1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thuyết trình về Thành Phố Cần Thơ

18 463 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 45,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm tự nhiên Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm của vùng ĐBSCL, cách Thành phố Hồ Chí Minh 170km về hướng đông bắc theo quốc lộ 1A, cách các đô thị lớn trong vùng ĐBSCL trong khoảng

Trang 1

I KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

1 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế xã hội

a Đặc điểm tự nhiên

Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm của vùng ĐBSCL, cách Thành phố Hồ Chí Minh 170km về hướng đông bắc (theo quốc lộ 1A), cách các đô thị lớn trong vùng ĐBSCL trong khoảng cự ly từ 60 – 120km, giữ vị trí đầu mối giao thông quan trọng về đường sông, đường bộ, đường biển, đường hàng không, trong tương lai là các tuyến đường bộ cao tốc và đường sắt, thông thương cả vùng, trong nước và quốc tế; phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long, phía tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp

tỉnh Hậu Giang và phía bắc giáp tỉnh An Giang Diện tích: 1.389,60 km².

Thành phố Cần Thơ nằm toàn bộ trên đất có nguồn gốc phù sa sông Mê Kông bồi đắp và được bồi lắng thường xuyên qua nguồn nước có phù sa của dòng sông Hậu Địa chất trong thành phố được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50 mét có hai loại trầm tích làHolocen (phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ)

Địa hình nhìn chung tương đối bằng phẳng, phù hợp cho sản xuất nông, ngư nghiệp, với Độ cao trung bình khoảng 1 – 2 mét dốc từ đất giồng ven sông Hậu,

và sông Cần Thơ thấp dần về phía nội đồng tức là từ phía đông bắc sang phía tây nam.Bên cạnh đó, thành phố còn có các cồn và cù lao trên sông Hậu như Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sơn, Cù lao Tân Lập Thành phố Cần Thơ có 3 dạng địa hình chính là Địa hình ven sông Hậu hình thành dải đất cao là đê tự nhiên và các cù lao ven sông Hậu

Ngoài ra do nằm cạnh sông lớn, Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch khá chằng chịt Vùng tứ giác Long Xuyên thấp trũng, chịu ảnh hưởng lũ trực tiếp hàng năm Đồng bằng châu thổ chịu ảnh hưởng triều cùng lũ cuối vụ

Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bão, quanh năm nóng

ẩm, không có mùa lạnh Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng

12 tới tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 28 °C, số giờ nắng trung bình

cả năm khoảng 2.249,2 h, lượng mưa trung bình năm đạt 2000 mm Độ ẩm trung bình năm dao động từ 82% - 87% Do chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lợi thế

về nền nhiệt độ, chế độ bức xạ nhiệt, chế độ nắng cao và ổn định theo hai mùa trong năm

Các lợi thế này rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của sinh vật, có thể tạo ra 1 hệ thống nông nghiệp nhiệt đới có năng suất cao, với nhiều chủng loại cây con, tạo nên sự đa dạng trong sản xuất và trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất Tuy nhiên, mùa mưa thường đi kèm với ngập lũ ảnh hưởng tới khoảng 50% diện tích toàn thành phố, mùa khô thường đi kèm với việc thiếu nước tưới, gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt, nhất là khu vực bị ảnh hưởng của mặn, phèn làm tăng thêm tính thời

vụ cũng như nhu cầu dùng nước không đều giữa các mùa của sản xuất nông nghiệp

Trang 2

Thành phố Cần Thơ có sông Hậu chảy qua với tổng chiều dài là 65 km, trong

đó đoạn qua Cần Thơ có chiều rộng khoảng 1,6 km Tổng lượng phù sa của sông Hậu

là 35 triệu m3/năm Tại Cần Thơ, lưu lượng cực đại đạt mức 40.000 m3/s Mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 6, thấp nhất là vào tháng 3 và tháng 4 Lưu lượng nước trên sông tại Cần Thơ chỉ còn 2.000 m3/s Mực nước sông lúc này chỉ cao hơn 48 cm so với mực nước biển

Sông Cần Thơ bắt nguồn từ khu vực nội đồng tây sông Hậu, đi qua các quận Ô Môn, huyện Phong Điền, quận Cái Răng, quận Ninh Kiều và đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều Sông Cần Thơ có nước ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác dụng tiêu úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông Sông Cái Lớn dài 20 km, chiều rộng cửa sông 600 – 700 m, độ sâu 10 – 12 m nên có khả năng tiêu, thoát nước rất tốt

Bên cạnh đó, thành phố Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch dày đặc, với hơn

158 sông, rạch lớn nhỏ là phụ lưu của 2 sông lớn là Sông Hậu và sông Cần Thơ đi qua thành phố nối thành mạng đường thủy Các sông rạch lớn khác là sông Bình Thủy, sông Trà Nóc, sông Ô Môn, sông Thốt Nốt, kênh Thơm Rơm và nhiều kênh lớn khác tại các huyện ngoại thành là Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và Phong Điền, cho nước ngọt suốt hai mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thủy lợi và cải tạo đất

b Kinh tế - xã hội

Năm 2017, TP Cần Thơ ước đạt mức tăng GRDP 7,83% so với năm 2016, vượt 0,03% kế hoạch và cả 3 khu vực kinh tế đều tăng, trong đó khu vực công nghiệp - xây dựng tăng trên 8,2%, khu vực thương mại - dịch vụ tăng hơn 8,7% GRDP bình quân đầu người đạt 72,96 triệu đồng, tăng 11,2%, tương đương 7,3 triệu đồng so với năm

2016 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ đạt hơn 1,68 tỉ USD, vượt 5,9% kế hoạch, tăng 13,9% so với năm 2016 Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 8,7%; công nghiệp - xây dựng chiếm 32,65%, thương mại - dịch vụ chiếm 58,65%

Cây nông nghiệp chính của Cần Thơ là lúa, với sản lượng 1.194,7 tấn Ngoài ra

có một số cây hoa màu khác nhưng sản lượng không đáng kể Ngành chăn nuôi ở Cần Thơ chủ yếu là nuôi heo và gia cầm Số lượng heo là 2589,3 ngàn con, số lượng gia cầm là 13 ngàn con (vì bị cúm gia cầm) Các gia súc khác như trâu bò chiếm số lượng không nhiều Ngành thủy sản ở Cần Thơ chủ yếu là nuôi trồng

Công nghiệp Cần Thơ về cơ bản đã xây dựng được nhiều cơ sở hạ tầng để phục

vụ cho các đối tác nước ngoài tác nhập, điển hình là 2 khu công nghiệp tại Trà Nóc trực thuộc quận Bình Thủy, khu công nghiệp Thốt Nốt, khu công nghiệp Hưng Phú 1

và 2, khu công nghiệp tại quận Ô Môn Trung tâm Công nghệ Phần mềm Cần Thơ, Cantho Software Park CSP cũng là một trong những dự án được Thành phố quan tâm đầu tư phát triển Với những lợi thế về phát triển công nhiệp, Cần Thơ cũng đã được

định hướng để phát triển trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020 theo Nghị

Trang 3

quyết 45- NQ/TW của Bộ chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Có nhiều siêu thị và khu mua sắm, thương mại lớn như: Tổ hợp TTTM và khách sạn cao cấp 5 sao Vincom Xuân Khánh, Vincom Hùng Vương, Big C, Metro, Sense City (Co-op Mart), Lotte Mart, VinMart, Best Caring, Siêu thị Điện máy Sài Gòn Chợ Lớn, Điện máy Nguyễn Kim, Trung tâm thương mại Cái Khế Các ngành dịch vụ tại Cần Thơ rất nhiều loại hình dịch vụ đã và đang dần phát triển mạnh như Ngân hàng, Y tế, Giáo dục, Văn hóa xã hội,

Thành phố Cần Thơ là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc khác nhau Người Khmer ở Cần Thơ không nhiều, chủ yếu tập trung chung quanh chùa hoặc sống rải rác xen kẽ với người Việt ở các quận Ninh Kiều, Ô Môn, Thốt Nốt Người Hoa ở Cần Thơ thường sống tập trung ở quận Ninh Kiều và huyện Phong Điền, người Hoa gốc Quảng Đông làm nghề mua bán, người Hoa gốc Hẹ làm nghề thuốc Bắc và người Hoa gốc Hải Nam làm nghề may mặc Tính đến tháng 10 năm 2017, dân số toàn Thành phố Cần Thơ đạt gần 1,450,000 người, mật độ dân số đạt 1008 người/km², trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 1,050,000 người, chiếm 70% dân số toàn thành phố, dân số sống tại nông thôn đạt 400,000 người, chiếm 30% dân số Dân số nam đạt 724,600 người, trong khi đó nữ đạt 725,400 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8,2 ‰

2 Ý nghĩa tên gọi

Khi đối chiếu địa danh Cần Thơ với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là Prek Rusey (sông tre), không thấy có liên quan gì về ngữ âm, người nghiên cứu chưa thể vội vàng kết luận là Cần Thơ là một địa danh hoàn toàn Việt Nam và vội đi tìm hiểu căn cứ ở các nghĩa có thể hiểu được của hai chữ Hán Việt "cần" và "thơ" Cần Thơ không phải là từ Hán Việt và không có nghĩa Nếu dò tìm trong hướng các địa danh Việt hoá, người nghiên cứu có thể thấy ngữ âm của Cần Thơ rất gần với ngữ âm của từ Khmer "kìntho", là một loại cá hãy còn khá phổ biến ở Cần Thơ, thông thường được gọi là cá sặc rằn, nhưng người ở Bến Tre vẫn gọi là cá "lò tho" Từ quan điểm vững chắc rằng "lò tho" là một danh từ được tạo thành bằng cách Việt hoá tiếng Khmer "kìntho", người nghiên cứu có thể sưu tầm các tài liệu về lịch sử dân tộc, về sinh hoạt của người Khmer xa xưa trong địa phương này, rồi đi đến kết luận là địa danh Cần Thơ xuất phát từ danh từ Khmer "kìntho"

II CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐỊA DANH

1 Các nguyên tắc đặt tên địa danh

1.1 Theo tên loài động vật

Về hai chữ Tây Đô, trước nay chưa có một văn bản Nhà nước nào chính thức gọi Cần Thơ là Tây Đô (thủ đô miền Tây) Tuy nhiên, do vị trí địa lý thuận lợi về giao thông, thương mại, công kỹ nghệ và cả về quân sự đều ở trung tâm khu vực châu thổ sông Cửu Long nên từ thời thực dân Pháp đô hộ đến thời Mỹ xâm lược, về phía ta và địch đều coi ở đây có vị trí trung tâm của vùng Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải

Trang 4

phóng, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội thì thành phố Cần Thơ vẫn được Nhà nước ta xác định vị trí là trung tâm của vùng Đồng băng sông Cửu Long

Dù sao, cũng cần tìm hiểu hai chữ Tây Đô; xuất hiện từ thời nào và ai là người xướng gọi đầu tiên để đến ngày nay, nhiều người vẫn quen gọi là Tây Đô Theo các bài báo Cần Thơ xưa của nhà nghiên cứu Sơn Nam đăng liên tiếp nhiều kỳ trong báo Cần Thơ vào năm 1994, thì từ tháng 2 năm 1919, trên tạp chí Nam Phong đã có đăng loạt bài du ký Một thoáng ở Nam kỳ của ông Phạm Quỳnh Đây là nhà văn, nhà báo đầu tiên ở Bắc Hà vào viếng miền Nam Tác giả Phạm Quỳnh lúc bấy giờ còn trẻ, chưa vào Huế làm quan cho triều đình

Nhà nghiên cứu Sơn Nam trích lại một đoạn trong bài báo của ông Phạm Quỳnh hồi ấy từng có nhã ý phong gọi tỉnh Cần Thơ là Thủ đô miền Tây Đoạn trích bài báo ấy như sau:

“Trước khi từ biệt các bạn Long Xuyên, nhân bữa chủ nhật, Phủ Đài (chủ quận Châu Thành, Long Xuyên) dắt đi chơi Cần Thơ Từ Long Xuyên ra Cần Thơ ước 60 cây lô mét (nguyên văn) đi bằng xe hơi Phải cái xe hơi chạy khí chậm nên đi mất từ sáng đến ngót trưa mới tới nơi, nhưng chậm vì đỗ ở Ô Môn mất non một giờ đồng hồ Ô Môn là một quận lớn, giàu có nhất trong hạt Cần Thơ, ở vào khoảng đường từ Long Xuyên đến Cần Thơ Cai trị quận Ô Môn là quan đốc phủ Nguyễn Đăng Khoa, người đã có tuổi mà tính tình vui vẻ lắm Khi trở về, ngài còn giữ ăn cơm chiều, nói chuyện khoái trá lắm Ngài khi xưa còn theo quân thứ ở mấy tỉnh Bắc kỳ và khắp cả các tỉnh Trung

kỳ, có tài săn bắt ít người bằng Hiện chỗ ngài ngồi chơi còn bài la liệt các thứ súng Ngài chỉ một cây súng lớn mà nói rằng: “Cây súng này tôi đã từng bắn mấy chục con

hổ ở cùng Bình Thuận, Phú Yên đây”.Rồi ngài kể chuyện một bữa bắn được con hổ to lớn lạ thường, khi nó vươn mình ra từ đầu đến cuối đuôi có tới 6 thước tây, nó làm kinh hoàng cả một vùng đó, ăn hại không biết bao nhiêu người và sức vật, người dân

đã cho là hổ thần, đành chịu không ai bắn nổi Nhà săn bán đại tài thấy những miếng nguy hiểm hay liều mình Ngài bèn cùng mấy người đầy tớ giỏi đem chiếc súng lớn vào rừng Quả gặp hổ thần thật… Quan đốc phủ nói chuyện vui quá, muốn ngồi nghe mãi không chán

Con đường từ Long Xuyên đến Cần Thơ tốt lắm, giữa đổ đá, hai bên trồng cây, cái xe bon bon chạy giữa, coi phong cảch rất là ngoạn mục Vả lại, đường bộ trong Nam kỳ này ở đâu cũng tốt như vậy: chẳng bù với đường Bắc kỳ, thứ nhất là đường Trung kỳ, xe hơi chạy có chỗ tưởng bổng lên đến ngọn núi, có chỗ tưởng xô xuống vực sâu

Cần Thơ có cái vẻ mỹ miều xinh xắn, sạch sẽ phong quan, thật xứng tên làm tỉnh đầu ở miền Tây Đường phố thênh thang, cửa nhà san sát, các nhà buôn Tây cũng nhiều hơn tỉnh khác, có chỗ coi xinh đẹp hơn ở Sài Gòn Tới Cần Thơ, vào thăm ông huyện Võ Văn Thơm, chủ bút An Hà Nhật báo Ông là người đứng tuổi, tính tình trầm mặc, chuyên về kinh tế học Ông không thích chữ nho, giữ cái thuyết muốn lấy chữ Pháp làm quốc văn Ông kể cái lẽ sở dĩ làm sao ông không ưa Hán tự, thì nói rằng thuở nhỏ đã từng học 5 năm mà chẳng thấy tấn tới gì, ông kết luận rằng chữ nho quyết không phải là cái lợi khí cho sự học vấn Tôi nói rằng đó có lẽ là bởi cái phép dạy học sai lầm, chứ không phải tại lỗi tại chữ nho, ngày nay có cách học giản dị, chỉ một vài năm là thông Xem ra ông không tin lời tôi”

Như thế thì chúng ta đã thấy chính hoàn cảnh địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tỉnh Cần Thơ đã từng tồn tại phát triển qua nhiều thời kỳ, tạo cơ

sở, để trước nay, không ai bảo ai, mà nhiều người ở nhiều nơi vẫn thường gọi Cần Thơ

là Tây Đô

Trang 5

Về nguồn gốc chữ "Cần Thơ", có 2 thuyết Thuyết thứ nhất kể rằng khi chúa Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu, thuyền ngài lênh đênh trên sông Hậu, trong đêm khuya thanh vắng ngài nghe có tiếng ngâm thơ, đờn địch, hò hát hòa nhau rất nhịp nhàng, từ một khúc sông xa vọng lại Ngài xúc động và đặt tên con sông nhỏ này là

"Cầm Thi Giang" Cầm Thi được đọc trại thành Cần Thơ Một truyền thuyết khác nói

là khi xưa vùng Cần Thơ có trồng nhiều rau cần và rau thơm Mỗi khi chèo ghe đi bán trên sông rạch, chủ ghe thường rao: "Ai mua rau cần thơm không" Rau cần thơm vì vậy đã vào ca dao, và cần thơm đọc trại thành Cần Thơ

Rau cần rau thơm xanh mướt Mua mau kẻo hết, chậm bước không còn

Rau cần lại với rau thơm Phải chăng đất ấy rau thơm có nhiều

Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, triều đình nhà Nguyễn cắt 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ cho Pháp vào năm 1876 Thiết lập ách thống trị trên vùng đất này, thực dân Pháp chính thức hóa tên gọi Cần Thơ bằng những văn bản hành chính Để dễ bề kiểm soát hoạt động của nhân dân từng tỉnh trong 3 tỉnh vừa chiếm được, Pháp còn đánh số, tỉnh Cần Thơ mang con số 19 Từ đó trở đi, các phương tiện giao thông (chủ yếu giao thông thủy) như thuyền, ghe của Cần Thơ đều phải gắn con số 19 trước mui Ngay cả lính mã tà mỗi lần có việc di chuyển từ Cần Thơ sang tỉnh khác hoặc giải phạm nhân chống đối lên Sài Gòn đều gắn con số 19 vào cổ áo để dễ nhận diện lính của mỗi tỉnh thuộc đất nhượng địa

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Sắc lệnh 143-NV được Ngô Đình Diệm ban hành

để "thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam" Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập Trong đó, chính quyền đổi tên tỉnh Cần Thơ thành tỉnh Phong Dinh, tuy nhiên vẫn giữ lại tên gọi tỉnh lỵ là "Cần Thơ" như cũ Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, địa danh "Cần Thơ" chỉ còn được dùng để chỉ khu vực đô thị tỉnh lỵ của tỉnh Phong Dinh, tuy nhiên đến năm 1970 khu vực này và vùng phụ cận được nâng cấp trở thành thị xã Cần Thơ

Nếu vào thời nhà Nguyễn độc lập, vùng đất Cần Thơ có tên là "Phong Phú" thì đến thời Việt Nam Cộng hòa, vùng đất này lại mang tên một địa danh mới lạ hoàn toàn

và chưa bao giờ xuất hiện trước đó: "tỉnh Phong Dinh"

Địa danh Cần Thơ xuất hiện trong ca dao, dân ca Nam Bộ đạt tần suất cao

Ví dụ:

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh?

Gái nào bảnh bằng gái Cần Thơ?

Hoặc :

Cần Thơ gạo trắng nước trong,

Trang 6

Ai đi đến đó thời không muốn về.

Nhưng, Cần Thơ có nghĩa gì chăng?

Nhà nghiên cứu Lê Trung Hoa khẳng định :

“Trong tiếng Việt hiện đại, Cần Thơ không có ý nghĩa gì!”

Thật ra, giới văn nghệ sĩ từng giải thích theo lối “duy danh định nghĩa”, cốt để đùa tếu rằng:

Cần Thơ là “đòi hỏi cấp bách các… sáng tác thi ca”(!)

Biến thể ngữ âm địa phương thì thư vẫn được gọi là thơ, nên một số cây bút người Pháp như Aubaret từng ghi Cần Thơ là Can Thu

Theo đó, có kẻ cắt nghĩa:

“Cần Thơ là trông ngóng thư từ.”

Cũng lại là một kiểu đùa tếu mà thôi!

Tài liệu Cần Thơ xưa do Huỳnh Minh biên soạn năm 1966 (NXB Thanh Niên tái bản, 2001) thuật đôi mẩu chuyện nhằm trả lời câu hỏi:

“Hai tiếng Cần Thơ do đâu mà có?”

Có một câu chuyện mang tính dã sử:

Tương truyền thuở Nguyễn Ánh bôn tẩu vào Nam, lẩn tránh Tây Sơn

Đêm nọ ông thả thuyền ngang dòng sông Hậu thuộc địa phận huyện Trấn Giang (được khai hoang từ thuở chúa Nguyễn bởi Mạc Thiên Tứ)

Chợt nghe tiếng đàn địch và ngâm thơ văng vẳng, ông xúc động bèn đặt tên khúc sông này là Cầm Thi giang

Huỳnh Minh suy luận:

“Cầm Thi đọc trại là Cần Thơ, tỷ dụ Sài Côn đọc trại Sài Gòn.”

Suy luận thế thì ngược thực tế

Bởi Sài Gòn là địa danh gốc, lúc tiền nhân cần ghi văn bản chữ Hán mới phiên trại ra Sài Côn hoặc Tây Cống, Đề Ngạn, Đê Ngạn

Trong Tự vị tiếng Việt miền Nam, Vương Hồng Sển nêu cái tên là lạ Cần Lung rồi đặt nghi vấn:

“Chữ Lung và chữ Thơ, trong Nôm tự, có thể nào lẫn lộn nhau được chăng?

Và Cần Lung biến ra Cần Thơ được chăng?”

Rốt cuộc, cố học giả họ Vương đành than:

“Tiếc là ông Trương Vĩnh Ký không để lại tên Cơ Me [Khmer] về Cần Thơ, nên ngày nay khó biết gốc tích [tên] tỉnh này!”

Trang 7

Thực hiện công trình Lược khảo nguồn gốc địa danh Nam Bộ (NXB Văn Nghệ, TP.HCM, 1999), Bùi Đức Tịnh thử đề xuất hướng nghiên cứu, đồng thời xây dựng giả thuyết khoa học:

“Cần Thơ không phải là từ Hán-Việt và không có nghĩa; vậy phải dò tìm trong hướng các địa danh Việt hóa.

Trong hướng này, người nghiên cứu có thể thấy ngữ âm của từ Khmer Kìntho chỉ một loại cá hiện nay còn khá phổ biến ở Cần Thơ, thông thường được gọi là cá sặt rằn, nhưng đồng bào ở

Ba Tri (tỉnh Bến Tre) vẫn gọi là cá lò tho.

Từ quan điểm vững chắc rằng lò tho là một danh từ chung tạo thành bằng cách Việt hóa tiếng Khmer Kìntho, người nghiên cứu có thể sưu tầm những tư liệu về lịch sử dân tộc, về sinh hoạt của người Khmer thời xa xưa trong địa phương này trong nhiều hướng đi đến kết luận”.

Việc lấy tên động thực vật tiêu biểu của một vùng để làm địa danh là một quy luật đã được nhiều nhà ngôn ngữ học thừa nhận – chẳng hạn Nguyễn Văn Âu trong sách Địa danh Việt Nam (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1993) hoặc Lê Trung Hoa trong sách Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh (NXB Khoa học Xã hội, TP.HCM, 2003)

Cũng có thể dẫn ra hàng loạt địa danh khác khắp ba miền với cấu tạo theo phương thức này:

Bãi Sậy, Bãi Dương, Vàm Cỏ, Rạch Giá, Gò Vấp (đúng ra là Gò Vắp), hoặc Gò Công, Bến Nghé, Bàu Sấu, Đồng Nai, v.v

Cần thêm rằng Cần Thơ thuở xa xưa là tên con rạch chảy ra sông Hậu phía hữu ngạn, nằm tại hướng đông thành phố Cần Thơ hiện nay và từng được thư tịch cổ như Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi là Cần Thơ giang tức sông Cần Thơ:

“Rộng bốn trượng (gần 19,5m), sâu hai trượng rưỡi (hơn 12m), bờ phía tây là thủ sở đạo Trấn Giang cũ, phố xá trù mật, buôn bán tấp nập.”

Tên sông nước chuyển hóa thành tên vùng đất, tên làng xóm, tên phố chợ, tên cầu cống, hoặc ngược lại là hiện tượng vô cùng quen thuộc

Ngữ âm học lịch sử cũng từng chứng minh sự biến đổi các vần in → ân và o → ơ

Thí dụ:

Nhin sâm → nhân sâm

Họp → hợp

Vì thế, địa danh Cần Thơ bắt nguồn từ Kìntho là điều hoàn toàn có thể chấp nhận

1.2 Theo lịch sử, truyền thuyết

Trận Ninh Kiều là một trận thắng lẫy lừng của nghĩa quân Lam Sơn diễn ra năm 1426, còn gọi là trận Chúc Động Ninh Kiều là chiếc cầu bắc qua sông Ninh Giang (sông Đáy), khi quân Minh tháo chạy qua sông, nghĩa quân Lam Sơn đã tập kích và chặt đứt cầu, quân Minh chết đuối làm nghẽn cả một khúc sông Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi có nhắc đến sự kiện này trong câu:

“Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm”

Trang 8

Ninh Kiều ngày ấy nay là thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

Năm 1957, Tỉnh trưởng tỉnh Phong Dinh (tên gọi khác của tỉnh Cần Thơ trong giai đoạn 1956-1975) thời Đệ nhất Cộng Hoà của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, ông Đỗ Văn Chước đã cho lập nơi bến sông này một công viên cây kiểng và bến dạo mát

Do đề xuất của ông Ngô Văn Tâm, Trưởng ty Nông nghiệp, đồng thời phụ trách đoàn Thanh Niên 4T (tức Khuyến Nông), ông Đỗ Văn Chước đã đệ trình lên Tổng thống Ngô Đình Diệm xin đặt tên công viên và bến là Ninh Kiều Ông đã dựa vào lịch

sử Việt Nam, lấy tên một địa danh lịch sử chiến thắng quân Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi thống lãnh Trận đánh diễn ra vào ngày 12 tháng 8 năm Bính Ngọ (tức ngày 13 tháng 9 năm 1426), khi nghĩa quân Lam Sơn tiến quân ra Bắc, Đô Bí

Lý Triển và Trịnh Khả mai phục giặc ở Ninh Kiều và đã chiến thắng hoàn toàn, tiêu diệt trên 2000 quân Minh Tướng giặc là Trần Trí phải tháo chạy về Đông Quan (Hà Nội ngày nay) chờ quân cứu viện

Ngày 4 tháng 8 năm 1958, ông Lâm Lễ Trinh, người quê quán Cái Răng (Cần Thơ), Bộ trưởng Nội vụ thời Đệ nhất Cộng Hoà, đã từ Sài Gòn xuống Cần Thơ dự lễ cắt băng khánh thành, đọc Nghị định đặt tên công viên và bến Ninh Kiều theo đề nghị của ông Đỗ Văn Chước Đến nay, quanh khu vực bến được đổi tên thành quận Ninh Kiều Bến Ninh Kiều trở thành một điểm nhấn du lịch của Cần Thơ

1.3 Theo hình dạng, đặc điểm

Những người lớn tuổi ở vùng nầy kể lại, vào năm Giáp Thìn (1906), trong một buổi họp có mời đông đủ thân hào nhân sĩ sống trong vùng để bàn việc đổi tên làng, quan tri phủ Nguyễn Đức Nhuận - cũng là người sống ở làng Bình Thủy - đã nhận ra phong thuỷ thịnh phát của vùng

Ông đánh giá con rạch Long Tuyền có nguồn nước chảy từ sông Hậu vào uốn khúc như rồng nằm, miệng rồng ngậm trái châu là cồn Linh trên sông Hậu, nằm án ngang miệng rạch Bốn chân rồng, gồm hai chân trước là phần ngã tư giao nhau giữa rạch Ngã Tư Lớn và rạch Ngã Tư Bé ngang nhau và hai chân sau là rạch Miếu Ông trên tỉnh lộ 923 và rạch Cái Tắc cũng ngang nhau Cái đuôi uốn khúc nằm vắt qua làng Giai Xuân, ở cuối làng Bình Thuỷ Vì thế, ông muốn bàn với dân làng đặt lại tên làng

Từ đó, vùng đất nầy mang tên Long Tuyền cho đến ngày nay

Xưa kia, vùng này gọi là “Lục Ấp’’; năm Thiệu Trị thứ 13 (1844) được đặt tên làng Bình Hưng; sau đó lại đổi thành Bình Phó Năm 1852, Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt

đi tuần thú ngang qua đây, khi thuyền đến gần Cồn Linh nơi đầu vàm rạch Bình Thủy thì gặp một trận cuồng phong, mọi người trên thuyền đều hoảng sợ Quan tuần phủ ra lệnh cho thuyền núp ngay vào đầu vàm rạch Bình Thủy để tránh gió dữ và đoàn hải thuyền được bình an vô sự Ông dừng lại đây cho mở tiệc ăn mừng cùng dân làng và quan sát dân tình trong suốt ba ngày, ông xét thấy địa thế nầy tốt đẹp, dân cư hiền hoà, đầu vàm thường yên lặng, không hề có sóng to gió lớn, hoa màu thịnh vượng Quan Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt dâng sớ xin vua Tự Đức cho đổi tên làng thành Bình Thủy

Trang 9

Con sông Bình Thủy ngày nay (xưa là rạch Long Tuyền) nước chảy uốn khúc như thân rồng nằm, hai hàm của miệng rồng nay là đình Bình Thuỷ và Nam Nhã đường Các rạch cắt ngang như bốn chân rồng Đoạn đuôi nhỏ dần kết thúc ở cầu Bông Vang Từ điểm nầy rạch Long Tuyền chia ra hai ngả toả ra như đuôi rồng Từ đầu vàm

- miệng rồng đến đuôi rồng dài khoảng 11km Nước con rạch Long Tuyền quanh năm yên bình, sóng gợn lăn tăn như vảy rồng lấp lánh dưới ánh mặt trời, dưới ánh trăng giữa những vườn cây trái xum xuê ôm theo con rạch

Ban đầu, Bình Thủy chỉ là tên một thôn và sau đó là làng thuộc địa bàn tỉnh Cần Thơ cũ Đến năm 1906, làng Bình Thủy đổi tên thành làng Long Tuyền và sau năm 1956, làng Long Tuyền lại đổi thành xã Long Tuyền Từ đó, địa danh Bình Thủy chỉ còn được dùng để chỉ tên một ngôi chợ và tên vùng đất quanh khu vực gần cầu Bình Thủy và Đình Bình Thủy (lúc bấy giờ còn gọi là Long Tuyền Cổ miếu) Tuy nhiên, dưới thời Việt Nam Cộng hòa, địa danh Bình Thủy lại được sử dụng nhiều để chỉ tên gọi các phi trường và khu vực căn cứ quân sự ở vùng đất này

Sau năm 1975, xã Long Tuyền được tách ra để thành lập mới phường Bình Thủy Trong giai đoạn 1975-2003, Bình Thủy chỉ là tên một phường thuộc thành phố Cần Thơ (lúc bấy giờ còn là thành phố trực thuộc tỉnh) Từ năm 2004, khi Cần Thơ trở thành thành phố trực thuộc trung ương, địa danh Bình Thủy chính thức được dùng cho

cả hai đơn vị hành chính: phường Bình Thủy và quận Bình Thủy Hiện nay, trung tâm hành chính quận Bình Thủy được đặt ở phường Bình Thủy

1.4 Theo vật liệu, kiến trúc hoặc vật thể có liên quan

Theo truyền thuyết, tên gọi Cái Răng xuất phát từ câu chuyện hồi đầu thời khẩn hoang, có con cá sấu rất lớn dạt vào đây, răng của nó cắm vào miệng đất này Tuy

nhiên, trong cuốn Tự vị tiếng nói miền Nam của Vương Hồng Sển cho biết: Cái Răng

có nguồn gốc từ chữ Khmer "karan" nghĩa là "cà ràng" (ông táo) Người Khmer ở Xà Tón (Tri Tôn) làm rất nhiều karan đi bán khắp nơi Lâu dần, mọi người phát âm karan thành Cái Răng

“Cà ràng hình thù như con số 8 để nằm, một đầu là ba ông Táo lú đầu lên cao để đội nồi ơ siêu trách, còn một đầu kia nắn cái bụng chang bang dài dài vừa vặn với cây củi chụm, bụng này chứa được tro nhiều không rơi rớt ra ngoài, lại ấm cúng che kín gió, mau chín mau sôi Truy nguyên ra, trong sách Pháp, Le Cisbassac chẳng hạn, và nhiều sách khác đã có từ lâu vẫn ghi: "Krôk kran: rạch Cái Răng, nay cứ lấy điển này làm chắc, một đàng khác hỏi thăm người cố cựu bản xứ thuật rằng ngày xưa, không biết từ đời nào, nguyên người Thổ (Cơ Me) ở Xà Tón (Tri Tôn) chuyên làm nồi đất và

"karan" chất đầy mui ghe lớn rồi thả theo sông cái đến đậu ghe nơi chỗ này để bán, năm này qua năm nọ, chầy ngày người mình phát âm "karan" biến ra "Cái Răng" rồi trở nên địa danh thiệt thọ của chỗ này luôn.”

Theo đó, Cái Răng không phải là cái răng trong miệng, mà Cái Răng là cà ràng

1.5 Theo địa vật

Trang 10

Ngày xưa ở vùng này có nhiều đồn điền, mỗi đồn điền chọn một màu cờ xanh,

đỏ, vàng, trắng, đen … để cắm mốc địa giới của mình Đồn điền ở khu vực này là đồn điền lớn nhất và chọn cờ màu đỏ Do đó người Việt rồi cả dân Tây đều gọi khu vực này là "Cờ Đỏ" Địa danh Cờ Đỏ hình thành từ đó

1.6 Theo tên loài cây cỏ

Theo Tự điển bách khoa toàn thư thì tên gọi Thốt Nốt trong tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Khmer là th'not Thốt Nốt là tên gọi của của một loài cây thuộc họ hàng với Cau (Arecaceae) có nguồn gốc từ Châu Phi- Borassus aethiopium, nhưng ở Châu

Á thì cây Thốt Nốt gọi là Borassus flabellifer Tại Việt Nam thì cây Thốt Nốt mọc và trồng tại khu vực Nam Bộ giáp với Campuchia

Quận Thốt Nốt về vị trí địa lý thì nằm ở phía Bắc của thành phố Cần Thơ, có các dân tộc sinh sống như Khmer, Hoa, Kinh Trứơc năm 1976 huyện thuộc tỉnh Long Xuyên (nay là An Giang) Từ năm 1976-1991 huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh Hậu Giang

Từ ngày 26/12/1991 thì tỉnh Hậu Giang chia thành hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, nên huyện Thốt Nốt lại thuộc tỉnh Cần Thơ Ngày 01/01/2004 tỉnh Cần Thơ chính thức trở thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương, nên huyện Thốt Nốt thuộc TP Cần Thơ cho đến nay

Tóm lại từ nguồn thông tin trên cho thấy trước đây huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh

An Giang Phía Tây Bắc của tỉnh An Giang thì giáp với Campuchia, nơi có cây th'not Cũng có lẽ từ lâu rồi người ta đã đặt tên nơi này dựa theo tên gọi của một loài cây có tiếng khmer là th'not Hoặc có thể nó còn có một lịch sử riêng nào đó mà mình chưa biết

Thốt Nốt là địa danh được đặt tên theo nguyên tắc theo tên loài cây cỏ và nguyên nhân có tên Thốt Nốt là do sự giao lưu văn hóa

1.7 Theo đặc điểm, tính chất

Phong Điền có nghĩa là vùng đất trù phú, địa danh này còn là nguyên quán của hai dòng họ Lê và Trần đến đây khai khẩn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Hai dòng họ này đã đến đây lập nghiệp vào thời nhà Nguyễn, trước khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta

Theo Địa phương chí tỉnh Cần Thơ do chính quyền thực dân Pháp phát hành

vào năm 1904, Phong Điền lúc này đã là tên một ngôi chợ thuộc làng Nhơn Ái, tổng Định Bảo

1.8 Theo tên người, chức tước

Lưu Hữu Phước (1921-1989) là một nhạc sĩ đa tài, là Giáo sư, là Viện sĩ, Nhà

lý luận âm nhạc; nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hóa của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; nguyên Đại biểu Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Ông là tác giả của những bản hùng ca bi tráng Tác phẩm của ông luôn gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc

Ngày đăng: 16/06/2019, 14:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w