Với những kiến thức thu được từ môn “Quản trị chiến lược” và sự hiểu biết sau khi nghiên cứu mô hình kim cương của Micheal Porter, em xin trình bày đề tài “Dựa vào mô hình kim cương của
Trang 1BÀI TẬP CHUYÊN ĐỀ
MÔN: QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
Đề tài: Mô hình kim cương và ứng dụng trong định hướng chiến lược của Doanh nghiệp
GVHD: TS NGUYỄN THỊ HOÀI DUNG
Học viên thực hiện: Đỗ Trọng Quyết
Mã học viên : CH270454 Lớp : CH27S
Hà Nội, tháng 12/ 2018
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA MICHAEL PORTER3 Giới thiệu về mô hình kim cương của Michael Porter 3
1 Điều kiện các yếu tố sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam 7
1.1 Nguồn nhân lực 7
1.2 Điều kiện và tài nguyên 7
1.3 Nguồn vốn 8
1.4Cơ sở hạ tầng ở VN 8
2 Điều kiện về nhu cầu 9
1.5Cầu trong nước 9
1.6Cầu ngoài nước 10
3 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan 11
1.7Khái quát chung về ngành công nghiệp phụ trợ 11
1.8Các ngành hỗ trợ và liên quan của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt nam 12 4 Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh của ngành 14
1.9Mục tiêu, chiến lược 14
1.10Môi trường cạnh tranh 15
5 Vai trò của Chính phủ và cơ hội của Việt Nam trong ngành sản xuất ĐTDĐ 16
1.11Vai trò của chính phủ 16
1.12 Cơ hội và thách thức 17
KẾT LUẬN 19
LỜI MỞ ĐẦU
Quản trị chiến lược giúp doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi của mình, giúp nhà quản trị nhằm vào các cơ hội và nguy cơ trong tương lai Nhờ vào quá trình quản trị chiến lược, doanh nghiệp gắn liền các quyết định đề ra với điều kiện môi trường liên quan, việc
Trang 3vận dụng quản trị chiến lược sẽ giảm bớt rủi ro gặp phải các vấn đề trầm trọng và tăng khả năng của doanh nghiệp trong việc tranh thủ các cơ hội trong môi trường khi chúng xuất hiện Mục tiêu của học phần là cung cấp những kiến thức cơ bản và có hệ thống về Quản trị chiến lược, giúp cho người học có thể phân tích, đánh giá và đưa ra những giải pháp cho các vấn đề chiến lược trong doanh nghiệp, giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Michael Eugene Porter là Giáo sư của Đại học Havard, Hoa Kỳ, nhà tư tưởng chiến lược
và là một trong những “bộ óc” quản trị có ảnh hưởng nhất trên thế giới, chuyên gia hàng đầu về chiến lược và chính sách cạnh tranh của thế giới; là cha đẻ của lý thuyết lợi thế cạnh tranh của các quốc gia Mô hình kim cương được ông tạo ra, đây là một lý thuyết kinh tế chủ động, xoay quanh bốn thuộc tính lớn của một quốc gia hình thành nên môi trường cạnh tranh cho các công ty tại nước đó, và những thuộc tính này thúc đẩy hoặc ngăn cản sự tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó
Với những kiến thức thu được từ môn “Quản trị chiến lược” và sự hiểu biết sau khi nghiên
cứu mô hình kim cương của Micheal Porter, em xin trình bày đề tài “Dựa vào mô hình
kim cương của Micheal Porter để phân tích định hướng chiến lược của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam” để ta có cái nhìn cụ thể hơn về 4 nhóm yếu tố tác động
qua lại trong mô hình kim cương của Micheal Porter cũng như thực trạng, các cơ hội và thách thức đối với ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam hiện nay
Đối với ngành sản xuất điện thoại di động, Việt Nam đã bắt đầu bước chân vào ngành công nghiệp mới đầy tiềm năng này và có nhiều dự đoán cho rằng chúng ta sẽ trở thành
“Người khổng lồ” sản xuất điện thoại di động Ngoài những doanh nghiệp có vốn nước ngoài như Samsung, Nokia đang có các nhà máy sản xuất tại Việt Nam thì hiện nay một số doanh nghiệp trong nước cũng đang đầu tư vào lĩnh vực này như Bkav với sản phầm Bphone hay tập đoàn Vingroup dự kiến sẽ cho ra đời những chiếc điện thoại thông minh Vsmart trong thời gian tới Đây có thực sự là tương lai của ngành sản xuất điện thoại của Việt Nam hay không Và dựa vào những căn cứ nào để nói rằng chúng ta có thể vượt qua rất nhiều đối thủ lớn mạnh khác trên thị trường thế giới Phần trình bày và phân tích dưới đây sẽ cho chúng ta có cái nhìn rõ hơn về vấn đề này
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA MICHAEL PORTER
Giới thiệu về mô hình kim cương của Michael Porter
Trang 4Giáo sư Michael Porter
Mô hình kim cương và lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia do Michael Porter đưa ra vào những năm 1990 Mục đích của lý thuyết này là giải thích tại sao một số quốc gia lại
có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một số sản phẩm hay nói cách khác tại sao lại có những quốc gia có lợi thế cạnh tranh về một số sản phẩm Lý thuyết này được xây dựng dựa trên cơ sở lập luận rằng khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp được thể hiện tập trung ở khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó Điều này được khái quát cho một thực thể lớn hơn, đó là một quốc gia Lý thuyết của Michael Porter đã kết hợp được các cách giải thích khác nhau trong các lý thuyết thương mại trước đó và đồng thời đưa ra một khái niệm khá quan trọng là lợi thế cạnh tranh quốc gia
Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết của 4 nhóm yếu tố:
Nhóm 1: Điều kiện các yếu tố sản xuất
Nhóm 2: Điều kiện về nhu cầu
Nhóm 3: Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan
Nhóm 4: Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh của công ty
Mối liên kết của 4 nhóm yếu tố này tạo nên mô hình kim cương Các nhóm yếu tố này tác động qua lại và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và hình thành nên khả năng cạnh tranh của quốc gia Ngoài ra còn có 2 yếu tố khác rất quan trọng là chính sách của Chính phủ và
cơ hội, may rủi Đây là 2 yếu tố có thể tác động đến 4 nhóm yếu tố cơ bản kể trên
Trang 5Mô hinhd khối kim cương của M.Porter
a) Nhóm 1: Điều kiện các yếu tố sản xuất.
Các yếu tố sản xuất chính là đầu vào của một quá trình sản xuất Tầm quan trọng của đầu vào cơ bản trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh ngày càng giảm, ngược lại các đầu vào cao cấp hiện đang là những đầu vào quan trọng nhất giúp doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh trình độ cao Tuy nhiên những đầu vào cao cấp của một quốc gia lại được xây dựng
từ những nhân tố đầu vào cơ bản Như vậy, một quốc gia có thể duy trì lợi thế cạnh tranh dựa trên đầu vào khi quốc gia có các nhân tố đầu vào cần thiết cho cạnh tranh trong ngành
cụ thể nào đó là các đầu vào cao cấp và chuyên ngành Việc đánh giá năng lực cạnh tranh theo yếu tố đầu vào được xây dựng từ 5 nhóm đầu vào, đó là: Nguồn nhân lực, nguồn tài
này lại bao gồm những yếu tố cụ thể hơn
b) Nhóm 2: Điều kiện về nhu cầu.
Ba khía cạnh của cầu trong nước có ảnh hưởng lớn tới lợi thế cạnh tranh của các Doanh nghiệp là: Bản chất cầu, dung lượng và mô hình tăng trưởng cầu, và cơ chế lan truyền
trong nước đặc biệt quan trọng trong việc định hình các thuộc tính của sản phẩm và trong việc tạo ra sức ép cho sự sáng tạo đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm Porter lập luận rằng các công ty của một nước giành được lợi thế cạnh tranh nếu những người tiêu dùng trong nước của họ có được sự sành sỏi và đòi hỏi cao Những người tiêu dùng như vậy sẽ tạo ra sức ép lên các công ty trong nước phải đáp ứng những tiêu chuẩn cao về chất lượng sản phẩm cũng như phải sản xuất ra những sản phẩm có mẫu mã mới Điều này sẽ làm tăng mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước, khiến cho các doanh nghiệp trong nước ngày càng mạnh hơn và tiên tiến hơn
c) Nhóm 3: Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan.
Trang 6Các ngành sản xuất hỗ trợ là những ngành sản xuất cung ứng đầu vào cho chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Trong khi đó, các ngành sản xuất liên quan là những ngành mà doanh nghiệp có thể phối hợp hoặc chia sẻ các hoạt động thuộc chuỗi hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc những ngành mà sản phẩm của chúng mang tính chất
bổ trợ việc chia sẻ hoạt động, thường diễn ra ở các khâu như: Phát triển kỹ thuật, sản
quan sẽ tạo ra lợi thế tiềm tàng cho các doanh nghiệp như cung cấp trong thời gian ngắn
và với chi phí thấp; duy trì mối quan hệ hợp tác liên tục; các nhà cung ứng giúp doanh nghiệp nhận thức và tiếp cận phương pháp và cơ hội mới để áp dụng công nghệ mới Ngược lại, doanh nghiệp ở khâu sau tác động, kiểm chứng, góp ý các nỗ lực cải tiến của nhà cung ứng, trao đổi và nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhanh hơn và hiệu quả hơn Hơn nữa, ngành hỗ trợ là chất xúc tác chuyển tải thông tin và đổi mới từ doanh nghiệp này đến doanh nghiệp khác, đẩy nhanh tốc độ đổi mới trong nền kinh tế
d) Nhóm 4: Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh của công ty.
Cạnh tranh trong nước có tác động mạnh tới quá trình đổi mới và thành công trên thị trường quốc tế Những khác biệt về trình độ quản lý và kỹ năng tổ chức như trình độ học vấn và hướng đích của cán bộ quản lý, sức mạnh động cơ cá nhân, các công cụ ra quyết định, quan hệ với khách hàng, thái độ đối với hoạt động quốc tế, quan hệ giữa người lao động và bộ máy quản lý tạo ra lợi thế hoặc bất lợi thế cho doanh nghiệp
Yếu tố 1: Chính sách của Chính phủ.
Chính sách của Chính phủ là yếu tố tác động tới cả 4 nhóm yếu tố trên để tạo lợi thế cạnh tranh Chính phủ có thể tác động tích cực bằng cách đưa ra định hướng phát triển cụ thể, phù hợp, tạo môi trường pháp lý và kinh tế lành mạnh Tạo ra các chính sách điều tiết hoạt động, phân phối lợi ích một cách công bằng Các cơ quân chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế theo đúng pháp luật và đúng chính sách đề ra tạo ra cơ hội công bằng giúp các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường ổn định và phát triển Các doanh nghiệp mới có thể khẳng định dần uy dín của mình cũng như các công ty lớn tiếp tục nâng cao uy tín lợi thế cạnh tranh không những trong nước mà còn cả trên thị trường quốc tế
Yếu tố 2: Cơ hội, rủi ro.
Những cơ hội đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh như sự thay đổi bất ngờ về công nghệ; thay đổi về chi phí đầu vào; thay đổi tỷ giá hối đoái; thay đổi về nhu cầu tiêu dùng hàng hóa đó trên thị trường; … Các cơ hội rất quan trọng vì chúng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch chuyển vị thế cạnh tranh Chúng có thể xóa đi lợi thế của các công ty thành lập trước đó và tạo ra tiềm năng để các công ty mới có thể khai thác để
có được lợi thế đáp ứng những điều kiện mới và khác biệt
Trang 7CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH LỢI THẾ VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CỦA NGÀNH SẢN XUẤT ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG VIỆT NAM
1 Điều kiện các yếu tố sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam
1.1 Nguồn nhân lực
- Công nhân trí thức:
Đội ngũ công nhân trí thức là bộ phận phát triển nhất của giai cấp công nhân hiện đại, gồm những người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên, trực tiếp vận hành, sử dụng các công cụ, phương tiện sản xuất công nghiệp tiên tiến, hiện đại với trình độ xã hội hóa, quốc tế hóa rất cao hoặc đang trực tiếp tham gia vào việc ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, nghiên cứu và quản lý khoa học kỹ thuật gắn với sản xuất kinh doanh
Hiện nay, ở Việt Nam lực lượng công nhân trí thức chiếm khoảng 10,1% tổng số công nhân, có mặt trong một số ngành, lĩnh vực công nghệ cao: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa, công nghệ laser, công nghệ vật liệu mới, công nghệ xây dựng cầu đường, trong đó có ngành sản xuất điện thoại
- Đội ngũ công nhân lao động tự do:
Như chúng ta đã biết ở Việt Nam hiện nay đang có đội ngũ công nhân lao động tự do rất với số lượng rất đông Họ có thể đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng như: Làm theo giờ, theo ca, với tay nghề cao Bên cạnh đó một số công nhân chưa đáp ứng được tay nghề có thể được đào tạo thêm dưới hình thức kèm cặp, người tay nghề cao kèm cho người có tay nghề thấp
Với đội ngũ công nhân trên thì họ có thể đảm nhận vai trò gia công lắp ráp thiết bị máy móc, phân phối trên thị trường
Tóm lại ta có thể thấy: Nguồn nhân lực ở VN vô cùng lớn, đáp ứng được nhu cầu trong các ngành sản xuất công nghiệp hiện đại như: Sản xuất điện thoại mà chúng ta đang nói đến ở đây
1.2 Điều kiện và tài nguyên
Khi chọn địa điểm đầu tư, nhà sản xuất hay những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện về lao động, đất đai, chính trị cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng
Dễ dàng nhận thấy, một trong những điểm mạnh của Việt Nam là chính trị ổn định Các nhà đầu tư nước ngoài luôn mong muốn tìm kiếm một nơi đặt nhà máy sản xuất của mình tương đối an toàn, nhằm tránh những tổn thất không mong muốn do bất ổn chính trị gây ra
Trang 8Ngoài ra, với các chính sách ưu đãi đối với việc cho thuê đất hiện nay của Việt Nam, các nhà đầu tư ít ngần ngại hơn trong việc đầu tư quy mô lớn ở nước ta Đặc biệt, đối với ngành sản xuất điện thoại di động, đòi hỏi diện tích nhà xưởng tương đối lớn, giàu về nguồn tài nguyên đất đai nghiễm nhiên trở thành một lợi thế đáng kể của Việt Nam
Tận dụng lợi thế về điều kiện nguồn tài nguyên đất đai cũng như nhân lực như đã đề cập ở trên, tập đoàn Sam sung đã và đang đầu tư các nhà máy sản xuất điện thoại với quy mô lớn
ở Việt Nam: Việt Nam sản xuất 60% điện thoại SamSung trên toàn cầu
1.3 Nguồn vốn
Khi một doanh nghiệp muốn đầu tư vào Việt Nam thì họ cần phải xem xét đến những chi phí về nguồn vốn sau đây:
- Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên
nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh
- Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị
trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu
- Vốn trong nước: Ta có thể hiểu là vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước, vốn tín
dụng Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư khác của Nhà nước Trong tình hình kinh tế hiện nay, lượng vốn trong nước của chúng ta không còn nhiều do phải huy động và đầu tư vào những khoản viện trợ và các dự án bỏ dở Dễ nhận thấy, vốn trong nước của chúng ta hiện nay không đủ để đầu tư phát triển ngành sản xuất ĐTDĐ Do đó, phần lớn việc phát triển ngành công nghiệp sản xuất này phụ thuộc chủ yếu vào vốn và công nghệ từ bên ngoài, mà điển hình là từ tập đoàn SamSung hoặc vốn đầu tư từ các tập đoàn tư nhân như Vingroup
1.4 Cơ sở hạ tầng ở VN
Cơ sở hạ tầng có thể được hiểu là hệ thống giao thông vận tải như: Đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt, đường hàng không, đường ống; Hệ thống liên lạc viễn thông, hệ thống cung cấp năng lượng, nước, v.v… Hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại có một tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của mọi nền kinh tế, vì nó đảm bảo vận tải nhanh chóng với chi phí thấp, đảm bảo các quan hệ liên lạc thông suốt kịp thời, cung cấp đủ điện nước cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế đất nước… Chính vì tầm quan trọng như vậy, nên các quốc gia phát triển đã ngay từ đầu ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại trong một thời gian ngắn 20-30 năm, tạo ra những tiền đề cho sự bứt phá phát triển Từ thực tế, chúng ta có thể rút ra một số điểm mạnh của cơ sở hạ tầng ở VN như sau:
Trang 9- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng phải được xem trọng trước hết: Công tác quy hoạch ở VN được giải quyết khá nhanh, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư đến thuê mặt bằng đạt tại VN Cũng chính vì vậy mà một số tập đoàn điện thoại lớn trên thế giới đã đặt trụ sở lắp ráp tại VN trong thời gian gần đây
- Xây dựng cơ sở hạ tầng phải ưu tiên tập trung trước hết ở hai tuyến phát triển kinh tế trọng điểm quan trọng nhất như là: Sài Gòn, Hà Nội… hoặc những vùng có đất đai rộng rãi phong phú, nhân lực dồi dào như: Thái Nguyên, Yên Bái, Hà Tĩnh…
- Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng điều kiện về tài nguyên đất đai và cơ sở hạ tầng ở Việt Nam là vô cùng phong phú, dễ dang đăng ký sử dụng, thuận tiện trong việc trao đổi hàng hóa và buôn bán xuất nhập khẩu
2 Điều kiện về nhu cầu
1.5 Cầu trong nước
Có thể thấy với sự hội nhập mở cửa, Việt Nam đã có được sự phát triển lớn mạnh về 1 trong những ngành nhiều tiềm năng như CNTT mà trong đó có ngành sản xuất điện thoại
di động Việt Nam đã và đang cố gắng cập nhật công nghệ để không chỉ lắp ráp mà còn sản xuất được điện thoại di động Để làm được điều đó thì cần nhiều yếu tố nhưng lợi thế lớn của chúng ta là một lượng cầu dồi dào, phong phú từ trong nước Dân số Việt Nam tính đến cuối năm 2015 là 93,571,567 người, tới tháng 01/2018 Việt Nam đã cán mốc 96 triệu người Cơ cấu dân số Việt Nam hiện nay thuộc nhóm “cơ cấu dân số trẻ”
Chính vì cơ cấu dân số trẻ như vậy Việt Nam có xu hướng nhanh nắm bắt, nhanh cập nhật
và thích ứng với sự phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin ngày nay Đó cũng là một trong những lợi thế của chúng ta trong sự phát triển các ngành công nghệ thông tin nói chung và ngành sản xuất điện thoại nói riêng
Điện thoại di động ngày nay đã không còn xa lạ gì với người dân Việt Nam Một chiếc điện thoại đối với cá nhân hiện nay có vai trò rất quan trọng bởi nó là cầu nối của cá nhân
đó tới thế giới xung quanh, dù chỉ là nghe, gọi hay gửi tin nhắn Đó đều là những nhu cầu thiết yếu hiện nay bởi nếu không có điện thoại, con người rất khó trao đổi thông tin, nhất
là những lúc cấp bách Thêm vào đó, điện thoại di động đã trải qua hơn 40 năm phát triển
kể từ chiếc điện thoại đầu tiên ra đời vào năm 1973, nó đã được cải tiến thành một công cụ thông minh với vô vàn những tính năng như: Nghe nhạc, xem phim, chụp ảnh, quay video, giải trí, định vị tìm đường, tìm kiếm thông tin, mua hàng, thanh toán, đặt xe….Với lợi thế
ưu việt là nhỏ gọn và tích hợp nhiều tính năng, điện thoại di động ngày càng chiếm được nhiều ưu ái của thị trường
Lợi thế tiêu thụ điện thoại di động của Việt Nam là phần lớn dân số trẻ, thích ứng nhanh với công nghệ hiện đại, nhưng cùng với điều đó, thì điện thoại di động hiện nay cũng đã được hầu hết các đối tượng sử dụng theo nhiều độ tuổi, giới tính hay nghề nghiệp Bởi có
sự dao động linh hoạt về giá cả phù hợp với các chức năng của sản phẩm và có một số
Trang 10dòng điện thoại còn thiết kế cho những mục đích cụ thể phù hợp với người dùng như khả năng quay phim chụp ảnh gần như máy chuyên dụng… Về độ tuổi thì ngày nay người già hay trẻ em cũng đều ít nhiều đã sở hữu 1 chiếc điện thoại di động đơn giản phục vụ nhu cầu liên lạc Hơn nữa, với 2 độ tuổi này thì nhu cầu liên lạc là thực sự quan trọng bởi nhiều trường hợp có thể xảy ra như đi lạc… Về nghề nghiệp thì những người công nhân, buôn bán, những người có mức thu nhập không cao cũng có thể có được chiếc điện thoại với giá thành hợp lý và đáp ứng đủ nhu cầu Hay thậm chí về các vùng miền, không chỉ thành phố mà cả nông thôn, vùng miền núi cũng đã cập nhật sự tiện lợi và ưu việt của điện thoại di động Chính vì thế mà lượng người tiêu dùng tăng lên rất nhiều, thể hiện tiềm năng lớn cho Việt Nam
Vì “phủ sóng” một lượng người tiêu dùng rộng rãi trên nhiều vùng miền, độ tuổi, nghề nghiệp nên điện thoại di động nếu sản xuất ra cũng cần có sự nhanh nhạy trong đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng Hiện nay trên thị trường chúng ta có rất nhiều các đời máy với nhiều mẫu mã, tính năng khác nhau và mỗi loại lại thu hút nhóm khách hàng khác nhau Sự đa dạng về đối tượng sử dụng dẫn đến sự cần thiết về đa dạng sản phẩm Đây vừa là điều có lợi, vừa là khó khăn đối với Việt Nam khi sản xuất Lợi vì nếu sản xuất được đa dạng sản phẩm tốt thì chúng ta sẽ có sự ủng hộ lớn từ thị trường trong nước Khó khăn vì với nội lực của Việt Nam, mới bắt đầu tham gia sản xuất thì cũng không dễ để sản xuất được đa dạng sản phẩm ngay được Điều này có thể được coi là lợi thế trong tương lai xa
1.6 Cầu ngoài nước
Lượng tiêu thụ điện thoại di động trên thế giới rất lớn và vẫn luôn giữ được “nhiệt” đặc biệt là dòng điện thoại thông minh Dự tính trong những năm tiếp theo dòng điện thoại thông minh sẽ vẫn phát triển nhanh và tăng dần lượng tiêu thụ
Trên thế giới, có thể nói lượng tiêu thụ điện thoại di động là vô cùng lớn bởi sự phát triển nhanh của các nước, nhu cầu của họ cũng nhiều hơn chỉ nghe và gọi, điện thoại đối với họ được sử dụng gần như hết công suất như để làm định vị, nghe gọi điều khiển và tham gia các cuộc họp, trao đổi thông tin công việc nhanh gọn… Chính vì vậy mà dòng điện thoại thông minh rất được ưa chuộng Hiện tại thì Samsung và Nokia cũng là những thương hiệu đang thống trị thị trường điện thoại di động, được nhiều nơi trên thế giới ưa thích Thêm vào đó, có sự cạnh tranh vô cùng lớn từ nhiều hang khác trên thế giới như: Apple, Huawei, Xiaomi, OPPO … 2 hãng trên luôn nỗ lực đổi mới để cho ra những sản phẩm ngày càng ưu việt hơn, sẽ được lòng nhiều thị trường hơn nữa
Sở dĩ chúng ta quan tâm nhiều tới thị hiếu người tiêu dùng nước ngoài đối với hai hãng trên bởi trước hết, đó là hai hãng đã đặt nhà máy sản xuất tại Việt Nam Năm 2014 Samsung đã khai trương nhà máy sản xuất điện thoại di động lớn nhất trên thế giới tại tỉnh Thái Nguyên - miền Bắc Việt Nam Samsung đã đầu tư vào đây 2 tỉ USD và hy vọng cơ sở này sẽ sản xuất tới 120 triệu điện thoại mỗi năm Trước đó, Samsung đã xây dựng một nhà máy khổng lồ ở tỉnh Bắc Ninh Năm 2015, khoảng 40% tổng số điện thoại di động