kể từ thời điểm nhận phần di sản đó Tư cách thứ hai của người thừa kế theo di chúc, người được di tặng phải thực hiện nghĩa vụ của người để lại thừa kế nếu toàn bộ di sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ

Như vậy khi di sản chưa chia mà người để lại thừa kế có nghĩa vụ thì người thừa kế lấy di sản chuyển cho người được di tặng, phần còn lại thực hiện nghĩa vụ chia cho những người thừa kế Nếu di sản đã chia cho người được di tặng và người được thừa kế thì những người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản hàng

Trang 9

Có thể nói di tặng là hành vi pháp lí đơn phương của người lập di chúc, nhằm tặng cho người khác tài sản của mình sau khi chết Người được di tặng có quyền nhận toàn bộ số tài sản di tặng được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp pháp luật

có các quy định khác Nếu người được di tặng từ chối nhận phần di sản di tặng thì

số di sản đó được chia theo pháp luật

II SO SÁNH DI TẶNG VÀ DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG

Di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng là một phần tài sản của người chết để lại cho những người thân thích hay những người mình yêu quý khác Giữa chúng có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định

1 Điểm tương đồng:

Thứ nhất, cả di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng đều phát sinh từ di chúc của

người chết để lại, do ý chí của người lập di chúc Những phần di sản để dùng vào việc thờ cúng hay di tặng theo quy định của pháp luật thì phải được ghi rõ trong di chúc Ngoài ra, thì di sản dùng vào việc thờ cúng có thể được hình thành do những người thừa kế tự thỏa thuận khi không có đề cập trong di chúc, hoặc không có di chúc

Thứ hai, cả hai đều là một phần di sản nhất định của người chết để lại, không thể là

toàn bộ di sản của người chết, di sản có thể là tiền, vật có giá trị về vật chất hoặc có giá trị về tinh thần

Thứ ba, di sản đều phải thực hiện xong các nghĩa vụ dân sự như: trả nợ, nộp phạt…

rồi mới xét đến việc dùng vào thờ cúng và di tặng Nếu di sản để lại không đủ để thực hiện các nghĩa vụ dân sự của người chết thì sẽ không có phần di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng

Trang 10

Thứ tư, di sản dùng để thờ cúng và di tặng không được chia thừa kế, nên do đó trước

khi tiến hành phân chia di sản thừa kế phải loại trừ di sản thờ cúng và di tặng ra khỏi

số di sản được chia

2 Điểm khác biệt:

 Về ý nghĩa:

Nếu như di sản dùng vào việc thờ cúng người chết và tổ tiên được để lại với ý nghĩa để nhằm tưởng nhớ và biết ơn đối với những người đã chết mang tính giáo dục sâu sắc và tính nhân văn cao cả Thì, di tặng với ý nghĩa tinh thần rất cao đẹp, bởi thường phần di sản di tặng rất nhỏ, hoặc nếu có lớn thì đều chứa đựng trong đó

là sự cảm ơn, sự trả ơn, quà tặng đối với những người có ý nghĩa với bản thân người

để lại di chúc

 Về quyền và nghĩa vụ phát sinh:

Di sản dùng vào việc thờ cúng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người quản

lí di sản, những đồng thừa kế

Thứ nhất, người quản lí di sản có nghĩa vụ thực hiện việc thờ cúng theo di chúc,

theo sự thỏa thuận của những người thừa kế sao cho phù hợp với ý nguyện của người để lại di sản, phù hợp với những phong tục, tập quán của vùng Về quyền lợi, trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lí hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật

Thứ hai, với những người đồng thừa kế, có quyền và nghĩa vụ chỉ định người quản lí

di sản dùng vào việc thờ cúng, có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác và có quyền thống nhất chia di sản dùng vào việc thờ cúng của người để lại di chúc khi người quản lí di sản chết hoặc người quản lí di sản không thuộc diện thừa kế của người để lại di chúc

Ngày đăng: 20/06/2019, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w